ĐƯỜNG
ĐI CỦA TÂM
CHIA SẺ VỚI
TĂNG NI PHẬT TỬ CHÙA TÂY THIÊN HUẾ
Tháng
06.2008 - Tâm Thiện Diệu & Tâm Thiện Ngộ phiên tả &
biên tập:
Pháp
thoại của Sư ông Làng Mai ngày 18.05 tại chùa Tây Thiên -
Huế.
Âm
thanh MP3 : Phần
1 - Phần
2
Kính
thưa quý vị Tôn Đức, các Thầy, các Sư cô, các Phật tử
cư sĩ.
Cách
đây mấy chục năm, tôi có viết một cuốn sách rất mỏng
với nhan đề là: Tương lai Thiền học Việt Nam. Tôi không
nhớ là cuốn sách đó viết vào năm nào, chỉ nhớ sách được
viết dưới hình thức một bức thư cho Hòa thượng Thanh Từ.
Nội dung bức thư với lời văn rất nồng ấm thân hữu. Nếu
quý vị có thuận duyên hãy tìm đọc cuốn sách đó vì bây
giờ rất hiếm có. Năm ngoái về Việt Nam, tôi có cơ hội
đến thăm Hòa thượng Thanh Từ ở thiền viện Trúc Lâm Đà
Lạt, ngày hôm đó rất vui. Chúng tôi đã được Hòa thượng
dẫn đi thăm các nơi, cảnh trí trong chùa.
Pháp
lữ đồng môn
Năm
nay về lại Việt Nam là để tham dự lễ Phật Đản Liên
Hiệp Quốc.
Trong
thời gian lưu trú tại chùa Bát Nhã, chúng tôi sẽ tìm cơ
hội đi thiền viện Trúc Lâm để thăm Hòa thượng Thanh Từ
lần nữa, vì biết đâu chừng đây là cơ hội cuối cùng
gặp lại nhau. Tôi biết Ngài từ khi còn trẻ, từ Trà Ôn
lên với Hòa thượng Thích Thiện Hoa tại chùa Ấn Quang. Lúc
đó Hòa thượng bắt đầu lưu ý đến thiền học, và tôi
cũng đã có dịch một số các bài kệ của các thiền sư
đời Lý, Trần từ chữ Hán ra chữ Việt và đưa Hòa thượng
xem, Ngài rất tâm đắc. Năm 1966 tôi phải rời quê hương
để đi kêu gọi hòa bình và không được về nước. Từ
đó trở về sau, trong nhiều thập niên tôi phải làm việc
ở hải ngoại. Hòa thượng Thanh Từ ở lại trong nước, hai
bên đều cùng nhau cố gắng chấn hưng thiền học. Ngài viết
và dịch những cuốn sách về thiền và cuối cùng chú tâm
vào phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ngài lo chuyện thiền ở
trong nước, còn tôi thì lại ra lo chuyện thiền ở ngoài nước.
Ở nước ngoài, tôi có cơ hội tiếp xúc với nhiều tông
phái Phật giáo, nhất là Phật giáo Theravada (Phật giáo Nguyên
thủy). Tôi đã có dịp nghiên cứu trở lại và đi sâu hơn
những tác phẩm kinh thiền Nguyên thủy như kinh Niệm Xứ,
kinh An Ban Thủ Ý, kinh Người Biết Sống Một Mình. Môn thiền
mà chúng tôi giảng dạy, hướng dẫn và thực tập ở nước
ngoài có gốc rễ Việt Nam, cũng là dịp trở về với dòng
Thiền Nguyên thủy.
Kết
tập kinh điển
Vì
vậy những kinh như: Tứ Niệm Xứ. An Ban Thủ Ý rất là quan
trọng. Quý vị nên nhớ thời Thế Tôn còn tại thế thầy
nào cũng thuộc kinh Niệm Xứ, kinh An Ban Thủ Ý. Vì đó là
những “bản kinh gối đầu” của các thầy vào thời ấy.
Nói vậy thôi, chứ thời đó kinh chưa được viết lại, in
ra giấy. Mà chỉ theo phương pháp học “truyền miệng” nên
các thầy, cô phải nhớ nằm lòng. Và giờ đây cũng có nhiều
thầy, sư cô trong Nam Tông cũng học thuộc lòng kinh Niệm Xứ
và kinh An Ban Thủ Ý. Vì vậy mà khi chúng tôi cùng quý thầy,
quý sư cô Làng Mai biên tập quyển Nhật Tụng Thiền Môn Năm
2000, chúng tôi cố tâm đưa kinh Niệm Xứ và kinh An Ban Thủ
Ý tức là kinh Quán Niệm Hơi Thở vào. Thiền tập ở Tây
phương mà chúng tôi hướng dẫn có quan hệ mật thiết đến
kinh An Ban Thủ Ý và kinh Niệm Xứ. Có thể nói rằng nếu
mình không biết nghệ thuật thở, nếu không nắm bắt được
phương pháp thở thì mình không thể thực tập được thiền.
