[07]
Hướng
Dẫn Hành Thiền
Muốn
hành thiền, trước tiên bạn phải tìm một nơi thích hợp
để giúp cho việc hành thiền của bạn được tốt đẹp.
Nơi thích hợp là nơi yên tịnh. Bạn có thể tìm được nơi
yên tịnh trong thiên nhiên. Tuy nhiên, nếu bạn hành thiền
trong nhà, bạn phải tìm một nơi thích hợp cho việc định
tâm của bạn, và mỗi khi hành thiền bạn nên đến đó. Bạn
có thể tôn trí nơi hành thiền bằng một pho tượng hay ảnh
Phật, đèn, hoa và thắp một nén nhang để hổ trợ cho việc
hành thiền. Tuy nhiên, những thứ trên không phải là điều
thiết yếu. Ðiều quan trọng là bạn phải có một nơi yên
tịnh để hành thiền.
Bắt
đầu hành thiền, bạn phải chọn một thế ngồi thoải mái
thích hợp với bạn. Bạn có thể ngồi xếp bằng, lưng giữ
thẳng. Nếu ngồi kiết già, hai chân tréo vào nhau, quá khó
đối với bạn thì bạn có thể ngồi bán già, đặt chân
này lên chân kia. Nếu ngồi bán già cũng còn khó khăn đối
với bạn thì bạn có thể ngồi theo "lối Miến Ðiện" hay
còn gọi là "lối dễ dàng", chân này đặt trước chân kia,
hai chân rời ra mà không chồng lên nhau. Nếu vẫn còn thấy
khó khăn, bạn có thể ngồi trên ghế hoặc trên băng dài.
Bạn cũng có thể dùng gối đệm nếu muốn. Mặc dầu ngồi
kiết già là tư thế lý tưởng, nhưng bạn phải quyết định
chọn cho mình một tư thế thích hợp để có thể duy trì
việc hành thiền một cách tốt đẹp nhất. Dầu ngồi ở
tư thế nào đi nữa, điều quan trọng là phải giữ thân thể
và lưng cho ngay thẳng.
Chúng
ta sẽ nói đến ba loại thiền: Thiền Tha Thứ, Thiền Từ
Bi (Niệm Tâm Từ) và Thiền Minh Sát.
1.
Thiền Tha Thứ
Chúng
ta hành Thiền Tha Thứ để loại bỏ mọi cảm giác hối hận
và sân hận. Thiền Tha Thứ có ba phần: xin người khác tha
thứ cho mình, tự mình tha thứ cho người khác, và chính mình
tha thứ cho mình.
Trước
khi muốn viết gì lên bảng đen, bạn phải chùi sạch bảng.
Cũng vậy, trước khi tha thứ cho người khác và tha thứ cho
chính mình, bạn phải được người khác tha thứ. Ðôi khi
bạn làm một điều gì sai lầm đối với người nào, bạn
cảm thấy ân hận. Ðặc biệt lúc hành thiền, bạn muốn
giữ tâm trong sạch thanh tịnh nhưng những tư tưởng ăn năn
hối tiếc này cứ lãng vãng trong tâm trí khiến cho việc hành
thiền của bạn bị rối loạn. Do đó, trước tiên bạn phải
xin người khác tha thứ cho bạn. Sau đó, chính bạn phải tha
thứ cho người khác về những lỗi lầm của họ. Có thể,
có người nào đó làm điều gì sai lầm đối với bạn và
làm bạn giận dữ, bực tức thì bạn cũng phải lọai bỏ
những tư tưởng sân hận ấy đi để cho tâm trí được thảnh
thơi. Bạn phải tha thứ cho mọi người, nếu không tha thứ
thì bạn không thể hành thiền được. Một điều rất quan
trọng nữa là bạn phải tha thứ cho chính mình. Ðôi khi bạn
cảm thấy tha thứ cho mình là một điều khó khăn. Nếu bạn
không thể tha thứ cho chính mình thì những tư tưởng sân
hận, bực tức về chính mình sẽ quấy rối việc hành thiền
của bạn.
Thiền
Tha Thứ là điều kiện tiên quyết để hành Thiền Từ Bi.
Nếu bạn không thể tha thứ một người nào đó thì bạn
không thể rãi tâm từ đến họ được. Bởi thế bạn phải
hành Thiền Tha Thứ trước khi hành Thiền Từ Bi.
2.
Thiền Từ Bi (Niệm Tâm Từ)
Từ
ái là một loại tình thương, lòng thành thật mong muốn tất
cả chúng sanh được an vui hạnh phúc. Lòng từ ái chẳng dính
dấp gì đến sự luyến ái, dính mắc vào riêng một cá nhân
nào. Ðó là một tình thương thật trong sạch, một sự ước
mong thành thật cho chính mình và cho người khác.
Khi
thực tập Thiền Từ Bi, trước tiên bạn mong ước cho chính
mình được an vui hạnh phúc. Khi đọc thầm câu "nguyện cho
tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không
tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp
chướng ngại" không có nghĩa là bạn ích kỷ, bởi vì muốn
rải tâm từ ái đến người khác thì trước tiên bạn phải
có tư tưởng từ ái với chính mình. Ðiều này có nghĩa là
khi rải tâm từ ái đến cho chính mình, bạn thành thật mong
rằng "ta muốn có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc,
thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui,
không gặp chướng ngại" thì bạn cũng đồng thời cầu mong
cho "người khác có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc,
thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui,
không gặp chướng ngại."
Bạn
có thể rãi tâm từ bằng nhiều cách. Bạn có thể rãi tâm
từ đến tất cả chúng sanh căn cứ theo chỗ ở. Chúng sanh
ở đây bao gồm cả súc vật, côn trùng v.v... Trước hết,
bạn rãi tâm từ đến tất cả chúng sanh trong nhà bạn. Tiếp
theo đó bạn rãi tâm từ đến tất cả chúng sanh trong khu
vực bạn đang cư ngụ, trong thành phố, trong quận, trong tiểu
bang, trong nước, trên thế giới, trong vũ trụ, và cuối cùng
là rãi tâm từ đến tất cả chúng sanh một cách tổng quát.
Khi nói các câu trên, bạn hãy cố gắng hình dung ra những
chúng sanh mà bạn hướng đến đang mạnh khoẻ, an lạc và
hạnh phúc. Tư tưởng từ ái của bạn sẽ đến với họ
và khiến họ thật sự mạnh khoẻ, an lạc và hạnh phúc.
Việc hành Thiền Từ Bi kéo dài trong mười lăm phút.
Khi
hành Thiền Tha Thứ, xin bạn chắp hai tay và đọc:
Vì
lầm lạc và không minh mẩn nên tôi đã có hành động, lời
nói và ý nghĩ sai lầm làm thiệt hại và gây ra đau khổ cho
người khác. Xin tất cả hãy mở rộng lòng từ bi và trí
tuệ tha thứ cho tôi.
Tôi
thành thật tha thứ cho tất cả những ai đã có hành động,
lời nói và ý nghĩ sai lầm làm thiệt hại và gây ra đau khổ
cho tôi.
Tôi
thành thật tha thứ cho chính tôi và nguyện từ nay về sau
làm lành, lánh dữ, giữ tâm trong sạch.
Bạn
nên đọc các câu trên từ năm đến mười lần trước khi
hành Thiền Từ Bi hay Niệm Tâm Từ.
Ngay
sau Thiền Tha Thứ, bạn có thể hành Thiền Từ Bi như sau:
a)
Rải tâm từ đến chúng sanh theo nơi chốn:
Khi
hành Thiền Từ Bi theo cách này, bạn có thể niệm thầm trong
tâm vào khoảng mười lần những câu sau đây:
Nguyện
cho tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không
tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp
chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh trong nhà này có đầy đủ sức khỏe,
bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền
não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh trong khu vực này có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không
phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh trong thành phố này có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không
phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh trong tiểu bang này có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không
phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh trong nước này có đầy đủ sức khỏe,
bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền
não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh trên thế giới thân có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, không tật bệnh, tâm không phiền
não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh trong vũ trụ có đầy đủ sức khỏe,
bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền
não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh
phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày
an vui, không gặp chướng ngại.
b)
Rải tâm từ qua từng hạng người:
Khi
hành Thiền Từ Bi theo cách này, bạn có thể niệm thầm trong
tâm vào khoảng mười lần những câu sau đây:
Nguyện
cho tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không
tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp
chướng ngại.
Nguyện
cho thầy tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc,
thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui,
không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho cha mẹ tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc,
thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui,
không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho những người trong gia đình tôi có đầy đủ sức khỏe,
bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền
não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho thân bằng quyến thuộc tôi có đầy đủ sức khỏe, bình
an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não,
hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho bạn bè tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc,
thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui,
không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho những người cùng sở làm với tôi có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không
phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả thiền sinh có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh
phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày
an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho những người không quen biết tôi có đầy đủ sức khỏe,
bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền
não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho những người không có thiện cảm với tôi có đầy đủ
sức khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không
phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh
phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày
an vui, không gặp chướng ngại.
