Đã
có rất nhiều sách vở, bài viết hoặc với tính chất nghiên
cứu, hoặc là các bài giảng phổ cập bàn về tông Thiên
Thai và kinh Pháp Hoa. Bài viết này nói đến vai trò, vị trí
của Đại sư Trí Khải và tông Thiên Thai trong lịch sử Phật
giáo, cũng như trong nền văn hóa tư tưởng của toàn thể
nhân loại.
Đại
sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử
gia gọi là Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được
lấy làm gianh giới phân chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong
thiền sử, ta thường nghe nói đến câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc
Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền: Đại sư Thần
Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại
sư Huệ Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng
Đông và lân cận. Bấy giờ Trung Hoa bị chia thành nhiều nước
nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính nước kia, gây nên nhiều
cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh lầm than
đau khổ.
Về
mặt địa lý, Trung Hoa là một nước rộng lớn gồm nhiều
tỉnh, riêng một tỉnh như Quảng Đông đã lớn hơn nước
Việt Nam, cho nên Trung Hoa có nhiều dân tộc với thổ ngữ,
tập tục văn hóa, truyền thống tín ngưỡng không giống nhau.
Chữ Hán được dùng làm văn tự chính.
Phật
giáo truyền sang Trung Hoa vào đầu kỷ nguyên Tây lịch do các
tăng sĩ Ấn Độ thuộc nhiều vùng như Khương Cư, Nguyệt
Chi, Quy Tư... hoằng hóa; các ngài đến bằng đường bộ,
xuyên qua dải Thông Lĩnh, du nhập vào miền Bắc, hay đến
bằng thuyền, đáp bến tại Quảng Châu miền Nam 1. Trước
khi đến Trung Hoa, các ngài đã nổi danh, nên khi đến đây,
các ngài đã nỗ lực thuyết giảng, dịch thuật kinh sách,
để được các "phiên vương" biết đến mà thỉnh mời và
hỗ trợ cho việc hoằng Pháp. Nhiều người đã dựa vào truyền
thuyết: vua Hán Minh đế nằm mộng thấy người vàng (Đức
Phật), bèn cho người sang Thiên Trúc và thỉnh được hai vị
Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan cùng kinh Tứ thập nhị chương
về an trí tại Bạch Mã tự, để cho rằng Phật giáo được
truyền đến Trung Hoa vào năm 67 sau Tây lịch. Tuy nhiên, học
giả Hồ Thích giả thiết rằng, Phật giáo được truyền
vào sớm hơn niên đại này nhiều thế kỷ. Giả thiết của
ông đang được các học giả lưu tâm, do ông lý luận rằng:
-
Vua A Dục (Asoka, 273-231 trước Tây lịch) sau khi quy Phật đã
tận tâm xiển dương Phật pháp, và một trong những công đức
của ông là gửi nhiều phái đoàn tăng lữ đi khắp nơi để
hoằng hóa: phương Nam truyền đến Tích Lan; phương Tây truyền
đến tận Hy Lạp, Do Thái, Nga, Ba Tư... Vậy thì không lý nào
mà không có một hoặc vài tăng đoàn đến được vùng Đông
Bắc Trung Hoa.
-
Đã có những chứng tích để khẳng định vào năm 245 trước
Tây lịch, dưới triều vua A Dục, Phật giáo đã có mặt tại
các nước Đông Nam Á, vùng đất vàng (Suvarnabhùmi, thuộc
quần đảo Java), trong đó có Việt nam: với thuyết Chử Đồng
tử học đạo với nhà sư Phật Quang khoảng thế kỷ III trước
Tây lịch 2.
Nhưng
dù Phật pháp có du nhập Trung Hoa vào đời Hán Minh đế hay
sớm hơn nữa, thì lịch sử cho thấy rằng, mãi đến thế
kỷ III sau Tây lịch, Phật pháp vẫn chưa phát triển rộng
rãi tại đất nước được xem là trung tâm của vũ trụ này.