Kinh An Ban Thủ Ý phối hợp với kinh Niệm Xứ thành một hệ
thống, một phương pháp rất vững chải và có hiệu năng.
Chăm
sóc thân và tâm
Kinh
Niệm Xứ: Cho chúng ta biết rằng có bốn lãnh vực
mà mình phải nắm cho được. Trước hết là lãnh vực của
thân: gọi là niệm thân. Lãnh vực thứ hai là mình phải nắm
cho được, quán chiếu cho được là niệm thọ, thọ là những
cảm thọ (feelings) của mình, phải biết cách sử dụng hơi
thở để chăm sóc cái thân của mình, sử dụng hơi thở để
chăm sóc cái thọ của mình. Những cảm thọ dễ chịu hoặc
khó chịu và những cảm thọ trung tính, mình đều phải nhận
diện và chăm sóc nó. Những cái vui, buồn, khổ đau, những
cảm xúc như yêu, ghét, giận hờn, tuyệt vọng mỗi khi phát
hiện là mình phải có khả năng nhận diện và chăm sóc, và
cuối cùng chuyển hóa nó. Đứng về phương diện thân niệm
thân thì phải biết rằng trong thân mình có những cái đau
nhức, dồn nén, căng thẳng, và nhất là con người hiện đại
có nhiều căng thẳng, bức xúc trong thân (bây giờ dùng chữ
Stress), và con người của thời đại mới làm việc và lo
lắng rất nhiều nên cứ tiếp tục dồn chứa rất nhiều
căng thẳng trong thân.
Dồn
chứa như vậy, lâu ngày sẽ sinh nhiều thứ bệnh trước là
về thân và sau là về tâm. Cho nên sử dụng hơi thở để
buông thư tất cả những cái căng thẳng trong thân là một
phương pháp rất cần thiết trong thiền, không phải cho các
vị xuất gia thôi, mà còn cho cả các vị tại gia nữa. Trong
kinh An Ban Thủ Ý có bài tập thứ ba: Thở vào tôi có ý thức
về toàn thân. Khi thở vào mình buông bỏ hết mọi suy nghĩ.
Nương vào hơi thở để trở về và nhận diện sự có mặt
của cái hình hài thân thể nầy. Thở vào ý thức toàn thân,
làm quen với thân mình và biết rằng trong thân nầy có những
đau nhức, dồn nén căng thẳng. Khi thở ra mình áp dụng phương
pháp bài tập thứ tư trong An Ban Thủ Ý của đức Thế Tôn
là: Khi thở ra tôi buông thư toàn thân, buông bỏ tất cả
những căng thẳng trong toàn thân. Nguyên văn chữ Hán là an
tĩnh thân hành (buông bỏ những căng thẳng). Buông bỏ để
làm an tĩnh lại thân mình. Trong tư thế ngồi hay nằm mình
đều có thể thực tập để nhận diện sự căng thẳng của
toàn thân, phải thực tập để những căng thẳng được buông
thư. Chưa thực tập được điều đó thì chưa có thể đi
xa được.
Phương
pháp trị liệu
Khi
buông bỏ đuợc những căng thẳng trong thân rồi, nắm được
nghệ thuật, phương pháp đó rồi thì toàn thân đạt tới
trạng thái gọi là khinh an (nhẹ nhàng thư thới). Khinh an là
một trong bảy yếu tố giải thoát, giác ngộ, và thất bồ
đề phần là 7 yếu tố đưa đến giác ngộ. Sự nhẹ nhàng
trong thân và tâm là một yếu tố rất quan trọng. Người
tu hành mà không có nhẹ nhàng thanh thoát trong thân và tâm,
không thấy an thì người đó không thể giải thoát được.
Cho nên nếu mình cảm thấy trong thân và tâm chưa có sự nhẹ
nhàng thì phải suy nghĩ lại để làm sao cho có. Nếu chưa
có thì phải làm sao có được trong vài ba ngày.
Vì
có sự nhẹ nhàng rồi thì bệnh tật tiêu trừ rất mau. Chỉ
cần buông bỏ những căng thẳng trong thân tâm thì bệnh tật
cũng không nảy sinh, và nếu có sẽ được tiêu trừ. Thành
ra thiền có công năng phòng hộ và trị liệu rất lớn. Trong
khi bệnh, có thể mình đang uống thuốc Bắc, thuốc Nam hay
thuốc Tây, nhưng mình đừng nên tin tưởng hoàn toàn vào thuốc.
