Chương
V
Vị
Tổ Sư của Phái Hoàng Giáo (Gelugpa, Cách Lỗ hay tân Ca Đương)
Ngài
Kết Tôn Nhân Đạt Ngõa là một trong những bậc sư trưởng,
và là vị ảnh hưởng rất lớn, cùng có thâm ân sâu sắc
đối với Đại Sư. Vì vậy, Đại Sư tôn thờ là "Tôn Sư
Căn Bổn" (1). Lần nọ, khi ngài Kết Tôn Nhân Đạt Ngõa đến
Tiền Tạng, Đại Sư bèn qua đó để ngưỡng đón. Lúc dâng
cúng "Cáp Đạt" xong, Đại Sư lập tức trình kệ, tán thán
ngài Kết Tôn Nhân Đạt Ngõa:
"Mắt
quán xem bậc đại từ bi chẳng thể bàn
Thượng
Sư trí vô cấu lợi sanh vi diệu âm
Mật
chủ tiêu diệt quần yêu ma chẳng còn thừa
Bậc
thắng hiền trên đỉnh Tuyết Lãnh Nhân Đạt Ngõa
Cầu
nguyện dưới chân hoa sen Tuyên Nô La Truy".
Xem
qua, ngài Kết Tôn Nhân Đạt Ngõa khiêm nhường bảo:
- Ta
không có đức độ như thế. Những câu tán thán này phải
dành cho ông.
Nói
xong, ngài Kết Tôn Đạt Ngõa đổi hai câu kệ cuối để tán
thán Đại Sư:
"Mắt
quán xem bậc đại từ bi chẳng thể bàn
Thượng
Sư trí vô cấu lợi sanh vi diệu âm
Mật
chủ tiêu diệt quần yêu ma chẳng còn thừa
Bậc
thắng hiền trên đỉnh Tuyết Lãnh Tông Khách Ba
Cầu
nguyện dưới chân hoa sen Thiện Huệ Xưng Dương".
Sau
này, chư đệ tử của Đại Sư giải thích về những câu
kệ này với hai ý nghĩa ẩn và hiển.
Về
hiển ý thì câu thứ nhất tán thán công đức đại từ bi
của Bồ Tát Quán Thế Âm. Câu thứ hai tán thán công đức
trí huệ của Bồ Tát Văn Thù. Câu thứ ba tán thán công đức
của Bồ Tát Kim Cang Thủ (mật chủ). Câu thứ tư tán thán
Đại Sư có đầy đủ công đức của ba vị Bồ Tát ở trên.
Câu thứ năm nói về người trì tụng và cầu nguyện dưới
tòa của Đại Sư.
Về
mật ý thì có ba loại. Thứ nhất là tướng ví dụ ở bên
ngoài; việc này bàn về ba bộ chủ, tức Bồ Tát Quán Thế
Âm (bộ Liên Hoa), Bồ Tát Văn Thù (bộ Phật), Bồ Tát Kim
Cang Thủ (bộ Kim Cang). Trong tất cả chúng hội của chư Phật
và chư Bồ Tát, một vị đại biểu cho tâm đại bi thật
thù thắng, một vị đại biểu cho trí huệ thật thù thắng,
một vị đại biểu cho thần lực thật thù thắng. Ở Tây
Tạng, trong đời mạt pháp, Đại Sư nương tựa theo ba loại
công đức thật thù thắng đó.
Thứ
hai là công đức nội chứng. Tâm đại bi của tất cả chư
Phật, Bồ Tát Quán Thế Âm đều có đầy đủ. Trí huệ của
tất cả chư Phật, Bồ Tát Văn Thù đều có đầy đủ. Thần
lực của tất cả chư Phật, Bồ Tát Kim Cang Thủ đều có
đầy đủ. Công đức bi, trí, lực, Đại Sư đều có đầy
đủ.
Thứ
ba là Bổn Tôn bí mật. Hiện thân sắc tướng đại bi của
chư Phật là Bồ Tát Quán Thế Âm, nhưng không rời chư Phật
mà có Bồ Tát Quán Thế Âm. Hiện thân sắc tướng đại trí
của chư Phật là Bồ Tát Văn Thù, nhưng không rời chư Phật
mà có Bồ Tát Văn Thù. Hiện thân sắc tướng đại thần
lực của chư Phật là Bồ Tát Kim Cang Thủ, nhưng không rời
chư Phật mà có Bồ Tát Kim Cang Thủ. Hiện thân sắc tướng
đại bi, đại trí, đại thần lực của ba vị Bồ Tát đó
là Đại Sư.
Tổng
quát, công đức bi, trí, dũng của ba vị Bổn Tôn, Đại Sư
đều có đầy đủ. Tu trì Mật pháp của ba vị Bổn Tôn này
thì mau chóng được cảm ứng, khai mở trí huệ, và hàng phục
ma quân.
Xưa
kia, tại Tây Tạng có một vị đại Lạt Ma tu hành trong núi
Tuyết Sơn. Bên dưới chân núi có một căn nhà luôn bị ma
Cụ Cáp Nhĩ gia hoạn. Người trong nhà vì chịu không nổi
những sự ưu phiền nên thỉnh mời rất nhiều vị cao nhân
đến trị ma, nhưng vẫn không hiệu quả. Ngày nọ, trong thôn
có một chú mục đồng, vô tình đi đến nơi vị đại Lạt
Ma đang tu hành, và kể lại sự việc về căn nhà đó. Nghe
xong, vị đại Lạt Ma này đưa cho chú mục đồng một đôi
dép và một xâu chuỗi, rồi dặn dò rằng khi ma đi vào nhà,
phải để đôi dép ở trước cửa, và lấy các hạt châu
trong xâu chuỗi mà rải chung quanh vách tường. Đêm hôm đó,
chú mục đồng vừa thấy ma đi vào bức hại người trong
nhà, lập tức làm theo lời chỉ dạy của vị đại Lạt Ma.
Trong khoảnh khắc, ma thấy chung quanh căn nhà đều có vô lượng
thần Kim Cang hộ pháp, và bên ngoài cổng lại có Bồ Tát
Kim Cang Thủ đứng thủ hộ, nên vô cùng sợ hãi. Bấy giờ,
đại Lạt Ma cũng vừa đi đến. Ma liền quỳ xuống cầu xin
đại Lạt Ma đừng bắt nhốt nó. Vị đại Lạt Ma bảo:
- Có
thể tha ngươi ra nhưng với điều kiện là phải tuân theo
lời dạy của Ta. Ta cấm ngươi không được làm nhiễu loạn
những ai đọc tụng bài kệ này 108 lần.
Ma
miễn cưỡng vâng chịu. Xưa kia, ở Tây Tạng, người tu hành
nào đạt được chút ít sự tăng thượng hay sắp thành tựu,
thì ma Cụ Cáp Nhĩ quyết không tha. Song, hung dữ và đầy oai
lực như ma Cụ Cáp Nhĩ mà còn bị hàng phục, nên những con
ma khác không còn dám lộng hành. Về sau, bài kệ cầu nguyện
của Đại Sư được phổ biến khắp Tây Khương và Tây Tạng.
Ai tu trì bài kệ cầu nguyện đó, sẽ được sự gia trì thù
thắng của Đại Sư mà tiêu vơi ma chướng, thành tựu phước
đức viên mãn.
Xưa
kia, vào mùa hạ năm 1399, chư tăng kẻ tục ở Ngưỡng Ba (nyang-po)
chí thành ân cần ngưỡng thỉnh Đại Sư đến chùa Đáng
Đóa (mdangs-mdo) an cư kiết hạ, cùng chuyển đại pháp luân.
Dọc
đường đến Ngưỡng Ba, chiếc mũ màu vàng của Đại Sư
bị gió thổi rơi xuống sông, rồi trôi đi mất. Bấy giờ,
Đại Sư chỉ chiếc mũ màu vàng mà thọ ký:
- Giáo
pháp của Ta sẽ như dòng sông, chảy mãi không đoạn đứt,
không khô cạn. Nơi nào chiếc mũ vàng dừng lại, thì nơi
đó sẽ kiến lập đạo tràng của học thuyết Trung Quán.
Chiếc
mũ màu vàng của Đại Sư cuối cùng trôi dạt đến vùng Tang
Tinh Cương của Ngưỡng Ba. Về sau, một đại đệ tử tài
ba của Đại Sư quả nhiên kiến lập đạo tràng Đại Thừa
Pháp Luân Châu và hoằng dương học phái Trung Quán. Điều
này thật phù hợp với lời thọ ký của Đại Sư.
Lúc
Đại Sư trú tại chùa Cát Ngõa Đống, Bồ Tát Văn Thù hiện
thân phó chúc:
- Chẳng
bao lâu, lúc đang giảng kinh tại Nõa Kiếp Lũng, ông sẽ đánh
rơi một cái răng. Ông nên đem cái răng đó, đưa cho Khắc
Chủ Kiệt để làm điềm lành cho sự hoằng dương chánh pháp,
lợi ích loài hữu tình trong tương lai.
Về
sau, khi Đại Sư trú tại Nõa Kiếp Lũng, Bổn Tôn của bốn
bộ Mật Thừa, cùng ba mươi lăm vị Phật, đều hiện thân
gia trì.
Sáng
nọ, Khắc Chủ Kiệt bạch Đại Sư:
- Đêm
qua, con mộng thấy được Tôn Sư thọ ký, nên hôm nay đặc
biệt đến đây khẩn thỉnh. Xin Tôn Sư từ bi vì chúng con
mà giảng nhiếp nghĩa của bốn bộ Mật pháp (2).
