THIỀN
SƯ NHẤT HẠNH
TRẢ
LỜI PHỎNG VẤN BÁO HỒN VIỆT
Đại
lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc Vesak 2008 bế mạc, Thiền sư
Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai gần 500 người rời
Hà Nội, đáp máy bay về Tổ đình Từ Hiếu ở Huế nghỉ
ngơi vài hôm trước khi vào HộI An tổ chức sinh hoạt với
doanh nhân tại Palm Garden Resort từ 24 đến 25-5-2008, một đại
diện của báo Hồn Việt hân hạnh được gặp Thiền sư và
được Thiền sư trả lời một số câu hỏi mà độc giả
của Hồn Việt đang quan tâm sau đây.
Nguyễn
Đắc Xuân.- Xin cám ơn Thiền sư đã dành thời gian nghỉ ngơi
quý báu nầy tiếp đại diện báo Hồn Việt của Hội Nhà
văn Việt Nam. Để tranh thủ thời gian, kính xin Thiền sư cho
chúng tôi được chuyển đến Thiền sư thắc mắc của dân
chúng Hà Nội khi đứng xem đoàn tăng thân Làng Mai hàng năm
trăm người với nhiều quốc tịch khác nhau thanh thản tiến
vào Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình dự Phật Đản
LHQ Vesak 2008, rằng: “Đạo Phật Làng Mai làm sao hấp dẫn
được một lượng người ngoại quốc đi theo đông đảo
thế ?”Kính nhờ Thiền sư giải đáp hộ.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh.- Tôi vắng mặt ở Việt Nam từ
1966. Trong thời gian ở nước ngoài, tôi dành ít nhất 30 năm,
để chia sẻ tuệ giác và thực tập đạo Phật Việt Nam (sau
nầy tôi thành lập Làng Mai ở Pháp nên có tên là Đạo Phật
Làng Mai) với người Tây phương bằng những khoá tu, cộng
với hàng trăm cuốn sách đạo Phật Việt Nam hiện đại hoá.
Các khoá tu chung cho giới trẻ và trí thức, cũng có những
khóa tu dành riêng các thầy giáo, các doanh nhân, giới bảo
vệ môi trường, diễn viên điện ảnh Hollywood, dân biểu
quốc hội Hoa Kỳ, cảnh sát, người giữ tù.v.v. Phần lớn
người Tây phương cho biết họ theo đạo Phật Làng Mai vì
những điều thông thường sau đây:
1.
Đạo Phật đã có trên 25 thế kỷ, đến nay đạo Phật được
trình bày lại với ngôn ngữ văn hoá mới của Việt Nam và
thế giới, dễ hiểu, gần gũi với con người của thời đại.
Đạo Phật không chỉ là một tôn giáo tín ngưỡng mà còn
là nguồn tuệ giác sâu sắc, những phương pháp tu tập thực
tế giúp cho mỗi cá nhân tháo gỡ được những khó khăn trong
một thời gian tu tập ngắn (một khoá tu ngắn hạn có thể
từ 7 đến 10 ngày). Nói cách khác, người phương Tây đến
tu ở Làng Mai không phải để được hiến tặng một đức
tin mà để được tiếp nhận một phương pháp thực tập
kinh nghiệm, đem lại hạnh phúc cho mình, ngay bây giờ và ở
đây;
2.
Đức Phật không phải là một đấng tạo hoá hay một vị
thần linh mà đích thực là một con người, một người đã
đắc đạo, có tuệ giác cao siêu nhờ tu tập. Đạo Phật
là một phương pháp sống nương vào tự lực hơn là nương
vào một quyền lực linh thiêng bên ngoài không có giáo điều,
không mặc khải, không xung đột báng bổ với bất cứ một
truyền thống tâm linh nào, và trong bản chất đích thực của
nó cũng không xung đột với khoa học hiện đại. Chúng tôi
học đạo Phật và cũng học để biết các truyền thống
khác như Thiên chúa giáo, Tin Lành, Hồi giáo... Nhiều tín đồ
Thiên chúa giáo, Tin lành, và các tôn giáo khác đến tu ở
Làng Mai mà vẫn giữ nguyên tôn giáo mà họ đã theo. Có người
giác ngộ muốn vừa làm Mục sư Tin Lành vừa làm Giáo thọ
của Làng Mai. Sáng chủ nhật ông giảng bài với con chiên
với phương pháp mới học ở Làng Mai, buổi chiều hướng
dẫn thiền tập cho Phật tử Làng Mai. Nếu bề trên không
cho phép thì ông chọn cái nghiệp mới là làm Giáo thọ. Trí
thức và tuổi trẻ phương Tây rất thích điều nầy.
3.
Đạo Phật Làng Mai được người phương Tây theo nhiều vì
đạo Phật giúp họ tháo gỡ được những khủng hoảng giữa
cha mẹ với con cái, vợ chồng, về đời sống xã hội, bế
tắc về tâm linh đang diễn ra ở phương Tây hiện nay.
NĐX-
Kính thưa Thiền sư, những người đến Làng Mai tu tập được
học và thực tập những nội dung gì ?