Vì thuốc chỉ giúp một phần mà bên cạnh đó mình cần phải
tu, phải buông bỏ những dồn nén, căng thẳng trong thân và
tâm, thì từ từ mình có thể chữa trị được. Có những
người mang chứng bệnh hiểm nghèo như: sida, ung thư nhưng
mà có thể sống thêm vài chục năm là vì họ buông bỏ được
những sự căng thẳng trong thân và tâm. Nhất là những người
có quá nhiều công việc bận rộn trong xã hội thì phép tu
thiền nầy sẽ giúp ích rất nhiều. Trong khi mình lái xe, tưới
rau, rửa bát, quét nhà đều có thể tu được, nghĩa là làm
sao để có yếu tố khinh an, nhẹ nhàng trong cuộc sống hàng
ngày. Vậy thì lãnh vực, yếu tố đầu tiên mà mình phải
đi vào là thân, gọi là niệm thân, chửa trị và chăm sóc
cho thân.
Nhận
diện cảm thọ
Lãnh
vực thứ hai mà mình phải đi vào là thụ (tức là cảm thọ
feelings). Người tu phải biết trở về và nhận diện cái
cảm thụ của mình, nếu là vui thì biết đây là lạc thụ,
khổ thì biết đây là khổ thụ, xã thì biết đây là xã
thụ. Một cảm giác đau đớn, khó chịu nhức nhối thì mình
phải có mặt đó để nhận diện nó, thở vào tôi biết đây
là cảm giác đau đớn, khó chịu đó là bài tập thứ bảy
trong kinh An Ban Thủ Ý. Khi mình có cảm xúc như sợ hải, lo
lắng, ganh tị, tuyệt vọng thì mình phải có mặt để nhận
diện, ôm ấp nó làm cho nó nhẹ ra gọi là an tĩnh tâm hành.
Thân hành là hiện tượng sinh lý, và tâm hành là hiện tượng
tâm lý. Bài tập thứ tư trong kinh An Ban Thủ Ý là an tĩnh
thân hành. Còn bài tập thứ tám trong kinh An ban Thủ Ý là
an tĩnh tâm hành (feelings là cái cảm thọ, cảm xúc của mình).
Người tu phải có khả năng buông bỏ để cho mình nhẹ ra
gọi là an tĩnh thân hành. Tôi thở vào an tĩnh thân hành, phải
làm cho được thì mới là đấng trượng phu.
Lãnh
vực tu học nguyên văn chữ Hán gọi là niệm xứ. Niệm là
quán niệm, có mặt đó để quan sát. Niệm thân là có mặt
đó để quan sát cái thân của mình. Niệm thụ là có mặt
đó để nhận diện và quan sát những cái cảm thụ của mình
và làm cho nó nhẹ đi rất là khoa học, rất là thực tế
mà người tu phải nắm cho được. Hiện giờ tại các trường
y khoa Tây phương đã lợi dụng kinh An Ban Thủ Ý. Các bác
sĩ cũng như y tá đã tìm cách áp dụng các bài tập đó để
chữa trị cho các bệnh nhân và giúp bệnh nhân điều trị
được mau chóng.
Lãnh
vực thứ ba (niệm xứ thứ 3) là quán tâm trong tâm, vì tâm
không phải chỉ có cảm thọ, cảm xúc mà còn có tri giác
và bao nhiêu hiện tượng tâm lý khác. Trong đạo Phật chúng
ta có nhiều trạng thái tâm lý như là tâm sở hay tâm hành.
Các thầy các sư cô khi còn học tiểu học Phật giáo thì
phải học thuộc lòng những tâm hành tốt như: tín, tàm, quý,
vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, v.v...
đó là những tâm sở, tâm hành tốt và những tâm hành xấu
như: tham, sân, si, mạng, nghi, kiến, vô tàm, vô quý v.v…
Nhận
diện tâm hành
Có
tất cả 51 Tâm hành như thế, khi chưa phát hiện thì gọi
nó là chủng tử hay hạt giống. Khi phát hiện thành năng lượng
thì gọi là tâm hành. Thành ra người tu khi mà tâm hành phát
hiện, thì mình phải có mặt để nhận diện để chăm sóc,
và cuối cùng chuyển hóa nó. Đó là lãnh vực thứ ba quán
tâm trong tâm, lãnh vực thứ hai là quán thọ trong thọ, lãnh
vực thứ nhất là quán thân trong thân, và lãnh vực thứ tư
là quán pháp trong pháp. Pháp tức là đối tượng của sự
nhận thức; cái bình nước nóng là một pháp; cái ly, cái
bàn, núi non, cây thông v.v.. đều là pháp. Khi mình thấy cái
gì thì cái mình thấy đó là pháp. Đối tượng của nhận
thức thuộc về phạm vi tri giác. Tri giác tiếng phiên âm là
tưởng, tưởng tức là nhận thức và tưởng là 1 trong 51
tâm sở: biến hành, xúc, tác ý, tưởng, tư v.v… Tưởng đứng
thứ 4 trong lãnh vực của pháp, là đối tượng của các pháp,
nên mình phải quán chiếu các pháp. Tất cả các pháp đều
là đối tượng nhận thức, pháp là đối tượng của tri
giác, của tâm. Mình phải quán chiếu các pháp để biết các
pháp là vô thường, vô ngã, là duyên sinh, là không, là tương
tức. Rồi đi sâu hơn nữa sẽ thấy các pháp đều vô sinh,
là bất diệt. Ban đầu mình tưởng chúng nó là có sinh có
diệt, nhưng đi sâu vào thì sẽ thấy nó là vô sinh, bất diệt.