Đại
Sư vui mừng chấp thuận, bảo:
- Ta
rất tùy hỶ!
Đại
Sư bèn ban truyền yếu chỉ thậm thâm của bốn bộ Mật Thừa
cho đồ chúng. Một hôm, vào lúc giữa trưa, Đại Sư lên pháp
tòa giảng kinh. Đại chúng thấy từ miệng Đại Sư chợt
phóng ra một luồng hào quang, chiếu khắp hư không; có người
lại thấy luồng hào quang có đủ năm màu rực rỡ. Bấy giờ,
chỉ có các đại đệ tử là đại A Xà Lê Đạt Mã Nhân
Cần, trì luật Trát Ba Kiên Tham (3), và tâm tử (4) Khắc Chủ
Kiệt đều thấy Đại Sư đánh rơi một cái răng. Khi đó,
Đại Sư liền tụng bài kệ:
"Trụ
trước diệu cao như núi vàng
Thí
cùng ngươi thiện diệu ai bằng (5)".
Tụng
bài kệ xong, Đại Sư trao chiếc răng cho Khắc Chủ Kiệt.
Đạt Mã Nhân Cần và Trát Ba Kiên Tham thấy vậy bèn cầu
thỉnh:
- Bạch
Tôn Sư! Xin hãy cho chúng con một chiếc răng khác!
Đại
Sư bảo:
- Chẳng
phải Ta không muốn cho các ông, mà vì Khắc Chủ Kiệt đã
có đầy đủ túc duyên thọ nhận chiếc răng này, ứng với
lời huyền ký của bổn tôn Bồ Tát Văn Thù. Nếu các ông
khẩn thành cầu nguyện, thì trong bảy ngày, Ta sẽ cho vài
vật khác.
Đại
Sư vừa nói dứt lời, Khắc Chủ Kiệt mang chiếc răng đó
trở về tịnh thất, và ân cần cúng dường. Trong giây lát,
chiếc răng đó tự nhiên phóng ra năm luồng hào quang rực
rỡ, chiếu khắp mọi nơi. Bảy ngày sau, Đại Sư bảo Khắc
Chủ Kiệt mang chiếc răng đó ra xem. Sau khi trần thiết hương
hoa vi diệu cúng dường, cùng dùng bao loại lễ tán xong, đại
chúng mở hộp đựng răng ra xem, thì chợt thấy từ trong chiếc
hộp đựng răng phóng ra ánh sáng năm màu rực rỡ chiếu khắp
bốn phuơng, thẳng suốt trời xanh, và nghe có mùi hương vi
diệu nhẹ nhàng bay tỏa khắp tự viện. Chiếc răng đó, sớm
thần dị biến thành thánh tượng Bồ Tát Văn Thù, tướng
hảo trang nghiêm, rất sống động. Toàn thân của thánh tượng
đầy cả các xá lợi với nhiều màu sắc. Đại chúng tận
mắt thấy được việc này, nên kinh hoàng, và ai nấy cũng
lộ vẻ vui mừng hớn hở, cùng cho là việc chưa từng có.
Đại
Sư lấy xá lợi trên toàn thân của thánh tượng Văn Thù,
như xá lợi ở trên đỉnh đầu có hình xoắn ốc, đưa cho
Dũng Mãnh Kim Cang. Lấy xá lợi thánh tượng ở trên trán,
như xá lợi bằng thủy tinh đưa cho đại A Xà Lê Đạt Mã
Nhân Cần. Lấy xá lợi thánh tượng ở yết hầu, như xá
lợi màu vàng kim, đưa cho Tỳ Nại Da Thi La; lấy xá lợi thánh
tượng ở ngực như xá lợi màu lưu ly, đưa cho trì luật
Trát Ba Kiên Tham. Còn lại chín trăm chín mươi tám hột xá
lợi đưa cho tăng chúng trong đạo tràng.
Tuy
đồ chúng mỗi ngày một đông đảo, nhưng Đại Sư lại không
có đạo tràng giảng kinh cố định. Vì vậy, cứ mỗi kỳ
pháp hội, Đại Sư và đồ chúng lại phải nhọc nhằn đi
từ chùa này đến chùa khác để thuyết pháp và nghe giảng.
Do đó, rất nhiều đại đệ tử thượng thủ cùng các đại
thí chủ thường thỉnh cầu Đại Sư kiến lập chùa chiền
để có nơi an định cho đồ chúng, cũng như có một đạo
tràng căn bản để hoằng dương Phật pháp. Ý kiến trên được
mọi người hoan hỶ tán trợ. Có người muốn cúng dường
tự viện của họ. Có người muốn cúng dường vật liệu
xây cất chùa chiền.
Vui
mừng nhận thấy nhân duyên cất chùa đã đến, Đại Sư thành
tâm nguyện cầu Phật Thích Ca gia hộ cho Ngài tìm được địa
điểm thích hợp để lập chùa. Cầu nguyện xong, Đại Sư
quán sát tường tận tướng trạng của các ngọn đèn, rồi
kết hợp với những điềm mộng. Kết quả, cạnh vùng núi
Vượng Cổ Nhĩ (Drogri) cách Lạp Tát năm mươi dặm về phía
đông là nơi thích hợp nhất để lập ngôi A Lan Nhã kiết
tường. Thật ra, trong đời tiền kiếp, đấy là nơi mà đức
Phật Thích Ca đã từng thọ ký cho Đại Sư lập đạo tràng
hoằng dương Phật pháp.
Pháp
hội 'Cúng Dường Phật Hiện Thần Biến' vào tháng giêng năm
1409 vừa viên mãn, Đại Sư tự thân đến vùng đất đó để
chú nguyện gia trì, rồi phái đại A Xà Lê Đạt Mã Nhân Cần,
cùng Trát Ba Kiên Tham (6) dẫn tăng chúng, tôn chiếu theo lời
chỉ dạy của Đại Sư mà xây cất chùa Cách Đăng (7) vào
năm 1409.
Ban
đầu, chư tăng kẻ tục từ bốn phương đổ dồn về. Người
có sức thì ra công sức; kẻ có tiền tài thì cúng dường
tiền tài. Vì vậy, trong vòng một năm, xây cất hơn bảy mươi
ngôi tòa viện. Quy tắc xây cất phòng xá, hoàn toàn y chiếu
theo giới luật mà tiến hành. Trước tiên, phải quán sát
địa lý mà lập bày, rồi lại phải tuyên bố trước toàn
thể tăng chúng. Được tất cả chư tăng chấp thuận rồi,
mới bắt tay vào công tác xây cất. Họa đồ xây cất phòng
xá, tăng xá, đại điện, nhà ăn, nhà bếp, v.v... hết thảy
đều phải phù hợp theo quy định của giới luật. Cách thức
xây chùa Cách Đăng, tùy theo mỗi công việc lớn hay nhỏ,
Đại Sư đều làm theo quy định của giới luật, tức là
tự thân thực tiễn hoằng dương giới luật.
Phái
Hoàng Giáo (hay Hoàng Mão) do Đại Sư sáng lập, cũng gọi là
phái Cách Lỗ, lấy tên chùa đặt tên tông phái (phái chùa
Cách Đăng). Người Tây Tạng gọi danh từ "Phái" là "Lỗ".
Gọi tắt câu Cách Đăng Cụ Lỗ là Két Lỗ. Người Tây Tạng
khi phát âm thì đọc trật đi thành Cách Lỗ. Vì vậy, Hoàng
Giáo xưng là Cách Lỗ Ba. Ngoài ra, có người bảo rằng ý
nghĩa của phái Cách Lỗ là phái Thiện Quy, do vì ngôi chùa
này đề xướng tôn thủ giới luật nghiêm mật.
Lại
nữa, tên phái Cách Đăng này vốn là lời dự đoán của tôn
giả A Để Sa khi vào Tây Tạng truyền pháp. Quyển Cát Lôi
Bang thứ 26, phẩm Vị Lai Thọ Ký, viết: "Ngọn lửa chánh
pháp cuối cùng do Danh Xưng thắp lên, tạo ra vô lượng lợi
ích; đó là Thắng Xứ Sĩ".
"Danh
Xưng" là pháp hiệu của Đại Sư lúc mới vừa xuất gia. "Thắng
Xứ Sĩ" chỉ cho phái Cách Đăng. Danh từ Cách Đăng gọi cho
đủ là: "Thắng Địa HỶ Lạc".
Mùa
hạ năm 1409, thể theo lời thỉnh cầu của chư tăng và Phật
tử ở vùng A Khách, Đại Sư đến chùa Phó Tang Đơn Lãnh
(Bsam-gtan-gling) giảng Tập Mật Viên Mãn Thứ Đệ và Ngũ Thứ
Đệ Luận. Giảng xong, Đại Sư liền nhập thất để trước
tác quyển "Tập Mật Viên Mãn Thứ Đệ Thích".
Lúc
viết quyển này, Đại Sư cầu khẩn Sư Trưởng, Bổn Tôn
thầm mật gia hộ, nên thường thấy Tập Mật Văn Thù Kim
Cang hiện thân tướng trang nghiêm. Đại Sư dùng lời ẩn ngữ
mà ghi lại hết những kinh nghiệm đã trải qua.
Đêm
mồng ba tháng chạp năm 1409, Đại Sư mộng thấy đại mạn
đà la của Bổn Tôn (Bồ Tát Văn Thù). Trong mộng, Đại Sư
thấy Bồ Tát Văn Thù tay cầm tịnh bình, bảo:
- Nước
trong tịnh bình này vốn là nước của pháp nghĩa hòa hợp
mà trong đời quá khứ, lúc Ta trú gần bên Na Đường Cổ
Thủy, đã cùng A Để Sa và Bồ Tát Di Lặc đồng thảo luận
về ba thân như pháp thân, báo thân, ứng thân, cùng hai thân
như pháp thân và sắc thân. Từ đời A Để Sa đến nay, trải
qua hơn ba trăm năm, không thể tìm được ai để ủy thác.