Từ khi Hán Minh đế nằm mộng vào năm 67 sau Tây lịch cho
đến một trăm năm sau, An Thế Cao mới là vị tăng sĩ đầu
tiên được ghi trong lịch sử 3, từ An Tức đến Lạc Dương
vào năm 166 sau Tây lịch và hoạt động tại đây một thời
gian trước khi xuống vùng Quảng Châu. Kế đến là Khương
Tăng Hội, sơ Tổ Phật giáo Việt Nam và cũng là sơ Tổ Thiền
tông Việt Nam4, từ Giao Châu chống tích trượng đến nước
Ngô vào năm 247 sau Tây lịch để hoằng hóa. Cùng thời với
Tăng Hội có Chi Khiêm, một cư sĩ học giả, dịch nhiều kinh
điển. Tuy nhiên, những sinh hoạt như thế cho thấy Phật giáo
vẫn còn phôi thai, lẻ tẻ, do một vài nhóm nhỏ trí thức
hay quý tộc bảo trợ các công cuộc giảng pháp, phiên dịch,
thảo luận..., chứ chưa hội nhập vào toàn thể nếp sống
văn hóa thượng lưu hay tín ngưỡng trong dân gian.
Các
học giả hiện đại khi nghiên cứu về thời đại này đã
phân tích: lý do Phật giáo Ấn Độ đã không thể phát triển
mau chóng tại Trung Hoa vào những thế kỷ đầu vì những lý
do như sau:
1. Phương diện
ngôn ngữ5
Tiến
trình dịch kinh từ chữ Phạn sang chữ Hán là một tiến trình
dài hàng trăm năm, với rất nhiều trở ngại, thử thách về
mặt ngôn ngữ. Phạn và Pàli là ngôn ngữ đa âm, có văn phạm
và ngữ pháp rành mạch, phát âm trầm bổng dài ngắn rõ rệt,
nên khi chuyển dịch sang Hán ngữ (ngôn ngữ độc âm, bình,
thanh, tượng hình, không có văn phạm quy ước...) đã gây
nên không ít khó khăn cho các nhà hoằng giáo và phiên dịch
kinh điển.
Mãi
cho đến Cưu Ma La Thập (344-413)6, nhà phiên dịch lớn của
văn hóa Phật giáo Trung Hoa, Phật pháp mới có thể xem như
đã đặt được nền móng làm cơ sở cho những phát triển
lớn mạnh về sau. Đương thời, ngay chính ngài La Thập cũng
phải đối diện với vấn đề: nên dịch ý hay dịch sát
nghĩa... Dịch ý có thể bỏ mất phần uyển chuyển trong văn
pháp của kinh Phạn, còn dịch sát nghĩa thì Hoa văn bấy giờ
không đủ từ ngữ cao thâm và nhiều ý nghĩa như của Phạn
ngữ để chuyển tải. Cuối cùng, chính Cưu Ma La Thập cũng
phải than thở: “Tiến trình dịch kinh từ Phạn ra Hán cũng
giống như việc mình nhai cơm cho nhuần nhuyễn rồi để cho
người khác nuốt vậy”7.