Nguyện
cho tất cả chúng sanh đừng có oan trái lẫn nhau, hãy cho được
sự an vui, đừng có khổ, đừng làm hại lẫn nhau, đừng
hẹp lượng; hãy cho được sống lâu, đừng có bệnh hoạn,
hãy cho được thành tựu đầy đủ, hãy giữ mình cho được
an vui; tất cả chúng sanh đang đau khổ, xin cho dứt khổ, đang
kinh sợ, xin cho hết kinh sợ, đang thương tiếc, xin cho hết
thương tiếc.
Sau
khi đã rải tâm từ ái đến toàn thế giới và tất cả chúng
sanh. Bây giờ chúng ta hãy hành Thiền Minh Sát.
3.
Thiền Minh Sát
Thiền
Minh Sát là thiền tỉnh thức hay chánh niệm. Thiền Minh Sát
dạy chúng ta sống và đối diện với hiện tại. Thiền sinh
phải ý thức tất cả mọi chuyện đến và đang xảy ra trong
hiện tại. Ðối với thiền sinh, chỉ có hiện tại là quan
trọng. Trong khi hành thiền, thiền sinh phải ghi nhận, theo
dõi, quán sát mọi chuyện đến từ sáu cửa giác quan (mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và tâm) trong giây phút hiện tại vì
đó chính là những đề mục mà ta cần phải ý thức và chánh
niệm.
Khi
hành Thiền Minh Sát, thiền sinh thuần theo dõi các hiện tượng
đang xảy ra hoặc nếu muốn có thể niệm thầm theo khi ghi
nhận các đề mục đó. Khi theo dõi một cách tinh tấn, chánh
niệm, dần dần bạn sẽ đạt được mức độ tỉnh thức
cao nhờ đó có thể thấy được chân tướng của sự vật.
Ðó là sự kết hợp tạm thời của thân và tâm, của các
hiện tượng tâm vật lý hiện đang xảy ra. Chúng mang bản
chất vô thường, khổ hay bất toại nguyện, và vô ngã hay
không có cốt lõi, không kiểm soát được. Một khi nhìn thấy
được ba bản chất thật sự này rồi, thì bạn sẽ loại
bỏ được ý tưởng sai lầm (tà kiến) về sự vật. Nhờ
hiểu biết đứng đắn chân tướng của sự vật, bạn sẽ
giảm bớt tham ái, dính mắc vào thân và tâm, và do đó các
phiền não đã cản trở hay ngăn chận sự giác ngộ sẽ dần
dần bị suy yếu đi.
Khi
hành thiền Minh Sát, bạn phải chọn một đề mục để chú
tâm theo dõi. Ðề mục này gọi là đề mục chính. Theo truyền
thống, thiền sinh thường chú ý vào hơi thở, lấy hơi thở
làm đề mục chính. Bạn đặt tâm ở cửa mũi theo dõi hơi
thở vào và hơi thở ra. Nếu muốn, bạn có thể niệm thầm
trong khi theo dõi hơi thở như vậy.
Hơi
thở vào và hơi thở ra kéo dài khoảng bốn đến năm giây.
Khi chú tâm ghi nhận hơi thở vào, bạn sẽ cảm nhận được
cảm giác của hơi thở ở cửa mũi hay bên trong mũi. Bạn
phải chú tâm vào cảm giác của hơi thở trong suốt quá trình
từ đầu đến cuối. Hãy chú tâm vào bản chất của hơi
thở, đó là bản chất chuyển động hay bản chất nâng đỡ,
chứ không phải chú tâm vào hình dáng hay tướng của hơi
thở. Hãy cố gắng quán sát hơi thở vào và hơi thở ra riêng
biệt nhau, đừng nhập chung. Ðừng để tâm chạy theo hơi
thở vào trong cơ thể hay hơi thở ra khỏi cơ thể. Tâm bạn
đóng vai trò của người gác cửa, chỉ ghi nhận kẻ ra người
vào mà thôi. Ðừng cố gắng thúc ép hay điều khiển hơi
thở. Hãy bình thản, thoải mái ghi nhận và theo dõi hơi thở.
Bạn có thể niệm thầm khi chú tâm theo dõi hơi thở vào và
hơi thở ra.
Khi
thở vào bạn niệm "vào" và khi thở ra bạn niệm "ra". Bạn
chỉ thuần chú tâm ghi nhận hơi thở mà đừng để ý gì
đến những quấy nhiễu hay đề mục phụ đang ảnh hưởng
đến sự định tâm của bạn. Nếu thấy sự niệm thầm hổ
trợ cho việc định tâm của bạn thì bạn nên làm. Nếu thấy
sự niệm thầm gây trở ngại cho sự tập trung tâm ý thì
đừng niệm mà chỉ chánh niệm ghi nhận là đủ. Khi tâm bạn
chỉ an trú trên đề mục hơi thở mà không bị phóng tâm
thì đó là điều rất tốt đẹp.
Tuy
nhiên, tâm có khuynh hướng phóng đi nơi khác. Khi bị phóng
tâm hay vọng tâm, bạn phải ý thức điều đó, phải ghi nhận
sự phóng tâm hay vọng tâm này. Khi phóng tâm, bạn có thể
niệm thầm: "phóng tâm, phóng tâm, phóng tâm", rồi trở về
lại với đề mục hơi thở. Khi có một vật gì hay một người
nào hiện ra trong tư tưởng bạn thì bạn hãy thuần ghi nhận
sự thấy này hoặc có thể vừa ghi nhận vừa niệm thầm:
"thấy, thấy, thấy", rồi trở về lại với đề mục hơi
thở. Khi bạn nghe người nào đang nói chuyện trong tâm bạn
thì bạn cũng ghi nhận thuần sự nghe này hoặc có thể vừa
nghe vừa niệm thầm: "nghe, nghe, nghe", rồi trở về lại với
đề mục hơi thở. Nếu bạn nói chuyện với người nào trong
tâm mình hay tự nói với mình cũng phải thuần ghi nhận sự
nói này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "nói, nói, nói",
rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Khi bạn phân tích
điều gì, hãy thuần ghi nhận sự phân tích này hoặc vừa
ghi nhận vừa niệm thầm: "phân tích, phân tích, phân tích".
Khi bạn phán đoán hãy thuần ghi nhận sự phán đoán này hoặc
vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "phán đoán, phán đoán, phán
đoán", rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Khi bạn
nhớ điều gì trong quá khứ, hãy thuần ghi nhận sự nhớ
này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "nhớ, nhớ, nhớ",
rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Nếu bạn suy nghĩ
đến tương lai, sắp đặt hay dự trù điều gì, hãy thuần
ghi nhận hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "dự trù, dự
trù, dự trù", rồi trở về với hơi thở. Nếu bạn cảm
thấy làm biếng, hãy thuần ghi nhận sự làm biếng này hoặc
vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "làm biếng, làm biếng, làm
biếng", rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Nếu bạn
cảm thấy chán nản, hãy thuần ghi nhận sự chán nản này
hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "chán nản, chán nản,
chán nản", rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Nếu
bạn cảm thấy phản kháng điều gì, hãy thuần ghi nhận sự
phản kháng này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "phản
kháng, phản kháng, phản kháng", rồi trở về lại với đề
mục hơi thở. Khi có tư tưởng luyến ái hay tham lam hãy thuần
ghi nhận sự luyến ái này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm:
"luyến ái, luyến ái, luyến ái", hay "tham lam, tham lam, tham
lam", rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Nếu bạn
cảm thấy nóng giận, hãy thuần ghi nhận sự nóng giận này
hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "nóng giận, nóng giận,
nóng giận", rồi trở về lại với đề mục hơi thở.
Nếu
muốn nuốt nước bọt, hãy thuần ghi nhận ý muốn này hoặc
vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "muốn, muốn, muốn". Khi dồn
nước miếng trước khi nuốt, hãy thuần ghi nhận sự dồn
này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "dồn, dồn, dồn".
Khi nuốt nước bọt hãy thuần ghi nhận sự nuốt này hoặc
vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "nuốt, nuốt, nuốt", rồi trở
về lại với đề mục hơi thở.
Nếu
có cảm giác ngứa ngáy thì đừng gãi ngay mà hãy chú tâm
vào nơi ngứa và thuần ghi nhận sự ngứa này hoặc vừa ghi
nhận vừa niệm thầm: "ngứa, ngứa, ngứa". Thường thì chẳng
bao lâu sau sự ngứa sẽ biến mất. Khi hết ngứa hãy trở
về lại với đề mục hơi thở. Ðôi lúc sự ngứa không
biến mất mà càng gia tăng thì hãy chú tâm vào chỗ ngứa
ghi nhận sự ngứa, ý thức sự ngứa, cố gắng quan sát sự
ngứa càng lâu càng tốt. Nếu bạn cảm thấy không thể nào
chịu đựng được nữa thì bạn có thể gãi. Tuy nhiên, trước
khi gãi phải ghi nhận ý định hay ý muốn gãi. Khi đưa tay
đến chỗ ngứa bạn phải ghi nhận sự chuyển động này.