Hiện tại, ông là người đã được tuyển chọn, nên Ta giao
cho ông (8).
Đêm
mồng bốn tháng chạp năm 1409, Đại Sư mộng thấy Bố Đốn
Nhân Ba Thiết ngồi trên bảo tòa cao lớn, và ban truyền "Tập
Mật Căn Bổn Kinh" cho đại chúng. Giảng thuyết xong, Bố Đốn
Nhân Ba Thiết trịnh trọng phó chúc cho Đại Sư:
- Từ
đây về sau, ông sẽ là chủ nhân của bộ kinh này.
Bấy
giờ Đại Sư suy nghĩ: "Phần cuối của bộ kinh này có khiếm
khuyết hay không?"
Lúc
mở ra xem để kiểm tra, từ đầu đến cuối, Đại Sư không
thấy một chỗ nào là khiếm khuyết. Chốc lát sau, Bố Đốn
Nhân Ba Thiết dùng hai tay, đặt bộ kinh này lên đảnh đầu
của Đại Sư, và miệng đọc chân ngôn quán đảnh, cùng dùng
ấn thủ gia trì ba lần.
Mồng
năm tháng chạp năm 1409, đối với Hòa Hợp Tu Pháp (9) của
tổ sư Mã Nhĩ Ba thuộc phái Cát Cử, Đại Sư đều đạt
được kiến giải kiên cố không sai lầm.
Mồng
sáu tháng chạp năm ấy, Đại Sư lãnh hội được những pháp
tu hòa hợp do ngài Mã Nhĩ Ba ban truyền (10), cùng chánh kiến
pháp nghĩa về luận Trung Quán của Bồ Tát Long Thọ.
Mồng
bảy tháng chạp năm đó, vừa duyệt xem quyển luận Bồ Tát
Nhiếp Hạnh Cự của luận sư Đề Bà, Đại Sư sanh khởi
định giải thù thắng.
Đầu
năm 1410, mái chùa Cách Đăng được xây cất xong. Vào mồng
năm tháng hai năm 1410, Đại Sư cử hành đại lễ khai quang
cho chùa Cách Đăng (11), cùng giảng Bồ Đề Đạo Thứ Đệ
Quảng Luận, Tập Mật Nguyệt Xưng Thích, Ngũ Thứ Đệ, Tập
Lượng Luận, Du Già Sư Địa Luận, Nhân Minh Luận, v.v...
Năm
đó, Đại Sư trước tác quyển "Tập Mật Tứ Thiên Nữ Thỉnh
Vấn Kinh Thích", "Trí Kim Cang Kinh Tập Thích", cùng bắt đầu
viết quyển "Ngũ Thứ Đệ Thích".
Xưa
kia, tại vùng Tăng Cách Tông ở Niếp Địa, Diệu Âm Thiên
Nữ đã từng hiện thân bảo rằng đến năm năm mươi bảy
tuổi, Đại Sư sẽ thọ nạn. Bồ Tát Văn Thù cũng đặc biệt
phó chúc, bảo rằng trong thời gian đó, phải chuyên tu Mật
pháp để đối trị hoạn nạn. Bồ Tát cũng dạy rằng sau
khi kéo dài được thọ mạng Đại Sư sẽ đem lại rất nhiều
lợi ích cho chánh pháp và chúng sanh.
Năm
năm mươi lăm tuổi (1411), để tiêu trừ tai nạn, Đại Sư
cùng với hơn ba mươi đại đệ tử nhập thất, chuyên tu
Mật pháp Đại Oai Đức Kim Cang (12). Buổi sáng tu pháp tăng
ích. Buổi chiều tu pháp diệt tai nạn.
Đại
Sư cùng đồ chúng tinh tấn tu trì như thế. Đến năm 1412,
tuy người tham gia có trên bốn mươi vị, nhưng vẫn chưa thấy
điềm dự báo ngăn ngừa được tai nạn. Tuy nhiên, quả như
lời thọ ký của Diệu Âm Thiên Nữ, Đại Sư chứng đắc
diệu trí Không Lạc Hòa Hợp, nên đạt được bốn loại
hoan hỶ và công đức của tánh Không.
Mùa
thu năm đó, thấy chưa có điềm lành tiêu trừ tai nạn, và
sợ sang năm sẽ không tránh khỏi họa hoạn, nên Đại Sư
bảo đồ chúng:
- Xem
tình hình như vầy, từ đây về sau, Ta e rằng sẽ không còn
có cách nào tiếp tục giảng kinh cho các ông nữa. Vì cần
cầu Mật giáo thạnh hành rộng khắp trên thế gian, hôm nay
Ta sẽ truyền trao cho các ông hết những yếu chỉ vi diệu
thậm thâm nhất.
Nghe
qua lời này, đồ chúng vô cùng kinh hoàng, vì sợ rằng thế
gian mất đi chỗ nương tựa lớn, nên ân cần chí thành cầu
thỉnh:
- Kỳ
tai nạn sắp đến! Chúng con cầu thỉnh Đại Sư từ bi, thương
cho chúng sanh không có chỗ nương tựa, mà tạm thời đình
chỉ việc giảng kinh, tiếp tục chuyên tu. Đệ tử chúng con
tuy ngu muội bất tài, nhưng cũng nguyện tận lực hết lòng
hỗ trợ.
Do
lời thỉnh nguyện của đồ chúng, vào mồng bảy tháng tám
năm đó, Đại Sư cùng với hơn ba mươi cao đệ tiếp tục
nhập thất chuyên tu. Những đệ tử khác cũng tận tình hộ
thất.
Trung
tuần tháng mười một, Đại Sư bị bịnh trầm trọng. Lúc
nghiêm trọng nhất là trong hơn hai mươi ngày Đại Sư không
thể chợp mắt được. Tuy bịnh nghiêm trọng như thế, nhưng
Đại Sư vẫn không bỏ phế công phu tu tập. Bên ngoài, thấy
Đại Sư ăn uống đi lại như thường, nên đồ chúng chẳng
ai biết rõ bịnh tình của Đại Sư.
Đêm
mười ba tháng chạp, trong tam ma địa, Đại Sư thấy được
tướng lành kiên cố, nên vui mừng bảo đồ chúng:
- Hôm
nay tướng lành đã hiện, hy vọng sẽ thành tựu. Mọi người
hãy nên tập trung ý lực, dũng mãnh tu hành.
Bấy
giờ, đại A Xà Lê Đạt Mã Nhân Cần cùng toàn thể đồ
chúng nhất tâm tu hỗ trợ cho Đại Sư. Dẫu tới đêm giao
thừa và ngày đầu năm mà họ vẫn hành trì không gián đoạn.
Tăng chúng và Phật tử ở khắp nơi cũng sợ rằng Đại Sư
sẽ nhập tịch, nên tận lực hành bố thí, tu phước thiện,
để cầu nguyện Đại Sư trụ lại thế gian.
Sau
hai năm tu hành liên tục (57 tuổi) Đại Sư bắt đầu chọn
bảy đồ đệ đầy đủ tịnh giới để chuyên tu pháp của
Bổn Tôn. Những đệ tử đã có chứng lượng nơi Mật pháp
Đại Oai Đức Kim Cang cũng vào thất cùng tu với Đại Sư.
Ban ngày, Đại Sư tu mật pháp Đại Oai Đức. Chiều tối trụ
tại tam ma địa Đại Lạc Bất Không, để phòng ngừa tai
nạn do phi nhân và ma quỶ gây nên.
Tạo
ra nghịch duyên ngăn trở giáo pháp của Đại Sư, tổng cộng
có bốn đại ác ma. Vài năm trước, tại A Khách, đang giảng
Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, Đại Sư đã từng hàng
phục một đại ác ma. Hắn thề suốt đời không còn làm
loạn nữa, và xin an trú nơi tam muội da giới. Lần nhập thất
này, lại có một đại ác ma đến cầu quy phục, xin Đại
Sư tha tội, cùng phát nguyện mãi mãi hộ trì giáo pháp của
Đại Sư.
Lần
nọ, vào lúc nhập định, Đại Sư thấy trên hư không, Phật
Thích Ca từ thân vàng sáng chói oai đức trang nghiêm, phóng
ánh hào quang lớn, và kết ấn hàng phục ma quân. Đại Sư
dùng lực thiền định, nhiếp nhập thánh tượng Phật Thích
Ca vào thân. Trong khoảng sát na, đối với những chướng nạn,
Đại Sư đạt được lực vô úy. Bấy giờ, Đại Sư thấy
pháp vương Lục Tý Ma Cáp Lạp và Diêm La dùng dây Kim Cang
trói cổ một đại ác ma, dẫn đến trước tòa của Đại
Sư mà chặt đầu. Ngay lúc đó, chư đồ đệ đều nghe bên
ngoài có tiếng của rất nhiều phi nhân la lớn:
- Bại
rồi!
Chúng
yêu ma đều biến thành loài chim mà bay đi mất. Hôm sau, Lục
Tý Ma Cáp Lạp cũng dẫn một đại ác ma đến và vung đao
chém. Thế là nguy nạn của bốn đại ác ma đã được tận
trừ. Pháp thể của Đại Sư từ từ được bình phục lại.