2. Phương diện
tư tưởng
Bấy
giơ,ø triết lý Trung Hoa không có những khái niệm tương đương
với Phật học. Thí dụ điển hình là thuật ngữ sunyatà,
cho đến ngày nay, Tây phương vẫn phải điên đầu: trước
tiên sunyata được dịch là nihilism, sau đó void, đến nothingness,
rồi emptiness, cuối cùng là transparency, mà vẫn không chuyển
tải được đầy đủ nghĩa của sunyatà. Cho nên trong các
tự điển Anh-Mỹ tầm cỡ hiện nay đã dùng từ này để
bổ sung vào ngôn ngữ của họ. Khi dịch sunyatà ra Hán ngữ,
các nhà phiên dịch đầu tiên đã phải mượn chữ "vô" theo
nghĩa "hư vô" của Đạo giáo8. Như phẩm XXIV, kệ 18 của Trung
luận, La Thập dịch là: "Chúng nhân duyên sinh pháp, Ngã thuyết
tức thị vô..." (theo Đại Tạng Taishò q.30, tr. 33b, dòng 11),
về sau mới đổi lại là "không". "Vô" ở đây đối lập
với "hữu". Thời bấy giờ Đạo giáo đang hưng thịnh, các
cuộc huyền đàm của nhóm trí giả huyền học là môi trường
thích ứng cho Phật học phát triển, nên các nhà phiên dịch
hay trước tác đã không ngần ngại sử dụng rất nhiều từ
ngữ tương đương của Đạo giáo để giải thuyết tư tưởng
Phật học, điển hình là từ sunyatà nêu trên. Phương thức
sử dụng đối giải này được gọi là "cách nghĩa" (matching
terms). Tăng Triệu (374-414), một trong bốn đệ tử xuất sắc
của La Thập, thường sử dụng từ ngữ Đạo giáo để cách
nghĩa tư tưởng Tánh Không trong các tiểu luận mà về sau
được lập thành là Triệu luận9, tác phẩm đã đưa ngài
lên làm sơ tổ của Tam luận tông Trung Hoa.
Ngoài
ra, những ý niệm như luân hồi, nghiệp (samsara), giải thoát
(moksa), giác ngộ (nirvana), báo ứng... đều rất mới mẻ với
Trung Hoa thời bấy giờ. Nhất là kha1i niệm "vô ngã" (anatta).
Người Trung Hoa tin có hồn phách, nên ban đầu họ khó chấp
nhận quan điểm "vô ngã".
3. Phương diện
văn hóa và chính trị
Bấy
giờ đạo Khổng chủ trương nhập thế, đóng góp vào xã
hội, nên đã có hệ thống lý luận chặt chẽ bàn về Tam
cương, Ngũ thường, với các bộ ngũ kinh, tứ thư; khuyến
khích sinh sản con cái để nối dõi tông đường, rạng rỡ
gia môn. Phật giáo lại chủ trương xuất thế, tức phá vỡ
kết cấu trật tự theo mô hình xã hội đạo Khổng; xuất
gia giữ giới thì không sinh con, không bái lạy vua quan,... nên
đi ngược với tôn ti luật lệ xã hội đương thời. Các
nhà nghiên cứu đều có chung quan điểm rằng, dân tộc Ấn
Độ với nguồn gốc Aryan, rất giống với Tây phương trong
mọi phương diện hơn là với Trung Hoa.
4.
Phương diện tín ngưỡng
Người
dân Trung Hoa tin tưởng có một vị Ngọc hoàng Thượng đế
ngự trị trên trời, nhìn xuống cõi trần và lo cho dân gian,
phán định lành dữ; hệ thống triều đình của ngài giống
như triều đình cõi trần thế, bởi vì chính ngài đã gửi
con ngài (thiên tử) xuống trần trị vì thiên hạ, nên hoàng
đế thì có được thiên mạng. Phật pháp lại không nói gì
đến Ngọc hoàng Thượng đế hay các thần thánh mười phương
tám hướng, chỉ dạy tu hành tự mình cứu khổ..., nên đó
là điều mà người Trung Hoa lúc đầu khó chấp nhận.
Đây
là những trở lực lớn mà Phật giáo Ấn Độ khi truyền
sang Trung Hoa phải đối mặt. Cho nên, phải khoảng từ thế
kỷ 6 trở đi, sau khi Phật giáo đã phát triển vững mạnh
tại Trung Hoa, dung hội Khổng, Đạo, thì mới tạo thành ba
lực lượng văn hóa tín ngưỡng chủ đạo của Trung Hoa. Tây
phương bây giờ cũng phải tán thán: "Nếu Phật giáo đã có
thể phát triển và hội nhập tại Trung Hoa, thì chắc chắn
có thể phát triển bất kỳ nơi nào trên thế gian này"10.
Họ phải tán thán bởi vì họ đã đích thân chứng kiến
lịch sử phát triển cuồn cuộn không ngừng của Phật giáo
tại Tây phương trong vòng chỉ hơn một thế kỷ qua.