Đi từ từ, từ thấp đến cao, từ cạn đến sâu.
Kinh
Niệm Xứ đưa ra 4 lãnh vực tu học mà mình phải đi vào và
nắm cho được. Hơi thở có chánh niệm là một dụng cụ
rất hay khi đi vào trong 4 lãnh vực đó nếu mình đem theo được
hơi thở có ý thức thì mình nhận diện, quan sát và chuyển
hóa được. Vì vậy kinh Quán Niệm Hơi Thở đi đôi với kinh
Niệm Xứ một cách rất là tuyệt hảo. Kinh nầy bổ túc cho
kinh kia. Mong rằng các học viện Phật giáo Việt Nam, các thầy,
các sư cô trẻ có cơ hội học lại nhiều lần nữa kinh Niệm
Xứ và kinh Quán Niệm Hơi Thở. Những kinh nầy hiện giờ
nguyên bản còn tiếng Pali, mà cũng có bản chữ Hán trong Hán
tạng. Tôi đã tìm ra 3 kinh trong A Hàm, trong Tạp A Hàm. Kinh
nầy đem ghép lại thì tương đương với kinh Quán Niệm Hơi
Thở trong Tạng kinh Pali. Thành ra chúng ta phải cám ơn chư
Tổ đã gìn giữ các Pháp của đức Thế Tôn cho chúng ta.
Và Nam tông cũng như Bắc tông cũng còn giữ lại được 2
kinh đó (kinh Niệm Xứ và kinh Quán Niệm Hơi Thở).
Thói
quen và tập khí
Trong
chúng ta có những thói quen và tập khí nó làm chủ, mình tưởng
mình là chủ ai dè không phải. Mà chính những tập khí đó
làm chủ và vì những tập khí đó quá mạnh, nhiều khi mạnh
hơn mình nên nó xúi mình nói, mình làm những điều mà mình
không muốn. Đây là những nguyên nhân gây ra đổ vỡ, đau
khổ trong bản thân mình và với những người thân. Sau khi
mình nói một câu hay một hành động như thế rồi, gây đổ
vỡ rồi thì lúc đó mình hối hận và nói: trời ơi mình
đã biết trước là đừng nói như thế, đừng làm như thế,
vậy mà tại sao mình đã nói và làm. Tại vì cái tập khí
nó mạnh hơn mình. Do đó việc làm của người tu là phải
nhận diện những cái tập khí, thói quen đó của mình. Cái
thói quen đó có thể là do ông bà cha mẹ truyền lại, nếu
mình chuyển hóa được, thì ông bà cha mẹ trong mình rất
hạnh phúc. Cái mà ông bà cha mẹ chưa làm được, bây giờ
con tu hành và làm được là người con có hiếu nhất. Những
cái tập khí, thói xấu của nhiều đời nhiều kiếp còn di
truyền lại. Một dân tộc cũng vậy, cũng có những cái phong
tục tập quán hay, nhưng cũng có những thói hư tật xấu của
dân tộc đó truyền từ đời nầy sang đời khác. Nếu quán
chiếu và nhận diện được nó, thì mình sẽ từ từ thay
đổi được chính mình và xã hội..
Kỳ
nầy về nước tôi có thấy một cuốn sách có nhan đề là:
Người Việt Phẩm Chất - Thói Hư và Tật Xấu. Mình
có phẩm chất, nhưng mình cũng có thói hư tật xấu. Mình
phải nhận diện được những thói hư tật xấu của mình
để chuyển hóa cho mình, cho dân tộc và đất nước mình.
Vì nếu chuyển hóa được thì hạnh phúc sẽ lớn hơn nhiều.
Nếu chúng ta sang Đức thì sẽ thấy người Đức học được
một thói quen rất tốt đó là giữ gìn thành phố, công viên
của họ rất sạch sẻ, tinh thần trách nhiệm của họ rất
cao. Khi về Việt Nam mình thấy người Việt dỡ hơn người
Đức quá nhiều về phương diện đó. Và mình giác ngộ sẽ
thấy rằng mình có tập khí vô trách nhiệm đối với xã
hội. Cách lái xe của mình bây giờ tại các thành phố cũng
vậy, rất hối hả chạy bạt mạng. Mình vượt ẩu, mình
liều lĩnh trong khi lái xe đó là một thói xấu. Ngày xưa hình
như chưa có thói xấu đó, nhưng mình làm ăn như thế nào
mà trong những thập niên qua mình đã hình thành cái thói xấu
đó rất hối hả, bạt mạng. Không biết trân quý sinh mạng
của chính mình, cũng như sinh mạng của người khác. Đó là
một trong những thói hư tật xấu của tập thể mà mình phải
giác ngộ, phải thay đổi. Pháp luật chỉ là một phần thôi,
chứ pháp luật không thể thay đổi được tập khí của mình
được, mà phải tu thôi.