Bấy
giờ, Bổn Tôn hiện thân thọ ký:
- Từ
nay, ông phải tu lý Sanh Khởi, để viên mãn hai loại thứ
đệ. Chẳng bao lâu, có thể chứng đắc quả vị cứu cánh.
Trong các đồ đệ của ông, có bảy người đầy đủ thiện
căn; họ cũng sẽ có sở chứng.
Đến
mồng năm tháng sáu, thân thể của Đại Sư hoàn toàn khoẻ
lại.
Mùa
hạ năm 1415, do lời thỉnh cầu của vua Trát Ba Kiên Tham, Đại
Sư đến chùa Trát Hy Đóa Khách (Wongyi Tashi Dokar) ở vùng Văn
Địa để an cư kiết hạ, và chuyển pháp luân, giảng Trung
Luận, Thích Lượng Luận, Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận,
Nhập Bồ Đề Hạnh Luận cho trụ trì chùa Tư Đường, trụ
trì chùa Đơn Tát Thế cùng hàng trăm tam tạng pháp sư danh
tiếng.
Do
Đại Sư tự thân thực hành giới đức tinh nghiêm và hoằng
dương giới luật, nên có rất nhiều người đến dưới tòa
mà cầu giới. Lúc trụ tại chùa Trát Hy Đóa Khách, ứng theo
lời thỉnh cầu của Tỏa Nam Tang Bố (13) trụ trì chùa Đơn
Tát Thế, Đại Sư chánh thức truyền giới tỳ kheo cho Thầy.
Ngày
nọ, lúc Đại Sư trú tại chùa Trát Hy Đóa Khách, có một
vị đúc tượng (14) đến đúc những thánh tượng. Vị đúc
tượng này có tài thiện xảo khéo léo, và đúc tượng rất
nhanh. Trong một ngày mà đúc được hai mươi mốt tôn tượng.
Những tôn tượng đó rất sống động, và tựa như pháp tướng
của Đại Sư. Thấy thế, Đại Sư tán thán:
- Những
hình tượng này thật giống như thân của Ta!
Do
đó, trong một ngày, Đại Sư cạo tóc hai mươi mốt lần,
rồi trộn tóc vào chất thạch cao, để đắp lên các bức
tượng đó. Hiện nay các tôn tượng của Đại Sư vẫn còn
được lưu giữ tại chùa Trát Hy Đóa Đường.
Vào
mùa thu năm 1415, vừa từ chùa Trát Hy Đóa Khách trở về đến
chùa Cách Đăng, Đại Sư bèn rút ra tất cả yếu chỉ của
tông pháp, trước tác "Tập Mật Nguyệt Xưng Thích Sớ" và
"Tập Mật Quyết Đoạn Nhiếp Nghĩa Khoa Phán", để hiển dương
thắng nghĩa bất cộng của Tập Mật (Guhysamaja Tantra).
Lại
nữa, quyển Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận do Đại Sư
trước tác xưa kia, văn nghĩa rất bao la bác học, nên đối
với những kẻ hạ căn sơ phát tâm thật khó phụng trì. Vì
vậy, Bổn Tôn (Bồ Tát Văn Thù) phó chúc cho Đại Sư rằng
phải viết sơ lược lại, để nhiếp thọ những người căn
cơ thấp kém. Do đó, rút ra những pháp nghĩa chính yếu (15),
Đại Sư trước tác quyển "Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Lược
Luận".
Trước
tác xong quyển "Tập Mật Nguyệt Xưng Thích Sớ (Chakrasamvara)"
và "Tập Mật Quyết Đoạn Nhiếp Nghĩa Khoa Phán", Đại Sư
bắt đầu giảng Mật pháp liên tục. Lần nọ, lúc đang ban
truyền Mật pháp, Đại Sư tự nhủ: "Trong bộ Mật Tích có
lưu ý: Những người chưa đắc Mật pháp quán đảnh, thì
nghiệp chướng chưa được thanh tịnh. Đức Phật chế giới
cho những người nầy là không được nhìn xem đàn tràng Mật
pháp. Hôm nay cử hành Mật pháp cúng dường tại đại điện,
thật là không hợp với bổn ý của bộ Mật Tích. Vì muốn
tôn chiếu theo giới luật của Mật Tông, phải nên kiến lập
thêm một chánh điện Mật pháp".
Thế
nên, Đại Sư bắt đầu phác họa xây cất điện Quảng Nghiêm
để chuyên tu Mật pháp (16). Do bi nguyện của Đại Sư chiêu
cảm, tín chủ bốn phương cúng dường rất nhiều cúng phẩm.
Cuối năm 1415, nền móng được xây cất, và qua năm sau thì
hoàn thành.
Tháng
ba năm 1417, Đại Sư mời thợ đúc tượng đến đúc tôn tượng
Phật. Ở trung tầng của điện Quảng Nghiêm, đúc tượng
Phật Thích Ca (bằng đồng đỏ) lớn hơn tôn tượng của
chùa Đại Chiêu. Thượng tầng của đại điện đều y theo
quy thức, kiến lập ba đại mạn đà la như Tập Mật Ba Mươi
Hai Tôn, Thắng Lạc Sáu Mươi Hai Tôn, Kim Cang Giới. Trong các
mạn đà la của Tập Mật Ba Mươi Hai Tôn và Thắng Lạc Sáu
Mươi Hai Tôn, dùng một trăm lượng bạc để đúc làm Tập
Mật Kim Cang, Thắng Lạc Luân Kim Cang. Tượng của chư Phật
trong năm phương và các thánh tượng của chư Du Già Mẫu cũng
dùng bạc để đúc tạo. Đối với những tượng Phật khác
và cung điện, thì dùng đồng đỏ để đúc tạo, và bên
ngoài thì phết vàng lá. Chủ tôn của Kim Cang Giới Mạn Đà
La thì dùng gần cả một trăm lạng bạc để tạo thành. Mười
hai tôn tượng Phật khác thì dùng hơn bảy trăm lạng bạc
để đúc tạo. Cung điện cũng làm bằng đồng đỏ và phết
vàng lá.
Ngoài
ra, Đại Sư còn cho đúc bằng vàng các tôn tượng của Bồ
Tát Văn Thù, Phật Vô Lượng Thọ, Phật Đại Oai Đức Kim
Cang, cao cả ba thước. Phật Đảnh Tôn Thắng, Đại Bạch
Tản Cái Phật Mẫu cao khoảng một khủy tay. Dùng lụa tơ,
hương dược, v.v... nghiền nhỏ thành bột, rồi nắn thành
tượng Phật Đại Oai Đức Kim Cang, cao khoảng mười một
ngón tay. Tất cả đều dùng bao loại trân bảo để trang nghiêm
tượng Phật.
Đúc
xong tất cả thánh tượng, Đại Sư y chiếu theo quy thức của
Đại Oai Đức Kim Cang mà làm lễ khai quang, cùng vân tập rất
nhiều tăng sĩ, trí sĩ và Phật tử, cử hành pháp hội cúng
dường. Lúc làm lễ khai quang, có nhiều tướng lành hiển
hiện, thật rất hy hữu. Từ đó, ở Vệ Tạng, suốt bao năm
mưa thuận gió hòa, khiến thực phẩm đầy ắp, quốc gia thái
bình, nhân dân an lạc. Đó là nhờ một phần công đức xây
cất bảo điện Quảng Nghiêm, mới được chư Phật gia trì,
thiên thần ủng hộ.
Năm
1418, do tăng chúng ở bốn phương và đồ chúng cung thỉnh,
Đại Sư thuyết giảng về Hiển-Mật giáo pháp.
Trong
pháp hội, Đại Sư đặc biệt giảng về đại pháp Thời
Luân Kim Cang. Thời Luân Mật Pháp có nhiều chỗ không giống
với những loại Mật pháp khác. Vì vậy, rất nhiều học
giả bài bác quyển Mật pháp này. Nhờ trí huệ vô cấu nhiễm
mà Đại Sư biết rõ đây là bộ Mật pháp rất thâm cao, và
thù thắng. Pháp Kim Cang Thời Luân khi truyền vào Tây Tạng
có hai phái: Một là do luận sư Nguyệt Hỗ. Hai là do dịch
giả Nhạ Pháp Cực. Ngài Bố Đốn Nhân Ba Thiết trước tiên
tu học giáo thọ của dịch giả Nhạ Pháp Cực tại Kim Cang
Tràng, rồi lại y theo ngài Thánh Quang mà học giáo thọ của
luận sư Nguyệt Hỗ. Sau này, ngài Bố Đốn Nhân Ba Thiết
đem Thời Luân Mật Pháp của hai phái mà truyền trao cho ngài
Kiếp Kiết Cụ Ngõa Nhân Ba Thiết. Chuyên tinh tấn tu trì Mật
pháp này, rồi về sau ngài Kiếp Kiết Cụ Ngõa Nhân Ba Thiết
truyền trao cho Đại Sư.
Nơi
pháp hội đó, Đại Sư nỗ lực hoằng dương Thời Luân Mật
Pháp. Mật pháp này được thịnh hành tại Tây Tạng, chính
nhờ công lao Đại Sư.
Lúc
Đại Sư trú tại chùa Cách Đăng vào năm 1418, do đại thiện
tri thức Thiện Kiết Tường cúng dường bốn mươi lạng bạc
(để đúc tạo mạn đà la), và do nhiều vị đại thiện tri
thức tín giải "Nhập Trung Luận" (17), cùng có huệ lực thù
thắng, v.v... ân cần cung thỉnh, nên Đại Sư tạo một bộ
luận, văn nghĩa đơn giản, hiển bày thông nghĩa chính xác,
giải đáp những điểm nghi ngờ, được gọi là "Nhập Trung
Luận Thích". Thuận tiện, Đại Sư cũng trước tác sớ sao
hiển rõ mật ý. Bộ này được hoàn tất vào năm đó, và
được gọi là "Nhập Trung Luận Thiện Hiển Mật Ý Sớ" (18).