Hãy di chuyển tay một cách chậm rãi và theo dõi chuyển động
trong chánh niệm.
Khi
những ngón tay của bạn đụng vào chỗ ngứa, hãy thuần ghi
nhận sự đụng này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "đụng,
đụng, đụng". Khi gãi, hãy thuần ghi nhận sự gãi này hoặc
vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "gãi, gãi, gãi". Khi đưa tay
về, hãy thuần ghi nhận sự đưa này hoặc vừa ghi nhận vừa
niệm thầm: "đưa tay về, đưa tay về, đưa tay về". Khi bàn
tay đụng vào chân, vào đầu gối hay tay kia, hãy thuần ghi
nhận sự đụng này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: "đụng,
đụng, đụng", rồi trở về lại với đề mục hơi thở.
Nếu
cảm thấy tê, đau, cứng, nóng... trên cơ thể, hãy chú tâm
vào chỗ có những cảm giác này và chánh niệm ghi nhận. Nếu
cảm thấy đau ở một nơi nào đó trên cơ thể, hãy thuần
ghi nhận sự đau này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm:
"đau, đau, đau". Cảm giác đau nhức rất khó biến mất, bởi
vậy bạn phải kiên nhẫn và tiếp tục chú tâm ghi nhận.
Ðau nhức có thể biến mất hay càng trầm trọng hơn. Hãy
chịu đựng với sự đau càng lâu càng tốt. Ðau nhức là
một đề mục mạnh mẽ và thuận lợi cho việc hành thiền
bởi vì tâm có khuynh hướng bị kéo đến nơi đau nhức. Do
đó, hãy nỗ lực chú tâm ghi nhận mọi sự đau nhức và cố
gắng ý thức rằng đây là đề mục mạnh mẽ nhất trong
các đề mục về cảm giác. Ðừng đồng hóa sự đau với
chính mình. Ðừng nghĩ: "Ðây là cái đau của tôi" hay "tôi
cảm thấy đau". Cũng đừng nghĩ "đây không phải là cái đau
của tôi". Thiền sinh chỉ ghi nhận có sự đau nhức hoặc
cảm giác đau đớn mà thôi chứ không có ai đau cả. Nếu
đau nhức quá mãnh liệt và bạn nghĩ rằng mình không thể
chịu đựng nỗi thì bạn có thể bỏ hẳn sự đau nhức và
trở về lại với đề mục hơi thở của mình. Bạn cũng
có thể di chuyển hay thay đổi tư thế để bớt đau, nhưng
trước khi di chuyển hay thay đổi tư thế bạn phải ghi nhận
ý định thay đổi, rồi thay đổi từ từ từng động tác
một, theo dõi các tác động một cách chánh niệm. Sau khi đã
thay đổi xong hãy trở về lại với đề mục hơi thở.
Như
thế, hơi thở là đề mục chính trong việc hành thiền của
bạn. Khi không có đề mục lạ chen vào thì bạn hãy tiếp
tục ghi nhận hơi thở. Khi có đề mục phụ nổi bật xuất
hiện, hãy ghi nhận, ý thức, quán sát đề mục này rồi trở
về lại với đề mục chính là hơi thở. Ðừng thúc ép,
dồn nén mình, hãy quán sát đối tượng một cách thoải mái,
nhẹ nhàng. Hãy chú tâm chánh niệm ghi nhận hơi thở. Ðừng
cố gắng xua đuổi vọng tâm, đừng cố gắng loại trừ những
cảm giác hay cảm xúc; chỉ thuần theo dõi, quán sát chúng
và để chúng tự ra đi.
Một
số người không thích hợp với đề mục hơi thở vì không
thể chú tâm hoặc cảm thấy khó khăn ghi nhận hơi thở ra
vào thì có thể chọn chuyển động "phồng xẹp" của bụng
làm đề mục chính. Chú tâm vào bụng và ghi nhận chuyển
động phồng xẹp của bụng từ lúc khởi đầu cho đến khi
chấm dứt. Nếu không thấy được sự phồng xẹp, bạn có
thể đặt tay lên bụng để cảm nhận sự chuyển động.
Sau một vài lần làm như thế, bạn có thể theo dõi được
chuyển động phồng xẹp mà không cần đặt tay lên bụng
nữa.
Tóm
lại, bạn có thể chọn hơi thở hoặc chuyển động của
bụng làm đề mục chính cho việc hành thiền. Nếu là thiền
sinh mới bắt đầu thực tập, bạn có thể thử mỗi phương
pháp trong một thời gian và xem phương pháp nào thích hợp
và đễ dàng giúp cho mình định tâm thì hãy chọn phương
pháp đó. Một khi đã chọn xong, hãy nỗ lực tinh tấn theo
dõi đề mục đó. Ðiều đáng ghi nhớ là hãy tham khảo với
thiền sư trong việc lựa chọn đề mục chính cũng như nhờ
thiền sư hướng dẫn trong việc thực tập để cho sự hành
thiền đạt được kết quả tốt đẹp.
Trong
khi hành thiền, bạn đừng kỳ vọng hay mong ngóng điều gì;
đừng cầu mong mình sẽ thấy hay đạt được những gì thật
kỳ diệu hoặc lạ lùng. Mong cầu là một hình thức vi tế
của tham ái, dính mắc. Ðó là một chướng ngại của sự
định tâm cần phải loại trừ. Khi có mong cầu thì chỉ cần
thuần chú tâm ghi nhận hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: mong
cầu, mong cầu, mong cầu, rồi trở về lại với đề mục
chính là hơi thở hay chuyển động phồng xẹp của bụng.
Sau khi đã hành thiền được mười phút hay nhiều hơn, bạn
có thể đi kinh hành.
Thiền
hành
Khi
thay đổi tư thế ngồi sang tư thế đứng để chuẩn bị
đi kinh hành, bạn phải luôn luôn cố gắng giữ tâm chánh
niệm liên tục. Khi thực hành Thiền Minh Sát, điều quan trọng
là phải luôn luôn chú tâm ghi nhận với chánh niệm. Bởi
vậy, trước khi đứng dậy, bạn phải thuần chú tâm ghi nhận
hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: "muốn, muốn, muốn". Sau
đó, chú tâm vào toàn thể cơ thể, và từ từ đứng dậy.
Trong khi đứng dậy, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự đứng
dậy hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: "đứng dậy, đứng
dậy, đứng dậy". Khi đã đứng dậy rồi, hãy chú tâm vào
sự đứng, trong khi chú tâm vào sự đứng bạn có thể niệm
thầm: "đứng, đứng, đứng". Khi đi kinh hành, tốt nhất nên
chọn lối đi đã có sẵn, rồi đi tới đi lui trên đó. Hãy
đi một cách chậm rãi và chú tâm vào chân hay chuyển động
của chân. Nên chú tâm ghi nhận ít nhât bốn giai đoạn của
mỗi bước đi.
Ðể
đi một bước, trước tiên bạn phải dở chân. Hãy chú tâm
vào chân và thuần chú tâm ghi nhận sự dở chân hay vừa chú
tâm vừa niệm thầm: "dở, dở, dở". Khi chân đưa ra phía
trước, hãy ghi nhận chuyển động đưa tới, trong khi ghi nhận
chuyển động bạn có thể niệm thầm: "bước, bước, bước".
Khi chân hạ xuống sàn hay xuống mặt đất hãy ghi nhận sự
hạ chân xuống này và có thể niệm thầm: "đạp, đạp, đạp".
Khi bạn chuyển sức nặng sang chân khác để thực hiện một
bước mới hãy chánh niệm ghi nhận trên toàn thân thể và
có thể niệm thầm: "chuyển, chuyển, chuyển" (Bạn cũng có
thể chú tâm vào sự ấn xuống của bàn chân sau khi đạp
xuống và có thể niệm thầm: "ấn, ấn, ấn").
Sau
đó, tiếp tục thực hiện bước kế tiếp và lần lược
ghi nhận: "dở, bước, đạp, chuyển (hay ấn)". Hãy đi một
cách chậm rãi trong chánh niệm và nhìn xuống phía trước
vào khoảng hai thước. Ðừng nhắm mắt vì nhắm mắt bạn
sẽ bị ngã. Mắt mở vừa phải, nhìn vào lối đi.
