Chương
VIII
Kết
Luận
Hoàng
Giáo của Phật giáo Tây Tạng do đại sư Tông Khách Ba sáng
lập, có những điểm đặc sắc nhất là nghiêm thủ giới
luật tỳ kheo thanh tịnh, thiết thật tu hành giới Bồ Tát
và giới tam muội da (Kim Cang) của Mật Tông. Dùng giới làm
nền tảng, rồi y theo thứ tự của giáo lý mà tu tập, tức
là trước tu học Hiển giáo, sau hành trì Mật giáo, cùng cực
lực xiển dương chánh kiến Trung Quán-Ứng Thành và thuyết
dung hợp của Kim Cang Mật Thừa. Bàn về yếu chỉ căn bổn,
giáo pháp Hiển-Mật hợp nhất vô cấu của Đại Sư vốn
phù hợp với bản ý truyền thừa Mật pháp của tôn giả
A Để Sa: Hành giả Mật Tông trước tiên phải học Hiển
giáo để hiểu rõ giáo lý kinh luận, sau đó phải có đầy
đủ tâm xuất ly thế gian và tâm Bồ Đề, hầu mong có chánh
kiến căn bản về sự tu học Mật pháp, rồi mới bắt đầu
dụng công tu tập Mật pháp. Tu học Mật pháp như thế, thì
tự thân mới đắc được thành tựu.
Bàn
về sự truyền thừa của Hoàng giáo, đại sư Tông Khách Ba
định lập chế độ chuyển sanh truyền thừa: Hệ Đạt Lai
Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma. Từ đó, trải qua sáu trăm năm,
hệ Đạt Lai Lạt Ma được truyền thừa qua mười bốn đời;
hệ Ban Thiền Lạt Ma được truyền thừa qua mười đời (1).
Lại nữa, hệ Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền Lạt Ma vốn có
mối quan hệ thầy trò hỗ tương suốt hơn sáu trăm năm. Điển
hình, vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ V tôn thờ vị Ban Thiền
Lạt Ma đời thứ IV làm vị giáo thọ sư; vị Ban Thiền Lạt
Ma đời thứ IX tôn sùng vị Đạt Lai Lạt Ma đời thứ XIII
làm vị giáo thọ sư. Ngoài ra, trước khi chánh thức được
chánh phủ và quốc dân Tây Tạng chấp nhận và tôn sùng làm
đức Đạt Lai Lạt Ma, thì linh nhi (2) trong hiện đời phải
được vị Ban Thiền Lạt Ma công nhận. Ngược lại, linh nhi
nào (3) trong hiện tại được xác nhận làm Ban Thiền Lạt
Ma thì trước hết cũng phải được đức Đạt Lai Lạt Ma
công nhận.
Tóm
lại, điều đáng ghi nhớ là trong Phật giáo Tây Tạng, chỉ
có Hoàng giáo (Cách Lỗ) của đại sư Tông Khách Ba mới có
hệ chuyển sanh truyền thừa Đạt Lai Lạt Ma và Ban Thiền
Lạt Ma. Trong những tông phái lớn khác như Ninh Mã, Cát Cử,
và Tát Ca, về sau đôi khi cũng định lập chế độ chuyển
sanh truyền thừa để xác lập địa vị Lạt Ma của các vị
Lạt Ma đạo cao đức trọng, như Châu Cô-Lạt Ma (Tulku-lama),
nhưng chỉ là những Lạt Ma chuyển sanh mà thôi.
Bàn
về thực tế, lắm khi tại mỗi chùa Cách Đăng (Ganden), Triết
Bang (Drepung), Sắc Nhạ (Sera) tại vùng Lạp Tát có hơn năm
ngàn tăng sĩ đến tu học, và có ít nhất năm trăm tăng sĩ
tu tập trong mỗi Mật Viện. Thanh niên tăng từ mọi miền
Tây Tạng đến cầu học tại những đại tự viện đó để
được tu học giáo nghĩa về Luật giáo, Hiển giáo, và Mật
giáo theo đúng tiêu chuẩn và đường hướng của Phật giáo
chánh thống. Trước khi tu học Mật pháp, chư tăng phái Cách
Lỗ phải tu học giới luật, năm bộ đại luận do Bồ Tát
Di Lặc tạo, luận Câu Xá, luận Trung Quán, Nhân Minh học và
những bản chú thích luận điển của chư cao tăng Ấn Độ
cùng Tây Tạng về các đề mục đó. Thời gian tu học Luật
giáo và Hiển giáo khoảng từ mười lăm đến hai mươi năm.
Sau khi tốt nghiệp, có thể tu tập Mật giáo, hay trở về
trụ xứ giảng dạy, hoặc nhập thất tu tập thiền quán.
Tổng
quát, nhờ địa thế thuận lợi, nên trải qua bao thế kỶ,
Phật giáo Tây Tạng gần như tiếp thu mọi tinh hoa của Phật
giáo Đại Thừa ở Ấn Độ; điển hình, giáo pháp Đại-Tiểu
Thừa và Hiển-Mật giáo do tôn giả A Để Sa truyền từ Ấn
Độ sang Tây Tạng, được đại sư Tông Khách Ba vận dụng
trong công cuộc chấn hưng và định lập nền tảng căn bản
cho Phật giáo Tây Tạng nói chung và Hoàng giáo nói riêng; mãi
cho đến ngày nay, không những giáo pháp đó vẫn được truyền
thừa ở Tây Tạng mà còn được đức Đạt Lai Lạt Ma đời
thứ XIV và chư vị Lạt Ma hoằng truyền khắp nơi trên thế
giới, từ khi Trung Cộng xâm chiếm Tây Tạng vào năm 1959.