Sau
khi hoàn thành sự nghiệp hy hữu đối với thánh giáo và chúng
sanh, cơ duyên hoằng hóa của Đại Sư sắp hết. Để hóa
độ những người hữu duyên cuối cùng, và kết nhân duyên
thù thắng cho đời vị lai, cùng từ tạ thánh tượng Thích
Ca Mâu Ni, Đại Sư chấp thuận lời cầu thỉnh của đồ chúng
mà đến Lạp Tát. Vào mùa thu năm sáu mươi ba tuổi (1419),
từ chùa Cách Đăng xuất phát, đầu tiên Đại Sư đến chùa
Đại Chiêu ở Lạp Tát, lễ bái thánh tượng Thích Ca cùng
trần thiết cúng dường, khẩn thành phát nguyện. Phát đại
nguyện thanh tịnh xong, Đại Sư đi thẳng đến vùng Ôn Tuyền.
Vừa rời Ôn Tuyền, Đại Sư đến vùng Đóa Lũng (Tolung),
vân tập chư tăng kẻ tục, tuyên giảng pháp nghĩa, cùng thọ
nhận phẩm vật cúng dường, để khiến họ gieo trồng thiện
căn, và vun bồi phước duyên thù thắng. Trong kỳ pháp hội,
trên hư không ở nơi trụ xứ của Đại Sư, xuất hiện nhiều
áng mây tập mật, cùng có ánh sáng năm màu sáng soi rực rỡ.
Tham gia pháp hội có khoảng chín ngàn vị tăng, mà trong đó
có khoảng hai ngàn vị thông suốt ba tạng giáo điển.
Lần
nọ, lúc đi ra một bờ suối ở Đóa Lũng, Đại Sư ngồi
dựa vào một tảng đá lớn, và hình tượng của Đại Sư
được in ấn vào trong tảng đá đó, mà cho đến ngày nay
tín chúng vẫn còn trông thấy. Nơi đó, Đại Sư cũng thấy
hóa thân của mười sáu vị đại A La Hán.
Pháp
hội ở vùng Đóa Lũng vừa kết thúc thì Đại Sư đến chùa
Triết Bang (Drepung), giảng thuyết Bồ Đề Đạo Thứ Đệ,
Na Nhã Lục Pháp, Nhập Trung Luận, Tập Mật, cùng các Mật
pháp thậm thâm cho hơn hai ngàn tăng chúng, và thọ sự cúng
dường của họ.
Lúc
xưa, những khi tuyên giảng pháp nghĩa, Đại Sư chỉ hạn cuộc
nơi giảng kinh. Đối với những loại pháp yếu quan trọng,
Đại Sư không ban truyền nhiều, mà chỉ giảng đến Bồ Đề
Đạo Thứ Đệ Quảng Luận là ngưng. Vì muốn lưu lại hạt
giống nhân duyên Văn Thù, Đại Sư mở rộng pháp môn phương
tiện, bãi bỏ thông lệ không truyền pháp cho cư sĩ. Lúc giảng
kinh, dẫu là chư tăng hay cư sĩ, và số lượng nhiều hay ít,
cùng kẻ đến trước người tới sau, Đại Sư đều giảng
giải và ban truyền pháp cho họ mà không lưu lại chút nào.
Do đó, đại chúng tham gia pháp hội ai ai cũng vui mừng hớn
hở, mãn nguyện ra về.
Lần
nọ, khi Đại Sư đang giảng giải kinh luận, thì có một luồng
tia sáng năm màu sáng rực, từ trên hư không chiếu thẳng
xuống đạo tràng. Nhìn xa xa giống như một cây cột trụ.
Lại
nữa, vào lúc Đại Sư làm lễ khai quang đại điện Mật pháp
ở chùa Triết Bang, đất đai đều chấn động, và chư thánh
chúng hiện thân bay vào các thánh tượng, cùng có các tướng
lành khác. Những thánh tượng đó làm phước điền thù thắng
cho chúng sanh trong đời mạt pháp.
Lần
nọ, đang giảng kinh Tập Mật (19), Đại Sư vọng hướng về
phía chùa Cách Đăng. Giảng đến phẩm thứ chín, Đại Sư
bảo:
- Ta
có việc quan trọng, phải trở về chùa Cách Đăng ngay. Kinh
Tập Mật giảng đến đây là kết thúc.
Các
thí chủ cùng đồ chúng rất thất vọng, nên cầu thỉnh:
- Thỉnh
Đại Sư từ bi, lưu lại đây một tháng hoặc nửa tháng,
để giảng xong hết quyển kinh Tập Mật. Nếu thật không
còn thời gian, xin Đại Sư hãy theo văn nghĩa mà tụng qua một
lần, rồi xin kết thúc.
- Hiện
tại, Ta phải mau kíp trở về chùa Cách Đăng để giảng Bồ
Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận cùng Tập Mật Căn Bản Kinh.
Những ý nghĩa thâm sâu quan trọng trong quyển kinh này, hôm
qua Ta đã giảng xong. Quý vị không cần phải cầu thỉnh!
Đại
Sư từ chối lời cầu thỉnh, rồi trở về chùa Cách Đăng.
Thật ra, giảng kinh chưa xong mà kết thúc, đó là Đại Sư
muốn biểu thị pháp duyên chưa dứt, và để kết duyên với
họ trong đời vị lai, khiến Phật pháp mãi mãi trường tồn.
Mật ý này, các đồ chúng và thí chủ nào biết rõ.
Trên
đường trở về chùa Cách Đăng, Đại Sư cũng ghé lại Lạp
Tát, lễ bái thánh tượng Thích Ca Mâu Ni, cùng cúng dường
và phát nguyện lần cuối cùng.
Bấy
giờ, chùa Sắc Nhạ (Sera) đã được xây xong. Thích Ca Dã
Hiệp ân cần thỉnh cầu Đại Sư đến chùa Sắc Nhạ giảng
kinh thuyết pháp cho đại chúng. Trong kỳ pháp hội giảng kinh
đó, Đại Sư nghĩ đến việc Mật pháp thanh tịnh chân chánh
ở Tây Tạng đã lâu bị mai một. Tuy Đại Sư nỗ lực giảng
kinh thuyết pháp, ban truyền pháp nghĩa, mà sự hoằng truyền
Mật pháp vẫn còn thiếu nền tảng căn bản. Do đó, Đại
Sư phó chúc cho Thích Ca Dã Hiệp lập viện Mật giáo, để
làm đạo tràng thanh tịnh cho sự giảng giải và nghe về Mật
pháp.
Đại
Sư lại kết duyên vị lai thù thắng. Tại chùa Sắc Nhạ,
thầy trò của Đại Sư làm lễ tụng giới trong nửa tháng
(20). Đại Sư cũng giảng hai bộ kinh Tập Mật và Thắng Lạc.
Lần
nọ, Đại Sư cầm quyển "Tập Mật Tứ Sớ Hiệp Giải", rồi
hỏi đại chúng:
- Ai
có khả năng thọ trì quy thức giảng giải và truyền thừa
về bộ kinh này?
Đại
Sư hỏi ba lần mà trong đại chúng không có ai trả lời. Chốc
lát sau, một đệ tử tên là La Truy Tăng Cách (Blo-gros seng-ge;
dịch là Huệ Sư Tử), đứng dậy, lễ bái ba lạy, rồi thưa:
- Con
xin nguyện thọ trì!
Nói
xong, La Truy Tăng Cách tiếp thọ quyển kinh đó trên tay của
Đại Sư. Cảm thấy pháp đã được truyền trao, Đại Sư
rất vui mừng, và an ủi dặn dò:
- Ông
hãy an tâm! Ta đã phó chúc bộ Mật pháp này cho pháp vương
Diêm La (21). Trong tương lai, nơi vùng núi Kim Cang Linh Phúc Cái
ở Hậu Tạng, có một vị Du Già Sư tu pháp Đại Oai Đức
Kim Cang. Người đó sẽ hoằng dương giáo pháp của ông. Lại
nữa, trên núi La Sát Nữ Ngưỡng Ngọa có một nữ Dạ Xoa.
Bà ta cũng có thể hoằng dương pháp của ông. Những việc
khác, sau này ông tự hiểu rõ.
Thọ
ký xong, Đại Sư liền vào kho, lấy ra mặt nạ Diêm La, cốt
trượng, dây thung, cùng các pháp bảo để trao cho La Truy Tăng
Cách, rồi ban truyền pháp quán đảnh "Thọ Trì Giảng Mật
Pháp".
Trên
đường từ chùa Triết Bang trở về chùa Cách Đăng, để
kết duyên lành với chúng sanh trong đời vị lai, dẫu ai cung
thỉnh giảng pháp, Đại Sư cũng đều từ bi chấp thuận.
Lần
nọ, nhận lời thỉnh cầu của Trát Cát Tổng Chủ, Đại
Sư đến vùng Đại Lạc Đảnh giảng kinh. Trong pháp hội,
Đại Sư bảo Trát Cát Tổng Chủ:
- Đại
Lạc Đảnh là vùng đất thanh tịnh. Ông nên xây cất một
đạo tràng y theo giới luật và Mật pháp của tôn giả A Để
Sa đã ban truyền.
Đại
Sư phó chúc xong, cúng phẩm bốn phương liền đổ dồn về.