Truyền
thừa kinh nghiệm
Các
bậc cha mẹ, thầy cô giáo, các thầy và các sư cô phải đóng
góp nhiều vào trong sự giáo hóa. Không những bằng miệng
thôi mà phải bằng hành động giáo dục của mình (gọi là
thân giáo). Để mình có thể cùng nhau sửa đổi, chuyển hóa
những thói hư tật xấu đó. Vì những thói hư tật xấu đã
giết hại không biết bao nhiêu là sinh mạng; đã tổn hại
không biết bao nhiêu là tiền bạc, gây ra không biết bao nhiêu
là khổ đau. Sau khi mình đã nói những lời ác ôn, những
hành động đổ vỡ đó, mình đã học được những bài học
và sẽ nói: trời ơi sao mình ngu quá, lẽ ra không nên nói
như thế; không nên làm như thế, mà mình lại vừa nói và
làm như thế, là vì những tập khí mạnh hơn thiện chí của
mình. Cho nên tu là phải trở về với hơi thở để nhận
diện tập khí. Mỗi khi tập khí đó bắt đầu trào lên, thì
ngay lập tức mình phải trở về với hơi thở của mình.
Thở vào tôi biết tập khí của tôi đang ló đầu ra và tôi
biết rằng kỳ nầy tập khí không làm gì được tôi đâu.
Với hơi thở có ý thức mình sẽ nắm được tập khí đó
và không cho nó xuất hiện. Phương pháp không phải đánh lộn
với tập khí, mà là nhận diện tập khí. Nhận diện một
cách đơn thuần rằng mình đang hiện diện, và ý thức được
tập khí đang ló đầu ra và nó sẽ gây tác hại, cái đó
gọi là giác ngộ. Khi mà giác ngộ đó đủ sáng thì mình
có đủ sức mạnh không để cho những tập khí đó kéo mình
đi. Sau khi mình đã làm cái lầm lỡ, gây đổ vỡ rồi thì
mình đến trước bàn Phật, bàn thờ Ông Bà và phát nguyện
rằng: con xin hứa rằng từ đây về sau con sẽ không làm,
không nói như thế nữa. Nhưng vì mình không chịu tu nên lần
sau mỗi khi tập khí đó trào lên, thì nó lại làm chủ, mình
sẽ nói lại những câu nói, hay hành động gây nên khổ đau,
rồi mình lại sẽ hối hận. Cho nên người tu phải biết
nhận diện tập khí, thói quen của mình. Mà năng lượng có
thể nhận diện được những thói quen đó là niệm:
chánh niệm. Niệm tức là khả năng nhận diện những cái
đang xẩy ra trong đó có tập khí.
Liệng
sợi tơ sen trói mãnh hổ
Ngày
xưa có một vị thiền sư cư sĩ tên là Tuệ Trung đời Trần,
ông là cư sĩ nhưng tu thiền rất giỏi. Và ông đã để lại
Ngữ Lục gọi là Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Vị nầy
tên là Trần Quốc Tung anh ruột của Tướng Trần Hưng Đạo
là người đã từng đánh bại quân Nguyên. Trong những bài
kệ của ngài có câu thơ rất hay là: Liệng sợi tơ sen trói
mãnh hổ. (Phóng trước liên ti phược hổ nhi). Nghĩa là chỉ
một sợi giây mỏng manh như tơ sen, mà có thể trói được
một con cọp hung dữ. Đó là sự luyện tập của thiền, hơi
thở của mình nhẹ như một sợi tơ sen, ấy vậy mà nếu
mình luyện tập nó, thì cái hơi thở luyện tập đó sẽ nhận
diện được cái tập khí rất hung dữ như con cọp. Và chính
bằng sợi tơ chánh niệm của hơi thở mà mình trói được
con cọp đó, để nó nằm yên, không cho nó tác oai tác quái.
Liệng sợi tơ sen trói mãnh hổ, và người tu cần phải luyện
và dùng sợi tơ sen đó để trói cái tập khí của mình. Đó
là khả năng nhận thức bất cứ những gì xẩy ra nơi thân
và tâm của mình.
Các
phương pháp của thiền
Thiền
không phải chỉ là thực tập khi ngồi, vì ngồi lâu sẽ mệt
(tọa cựu thành lao) ai cũng biết như vậy. Trong khi đi, mình
cũng thiền, đứng cũng thiền, nằm cũng thiền, trong khi rửa
bát hay lúc uống trà cũng phải thiền. Thiền 24 giờ mỗi
ngày mới được, nếu ngồi không thì đâu có đủ, vì ngồi
lâu thì mệt. Cho nên có thiền tọa, thiền hành, thiền trà
v.v… đủ thứ thiền. Khi mình lạy xuống thì cũng thiền.