Như
vậy, phải trải qua một thời gian dài gần 6, 7 thế kỷ,
từ thời du nhập bị lãng quên (3 thế kỷ đầu) đến thời
phát triển (thế kỷ III-IV), cây cổ thụ Phật giáo mới có
thể đâm chồi, nở hoa trên mảnh đất Trung Hoa. Và trong thời
phát triển này, các sinh hoạt có tính cách Phật giáo phần
lớn quy tụ chung quanh những bộ kinh điển, hoặc công tác
dịch thuật, hoặc viết sớ giải, hoặc đàm luận có tính
cách trí thức, thượng lưu, bác học..., hoặc với không khí
huyền đàm, trừu tượng..., thường được giới vua chúa
hay quyền quý bảo trợ.
Tiến
trình dịch thuật đòi hỏi thời gian và nỗ lực của nhiều
người. Như trường hợp La Thập, ngài đọc bản Phạn văn,
sau đó một hay nhiều đệ tử xuất sắc diễn dịch ra Hán
văn, người nào giỏi Hán văn thì ghi chép lại thành câu đủ
nghĩa11. Một tiến trình đòi hỏi nhiều công sức như thế
đưa đến một sự kiện kỳ thú là khi kinh Đại bát Niết
bàn (Mahàparinirvàna sùtra) mới vừa được dịch phần đầu,
Đại sư Đạo Sanh, đứng đầu tứ kiệt, đã có viễn kiến
cho rằng, hạng nhất xiển đề ca (icchantikas), vốn bị xem
là hạ tiện không thể có khả năng giác ngộ, cũng có Phật
tính. Đề xướng táo bạo và độc đáo này đã khiến Đạo
Sanh bị trục xuất khỏi đạo tràng Kiến Khương vào năm
428. Đạo Sanh bèn lui về Lô sơn, dọc đường, trong khi nghỉ
ngơi, Đại sư xếp đá lại thành một đống, ngồi giảng
ý nghĩa Phật tính tiềm tàng trong mỗi sinh thể; đá cũng
gật đầu12. Phải đợi đến năm 431, khi Dharmaksema hoàn tất
phần cuối kinh Đại bát Niết bàn, Đạo Sanh mới được
tán thán là đúng, có tuệ giác hơn người.
Các
bộ kinh lớn lần lượt xuất hiện. Năm 179, dòng văn học
Bát Nhã (Prajnaparamita), với các kinh tiêu biểu như kinh Kim
Cương, Bát nhã Tâm kinh,... đã được truyền vào Ttung Hoa.
Chi Lâu Ca sấm (Lokakshema) dịch Đạo hành Bát nhã năm 181,
sau đó dịch Ban châu Tam muội kinh (Pratyutpanna-samàdhi sùtra).
Đại Bát nhã kinh do Pháp Hộ (Dharmaraksha) dịch năm 286; sau
đó Moksala (Vô Cha La) trùng dịch năm 291. Trúc Pháp Hộ cũng
tiếp dịch kinh Pháp Hoa do Chi Lâu Ca Sấm bỏ dở; sau này Cưu
Ma La Thập lại trùng dịch lần nữa vào năm 406 và được
sử dụng đến ngày nay. Chi Khiêm, cư sĩ học giả thế kỷ
III đã dịch kinh Duy Ma Cật (Vimalakìrtinirdesa sùtra), mà sau
này cũng lại được La-thập trùng dịch năm 406. Kinh Niết
Bàn, khiến Đạo Sanh nổi danh do chủ trương Phật tính phổ
quát, và bị trục xuất khỏi đạo tràng Kiến Nghiệp vào
năm 428, trước được Pháp Hiển dịch năm 418 cùng với Giác
Hộ (Buddhabhadra) nhưng bỏ dở cho đến khi Dharmaksema hoàn tất
năm 431.