Trát Cát Tổng Chủ cũng hoan hỶ phát tín tâm, lập tức khởi
công xây chùa, và cung thỉnh Đại Sư làm lễ khai quang. Đại
Sư bảo:
- Đúng
thế! Đúng thế! Lần này không tiến hành lễ khai quang thì
e rằng về sau chẳng còn có cơ hội nữa!
Vào
đêm nọ, đại chúng đều nghe tiếng nện gióng rõ ràng. Tuy
nhiên, lúc đi xem xét thì không ai biết âm thanh đó xuất phát
từ đâu. Đây chẳng phải là tiếng nện gióng ở cõi người,
mà là âm thanh cung thỉnh Đại Sư của chư Thiên. Điềm này
hiển thị cho việc Đại Sư sắp nhập Niết Bàn!
Làm
lễ khai quang xong, Đại Sư liền từ giả đại chúng để
đến vùng Đức Khánh (Dechen) thể theo lời cung thỉnh của
Cát Chủ Diệc (Brag-dkar grub-bzhi). Từ Đức Khánh trở về
chùa Cách Đăng, Đại Sư lập tức lên bảo điện Quảng Nghiêm,
rồi dạy đồ chúng:
- Các
ông hãy mau trần thiết cúng phẩm. Hiện tại Ta muốn tu Mật
pháp cúng dường mà không thể chờ đợi!
Sau
khi cúng dường các cúng phẩm trước thánh tượng đức Như
Lai, cùng ba đại mạn đà la Tập Mật, Thắng Lạc, Kim Cang
Giới xong, Đại Sư đại diện chư tăng chùa Cách Đăng tiếp
thọ sự cúng dường của các thí chủ. Bấy giờ, vì muốn
chánh pháp trụ mãi trên thế gian, người đời nay và đời
sau tu hành được viên mãn, Đại Sư tự ý giảng "Cực Lạc
Nguyện Văn".
Thấy
nhân duyên độ sanh đã viên mãn, Đại Sư trở về am thất
trong chùa Cách Đăng, rồi tự nhủ: "Hiện nay, mọi việc đã
được an bài. Tâm Ta thật rất an lạc!"
Vì
muốn cứu độ chúng sanh, xả bỏ chấp thường kiến, nên
lúc ấy Đại Sư thị hiện có chút bịnh. Nghe tin Đại Sư
lâm bệnh, đại chúng sợ mất nơi nương tựa, nên họp nhau
tụng kinh lễ bái cùng làm các Phật sự khác, để cầu nguyện
Đại Sư trụ thế lâu dài. Sau buổi trưa, Đại Sư cảm thấy
toàn thân đau nhức. Đến tối, Đại Sư lại thị hiện tướng
hôn mê. Qua ngày thứ ba, Đại Sư tỉnh lại và phó chúc cho
Bảo Tràng Nhân Ba Thiết:
- Từ
nay, ông hãy cùng Đạt Mã Nhân Cần trụ trì chùa Cách Đăng!
Ngày
hai mươi ba tháng mười, trì luật Trát Ba Kiên Tham và đại
A Xà Lê Đạt Mã Nhân Cần quỳ trước tòa của Đại Sư.
Bấy giờ, Đạt Mã Nhân Cần buồn bã cầu thỉnh:
- Xin
Đại Sư chỉ dạy cho con tâm yếu của sự hoằng hóa lợi
sanh trong đời tương lai!
Vì
xưa kia đã từng phó chúc cho Đạt Mã Nhân Cần trụ trì chánh
pháp, nên nay Đại Sư không cần phải lập lại, mà chỉ lấy
chiếc mũ vàng xuống rồi quăng đến ngực của Đạt Mã Nhân
Cần, và đưa cho một tấm pháp y (biểu thị cho việc truyền
thừa ngôi pháp vị, tức kế thừa Đại Sư mà làm pháp vương
quán đảnh), bảo:
- Ông
nên hiểu mật ý của việc này mà cố gắng phát tâm Bồ
Đề!
Từ
đó, Đại Sư thị hiện bịnh nặng, ngày một tăng thêm. Song,
trong thời gian quan trọng đó, ngày ngày Đại Sư vẫn tu trì
bốn tọa Du Già không gián đoạn.
Lúc
Đại Sư thị hiện bịnh hoạn, thân thể có chút gầy ốm.
Khi hít hơi thở thô vào, thân thể đột nhiên lại xuất hiện
tướng viên mãn, trở thành huyễn thể sáng chói bên trong
cũng như bên ngoài. Dung mạo của Đại Sư sáng sủa, trẻ
trung, y như đồng tử mười hai tuổi. Bấy giờ, toàn thân
Đại Sư phóng ánh sáng rộng lớn, mà người người nhìn
thấy không đồng nhau. Có người thấy màu vàng hồng; có
người thấy màu vàng trắng bạch; có người thấy màu vàng
kim. Tướng hy hữu này, chính là hóa thân của đồng tử Văn
Thù Sư Lợi. "Ngoài mặt y phục ẩn trân châu. Trong trụ định
đẳng trì".
Khi
Đại Sư trụ định quang minh, hư không thanh tịnh lặng lẽ
vô cùng, chẳng có chút áng mây hồng. Sau này, trong bốn mươi
chín ngày Đại Sư vừa viên tịch, không có một làn gió nào
thổi đến. Do đó, những ngọn đèn dầu tô lạc của đại
chúng, tuy đặt khắp trong ngoài tự viện, mà không có ngọn
đèn nào bị thổi tắt hay cháy phừng lên.
Mỗi
ngày, vào nửa đêm khuya, trong hư không tịch tĩnh thường
vang lên tiếng nhạc trời vi diệu, nghe rất êm ái. Những
đóa hoa năm màu rực rỡ, từ trên không trung bay lã tã xuống
như mưa. Những cánh hoa trắng sáng chói như những vầng trăng
từ hư không rơi xuống lấp lánh chiếu sáng khắp nơi. Trên
đỉnh chùa Cách Đăng xuất hiện cột trụ trắng đứng thẳng
tựa như tràng phan. Hai bên hông chùa và trước mặt chùa có
những áng mây lành năm màu sáng chói bao phủ.
Đêm
ngày hai mươi bốn tháng mười, Đại Sư tu nội cộng pháp
của Bạc Già Phạm Thắng Lạc Luận. Khi ấy, tuy xuất hiện
nhiều điềm hy hữu, nhưng vì sợ làm động Đại Sư, nên
trong đại chúng không ai dám thỉnh vấn.
Rạng
sáng ngày hai mươi lăm tháng mười năm 1419, Đại Sư liền
nhập đại định, rồi theo thứ lớp mà nhiếp nhập tất
cả tánh Không, hiện chứng quang minh pháp thân thắng nghĩa
đế. Ngay lúc đó Đại Sư liền thị hiện tướng nhập Niết
Bàn.
Sau
khi Đại Sư viên tịch, hàng trăm đồ chúng danh tăng, đến
trước đàn tràng, dùng ba loại phẩm vật cúng dường ở
trong, ngoài, bí mật, mà cúng dường lên Đại Sư; họ phát
đại nguyện rằng đời đời kiếp kiếp thường theo và thọ
lãnh pháp cam lồ của Đại Sư; họ cũng ước nguyện phụng
hành theo giáo pháp và nương nhờ vào huệ lực của Đại
Sư để sớm đắc quả vị đại Kim Cang Trì.
Bấy
giờ, các đại đạo tràng ở Tây Tạng đều đua nhau bố
thí cúng dường, hầu mong tăng thêm phước đức thù thắng.
Vì mất đi một đấng đạo sư, có những thiện tri thức
ưu sầu đau đớn rơi lệ xót xa, rồi dần dần quên mất
cả sự tu hành (22). Khắc Chủ Kiệt thấy thế bèn bảo:
- Lúc
vị giáo thọ A Xà Lê viên tịch, có một số người xuất
gia, vì buồn thương quá độ, mà làm hoại mất tất cả sự
tu hành văn, tư, tu. Họ để tóc quá dài, mặc y phục tang
chế của người thế tục, phá hoại tăng tướng, lại còn
nằm lăn trong chánh điện mà khóc lóc than van đủ điều,
giống như tập tục tang chế của người thế gian. Hiện tại,
chúng ta phải tôn chiếu theo lời răn dạy của Đại Sư, xả
hết mọi tập tục thế gian, thuận theo giáo pháp của đức
Phật. Dẫu là ai đi nữa cũng sẽ gặp lúc "sanh tử vô thường".
Vì vậy, chớ nên làm giống như người thế tục. Những việc
này chỉ làm tăng thêm sự ưu sầu khổ não, phiền muộn.
Kệ viết:
"Tất
cả pháp hữu vi
Đều
là tướng vô thường
Tích
tụ đều tiêu tán
Tôn
sùng tức đọa lạc
Hợp
hội rồi ly biệt
Có
sanh tức có tử".
"Sanh
Tử" đối với con nguời, ai ai cũng không tránh khỏi. Do đó,
phải thường sanh khởi tâm kinh sợ và chán chường, mà nhất
tâm cầu đạo xuất ly, nỗ lực chuyên tu chánh giáo, chứng
đạt ba loại pháp luân. Làm Đại Sư vui lòng vừa ý, cũng
là một hình thức cúng dường lễ vật lên Đại Sư vậy.
Khắc
Chủ Kiệt đầy đủ mắt chánh pháp huệ, dùng những điểm
chính yếu của Phật pháp và y theo lời răn dạy của Đại
Sư mà khuyên lơn đại chúng nên tránh những tập quán của
thế tục, để khiến cho chánh pháp vô cấu nhiễm, mãi trụ
tại thế gian.