Nghĩa là khi nào mình cũng có mặt thật sự: thân và tâm nhất
như. Có mặt trong giây phút hiện tại để biết những gì
xẩy ra cho thân và tâm thì những lúc đó đều là thiền cả,
dù không phải trong tư thế ngồi. Khi ăn cơm, cái đầu của
mình có thể suy nghĩ về quá khứ hay tương lai, hoặc đang
nghĩ đến chuyện sau khi ăn xong! Thì trong khi ăn như vậy mình
không có mặt, không có thiền; trong khi một người ngồi bên
cạnh ăn cơm không nghĩ đến quá khứ, tương lai người đó
thực sự có mặt cho bửa ăn và cho tăng thân đang ngồi chung
quanh, người đó có hạnh phúc, nhẹ nhàng trong bửa ăn thì
người đó có thiền. Mình cũng mặc cái áo màu đó, ngồi
sát cạnh người đó, tuổi tu của mình lớn hơn người đó,
nhưng nếu mình không có mặt trong khi ăn, thì mình không có
thiền. Mình có thiền hay không có thiền là do mình có mặt
hay không có mặt trong bửa ăn. Mình có làm chủ được thân
và tâm của mình trong giây phút đó không? Hay là mình để
cho quá khứ, tương lai kéo mình đi. Cái nầy dễ lắm vì trong
giây phút hiện tại mình có thiền hay không là do chính mình
biết thôi đâu cần ai nói cho mình biết. Cho nên khi lái xe
mình cũng có thể thiền. Lái xe có an lạc, có chú tâm thì
mình có hạnh phúc và có an ninh. Ít gây tai nạn, nếu có là
do người khác gây nên. Khi mình rửa bát (các ông ít ưa rửa
bát, hay để các bà rửa vì nghĩ rằng rửa bát không có hạnh
phúc!). Mà kỳ thực các ông muốn học thiền, thì khi rửa
bát các ông cũng sẽ có hạnh phúc. Mình đứng đó có xà
phòng, có nước, có hơi thở và đứng thoải mái thực tập
thở vào thở ra, thấy được rằng mình đang còn sống, đang
còn có mặt cho những người thân, là cột trụ cho gia đình
của mình (mình không bệnh nặng, không nằm liệt giường
liệt chiếu). Trong khi rửa bát mình ý thức được những
điều đó thì mình sẽ có hạnh phúc. Và khi rửa bát thì
nghĩ rằng như mình đang tắm cho một đức Phật còn sơ sinh.
Thành ra rửa bát cũng hay lắm. Ngày xưa đức Thế Tôn cũng
tự mình rửa cái bát sau khi ăn cơm và cố nhiên là khi đức
Thế Tôn rửa bát thì có an lạc. Mình là đệ tử của Ngài
thì trong khi rửa bát mình tự hỏi mình có an lạc hay không?
Dầu mình phải rửa đến 100 cái bát (vì trong chùa có đến
100 Thầy, hay 100 vị khách) thì việc rữa đó có an lạc hay
không là do mình thôi; là do cách sống của mình trong giây
phút đó. Chuyện nầy mình có thể làm được liền lập tức,
không cần đợi đến ngày mai. Khi đi thì mình đi thiền, không
cần phải làm bộ là ta đây đang đi thiền. Chỉ cần đi
tmột cách tự nhiên”t. Xin tặng 4 chữ để quý vị đi thiền
ngày hôm nay (xem phần cuối), vì ngày mai sẽ có rất đông
người từ chùa Trúc Lâm đến, khó mà đi được thiền như
thế. Còn tôi thì đạt được đến trình độ khi có 10.000
người tôi cũng đi được như thường. Tôi vẫn đi được
những bước chân vững chải thảnh thơi, không bị số đông
áp đảo. Khi mình thở vào mình có thể bước 2 bước và
nói: mỗi bước chân, khi thở ra mình cũng bước hai bước
và nói: là sự sống.