Số
lượng kinh điển được phiên dịch bấy giờ đã đủ nhiều,
nên Đại sư Đạo An (312-385) mới đề xướng việc tập hợp
các kinh điển lại, liệt kê những bản đã được dịch
cho tiện tham khảo, nhưng đề xướng này bị bỏ qua; ngay
cả quyển mục lục đầu tiên do Đạo An tập thành cũng bị
thất tán. Mãi cho đến đời Đại sư Trí Khải ở cuối thế
kỷ VI, tình trạng kinh điển bằng Hán văn đã quá phong phú,
đến nỗi những cuốn mục lục đầu tiên đã xuất hiện:
- Xuất
tam tạng ký tập (Taisho 55, 2145: 1-114)13 do Tăng Hựu tập thành
vào khoảng năm 515. Đây là quyển mục lục ra đời sớm nhất,
đúng đắn và đáng tin cậy nhất hiện còn lưu hành. Trong
quyển này, Tăng Hựu có nhắc đến một mục lục do ngài
Đạo An tập thành năm 374, trong đó Đạo An liệt kê 26 nghi
kinh (ngờ không phải do chính Phật thuyết), 143 bản thất
dịch (không tên dịch giả) và 175 tư liệu lạ kỳ (dị kinh).
Đại sư Tăng Hựu cũng ghi thêm 24 bản mà chính ngài cho là
ngụy kinh và 30 bản do các vị khác gọi là ngụy kinh.
- Chúng
kinh mục lục (Taisho 55, 2146: 115-149) do vua Tùy ra sắc lệnh
tập thành vào năm 589. Bộ mục lục này kể như đầy đủ
nhất về các kinh điển lưu hành đương thời, nhưng không
đáng tin cậy vì người ghi đôi khi không có bản kinh trong
tay, chỉ nghe nói lại.
- Lịch
đại Tam bảo ký (Taisho 49, 2034:22-128) do Phí Trường Phòng
tập thành 4 năm sau Tùy Chúng kinh mục lục trên, với mục
đích chứng tỏ Phật pháp siêu việt hơn Đạo giáo, đưa
đến tình trạng ghi chép hỗn tạp, không đáng tin cậy.
Còn
có một số quyển mục lục không tiêu biểu khác sau thời
Đại sư Trí Khải, không liệt kê ở đây. Tuy nhiên, chỉ
3 bộ mục lục cùng với bộ của Đạo An đã mất, cho thấy
tình trạng phong phú của kinh điển bằng Háùn văn được
lưu hành đương thời. Ngoài ra, lại còn có những sinh hoạt
khác, như các nhà du hành, nổi tiếng nhất là Pháp Hiển du
hành Ấn Độ và Trung Á những năm 399-414 để sưu tập thêm
kinh điển. Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma, 470-543) đến Trung
Hoa vào thời Lương Võ đế để đề xướng Thiền. Đồng
thời lại có Đàm Loan (476-542) và Thiện Đạo (513-681) đang
cực lực xiển dương Tịnh Độ tông tại Nam phương. Vào
năm 504, Lương Võ đế là vị vua đầu tiên hộ trì Phật
giáo và quy y Phật, thọ giới cư sĩ tại gia.
Tóm
lại, Phật giáo vào thời kỳ của Đại sư Trí Khải rất
đa dạng, cả ở phương Bắc và phương Nam, nhưng mang nhiều
sắc thái khác nhau. TaÏi miền Bắc, chư tăng chuyên về thiền
định và tụng kinh, trong khi ở phương Nam thì lại chú trọng
đến biện luận các triết thuyết trong giới thượng lưu,
và niệm Phật cầu vãng sinh Tịnh Độ trong giới bình dân.