Khi
đi đến cuối đường kinh hành bạn đứng lại, hãy ghi nhận
sự đứng lại này và có thể niệm thầm: "đứng lại, đứng
lại, đứng lại". Khi muốn quay lui, hãy ghi nhận ý muốn quay
và có thể niệm thầm: "muốn, muốn, muốn". Sau đó quay từ
từ. Trong khi quay, hãy chú tâm chánh niệm vào chuyển động
quay và có thể niệm thầm: "quay, quay, quay". Khi bắt đầu
đi trở lại, cũng hãy ghi nhận chánh niệm từng giai đoạn
một của bước đi: "dở, bước, đạp, chuyển (ấn)", cho
đến cuối đoạn đường kinh hành. Ðứng lại, chánh niệm
vào sự đứng lại. Muốn quay, chánh niệm vào ý muốn quay.
Quay, chánh niệm vào chuyển động quay, rồi tiếp tục đi
hành như trước. Khi đi, hai tay có thể nắm lại phía trước
hay phía sau. Cứ như thế, tiếp tục đi cho đến hết giờ
kinh hành.
Kinh
hành cũng là dịp để vận động cơ thể. Khi tham gia một
khóa thiền suốt ngày thì cơ thể cần phải được vận động.
Vì vậy, kinh hành và ngồi thiền cần phải xen kẻ nhau, sau
giờ kinh hành lại đến giờ ngồi thiền. Khi trở vào thiền
đường, bạn phải đi chậm rãi, ghi nhận từng giai đoạn
một của mỗi bước đi. Trước khi ngồi xuống, hãy ghi nhận
ý muốn ngồi xuống. Sau đó ngồi xuống một cách chậm rãi,
chú tâm vào toàn thể cơ thể. Khi thân chạm vào sàn nhà hãy
thuần chú tâm ghi nhận sự xúc chạm này hay vừa chú tâm
vừa niệm thầm: "đụng, đụng, đụng". Khi xếp chân và tay
hãy thuần chú tâm ghi nhận sự xếp chân hay tay này hay vừa
chú tâm vừa niệm thầm: "xếp, xếp, xếp". Sau đó, hãy ngồi
thẳng thắng và chú tâm vào hơi thở ra vào hay chuyển động
của bụng. Cứ thế, bạn liên tục ngồi thiền và đi kinh
hành. Hãy cố gắng giữ tâm chánh niệm liên tục đừng để
thất niệm một giây phút nào trong suốt khóa thiền.
Chánh
niệm lúc ăn
Trong
khóa thiền, bạn cũng phải ăn uống trong chánh niệm. Hãy
theo dõi trong chánh niệm mọi động tác trong khi ăn. Khi nhìn
thức ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự nhìn này hay vừa
chú tâm vừa niệm thầm: "nhìn, nhìn, nhìn". Khi gắp thức
ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự gắp này hay vừa chú tâm
vừa niệm thầm: "gắp gắp, gắp". Khi đưa thức ăn lên miệng,
hãy thuần chú tâm ghi nhận sự đưa này hay vừa chú tâm vừa
niệm thầm: "đưa, đưa, đưa". Khi thức ăn đụng vào miệng,
hãy thuần chú tâm ghi nhận sự đụng này hay vừa chú tâm
vừa niệm thầm: "đụng, đụng, đụng". Khi ngậm thức ăn,
hãy thuần chú tâm ghi nhận sự ngậm này hay vừa chú tâm
vừa niệm thầm: "ngậm, ngậm, ngậm". Khi bỏ tay xuống, hãy
thuần chú tâm ghi nhận sự bỏ xuống này hay vừa chú tâm
vừa niệm thầm: "bỏ xuống, bỏ xuống, bỏ xuống". Khi tay
đụng bàn hay đĩa ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự đụng
này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: "đụng, đụng, đụng".
Khi
nhai thức ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự nhai này hay vừa
chú tâm vừa niệm thầm: "nhai, nhai, nhai". Khi biết mùi vị
thức ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự biết này hay vừa
chú tâm vừa niệm thầm: "biết, biết, biết". Khi nuốt thức
ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự nuốt này hay vừa chú
tâm vừa niệm thầm: "nuốt, nuốt, nuốt". Khi thức ăn xuống
cổ họng, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự xuống này hay vừa
chú tâm vừa niệm thầm: "xuống, xuống, xuống". Hãy chú tâm
theo dõi với chánh niệm từ lúc bắt đầu cho đến khi ăn
xong. Tất cả mọi việc khác, ngay cả những tác động trong
nhà tắm, đều phải làm trong chánh niệm.
-oOo-
Sau
khi làm được điều thiện nào, bạn hãy hồi hướng phước
báu đến tất cả chúng sinh. Ðó là một việc làm tốt đẹp.
Cũng vậy, sau khi hành thiền, bạn nên hồi hướng phước
báu như sau:
Chúng
tôi xin hồi hướng tất cả những phước báu mà chúng tôi
đã tạo đến tất cả chúng sinh, nguyện cho tất cả đều
được an vui hạnh phúc.
Chúng
tôi xin hồi hướng phước báu này đến tất cả chư thiên
khắp mọi nơi, xin tất cả đều được an vui hạnh phúc để
hộ trì Phật Pháp cho được bền vững lâu dài.
[08]
Ghi
Chú
Lời
Giới Thiệu
[1].
Những đoạn chữ in nghiêng được trích từ Kinh Ðại Tứ
Niệm Xứ (Maha Satipatthana Sutta.)
[2]
The Expositor, p. 19.
Chương
1: Quán Sát Thân Trong Thân
[3]
Majjhima Nikaya (Trung Bộ), 1979, i., p. 181.
[4]
The Path of Purification - Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo), 1976, Ch.VIII,
p. 290.
[5]
Ibid., p.286.
[6]
Ibid., pp. 294-295.
[7]
The Way of Mindfulness, 1975, p.81.
[8]
Anguttara (Tăng Chi), i.43.
[9]
Anguttara (Tăng Chi), i.45.
[10]
The Path of Purification - Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo), 1976, pp.
403-406.
[11]
Ibid.
Chương
4: Quán Sát Pháp Trong Pháp
[12]
Anguttara (Tăng Chi), iv, p. 85ff.
[13]
Dhammasangani (Pháp Tụ), p. 197.
[14]
The Path of Purification - Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo), 1976, Ch..
XIV, p.523.
[15]
The Path of Purification - Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo), 1976, Ch.
IV, pp.95-97.
[16]
The Progress of Insight, p. 13.
[17]
Xem thêm các chi tiết trong quyển The Path of Purification - Visuddhimagga
(Thanh Tịnh Ðạo), 1976, Ch. IV; và quyển The Way of Mindfulness,
1975, p. 186.
[18]
The Way of Mindfulness, 1975, p. 186.
[19]
Ibid.
[20]
The Path of Purification - Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo), 1976, Ch.IV,
pp. 166-168.
[21]
The Questions of King Milinda, ii, pp. 151ff.
[22]
The Expositor, p. 428.
[23]
The Path of Purification - Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo), 1976, Ch.XVI,
p. 574.
[24]
Xem các đoạn còn lại về các nguyên nhân của Khổ trong bài
Kinh, Phần II
[25]
The Path of Purification - Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo), 1976, Ch.
IV, p.148.
[26]
The Path of Purification - Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo), 1976, Ch.
XII, para 78-91.
[27]
The Questions of King Milinda (Vua Milinđa Vấn Ðạo), ii, 151.
[28]
On the Nature of Nibbana, Burmese language edition, pp. 252-253.
[29]
Dhammapada (Kinh Pháp Cú), câu 204.
[30]
The Path of Purification - Visuddhimagga (Thanh Tịnh Ðạo), 1976, Ch.
XVI, p. 577.
[31]
The Book of the Gradual Sayings (Tăng Chi Bộ), iii, p. 153.
[32]
The Expositor, pp. 136-137.
[33]
Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ), iv, p.321; và Kindred Sayings (Tương
Ưng Bộ), iv, pp. 225-226.
[34]
Dhammapada (Kinh Pháp Cú), câu 173.
Chương
5: Bảo Ðảm Thành Ðạo
[35]
The Middle Length Sayings (Trung Bộ), ii, pp. 281-283.
[09]
Paa.li-Việt
Ðối Chiếu
A |
B | C | D | E | F | G | H | I | J | K | L | M | N |
O
| P | Q | R | S | T | U | V | W | X | Y | Z
[A]
Abhidhammaa:
Vi Diệu Pháp; Thắng Pháp; những giáo pháp cao thượng của
Ðức Phật; tạng thứ ba trong Tam Tạng Paa.li; triết học và
tâm lý học Phật giáo; siêu hình học Phật giáo, giải thích
sự vật theo chân đế.
Abhi~n~naa:
Thần thông; thắng trí; năng lực siêu nhiên.
Abhirati:
Người có sự thích thú về một thứ gì đó, như thích thú
và nhiệt thành trong giáo pháp chẳng hạn; dùng để chỉ người
hành thiền với mục đích được hưởng dục lạc ngũ trần
trong các kiếp sau.
Akusala:
Bất thiện; ác; tội lỗi.