Tiếp
xúc với sự sống
Mỗi
bước chân là sự sống. Đi như thế nào để mỗi bước
chân mình có thể tiếp xúc đuợc với sự sống. Rất là
mầu nhiệm, vì vậy trong 5 giới (ngũ giới), giới thứ nhất
là bảo vệ sự sống. Tại sao phải bảo vệ sự sống? Bởi
vì sự sống hết sức mầu nhiệm, vô giá và khi tiếp xúc
được với sự sống, thì sự sống đó có trong thân và tâm
cũng như chung quanh mình. Sự sống đầy sự mầu nhiệm, con
mắt mình là sự mầu nhiệm, trái tim của mình là sự mầu
nhiệm, hai lá phổi của mình là sự mầu nhiệm. Các nhà sinh
học nghiên cứu cơ thể con người và thấy cái gì cũng mầu
nhiệm hết. Mỗi một tế bào trong cơ thể mình nó tuyệt
vời lắm và chung quanh mình cũng thế. Từ một hạt cát, hạt
sỏi cho đến một bông hoa, một bóng mây, ánh mặt trời đều
là mầu nhiệm. Các nhà khoa học nghiên cứu cho thấy những
sự mầu nhiệm đó trong từng hiện tượng. Còn khi mình đi
thì cứ lo nghĩ chuyện nầy đến chuyện kia, quá khứ đến
tương lai. Buồn giận và lo lắng và mình đánh mất mình trong
sự buồn giận lo lắng đó. Không hề tiếp xúc được với
sự sống. Nói rằng mình đang sống thì không đúng lắm, mà
phải nói là mình đang sống nhưng không tiếp xúc được với
sự sống mầu nhiệm. Nhà văn Pháp Albert Camus* nói rằng: có
những người đang sống như là chết; thấy họ giống như
sống vậy nhưng mà là như chết, bởi vì họ không tiếp xúc
được với tất cả những cái mầu nhiệm của nó. Mình là
người tu, mỗi bước chân mình phải tiếp xúc được với
sự sống mầu nhiệm. Đừng có đi trên mây, trong lo lắng,
trong giấc mơ (hay đừng mộng du). Đừng đánh mất mình trong
sự tiếc nuối, lo lắng và sợ hãi.
Bước
chân dẫm lên thực tại
Mỗi
bước chân phải dẫm lên mảnh đất của sự sống thực
tại. Vua Trần Thái Tông nói: bộ bộ đạp trước thực địa
(Mỗi bước chân của tôi phải dẫm lên mảnh đất của thực
tại). Anh đi trong giấc mơ, còn tôi thì đi trong tỉnh thức.
Bộ bộ đạp trước thực địa, có nghĩa là mỗi bước chân
giúp cho chúng ta xúc chạm vào cái mầu nhiệm của sự sống.
Cho nên mình là thiền sinh, mỗi bước chân là sự sống. Mình
tiếp xúc được với sự sống mầu nhiệm là mình thành công.
Mình đừng tuyên bố suông rằng mỗi bước chân là sự sống
bằng miệng, trong khi cái đầu của mình vẫn lo lắng, suy
nghĩ đến chuyện quá khứ và tương lai thì mình là một con
vẹt chứ không phải là thiền sinh. Mỗi bước chân là sự
sống, đi vài ba phút thì phải làm sao bàn chân mình phải
tiếp xúc được với sự sống của mình, mỗi bước chân
có chánh niệm. Bước chân có năng lượng của niệm và định
thì mới tiếp xúc được với sự sống, còn nếu không có
niệm và định thì mình là một bóng ma, mình đang mộng du.
Mình đang đi trên trái đất xinh đẹp nầy mà mình không biết
thì rất uổng, vì đi như thế mỗi bước chân là một phép
thần thông, vì mỗi bước chân là một phép lạ. Mình đang
còn sống, hai chân còn khỏe và mỗi bước tiếp xúc được
với trời đất, với sự sống mầu nhiệm thì mỗi bước
chân của mình là một phép lạ rồi. Tưởng tượng rằng
mình đang đau liệt giường liệt chiếu, chỉ còn vài ngày
nữa mình sẽ chết, thì lúc bấy giờ mình muốn đứng dậy
bước đi một bước thôi cũng không được.
Địa
hành thần thông
Mỗi
bước chân là vô giá, bước trong sự tỉnh thức, trong tiệm
và định thì sẽ giúp cho mình một sự sống mầu nhiệm.
Thế thì mỗi bước chân là phép lạ, phép lạ không phải
là đi trên than hồng hay trên mặt nước, phép lạ là đi trên
mặt đất. Đây là chữ của thiền sư Lâm Tế Địa hành
thần thông, trong Lâm Tế Lục. Mình là người tu thì phải
làm phép lạ trong khi đi. Mỗi bước chân thì phải tiếp xúc
với sự sống mầu nhiệm và nó đem lại hạnh phúc liền
theo đó, là địa hành thần thông. Ai nói mình không làm phép
thần thông được, chỉ cần một ít niệm và định là mình
có thể đi như một con người tự do. Tự do nghĩa là không
có lo lắng, sầu khổ chiếm cứ lấy mình. Mình đi như một
con người tự do, tự do trong mỗi bước chân mà không là
sự đam mê, hận thù, ganh tị. Đó là sự thực tập của
thiền sư Lâm Tế: địa hành thần thông là như vậy. Mỗi
bước chân là sự sống, quý vị có làm được không? Mỗi
bước chân là phép lạ, phép lạ là đi trên mặt đất chứ
không phải đi trên than hồng, trên mây. Nếu mình quyết tâm
thì mình làm được, khi thành công rồi mỗi bước chân của
mình sẽ có một giá trị vô biên, không thể mua được bằng
bất cứ một số tiền nào. Vì vậy mỗi bước chân là vô
giá, là thế đó. Mỗi bước chân có năng lượng của hạnh
phúc vững chãi và thảnh thơi. Nếu mình đi không được như
vậy thì mình thất bại. Mỗi bước chân là sự sống, mỗi
bước chân là phép lạ. Đi như vậy thì con người mình sẽ
thanh thoát và nhẹ nhàng, bởi vì không có phiền não, đi rất
thảnh thơi. Thế nên mỗi bước chân như thế sẽ là một
phương tiện trị liệu làm cho tật bệnh tiêu trừ. Không
cần uống thuốc, chỉ cần đi cho có thảnh thơi, vậy thì
mỗi bước chân như thế dẫm vào sự thực tại, tiếp xúc
được với những gì lành mạnh, tươi mát, mầu nhiệm có
tác dụng trị liệu và chuyển hóa.