Thiền
sư TNH- Trước hết chia sẻ với họ cách hít thở,
hành thiền, chánh niệm, phương pháp lấy ra những căng thẳng
trong thân, trong tâm, tập nhận diện và ôm ấp những sợ
hãi, đau buồn, lo lắng của mình. Nhìn sâu vào mình để có
thể nhận diện được bản chất tâm hành đó. Rồi nhìn
vào người thân của mình để nhìn thấy trong họ có căng
thẳng trong thân, trong tâm để phát khởi lòng thương, chấp
nhận họ. Nhờ sự lắng dịu trong thân và tâm, cởi bỏ được
thái độ trách móc, với phương pháp ái ngữ và lắng nghe,
hiểu được khó khăn và bức xúc, khổ đau, mơ ước của
người khác, chấp nhận người khác và giúp đỡ được cho
người khác. Đó là hiểu và thương. Lập lại được truyền
thông đã mất giữa những người thân. Sau các khoá tu, nhiều
phép lạ đã xuất hiện, vợ chồng tưởng cắt đứt vĩnh
viễn lại hoà giải được, cha mẹ với con tưởng đã không
thể hiểu nhau lại làm hoà được và thương kính nhau. Sau
các khoá tu, chúng tôi không quyến rũ người ta theo đạo Phật.
Nhưng khi họ đã thấy được hiệu nghiệm của đạo Phật
họ xin quy y Phật và thọ năm giới. Năm giới là sự thực
tập cụ thể của tình thương. Giới thứ nhất: bảo vệ
sự sống, giới thứ hai: chia thời gian và tài vật cho người
khác, không ăn cắp, ăn trộm; giới thứ ba: không lạm dụng
tình dục, giới thứ tư: ái ngữ và lắng nghe; giới thứ
năm: tiêu thụ trong chánh niệm (chỉ tiêu thụ những sản
phẩm mang lại sự an lạc cho tâm mình, không rượu chè, ma-túy).
Tiếp đến họ được chia sẻ ý nghĩa của Tứ điệu đế
và tùy theo ý nguyện, họ có thể đi sâu vào các lĩnh vực
triết lý Phật giáo cao siêu khác.
NĐX-
Xin Thiền sư cho biết có thể áp dụng năm giới cho toàn xã
hội phương Tây và Việt Nam được không ?
Thiền
sư TNH.- Đó là ước muốn của Phật giáo. Nhiều Phật
tử Việt Nam đã thực hiện 5 giới từ lâu rồi. Hàng triệu
người trong hàng ngàn tăng thân theo đạo Phật Làng Mai trên
thế giới đang thực hiện. Phật tử sinh hoạt đạo Phật
ở Làng Mai (Pháp), Lộc Uyển (miền nam California, Mỹ), Bích
Nham (Newyork, Mỹ), Bát Nhã (Bảo Lộc, Việt Nam) và ngay
tại chùa Từ Hiếu (Huế) nầy nhiều Phật tử đang thực
hiện. Nếu năm giới được đưa vào chương trình giáo dục
quốc gia, thanh niên được chia sẻ và thực tập năm giới
là một hồng ân của dân tộc. Thực hiện năm giới là cứu
nạn cho con người hiện nay.
NĐX-
Kính xin Thiền sư cho vài ví dụ !
Thiền
sư TNH- Thực hiện giới thứ nhất là muốn bảo vệ
sự sống thì phải sử dụng khả năng hiểu và thương để
chấm dứt các cuộc xung đột trong phạm vi gia đình, cộng
đồng, quốc gia và quốc tế, phải biết lắng nghe và
nhìn sâu để tự hiểu mình và hiểu người khác, giải quyết
những ngộ nhận để các dân tộc hiểu và thương nhau, lập
lại hoà bình (ví dụ như chiến tranh ở I-rắc); thực tập
giới thứ hai là không trộm cắp, không bóc lột, để trừ
tận gốc bệnh tham nhũng, ăn cắp hiện nay. Thực hiện giới
thứ năm là góp phần bảo vệ môi trường bằng cách sản
xuất và tiêu thụ có ý thức chánh niệm. Một số tu viện
của đạo Phật Làng Mai đã bắt đầu dùng điện mặt trời,
ô-tô không chạy bằng xăng mà chạy bằng dầu thực vật.v.v.
NĐX-
Những đại biểu thuộc nhiều tôn phái Phật giáo trên thế
giới đến dự Phật Đản LHQ Vesak 2008 tại Hà Nội vận đủ
kiểu, đủ sắc màu vàng, nâu, đen trắng rất mới lạ. Tại
sao Thiền sư và tăng thân làng Mai chỉ với áo nâu và chiếc
nón lá ?