Aalaara
Kaalaama: Một thiền sư nổi tiếng thời Ðức Phật, một trong
hai vị thầy của Bồ tát Sĩ Ðạt Ta.
Anaagaami:
A-na-hàm; Bất lai; vị đắc tầng thánh thứ ba, không còn tái
sanh vào cảnh dục giới, hoàn toàn loại trừ sân hận và
tham ái ngũ dục; nhưng còn các phiền não vi tế như: luyến
ái cảnh sắc giới, luyến ái cảnh vô sắc giới, ngã mạn,
phóng dật và vô minh.
Anaagaarika:
Người hộ tăng. Trong các xứ Phật giáo, người hộ tăng
giữ tám giới hay mười giới, thường mặc đồ trắng, sống
trong chùa phụ giúp cho tăng, ni.
Aanaapaana-sati:
Niệm hơi thở.
Anatta:
Vô ngã, phi ngã, không có tự ngã, không có bản chất, không
đáp ứng được sự mong ước của`con người. Một trong Tam
tướng: vô thường, khổ, vô ngã.
Anatta
lakkhanaa: Ðặc tính hay tướng vô ngã. Hiện tượng vượt
ngoài khả năng kiểm soát.
Anattaa-nupassanaa-~naana:
Tuệ giác thấy được sự vô ngã. Trực giác được rằng
không ai có thể điều khiển, kiểm soát.
Anicca:
Vô thường.
Anicca
lakkhanaa: Ðặc tính hay tướng vô thường. Hiện tượng sinh
diệt của các pháp.
Aniccaa-nupassanaa-~naana:
Tuệ giác thấy được sự vô thường. Trực giác được sự
diệt tận nhanh chóng của các pháp.
Anuggahita:
Bảo vệ, đặc biệt cho việc hành thiền.
Anumodanaa:
Lời cầu chúc của nhà sư sau khi nhận lãnh của tín thí (tứ
vật dụng).
Apaaya:
Cảnh khổ. Có bốn cảnh khổ: súc sanh, ngạ quỉ, a-tu-la,
địa ngục. Chúnh sinh ở những cõi này thiếu thiện nghiệp
nên không có hạnh phúc.
Araha:
Hoàn toàn trong sạch thanh tịnh, xứng đáng được người,
trời và phạm thiên kính trọng. Ðây là ân đức đầu tiên
trong mười ân đức của Phật.
Arahat
hay Arahanta: A-la-hán hay Ứng Cúng, bậc thánh thứ tư. Là người
hoàn toàn giác ngộ, diệt tận phiền não, không còn tâm bệnh.
Sau khi chết không còn tái sinh nữa.
Ariyasaccani:
Chân lý cao thượng. Xem thêm chữ attari ariyasaccani (Tứ Diệu
Ðế)
Aasava:
Hoặc lậu; ách nô lệ; trầm luân; trầm mịch hay dòng nước
lũ. Bởi vì chúng trói buộc, nhận chìm và lôi cuốn chúng
sinh trôi nổi trong sông mê bể khổ. Có bốn loại hoặc lậu:
1.
Dục lậu (Kaamaasava): Ưa thích thụ hưởng những khoái cảm
giác quan.
2.
Hữu lậu (Bhavaasava): Khát vọng được tồn tại vĩnh viễn.
3.
Kiến lậu (Di.t.thaasava): Quan kiến sai lầm về vũ trụ và
nhân sinh. Có sáu mươi hai tà kiến hay quan kiến sai lầm nhưng
có thể chia ra làm hai hai nhóm chính: thường kiến và đoạn
kiến. Thường kiến, cho rằng bản ngã và thế giới trường
tồn vĩnh cửu. Ðoạn kiến chủ trương bản ngã hoàn toàn
hủy diệt sau khi thân hoại mạng chung.
4.
Vô minh lậu (Avijjaasava): Không thấy rõ hay thấy sai lầm. (Xem
chữ Avijjaa).
Aataapa:
Rất nóng; Thiền có năng lực đốt cháy phiền não.
Avijjaa:
Vô minh. Không thấy chân lý, nghĩa là không thấy được vô
thường, khổ và vô ngã, và thấy sai lầm: cho rằng thế gian
là trường tồn, an vui và có tự ngã.
Aayatana:
Các xứ, gồm nội xứ và ngoại xứ. Nội xứ gồm: Mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Ngoại xứ gồm: Hình sắc, âm
thanh, mùi, vị, vật xúc chạm và đối tượng của tâm.
[B]
Bhaavanaa:
Tham thiền hay thiền, đốt cháy phiền não, gồm hai loại:
thiền vắng lặng và thiền minh sát. (Xem chữ Samatha và Vipassanaa).
Bhikkhu:
Tỳ khưu, tỳ kheo. Khất sĩ. Nam tu sĩ Phật giáo, giữ 227 giới,
cạo đầu, mặc y vàng sống nhờ vào thực phẩm khất thực.
Còn có nghĩa là những người cố gắng tu trì giới, định,
huệ để giải thoát.
Bodhi:
Giác ngộ, trí tuệ phát sinh vào lúc đạo tâm hiện khởi.
Bodhisatta:
Bồ tát, người có hạnh nguyện trở thành một vị Phật
toàn giác để có đủ khả năng cứu độ chúng sinh. Còn để
chỉ Ðức Phật khi chưa giác ngộ.
Bojjha"nga:
Yếu tố giác ngộ. Ðặc tính của tâm dẫn đến giác ngộ.
Cũng là tuệ giác thấy rõ Tứ Diệu Ðế. (xem chữ sa"mbojja"nga)
Brahmaa:
Phạm thiên. Tên của vị trời cao nhất. Tên của một cõi
trời vô sắc, chỉ có tâm mà không có thân.
Brahmacariya:
Phạm hạnh. Ðời sống thánh thiện, một đời sống cống
hiến cho sự phát triển tinh thần. Ðời sống độc thân thánh
thiện.
Brahma
vihaara: Tứ vô lượng tâm: Từ, Bi, Hỉ, Xả.
Buddha:
Phật. Ðấng giác ngộ. Danh từ được dùng để chỉ Thái
tử Siddhattha Gotama, con của vua Suddhodana và hoàng hậu Maya.
Vào năm hai mươi chín tuổi, Thái tử rời bỏ cung điện,
xuất gia tu hành. Sau khi theo học với một số thầy và thực
hành khổ hạnh trong sáu năm không hiệu quả, Thái tử tự
tìm ra Trung Ðạo và giác ngộ do nỗ lực của chính mình.
Trong bài pháp đầu tiên, Dhammacakka-pavatthana Sutta (Kinh Chuyển
Pháp Luân), Ðức Phật đã dạy Bát Chánh đạo và Tứ Diệu
Ðế.
Buddhaanussati:
Niệm Ân Ðức Phật.
[C]
Caaga:
Bố thí. dứt bỏ. Mong muốn loại trừ phiền não, cũng như
có sự bố thí vật chất rộng rãi.
Cattaari
ariyasaccaani: Tứ Thánh Ðế hay Tứ Diệu Ðế: (Bốn chân lý
về sự khổ):
1.
Chân lý về sự khổ (Dukkha): Sinh là khổ, già là khổ, đau
là khổ, chết là khổ, xa lìa cái mình yêu thương là khổ,
gần cái mình ghét là khổ, muốn không được là khổ...(sầu,
bi, khổ, ưu, não là khổ)... ngũ uẩn thủ là khổ.
2.
Chân lý về nguyên nhân của sự khổ (samudaya): Dục ái (kaamatanhaa),
hữu ái (bhavatanhaa) và vô hữu ái (vibhavatanhaa).
3.
Chân lý về sự diệt khổ (Nirodha): Hoàn toàn chấm dứt, là
từ bỏ ái dục, tháo gỡ và giải thoát.
4.
Chân lý về con đường dẫn đến nơi thoát khổ (magga): Ðó
là Bát Chánh Ðạo.
Chanda:
Dục: ý muốn làm
Citta:
Tâm
Cittaa:
Tên một vị tỳ khưu ni vào thời Ðức Phật. Tỳ khưu ni
Cittaa đã chế ngự được sự đau yếu thể chất trầm trọng
và sự yếu đuối, nỗ lực tinh tấn trở thành một vị A-la-hán.
Citta
viveka: Tâm ẩn cư. Tâm ẩn cư khỏi mọi phiền não làm cản
trở sự phát triển minh sát. Tương đương với liên tục
chánh niệm, không để cho phiền não chế ngự.
[D]
Daana:
Bố thí. Một trong mười Ba-la-mật (xem Paaramii). Ðây là pháp
thực hành đầu tiên để loại trừ tâm tham ái.
Dasa
kasina: Mười đề mục hành thiền: Tứ đại (đất, nước,
gió, lửa), bốn màu sắc (xanh, vàng, đỏ, trắng), không gian,
ánh sáng. Những đề mục hành thiền này giúp chế ngự tham
ái.