Sau
khi Đại Sư viên tịch, trong đại chúng có người đề nghị
hãy nên làm lễ trà tỳ; có người bảo rằng hãy nên lưu
giữ nhục thân của Đại Sư. Đồ chúng bàn tán xôn xao, không
nhất ý. Song, các đệ tử thượng thủ thấy việc lưu giữ
nhục thân của Đại Sư là rất có lợi ích cho việc hoằng
dương chánh pháp. Lúc xưa khi Đại Sư trú tại Nõa Kiếp Lũng,
Bổn Tôn (Bồ Tát Văn Thù) đã từng thọ ký, bảo rằng hãy
nên giữ lại nhục thân. Vì vậy, cuối cùng đồ chúng quyết
định rằng việc lưu giữ nhục thân Đại Sư là thượng
sách hay nhất.
Để
an trí nhục thân Đại Sư, các đệ tử dùng hơn chín trăm
lạng bạc do bốn phương tín chúng cúng dường, mà kiến tạo
một ngôi tháp bằng bạc. Bốn bên ngôi tháp cũng dùng rất
nhiều đá quý để trang nghiêm. Nhục thân Đại Sư được
an trí bên trong, còn bên ngoài dùng pháp y để đắp lên; gương
mặt hướng về phía đông bắc (23).
Tín
đồ trong địa phận của vùng Chỉ Công lại vì Đại Sư
mà kiến tạo một ngôi pháp điện mới, và cũng đúc một
thánh tượng Phật Thích Ca bằng đồng đỏ nạm vàng lá.
Thánh tượng Phật này cao hơn thánh tượng Phật ở chùa Đại
Chiêu khoảng một khủy tay. Lúc nhục thân Đại Sư được
an trí vào pháp điện mới thì trên hư không có hào quang sáng
chiếu, trời mưa hoa báu, và nhạc trời vang rền.
Nhục
thân Đại Sư lúc ấy thâu nhỏ lại. Bên ngoài có dạng khô
cằn, nhưng bên trong da thịt còn mền nhũn. Năm 1928 (24), do
tháp thờ nhục thân Đại Sư đến thời kỳ tan hoại, nên
đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ XIII cho xây ngôi tháp mới
bằng vàng ròng; mặt ngoài được trang nghiêm bằng nhiều
bảo vật. Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ XIII thỉnh vị
chuyển thế Đại Phật Ông (nghiêm thủ giới luật rất thanh
tịnh), chuyển nhục thân Đại Sư sang ngôi tháp mới. Y cứ
theo một vị đã từng tham gia lễ ngưỡng thỉnh nhục thân
Đại Sư thuật lại, thì Đại Phật Ông bảo rằng khi nâng
cánh tay của Đại Sư lên, cảm thấy nhục thân Đại Sư không
bị khô kiệt, mà vẫn còn mềm nhũn, giống như vừa mới
viên tịch. Tuy nhiên, râu tóc thì mọc dài ra, nên phải cắt
bớt. Ngôi tháp thờ nhục thân của Đại Sư trải qua hơn
năm trăm năm, thường hiện những điềm lành hy hữu. Thật
là phước điền tối thắng cho chúng sanh trong đời mạt pháp.
Vào
tháng mười năm 1420, chư vị kim cang A Xà Lê tại chùa Cách
Đăng cùng hàng trăm vị danh tăng đồng tu mật pháp Tập Mật
Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Đại Oai Đức Kim Cang, Hoan HỶ
Kim Cang, Thời Luân Kim Cang, Đại Luân Kim Cang Thủ, Vô Lượng
Thọ, Kim Cang Đại Nhật Như Lai, v.v.., và cử hành pháp hội
cúng dường. Những trận mưa hoa rơi xuống chúc mừng pháp
hội; cánh hoa và tràng hoa đầy màu sắc như những hạt trân
châu và trong suốt tựa như pha lê, trông đẹp tuyệt vời.
Ngày
hai mươi lăm tháng mười, chính là ngày kỶ niệm đệ nhất
chu niên Đại Sư viên tịch. Ngày đó, những trận mưa hoa
báu rơi không ngừng; trong kỳ này, đặc biệt là hoa rơi thật
nhiều và cành hoa thật lớn. Khi hoa rơi xuống mặt đất thì
biến thành tuyết trắng bao phủ vạn vật như mỗi độ đông
về.
Hôm
đó, các quan lại ở vùng Nội-ổ cung thỉnh Thích Ca Dã Hiệp
cùng với rất nhiều tăng chúng đến Nhạ Khách Trát để
cử hành lễ kỶ niệm ngày Đại Sư viên tịch. Nơi đó, chư
Thiên cũng rải hoa cúng dường.
Theo
thông lệ, mỗi năm tăng chúng và cư sĩ ở Tây Tạng, Mông
Cổ, Trung Quốc (25), không phân biệt tông phái nào, đều chọn
ngày hai mươi lăm tháng mười, đồng đốt đèn dầu tô lạc
để cúng dường tưởng nhớ Đại Sư. Trong những năm đầu
của lễ kỶ niệm (26), các Phật tử ở vùng Tây Khương thường
khắc lên những chén đèn dầu chữ "Viên Căn". Vì vậy, các
pháp hội kỶ niệm Đại Sư, đều được gọi là "Hội Đăng
Viên Căn".
Trước
lúc viên tịch, Đại Sư nhờ thợ đúc thánh tượng Phật
Tỳ Lô Giá Na bằng bạc (27). Đúc tạo xong, Đạt Mã Nhân
Cần (28) y theo quy thức mà làm lễ khai quang. Bấy giờ, rất
nhiều người không biết dụng ý đúc thánh tượng đó của
Đại Sư, nên khởi tâm nghi ngờ. Lúc ấy, biết rõ tâm ý
của họ, Khắc Chủ Kiệt bèn bảo đại chúng:
- Xưa
kia, sở dĩ Đại Sư kiến lập ba đại mạn đà la như ba mươi
hai tôn tượng Tập Mật và sáu mươi hai tôn tượng Thắng
Lạc, là muốn dùng nhân duyên này, mà vãn hồi sự suy vi của
hai bộ Mật pháp (29), để khiến giáo pháp được hưng thịnh.
Hiện tại, nếu không tích cực hoằng dương và hành trì bộ
Mật pháp này, thì e rằng những bộ Mật pháp khác sẽ dần
dần bị mai một ẩn mất. Vì muốn thánh giáo Mật tạng hằng
tỏa sáng, nên Đại Sư mới đúc thánh tượng Phật Tỳ Lô
Giá Na, để xiển dương Hành Bộ.
Người
tu học Mật pháp, nếu chỉ chuyên tu một bộ hoặc hai bộ
trong bốn bộ Mật pháp, thì không có cách nào hiểu rõ toàn
bộ yếu chỉ của Mật Tông. Chân chánh muốn làm lợi ích
chúng sanh, và hiểu rõ giáo nghĩa Hiển-Mật, thì nhất định
phải hoằng dương bốn bộ Mật tạng này cùng một lúc. Khắc
Chủ Kiệt là người đệ tử hiểu rõ tâm ý của Đại Sư
hơn hết. Nhờ sự giải thích của Khắc Chủ Kiệt mà đại
chúng mới được tỏ ngộ.
Trước
khi Đại Sư xuất thế, các tỳ kheo ở Tây Tạng thường buông
lung giới luật. Về sau, nhờ Đại Sư cực lực xiển dương,
nên mới vãn hồi được chánh giáo. Để tiếp tục duy trì
thánh giáo của đức Như Lai, và e ngại đời sau các tỳ kheo
cũng lại bỏ bê giới luật, nên tự thân Đại Sư nghiêm
trì giới luật tỳ kheo thanh tịnh để làm gương sáng. Đồng
thời, Đại Sư cũng tuyển chọn ra thân trung ấm. Nhờ duyên
này, và tu Mật pháp viên mãn vô thượng theo thứ lớp xong,
cùng hóa duyên đã hết, thì vừa viên tịch Đại Sư liền
hiện chứng pháp thân.
Sau
khi viên tịch, đại sư Tông Khách Ba vãng sanh lên cõi trời
nội viện Đâu Suất của Bồ Tát Di Lặc, với pháp danh là
Diệu Kiết Tường Tạng. Trong đời vị lai, thị hiện thành
Phật, hiệu là Sư Tử Hống Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh
Giác.
Lần
nọ, Khắc Chủ Kiệt đang giảng kinh, bèn quán sát căn tánh
chúng sanh. Một số thì tham dục không ngừng, chạy theo các
pháp ác, không chịu chí thành học tập thánh giáo của đức
Như Lai. Một số thì tuy phát tâm tu học đạo Bồ Đề, mà
thiếu mất huệ nhãn (30) nên không thể phân biệt đâu là
chánh pháp đâu là tà pháp. Một số do vì phước đức cạn
cợt, nên chạy theo bạn ác, gần gũi ác tri thức; tuy có tâm
tốt, nhưng lại chiêu quả khổ. Nghĩ đến những chúng sanh
ngu muội nầy, Khắc Chủ Kiệt cảm thấy xót xa thương hại
mà không cầm được nước mắt. Lúc trở về tịnh thất,
Khắc Chủ Kiệt đứng trước đàn tràng mà suy nghĩ: "Những
chúng sanh ngu muội kia, vì đời quá khứ không có đủ phước
đức, nên nay chẳng thể y theo các bậc đại thiện tri thức
đầy đủ phước huệ.