Thiền
sư TNH- Nón lá, chiếc khăn chít đầu và trang phục
màu nâu là hình ảnh và màu sắc của dân tộc Việt Nam đã
có hàng ngàn năm nay. Đạo Phật Làng Mai là đạo Phật Việt
Nam, dù đã được hiện đại hoá nhưng cái gốc văn hoá Việt
Nam thì phải rõ. Hơn bốn mươi năm trước tôi ra đi với
chiếc nón lá và chiếc áo nâu, nay trở về cũng chỉ với
chiếc nón lá và áo nâu. Bây giờ tôi thấy y áo lễ phục
của các tăng sĩ Việt Nam mình màu sắc rực rỡ, gấm hoa,
sang trọng quá nó gây cảm giác xa lạ với truyền thống bình
dân Việt Nam. Tôi không muốn mình xa lạ với dân tộc mình.
Áo nâu và nón lá là hình ảnh của đạo Phật Làng Mai
đã quá quen thuộc với thế giới rồi thay đổi làm gì nữa
và cũng không thể thay đổi được. Hình ảnh giới tu sĩ
Phật giáo Việt Nam ở nước ngoài là thế đó !
NĐX-
Lâu nay chắc Thiền sư có biết Việt Nam đang theo đuổi việc
xây dựng một nền văn hoá “đậm đà bản sắc dân tộc”.
Vậy, “bản sắc dân tộc” theo Thiền sư nghĩ là cái gì
? Cái bản sắc văn hoá dân tộc Việt đó đi vào đời sống
hội nhập thế giới hiện đại ngày nay có gì khó khăn trở
ngại không ạ ?
Thiền
sư TNH- Bản sắc văn hoá dân tộc có thể cảm nhận
được nhưng nói ra cho đầy đủ thì rất khó. Người ta nói
Làng Mai là một Việt Nam thu nhỏ trên đất Pháp. Người ta
sống với Làng Mai họ có cảm giác như thế chứ nói cái
gì
ở làng Mai là mang bản sắc văn hoá Việt Nam thì khó. Về
bản sắc dân tộc, tôi lấy một ví dụ: Ngày xưa cha ông
mình đi ăn giỗ, đi sớm đi muộn gì cũng có phần ăn. Ăn
giỗ xong trên đường về ghé bẻ một nhánh cây dọc đường
xỉa răng, không sao cả. Bây giờ đi ăn giỗ phải đi đúng
giờ, phải tính đến chuyện kẹt xe, nếu đi trễ sẽ phải
ra nhà hàng ăn lót dạ trước khi quay xe trở về. Việt Nam
nghèo nhưng cha ông ta có nếp sống nhàn nhã, thong thả, đến
bữa ăn tất cả mọi người trong gia đình đều ngồi quanh
mâm cơm, có thì giờ dạy bảo con cái, chuyện trò với người
thân, kỵ giỗ đình đám quanh năm, cuộc sống gắn bó tâm
tình thân thiết. Bây giờ thì ít khi bữa ăn có đủ
mặt người thân trong gia đình, vợ chồng con cái ít có thì
giờ gặp gỡ, trò chuyện với nhau, mỗi người có mỗi thời
khoá biểu làm việc riêng, không phụ thuộc nhau. Kỵ giỗ
không nhớ. Vì vậy nếu giữ cái bản sắc dân tộc cố hữu
của mình thì sẽ bị cuộc sống hiện nay đào thải. Nếu
chạy theo cuộc sống hiện nay thì sẽ mất gốc. Theo tôi,
văn hoá Việt Nam là một cái mỏ vàng, ta phải khai thác, tinh
lọc để lấy cho được thứ vàng ròng, rồi dùng ngôn ngữ
và phương pháp hiện đại trình bày lại cho hợp với nếp
sống hiện đại. Làng Mai đã làm như thế đối với đạo
Phật truyền thống của Việt Nam và đã có kết quả.
NĐX-
Kính thưa Thiền sư, như báo chí vừa phản ảnh, lễ Phật
Đản Liên Hiệp Quốc Vesak 2008 tại Hà Nội vừa qua đã đạt
được kết quả rất to lớn. Theo nhận xét của Thiền sư
cuộc đại lễ chưa từng có đó có gì cần phải góp ý nữa
không ?
Thiền
sư TNH- Tôi hơi tiếc Ban tổ chức Đại lễ Vesak thiếu
quan tâm đến giới trí thức hàng đầu của Việt Nam ở các
Đại học, các Hội nhà văn, Hội sử học, Hội âm nhạc,
và cả các tôn giáo khác. Phải có những thành phần ấy họ
mới tiếp thu được kết quả của hội nghị để vận dụng
vào cuộc đời ở những nơi, những giới mà ảnh hưởng
của giới tu sĩ Phật giáo còn hạn chế.
NĐX-
Kính bạch Thiền sư, còn rất nhiều vấn đề độc giả Hồn
Việt muốn biết nữa, nhưng vì sức khoẻ của Thiền sư,
chúng tôi xin được cám ơn Thiên sư ở đây. Kính chúc Thiền
sư luôn sức khoẻ để Đạo Phật Làng Mai dồi dào năng lượng
chia sẻ phương pháp tu học giúp những người đang đau khổ
lập lại truyền thông tạo dựng lại hạnh phúc đã mất
trên thế gian nầy.
Kính
chào Thiền sư.
Chùa
Từ Hiếu, chiều 20-5-2008
Nguyễn
Đắc Xuân thực hiện (Hồn Việt số 12, tháng 6-2008)