Deva:
(Nguyên nghĩa: Chúng sanh có ánh sáng). Các vị trời, có cơ
thể vi tế nên mắt người không nhìn thấy được. Ðây là
những chúng sanh sống trên các cõi trời, được an vui hạnh
phúc hơn cõi người, nhưng khi hết tuổi thọ vẫn còn phải
tái sanh trở lại chịu khổ trong sanh, già, đau, chết, tức
là vẫn còn luân lưu trong vòng luân hồi.
Devadatta:
Ðề-bà-đạt-đa. Một vị sư vào thời Ðức Phật, âm mưu
chia rẽ giáo hội, và về sau nhiều lần muốn giết hại Ðức
Phật.
Dhamma:
Pháp, những lời dạy của Ðức Phật; bản chất của sự
vật; luật thiên nhiên; chân lý.
Dhamma
vicaya: Trạch pháp giác chi, một tâm sở thấy rõ bản chất
các pháp, hay thấy rõ Niết bàn. Chi thứ hai trong Thất Giác
Chi.
Dhuta"nga:
Hạnh đầu đà, Thầy Tỳ khưu thực hành hạnh này để loại
trừ phiền não. Người hành hạnh đầu đà giữ một số
qui điều chặt chẽ, tri túc, từ bỏ, hạn chế các nhu cầu,
chẳng hạn giữ hạnh: Chỉ dùng một bộ y gồm: y vai trái,
y nội, y hai lớp; ăn ngày một bữa, sống trong rừng ....
Dosa:
Sân hận, giận dữ, nóng giận. Tâm từ chối các đối tượng
không vừa lòng; chẳng hạn, trong lúc hành thiền, tâm khó
chịu khi cơ thể bị đau nhức. Sân hận là một trong ba phiền
não chính khiến tâm chúng sinh mê mờ. Hai phiền não kia là
tham lam và si mê.
Dukkha:
Khổ, bất toại nguyện, đau khổ. Ðặc tính thứ hai của
các pháp có điều kiện (pháp hữu vi). Ðây là kết quả của
vô thường và tham ái. Khổ là chân lý đầu tiên trong Tứ
Diệu Ðế, có ba loại khổ chính: khổ khổ, hành khổ và
hoại khổ.
Dukkha
lakkhanaa: Ðặc tính hay tướng của khổ nhờ đó mà thấy
được khổ. Bị áp bức, bị đè nén bởi sự vô thường.
Dukkha-nupassanaa-~naana:
Tuệ giác thấy được sự khổ. Trực giác được rằng không
thể dựa vào ai hay cái gì cả, tất cả mọi đối tượng
đều đáng sợ, đáng nhờm gớm, không nơi nào có thể nương
nhờ hay ỷ lại vào vì tất cả đều bị hủy diệt, bị
tan biến mau chóng.
[H]
Hiiri:
Hỗ thẹn tội lỗi, cảm giác hỗ thẹn về những gì cần
phải hỗ thẹn. Cảm giác hỗ thẹn khi làm hay nghĩ đến điều
xấu xa, tội lỗi.
[I]
Issaa:
Ganh tị. Không muốn nhìn thấy người khác thành công hay hạnh
phúc.
[J]
Jetavana:
Chùa Kỳ Viên. Một ngôi chùa gần thành Saavatthii (Xá-vệ)
ở miền bắc Ấn Ðộ, nơi đức Phật thường dạy đạo.
Jhaana:
Nhập định hay tầng thiền. Ðặc tính của tâm có khả năng
dính chặt trên đối tượng và quan sát đối tượng, đốt
cháy phiền não.
Jhaana
sammaa di.t.thi: Chánh kiến trong các tầng thiền. Ðây là chánh
kiến khởi sinh trong tám tầng thiền định, không phải trong
thiền minh sát.
[K]
Kaccaayana:
Ca-chiên-diên. Một trong những người học trò lớn của Ðức
Phật, một vị A-la-hán, có khả năng diễn giải những bài
pháp ngắn gọn của Ðức Phật. Nhiều bài Pháp của Ðức
Phật chỉ vỏn vẹn có vài chữ.
Kalyaa.na
mitta: Người bạn đức hạnh, người bạn tinh thần, thiện
hữu.
Kaamacchanda:
Dục lạc. Chướng ngại đầu tiên trong năm chướng ngại.
Kamma:
Nghiệp. Hành động, lời nói hay tư tưởng cố ý. Nghiệp
tích lũy trong quá khứ hay trong hiện tại sẽ trả quả trong
hiện tại hay trong tương lai tùy theo tính chất của nghiệp.
Kammassakataa
sammaa-dhi.t.thi: Chánh kiến thấy rõ chỉ có nghiệp mới thực
sự là gia tài của chúng ta.
Kamma.t.thaana:
Tham thiền.
Karu.naa:
Lòng Bi mẫn. Tâm se lại trước sự đau khổ của chúng sinh
khác. Lòng mong muốn loại bỏ những đau khổ của chúng sinh
khác.
Kasina:
Ðề mục hành thiền Kasina (Biến xứ). Có mười đề mục
hành thiền Kasina: Ðất, nước, lửa, gió, xanh, vàng, đỏ,
trắng, ánh sáng, "khoảng không" có giới hạn.
Kaaya:
Thân thể, hình dáng.
Kaaya
viveka: Thân ẩn cư, điều kiện đầu tiên giúp cho việc hành
thiền tốt đẹp. Thái độ không dính mắc vào lục trần:
sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp. Cũng có nghĩa là thân
xa lánh các nơi ồn ào náo nhiệt. Hằng ngày đến nơi yên
tịnh vắng lặng để hành thiền.
Khandaa:
Uẩn, nhóm, tập hợp. Thân người là tập hợp của năm uẩn:
Sắc (ruupa), thọ (vedanaa), tưởng (sa~n~naa), hành (sa"nkhaara),
thức (vi~n~naana).
Khema:
Tịnh an. An ninh, an toàn. Một trong những đặc tính của Niết
bàn, trái hẳn với sự an toàn có điều kiện của thế gian.
Kilesaa:
Phiền não, những yếu tố làm cho tâm ô nhiễm. Phiền não
có thể khởi dậy ngay cả khi các điều kiện của chúng đã
được loại trừ.
Kilesaa
parinibbaana: Hoàn toàn loại trừ phiền não.
Kodha:
Sân hận, nóng nảy, "tâm gai góc". Sân hận và những tâm sở
đi kèm với sân hận.
Kusala:
Thiện, tốt.
Kusiita:
Người lười biếng.
[L]
Lakkha.naa:
Ðặc tính.
Lobha:
Tham. Tâm nắm giữ vật ưa thích.
Lokiya:
Thế tục.
Lokuttara:
Siêu thế. Ðây là từ để chỉ bốn đạo, bốn quả và Niết
bàn.
[M]
Macchariya:
Bủn xỉn. Không muốn thấy người khác hạnh phúc như mình.
Magga:
Ðạo. Danh từ để chỉ giây phút giác ngộ, khi mọi phiền
não đều được loại trừ. Tâm đầu tiên của Niết bàn.
Mahaakassapa:
Ma-ha (Ðại) Ca-diếp. Một trong những vị học trò đầu tiên
của Ðức Phật. Ngài là vị tỳ khưu đệ nhất đầu đà,
chủ tọa kỳ kết tập Tam Tạng lần đầu tiên sau khi Ðức
Phật niết bàn ba tháng.
Mahaamoggallaana:
Ðại Mộc Kiền Liên. Một trong hai Ðại Ðệ Tử của Ðức
Phật, có thần thông bậc nhất.
Mahaapajaapati
Gotamii: Người dì đồng thời cũng là mẹ kế của Thái Tử
Siddhatta. Vị nữ tỳ khưu đầu tiên, sáng lập Tỳ khưu ni
đoàn. Vị thánh đệ nhất về sự chứng đắc.
Mahaayaana:
Ðại thừa. Sau khi hoàng đế Asoka cố gắng hợp nhất Tăng
Chúng vào thế kỷ thứ ba trước Công nguyên, một số tông
phái tự động phát triển các học phái của riêng mình. Một
số quan điểm của Ðại thừa khác hẳn giáo lý thời nguyên
thủy, chẳng hạn như quan điểm về Bodhisattva (Bồ tát): Bồ
tát từ khước Niết bàn để có thể tiếp tục sống trong
Tam Giới cứu độ chúng sinh. Trong khi đó Phật giáo Nguyên
thủy dựa vào lời dạy cuối cùng của Ðức Phật trước
khi nhập diệt, khuyến khích mọi người hãy "tự nổ lực
để cứu độ chính mình" (Xem kinh Mahaaparinibbaana Sutta, Ðại
Bát Niết Bàn, Trường Bộ). Ðại Thừa thêm vào nhiều kinh
điển mà thời Phật Giáo Nguyên Thủy không có. Phật giáo
Ðại thừa được truyền bá vào Trung Á do các thương buôn
và các nhà sư thời vua Kushan ở Ấn Ðộ trong suốt hai thế
kỷ đầu tiên sau Công nguyên và dần dần lan tràn sang Tây
tạng, Trung hoa, Siberia, Triều tiên, Nhật bản và Việt nam.