Thảnh
thơi là trị liệu
Mỗi
bước chân là trị liệu, mình đang đi và biết rằng việc
trị liệu đang xẩy ra trong từng bước chân, nếu mình có
bệnh gì và nếu biết đi như thế thì những bệnh đó sẽ
từ từ thuyên giảm. Ai trong chúng ta cũng có một ít bệnh
và thiền đi là một trong những phương pháp trị liệu thân
và tâm. Thiền thở, thiền buông thư, thiền ngồi v.v… cũng
như vậy. Trong khi ngồi thiền mình không có những thứ đó,
thì cái ngồi của mình sẽ trống rỗng, ngồi trong hầm tối.
Và chữ cuối cùng tôi muốn nói là: mỗi bước chân là thảnh
thơi, có nghĩa là không vướng mắc vào những thứ gì khác.
Mình có công việc phật sự phải làm, cố nhiên mình là phật
tử thì phải có nhiều công việc phật sự, nhưng tại sao
phải lo? Làm thì làm tại sao lo? Mình cũng có thể có hạnh
phúc trong khi làm. Nếu đợi đến khi làm xong rồi mới thảnh
thơi thì đến tết Congo mình cũng không có thảnh thơi được.
Cho nên phải thảnh thơi ngay bây giờ, trong khi làm mình vẫn
có thảnh thơi, không cần phải đợi. Mỗi bước chân là
thảnh thơi, không lo không sợ không ghen tị, và con người
nếu có thảnh thơi như thế thì sẽ có hạnh phúc ngay lập
tức. Ngay cái chuyện tập đi thôi đã mang lại hạnh phúc
và trị liệu cho mình rồi.
Giá
trị bước chân chánh niệm
Mỗi
bước chân là sự sống, mình có thể đi rất chậm, chỉ
cần bước thôi là mình đã tiếp xúc được với sự sống
và nếu không tiếp xúc được với sự sống thì đừng đi
nữa, đứng im tại chỗ, đợi đến khi thực sự tiếp xúc
được với sự sống, thì với một nụ cười đắc thắng
chúng ta bước thêm bước nữa.
Mỗi
bước chân là phép lạ, thấy rõ ràng khi chưa có phép lạ
thì đừng đi nữa, đợi cho đến khi thấy rằng mình đang
làm phép thần thông thì lúc đó mình mới đi tiếp.
Mỗi
bước chân là trị liệu, đi như thế nào mà thân và tâm
cảm thấy nhẹ nhàng và đang trị liệu, thì biết rằng mình
đang làm đúng. Còn đi như bị ma đuổi thì lúc đó mình không
phải là thiền sư, thiền sinh, không phải là sự nối tiếp
của đấng Thế Tôn.
Đây
là những phương pháp rất hay, không bao giờ buồn ngủ hết.
Cũng có những phép ngồi thiền mà nếu mình quán chiếu như
thế nào để cảm thấy là vui, hạnh phúc thì mình cũng không
buồn ngủ. Làm sao cho sự thực tập của mình đem lại an
lạc, chứ không phải là những cái buồn chán hàng ngày. Làm
sao cho việc ngồi thiền thành ra một lễ hội, không cần
nói gì, chỉ cần ngồi với nhau thôi đã có rất nhiều niềm
vui rồi. Trong khi đi thiền như là một lễ hội, không ca hát
nhưng từng bước chân đem lại hạnh phúc. Ngày xưa tăng đoàn
đã từng được đi với Thế Tôn như thế; đã từng được
ngồi với Thế Tôn như thế hạnh phúc rất lớn. Giờ đây,
phật sự nhiều quá không đi được như đức Thế Tôn, không
ngồi được như đức Thế Tôn thì mình chưa tiếp nối được
sự nghiệp của đức Thế Tôn.
Xin
kính chúc chư Tôn Đức, quý Phật tử một ngày Phật Đản
vui tươi hạnh phúc.
Bốn
chữ hôm nay tôi trao truyền lại cho quý vị, coi như là một
món quà:
Sự
sống - Phép lạ.
Trị
liệu - Thảnh thơi
*Albert
Camus 1913-1960 : nhà văn, nhà báo và là kịch tác gia người
Pháp.
(Phù
Sa)
05-22-2008
10:23:56