Những
hạng người nầy, ngoài không có những bậc đại thiện tri
thức dẫn dắt, bên trong thì đầy dẫy vọng tưởng điên
đảo che lấp. Nơi các pháp hữu vi vốn là vô thường mà
chấp cho là thường; nơi các pháp vô vi bổn tánh vốn không
mà chấp là thật có; nơi tất cả thọ dụng đều như huyễn
không thật mà chấp cho là có thật; nơi tất cả danh vọng
ở thế gian, mà chấp là cứu cánh. Phí công mệt sức, chạy
đuổi truy cầu, mưu đồ thỏa mãn dục vọng cho sáu căn.
Song, càng tìm cầu chừng nào thì họ lại càng bị đọa lạc
vào hố thẩm khổ đau chừng ấy.
Ngày
nay, tất cả giáo pháp Hiển-Mật của Đại Sư đều là lời
lành; những chỗ yếu điểm bí mật của Kim Cang Trì đều
giúp chúng sanh xa rời những nơi sai lầm vi tế. Song, chúng
sanh không đủ căn lành. Tuy ngày ngày Ta thuyết giảng không
ngừng, mà họ vẫn y nhiên, và không có cách nào lãnh thọ
pháp vị cam lồ vô thượng của Đại Sư. Thậm chí có những
người thường gần gũi những kẻ ngu si, thiếu học vô trí,
mê lầm nơi thủ xả, đồng với những hạng ác tri thức.
Khi nghe qua những pháp này, họ liền phỉ báng chê bai.
Những
chúng sanh này, nếu thông đạt được tâm yếu của Phật
pháp, thì sẽ đi thẳng đến Phật địa. Song, họ nào nghĩ
nhớ đến việc vô thường, mà chỉ mê loạn trong danh văn
lợi dưỡng, để bị đọa lạc vào ác đạo, mãi trầm luân
trong sanh tử!"
Nghĩ
như thế, bất chợt Khắc Chủ Kiệt rơi lệ không ngừng,
nhất tâm dâng lễ vật cầu nguyện cúng dường Đại Sư.
Vừa dứt lời cầu nguyện, Khắc Chủ Kiệt chợt thấy Đại
Sư hiện thân màu trắng, oai nghi lẫm liệt, cao lớn tựa như
núi Tuyết Sơn, ngồi trên thớt voi sáu ngà được trang nghiêm
bằng các loại châu báu, theo luồng hào quang năm màu, bay xuống
trước mặt, trụ trong hư không, tươi cười an ủi:
- Này
Khắc Chủ Kiệt! Ta đã biết rõ tâm ý của ông. Tuy vậy,
đừng vì thế mà quá ưu sầu! Chúng sanh nếu giống như ông,
mà luôn nghĩ nhớ đến chánh pháp và bậc tôn sư, thì sẽ
tịnh trừ được bao nghiệp tội cực ác đã tạo trong đời
quá khứ, cùng có thể tích tụ vô lượng tư lương phước
đức. Xưa kia, Du Già Tự Tại Mật Lặc Nhật Ba cũng nghĩ
nhớ đến tôn sư Mã Nhĩ Ba như thế. Tuy vậy, dầu sao đi
nữa, ông phải nên tiếp tục sự nghiệp căn bản thượng
diệu của Ta để lại, mà hoằng dương chánh pháp.
Ngày
nọ, nơi bí yếu thậm thâm của hai pháp Hiển-Mật, Khắc
Chủ Kiệt vẫn còn nghi ngờ rối rắm chưa rõ, nên trần thiết
cúng phẩm, rồi rơi lệ khải bạch Đại Sư: "Nếu Đại Sư
còn tại thế, thì con còn có cơ hội thỉnh hỏi những pháp
yếu nầy. Con cầu xin Đại Sư từ bi hiện thân giảng dạy!"
Trong
sát na, Đại Sư liền xuất hiện, ngồi trên bảo tòa màu
vàng kim, được trang sức bằng vô lượng hạt châu ma ni,
và giảng trạch những mối nghi ngờ cùng ban những lời giáo
huấn cho Khắc Chủ Kiệt, rồi biến mất.
Lần
nọ, Khắc Chủ Kiệt xem qua những quyển luận do Đại Sư
trước tác như Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận và Mật
Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, rồi suy nghĩ: "Đầy đủ
trí huệ vô cấu quảng đại, trừ thầy của Ta ra, chư đại
thiện tri thức ở Tây Tạng, không ai biện thuyết được
những lời rõ ràng chính xác như thế nầy".
Suy
nghĩ xong, Khắc Chủ Kiệt ân cần hướng về Đại Sư mà
cầu nguyện. Bấy giờ, Đại Sư hiện thân đồng tử màu
sắc vàng kim, được trang nghiêm bằng nhiều loại châu báu,
tay phải cầm kiếm, tay trái ôm trắp, cỡi sư tử trắng từ
hư không giáng xuống dạy bảo:
- Này
Khắc Chủ Kiệt! Hôm nay Ta đặc biệt hiển hiện xuống đây
để thuyết pháp cho ông. Đa số chúng sanh trong cõi đời năm
trược ác thế thường quên đi lẽ vô thường và niềm đau
khổ khi rơi vào ba đường ác, mà chỉ lo tham đắm trong danh
lợi, ăn uống, ngủ nghỉ, cùng bao sự nghiệp ở thế tục.
Đối với những hạng người này, chỉ cần họ biết rõ
câu: "Hiện tại làm những việc gì, thì trong tương lai sẽ
gặt hái những quả báo đó", là đủ lắm rồi. Lại nữa,
nếu họ chịu duyệt xem những bộ trước tác của Ta về
các cách sám hối tu phước lành, cùng những pháp nghĩa thậm
thâm, mà sanh khởi tâm thâm tín, rồi chuyên tu những pháp
đó, thì mau chóng đạt được thành tựu. Song, những hạng
người này thật rất ít. Tuy vậy, ở thế gian cũng còn một
số người có cơ duyên thâm sâu với Phật pháp. Ông nên nỗ
lực tinh cần làm lợi ích cho những người này, tức là hoằng
dương Phật pháp cùng chánh giáo của Ta. Thầy trò chúng ta
chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau!
Lần
khác, trong lúc cầu nguyện, Khắc Chủ Kiệt chợt thấy Đại
Sư, hiện tướng cỡi mãnh hổ, trụ trên hư không, thân và
râu tóc màu đỏ hồng, đôi mắt lớn như linh cái bằng đồng,
hiển tướng Kim Cang Du Già, tay phải cầm kiếm chỉ thẳng
lên hư không, tay trái cầm cành hoa Két Ba Lạp tẩm nước
cam lồ áp vào ngực, vẻ mặt mỉm cười hoan hỶ; bốn bên
có tám mươi bốn vị thánh giả vây quanh Đại Sư. Bấy giờ
Đại Sư khuyên bảo:
- Từ
nay, nếu nghĩ tưởng đến Ta, ông hãy duyệt xem tường tận
những bộ luận do Ta trước tác như Bồ Đề Đạo Thứ Đệ
Quảng Luận, Mật Tông Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, v.v... Đó
là những di giáo của Ta. Ông xem những bộ luận đó, tức
là đã thấy Ta.
Ngày
nọ, Khắc Chủ Kiệt suy nghĩ: "Hy vọng rằng đời sau sẽ
vãng sanh qua dưới tòa của Đại Sư. Ta hãy nên cầu thỉnh
Đại Sư giáng lâm để thỉnh hỏi rằng hiện tại Đại Sư
đang ở tại nơi đâu, cùng những nghi vấn khác".
Khắc
Chủ Kiệt liền trần thiết cúng phẩm thượng diệu, cùng
tạo một mạn đà la bằng vàng ròng để cúng dường và cầu
nguyện:
"Kính
lễ tôn sư cùng ba đời chư Phật
Là
nơi quy y duy nhất của chúng sanh.
Đồng
Tôn Bồ Tát Văn Thù vô năng thắng
Xin
thỉnh từ bi giáng lâm xuống nơi đây".
Bấy
giờ, Đại Sư liền hiện thân ngồi tòa kim cang trên một
vầng mây trắng, trụ tại hư không, thân tướng cũng giống
như lúc sanh tiền, hai tay bắt ấn chuyển pháp luân, hai bên
phải trái đều có bình hoa Ô Ba Lạp, bên phải có để một
thanh kiếm, bên trái có cái trắp và tấm kiếng trí huệ,
bảo Khắc Chủ Kiệt:
- Ông
hãy nên chuẩn bị tất cả đồ đạc. Ta sẽ phái người
đến nghinh đón ông!
Khắc
Chủ Kiệt hỏi:
- Xin
hỏi Tôn Sư, hiện tại Ngài đang trụ ở nơi đâu?
- Ta
hóa thân khắp mọi nơi. Có hóa thân tại thế giới Không
Hành (là nơi trụ xứ của người tu Mật Tông thành tựu).
Có hóa thân trú trên cung trời nội viện Đâu Suất. Có hóa
thân trú tại cõi Nam Diêm Phù Đề. Hiện tại, hóa thân của
Ta đang trú ở núi Ngũ Đài (Trung Quốc), và tuyên giảng Trung
Quán Luận, Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Quảng Luận, Mật Tông
Đạo Thứ Đệ Quảng Luận vào mỗi buổi sáng, và giảng
Tập Mật Kim Cang, Thắng Lạc Kim Cang, Đại Oai Đức vào mỗi
buổi chiều, cho một ngàn tám trăm tỳ kheo kim cang (tức tăng
sĩ tu học Mật giáo). Ông nên phát nguyện đến nơi đó. Chẳng
bao lâu, thầy trò chúng ta sẽ gặp lại nhau.