Từ thế kỷ thứ tám đến thế kỷ thứ mười ba được
truyền sang Cam Bốt, Java, Sumatra và Mã lai.
Maana:
Mạn. Có ba loại mạn: Cho mình hơn người, cho mình bằng người,
cho mình thua người.
Maara:
Ma vương. Theo nguyên ngữ Paa.li, Maara được rút ra từ một
từ gốc có nghĩa là "sự chết". Nhân cách hóa sức mạnh
của si mê và ái dục. Si mê và ái dục hủy hoại đức hạnh
và mạng sống chúng sinh, là chủ tể của mọi cảnh giới
có điều kiện.
Maatikamaataa:
Một tín nữ vào thời Ðức Phật, hỗ trợ chư tăng hành
thiền. Trong lúc lo nấu nướng cho chư tăng bà luôn luôn chú
tâm chánh niệm vào việc làm, chẳng bao lâu sau bà đắc quả.
Mettaa:
Từ ái, tâm Từ. Mong cầu tất cả chúng sinh có đầy đủ
sức khỏe, thân tâm an lạc.
Middha:
Buồn ngủ. Tâm trở nên tiêu cực, thụ động khi buồn ngủ
có mặt.
Moha:
Si mê. Tâm không đủ khả năng nhận biết những điều xảy
ra, đặc biệt là các cảm giác vô ký. Một trong ba Phiền
não chính (tham, sân, si) làm tâm chúng sinh mê mờ, đen tối.
Muditaa:
Hỉ. Vui mừng trước sự thành công, hạnh phúc của kẽ khác.
[N]
Naama:
Danh hay tâm. Tâm, theo nguyên nghĩa, là cái hướng đến đối
tượng hay cái làm cho những cái khác hướng đế chúng. Ðây
là một từ để chỉ mọi hiện tượng của tâm.
Namuci:
Một tên khác của Maara.
Nekkhamma
sukha: Hạnh phúc của sự khước từ, hạnh phúc của sự xuất
gia. Hạnh phúc, an lạc và thoải mái đến từ sự xa lìa dục
lạc ngũ trần, xa lìa những phiền não do dục lạc thú ngũ
trần đem lại.
Nibbaana:
Niết Bàn. Không điều kiện, hoàn toàn không có phiền não
vì không phải là thân hay tâm.
Nikanti
ta.nhaa: Tham luyến vào những lạc thú do thiền đem lại. Ðây
là một loại phiền não rất vi tế, mong manh như mạng nhện
nhưng làm cản trở bánh xe trí tuệ.
Nimita:
"Tướng" hay hình ảnh trong tâm xuất hiện lúc hành thiền,
cho thấy khả năng định tâm cao.
Nirodha:
Diệt, chấm dứt.
Nirodha
samaapatti: Diệt Thọ Tưởng Ðịnh. Ðạt được sự diệt.
Ðây là loại định tâm mà chỉ có vị A-la-hán hay A-na-hàm
mới có thể vào được.
Niivarana:
Chướng ngại, Triền cái. Có năm chướng ngại trên đường
giải thoát, giác ngộ: Tham ái, sân hận, giao động hối hận,
dã dượi buồn ngủ và hoài nghi.
[O]
Ottappa:
Ghê sợ tội lỗi. Không muốn làm điều ác vì sợ hậu quả
tai hại của nó; đây là thái độ của người trí.
[P]
Pabbajita:
Xuất gia hay từ bỏ. Người từ bỏ đờ sống thế tục để
diệt trừ phiền não.
Pacceka
Buddha: Ðộc Giác Phật. Tự mình giác ngộ, nhưng sau khi giác
ngộ không thể giảng dạy cho người khác.
Paccakkha-~naa.na:
Tri giác tuệ. Tri giác do kinh nghiệm trực tiếp. Tuệ giác
trực tiếp. Ðồng nghĩa với chữ Vipassanaa.
Paa.li:
Ngôn ngữ dùng để ghi kinh điển Phật giáo, gần với tiếng
Magadhii (Ma-kiệt-đà). Ðây là ngôn ngữ mà Ðức Phật và
các đệ tử của Ngài dùng để giảng dạy và nói chuyện
hằng ngày.
Paamojja,
paamujja: Khinh hỉ hay thiểu hỉ. Loại hỉ đầu tiên trong năm
loại hỉ.
Pancendriya:
Ngũ căn. Một từ về thiền để chỉ năm tâm sở: Tín, Tấn,
Niệm, Ðịnh, Huệ.
Pa~n~naa:
Trí tuệ. Trí tuệ trực giác về chân lý tối thượng.
Paramattha
dhamma: Thực tại tuyệt đối. Chân đế. Ðối tượng được
nhận biết một cách trực tiếp không qua khái niệm. Có ba
loại chân đế: hiện tượng vật chất, hiện tượng tâm
và Niết bàn.
Paramatha
sacca: Chân lý tuyệt đối. Cùng nghĩa với paramattha dhamma.
(phản nghĩa với sammuti sacca).
Paaramii:
Ba-la-mật. Hoàn hảo. Sức mạnh thanh tịnh nội tâm được
phát triển và tích lũy qua nhiều đời. Có mười ba-la-mật:
daana (bố thí), siila (trì giới), nekkhama (xuất gia hay khước
từ), pa~n~naa (trí tuệ), viiriya (tinh tấn), khanti (nhẩn nhục),
sacca (chân thật), adhi.t.thaana (quyết định), mettaa (tâm từ)
và upekkhaa (tâm xả).
Parinibbaana:
Bát Niết Bàn, Vô Dư Niết Bàn. Một vị Phật hay A-la-hán
khi còn sống thì có Hữu Dư Niết Bàn, lúc rời bỏ thân thể
này thì gọi là Vô Dư Niết Bàn.
Parisuddhi
sukha: Tịnh lạc. Hạnh phúc an lạc không trộn lẫn với phiền
não. Niết bàn.
Passaddhi
: Thư thái. Chi thứ năm trong thất giác chi.
Paticca
samuppaada: Thập nhị nhân duyên.
Paatimokkha:
Giới bổn, Ba-la-đề-mộc-xoa. Giới luật được ghi trong tạng
Luật (227 giới cho Tỳ khưu và 311 giới cho Tỳ khưu ni), tạng
đầu tiên trong Tam Tạng Paa.li. Chư Tăng Ni mỗi tháng phải
tụng giới bổn hai lần vào ngày mười bốn và ba mươi mỗi
tháng
Peta:
Ngạ quỉ. Quỉ đói. Loại quỉ không có hạnh phúc.
Phala:
Quả. Tâm xảy ra tiếp theo đạo tâm, tiếp tục thấy Niết
Bàn, và trong khi đó thì phiền não bị loại trừ.
Phassa:
Xúc, một tâm sở phát sanh khi tâm tiếp xúc với đối tượng.
Pin.dapaata:
Trì bình hay khất thực: chư tăng ôm bát nhận cơm cúng dường
của bá tánh.
Piiti:
Hỉ. Nhờ tâm trong sáng thanh tịnh nên thân và tâm có cảm
giác nhẹ nhàng thích thú.
Puthujjana:
Thế tục, phàm nhân.
[R]
Raaga:
Dục ái. Tham ái.
Ruupa:
Sắc, vật chất.
[S]
Saddhaa:
Ðức tin, Tín.
Sahagata:
Ði kèm với. Phối hợp với.
Sakadaagaami:
Tư-Ðà-Hàm. Nhất Lai. Tham ái và sân hận của vị có quả
thánh thứ hai đã yếu kém nên chỉ còn tái sinh một lần.
Samatha
bhaavanaa: Thiền vắng lặng. Thiền An Chỉ. Hành thiền theo
bốn mươi đề mục nhằm mục đích đạt được tâm vắng
lặng. Bình an do chế ngự được một số phiền não và chướng
ngại.
Samaadhi:
Ðịnh. Trạng thái của tâm trụ trên một đối tượng duy
nhất. Có ba loại Ðịnh: chuẩn bị (Parikamma), cận định
(upacaara) và định (jhaana hay appanaa). Chi thứ sáu trong Thất
Giác Chi.
Saama.nera:
Sa di.
Saama.nerii:
Sa di ni.
Samatha
jhaana: Nhập Ðịnh. Tâm hoàn toàn an trú trong một đề mục
duy nhất. ở trong tình trạng hoàn toàn an tịnh, tĩnh lặng,
tâm thấm nhập vào đề mục.