Miền nào cũng cho rằng mình sở hữu kinh do Phật thuyết và
được chân truyền từ Phật. Tiến trình lịch sử văn hóa
nhân loại trong gần ba ngàn năm qua cho thấy, khi một tình
huống trở nên hỗn độn, cực đoan, cục bộ, bế tắc, thì
sẽ có sự xuất hiện một hay nhiều nhân vật lỗi lạc,
có viễn kiến, có đầu óc tiến bộ, có can đảm vượt ngoài
và vượt trên trào lưu đương thời để xiển dương một
tư tưởng mới, một học thuyết mới, một sáng tạo mới,
để đưa tình huống đó tiến thêm một cấp cao hơn, đưa
văn hóa bước thêm một bước xa hơn. Nhân vật lỗi lạc
đó, tại Trung Hoa, trong môi trường Phật giáo đang phát triển
rầm rộ nhưng đa phức đó là Đại sư Trí Khải (538-597),
một nhà tư tưởng đã hệ thống hóa toàn bộ giáo pháp của
Đức Phật, một triết gia Phật giáo vĩ đại ngang hàng với
Long Thọ bên Thiên Trúc với triết thuyết Tam Đế đặc biệt
của ngài.
1 Một
số trước khi đến Quảng Châu thường ghé qua Giao Châu (tức
miền Bắc Việt Nam ngày nay) một thời gian để hoằng pháp
và tạo tên tuổi trưóc khi sang phương Bắc.
2 Xem
Lê MaÏnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt nam, q. 1.
3 Trúc
Pháp Lan và Trúc Phật Niệm vẫn còn xem là thuộc huyền sử.
4 Tìm
đọc “Khương Tăng Hội, sáng tổ Phật giáo Việt nam” của
Tuệ Hạnh, đăng trên nhiều tạp chí Phật học tại hải
ngoại.
5 Viết
theo Richard J. Smith. Buddhism and the “Great Persecution” in China,
AD 841-845, trong Buddhism in Chinese Culture, edited by Cheu Hock-Tong.
Malaysia, Pelanduk Pub. 2000. tr. 21.
6 Cưu
Ma La thập (Kumarajiva) cùng Chân Đế (Paramartha) và Huyền Trang
được xem là ba nhà phiên dịch tài giỏi nhất, đã thay
đổi toàn diện lịch sử văn hóa và văn học Trung Hoa.
7 Các
học giả Tây phương dịch kinh Pháp Hoa trực tiếp từ Phạn
ngữ, nếu đối chiếu với bản Hán dịch của ngài La Thập
ta sẽ thấy có một vài khác biệt. Xem lời nói đầu trong
bản dịch kinh Pháp Hoa của HT. Thích Trí Quang.
8 Ở
đây cũng cần nhắc đến sự sai biệt giữa đạo Lão và
Đạo giáo: Đạo giáo là theo triết lý tiên thiên ẩn cư luyện
đan, đạo Lão thì nhập thế dùng phù chú thuật số như Ngũ
đẩu giáo...; người tu theo đạo Lão thì gọi là Đạo sĩ
hay Đạo gia.
9 Có
2 bản dịch Triệu luận: 1 của Thiền sư Thích Duy Lực, "Triệu
luận", phát hành năm 1987 tại California; 1 của Tuệ Hạnh,
"Tăng Triệu và Tánh Không Học Trung Hoa", Viện Đại học Vạn
Hạnh, 1974.
10
Viết theo Richard J. Smith, bài đã dẫn.
11
Tăng Triệu, một trong 4 đại đệ tử của La Thập (tứ kiệt),
được giao giữ việc chấp bút ghi chép này, nhờ đó mà viết
thành các tiểu luận, lập thành Triệu luận.
12
Đạo Sanh cũng là người đầu tiên thiết lập hệ thống
tư tưởng của Phật pháp trước khi Trí Khải hoàn thành Phán
giáo. Xem bài viết về "Những khuôn mặt tạo thành lịch sử:
Đạo Sanh.
13
Thập niên 1924-1934, một số học giả, giáo sư do ông
Takakusu Junjiro và Watanabe Kaigyoku làm trưởng nhóm đã tập
thành toàn bộ kinh điển Phật pháp đặt tên là Taishò Shinshù
Daizòkyò, Đại chánh tân tu Đại tạng kinh, được toàn thể
thế giới học thuật dùng làm tài liệu tham khảo và dẫn
chứng căn bản chính yếu nhất. Sách Tây phương viết tắt
là T. hay Taisho (Đại chánh) tiếp đến là quyển số (55),
mục số (2145) và số trang.