Sa"mbojjha"nga:
Thất giác chi. Bảy yếu tố giác ngộ. Bảy nhân sinh quả
bồ đề gồm: Chánh niệm (sati), Trạch pháp (dhamma vicaya),
tinh tấn (viiriya), hỉ (piiti), Thư thái (passaddhi), định (samaadhi)
và xả (upekkhaa).
Sammaa-di.t.thi:
Chánh kiến. Kiến thức chân chánh.
Sammaa-kammanta:
Chánh nghiệp. Hành động chân chánh: Không sát sanh, không trộm
cắp, không tà hạnh.
Sammaa-sambuddha:
Tam-miệu tam-bồ-đề. Chánh đẳng chánh giác, tự mình ngộ
lấy không thầy chỉ dạy.
Sammasana-~naa.na:
Tư duy trí. Tuệ thấy rõ: vô thường, khổ não, vô ngã. Ðạt
tuệ này, thiền sinh thấy rõ sự tan rã, sự biến mất một
cách nhanh chóng của đối tượng. Với sự thấy rõ này, thiền
sinh kinh nghiệm trực tiếp rằng tất cả mọi vật đều vô
thường, bất toại nguyện và không có tự ngã. Ðược gọi
là "liễu tri" vì thiền sinh tự mình thấy rõ chân lý căn
bản.
Sammaa
vaacaa: Chánh ngữ. Lời nói chân chánh: lời nói thành thật,
lời nói đem lại sự đoàn kết, lời nói dịu dàng, lời
nói hữu ích.
Sa"mpajja~n~na:
Giác tỉnh. Biết mình. Hiểu biết sáng suốt.
Samsaara:
Vòng luân hồi. Vòng tham ái và đau khổ do không hiểu biết
chân lý
Samudaya:
Khởi sinh.
Samudaya
dhamma: Pháp duyên sinh.
Samutti
sacca: Tục đế. Sự thật thế tình. Ngược với chân đế:
sự thật tuyệt đối. Tục đế dính mắc quan niệm, vào danh
từ như cho rằng có tôi, anh, chị, ghế, bàn, sông, núi ...
Chân đế nhìn đúng bản chất của sự vật nên không có
tôi, anh, chị, ghế, bàn, sông, núi ... mà chỉ có vật chất
và tinh thần thuần túy hay danh và sắc hoặc thân và tâm
Sangha:
Tăng già. Chúng. Cộng đồng tu sĩ Phật giáo gồm những nhà
sư ăn mặc theo Phật, tu trì Giới (227 giới), Ðịnh, Huệ.
Sa"nkhaara:
Hành. Trong thập nhị nhân duyên thì hành có nghĩa là tác ý.
Trong ngũ uẩn thì hành chỉ cho năm mươi tâm sở. Hành còn
có nghĩa là danh sắc hay các pháp có điều kiện, chẳng hạn
như câu: Các pháp hành đều vô thường, hãy tinh tấn, chớ
phóng dật. Chữ hành ở đây có nghĩa là các pháp có điều
kiện hay danh sắc
Sa"nkhaara
paramattha dhamma: Chân lý tuyệt đối về các pháp có điều
kiện. Hiện tượng danh sắc hay thân tâm được trực tiếp
thấy rõ, không xuyên qua tư duy hay khái niệm.
Sa"nkhaarupekkhaa~naa.na:
Tuệ xả. Có tâm xả thọ đối với tất cả mọi pháp (duyên
sinh). Một trong những tuệ giác cao nhất trong thiền minh sát.
Một trạng thái quân bình nội tâm tinh tế không bị ảnh
hưởng bởi các cảm thọ vui khổ.
Sa~n~naa:
Tưởng. Ttri giác, ý niệm, quan kiến, trí nhớ.
Santi
sukha: Tịnh lạc. Hạnh phúc tịch tịnh. Một từ để chỉ
kinh nghiệm Niết bàn.
Saariputta:
Xá-lợi-phất. Một trong hai đại đệ tử của Phật, có trí
tuệ bậc nhất.
Sati:
Chánh niệm. Ghi nhớ đúng đắn. Chi thứ nhất trong thất giác
chi.
Satipa.t.thaana:
Tứ niệm xứ. Bốn căn bản của chánh niệm: niệm thân, niệm
thọ, niệm tâm và niệm pháp.
Satipa.t.thaana
Sutta: Kinh Tứ niệm xứ. Một bài kinh trong đó Ðức Phật
chỉ dạy cách thực hành chánh niệm.
Sayadaw:
Ðại sư. Một danh từ của người Miến Ðiện để tôn xưng
một thiền sư hay một vị trụ trì.
Siila:
Giới. Ðức hạnh.
Siilashin:
Tu nữ Miến Ðiện, giữ tám hay mười giới, Mặc y phục vàng,
hồng hay nâu.
Sona
Therii: Tên một vị tỳ khưu ni. Bị con cái ruồng bỏ, bà
Sona vào chùa tu và đắc quả.
Sotaapanna:
Tu-đà-huờn, Nhập lưu. Ðắc quả thánh thứ nhất, kinh nghiệm
Niết Bàn lần đầu tiên, dứt trừ ba dây trói buộc: thân
kiến, hoài nghi, giới cấm thủ. Vì các phiền não đã yếu
nên vị Tu-đà-huờn không bị tái sinh vào bốn cõi dữ. Còn
gọi là Thất Lai vì vị Tu-đà-huờn chỉ còn tái sinh tối
đa bốn kiếp.
Subhadda:
Một tu sĩ ngoại đạo trở thành người học trò cuối cùng
của Ðức Phật. Subhadda trở thành một vị tỳ kheo Phật
giáo trước khi Phật nhập Niết Bàn độ vài giờ đồng hồ.
Sukha:
Lạc, hoan hỉ, cảm giác vui vẻ. Chi thứ tư trong tầng thiền
định thứ nhất.
Sumedha:
tên một vị ẩn sĩ giữ hạnh bồ tát để trở thành một
vị Phật toàn giác. Ðây là vị bồ tát tiền thân Phật Thích
Ca.
Sutta:
Kinh. Ghi lại những lời giảng của Ðức Phật. Tạng thứ
hai trong Tam Tạng Paa.li.
[T]
Ta.nhaa:
Ái dục, tham ái, lòng tham muốn dẫn đến tái sinh.
Theravaada:
Nguyên ngữ là lời dạy của những vị trưởng lão. Trưởng
lão bộ, Bảo thủ bộ, Thượng tọa bộ hay Phật giáo Nguyên
thủy. Một tông phái duy nhất trong số mười tám tông phái
còn lại sau khi Phật Niết bàn. Các vị trưởng lão tụng
đọc lại tất cả những lời dạy của Ðức Phật vào kỳ
kết tập Tam Tạng lần thứ nhất, ba tháng sau khi Phật Niết
bàn. Những lời dạy này được nhóm trưởng lão bảo thủ
lưu giữ cho đến ngày nay. Phật Giáo Nguyên Thủy được duy
trì và phổ biến tại các xứ Miến Ðiện, Thái Lan, Kampuchia,
Lào, và Tích Lan.
Tatra
majjhattataa: Quân bình nội tâm. Một khía cạnh của tâm xả.
Taavatimsa:
Cõi trời Ðao Lợi còn gọi là cõi trời Tam thập tam thiên:
cõi trời của ba mươi ba vị trời. Ðây là cõi trời mà Ðức
Phật thuyết vi diệu pháp cho Phật mẫu nghe. Hoàng hậu Maya
sau khi chết tái sinh vào cõi trời này.
Thera:
Trưởng lão tăng. Thường được dùng để trước tên những
vị Tăng cao hạ để bày tỏ lòng kính trọng.
Therii:
Trưởng lão ni. Thường được dùng để trước tên những
vị Ni cao hạ để bày tỏ lòng kính trọng.
Thina:
Dã dượi.
Thina
middha: Dã dượi buồn ngủ. Dã dượi và buồn ngủ thường
đi đôi với nhau. Dã dượi là tâm co rút lại như lông gà
đặt gần lửa thì bị teo lại. Buồn ngủ là một tâm thụ
động đi theo dã dượi. Thiina middha là chướng ngại thứ
tư trong năm chướng ngại, là đạo binh thứ năm trong mười
đạo binh ma.
Tipi.taka:
Tam tạng kinh. Gồm ba tạng: Luật (Vinaya) giới điều, (những
qui luật mà tăng Ni phải hành trì), Kinh (Sutta) và Vi diệu
pháp (Abhidhamma)
Tisara.na:
Tam qui. Qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng.
[U]
Uddhacca
kukkucca: Trạo hối. Bất an giao động và hối hận. Chướng
ngại thứ tư trong năm chướng ngại
Uddhata:
Bất an, nguyên nghĩa là giao động.
Udaka
Raamaputta: Một thiền sư nổi tiếng thời Ðức Phật, một
trong hai vị thầy của Bồ tát Sĩ Ðạt Ta.
Upaadaana:
Chấp thủ. Tâm tham ái dính chặt vào đối tượng không buông
rời