Phần GIẢI
THÍCH
Giải
thích có 3 phần. Thế nào là 3?
1.
Hiển thị chánh nghĩa.
2.
Đối trị tà chấp.
3.
Phân biệt tướng đạo phát tâm.
Phần
Giải Thích này có 3, là để giải thích tất cả những gì
đã nêu ra ở phần Lập Nghĩa.
HIỂN
THỊ CHÁNH NGHĨA là giải nói để hiển rõ phần PHÁP và
NGHĨA của Đại thừa trong phần Lập Nghĩa.
ĐỐI
TRỊ TÀ CHẤP là phá trừ những quan niệm hay sự chấp
thủ sai lệch, để có thể nhận hiểu, tu hành mà thể nhập
hoàn toàn với pháp tánh chân như.
PHÂN
BIỆT TƯỚNG ĐẠO PHÁT TÂM là hiển bày mức độ tu tập
của người tu qua từng giai đoạn trong quá trình đi từ chúng
sanh đến Phật.
I.
HIỂN THỊ CHÁNH NGHĨA
Y nhất
tâm pháp có 2 môn. Thế nào là 2? Một là môn tâm chân như.
Hai là môn tâm sanh diệt. 2 môn này, mỗi thứ đều nhiếp
tất cả pháp. Nghĩa này thế nào? Vì 2 môn này chẳng tách
lìa nhau.
Y NHẤT
TÂM PHÁP CÓ 2 MÔN, ngài Hiền Thủ chỉ giải thích từ NHẤT
TÂM mà không thấy nhắc đến từ PHÁP như sau “NHẤT TÂM
là 1 tâm Như Lai Tạng bao hàm ở 2 mặt. Một là ước về
cái thể tuyệt tất cả tướng mà nói, là môn chân như. Hai
là ước về nghĩa tùy duyên khởi diệt, tức môn sanh diệt”.
Nếu hiểu từ PHÁP thành Y NHẤT TÂM PHÁP thì đây là chỉ
cho tâm chúng sanh. Y một tâm chúng sanh mà lập 2 môn. 2 môn
nhưng cùng 1 tâm, vì chân như là chỉ cho thể của tâm ấy,
sanh diệt là chỉ cho thể, tướng và dụng của tâm ấy, không
phải 2 môn là có 2 tâm, nên nói NHẤT TÂM PHÁP. Hiểu theo
kiểu nào thì nghĩa ‘1 tâm có 2 môn’ vẫn không đổi.
CHÂN
NHƯ là chỉ cho cái THỂ không tướng có thể thấy, thường
hằng bất biến, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng đến chẳng
đi, chẳng nhiễm chẳng tịnh, bình đẳng một vị, tánh không
sai biệt, thế và xuất thế gian không có tướng một hai,
không có tướng ngôn thuyết. Do đó trong kinh Lăng Già, Như
Lai chỉ đáp khái quát 108 câu của ngài Đại Huệ bằng một
chữ PHI. Vì là chỗ không thể chỉ bày nên chỉ dùng lời
nói ngăn để người thầm ngộ.
Ngài
Hiền Thủ nói “SANH DIỆT là chỉ cho mặt tùy duyên khởi
diệt của chân như. Từ sự huân tập chuyển động mà thành
có nhiễm tịnh. Nhiễm tịnh tuy thành nhưng tánh hằng bất
động. Vì từ bất động mà thành nhiễm tịnh nên bất động
cũng ở trong động môn”. BẤT ĐỘNG là chỉ cho môn chân
như. ĐỘNG MÔN là chỉ cho môn sanh diệt. Đây là lý do vì
sao trong môn sanh diệt có cả phần cứu cánh giác, là cảnh
giới vô niệm của tâm không sanh diệt.
Tuy
phân 2 nhưng không thể là 2 nên mỗi môn đều nhiếp tất
cả pháp. Vì sao là 2 mà không thể 2 sẽ được Luận chủ
làm rõ ở phần chân vọng huân tập lẫn nhau.
Ngài
Hám Sơn nói “2 môn ấy mỗi thứ đều tổng nhiếp tất
cả pháp là để hiển Như Lai Tạng và thức tạng, chân vọng
hòa hợp, mỗi thứ đều có lực dụng hàm nhiếp lẫn nhau,
đồng thời hiển bày sự diệu mầu của việc huân biến
chẳng thể nghĩ bàn. Như Lai Tạng có đủ vô lượng các công
đức thanh tịnh, nay mê mà làm thức tạng, biến vô lượng
công đức thanh tịnh thành duyên nhiễm ô. Nay nói MỖI THỨ
ĐỀU NHIẾP là : Nếu Như Lai Tạng theo sự huân thuộc pháp
tịnh thì chân có lực mà vọng không lực, nên duyên nhiễm
liền biến thành pháp tịnh, tức tổng nhiếp duyên nhiễm
trong Như Lai Tạng thành tất cả dụng thanh tịnh chẳng thể
nghĩ bàn. Nếu sự huân thuộc duyên vô minh nhiễm ô thì vọng
có lực mà chân không lực, nên công đức thanh tịnh liền
biến thành duyên nhiễm ô, tức nhiếp công đức trong thức
tạng thành tất cả nghiệp dụng [7] chẳng thể nghĩ bàn”.
A.
Tâm chân như, chính là thể nhất pháp giới đại tổng
tướng pháp môn. Đó là tâm tánh chẳng sanh chẳng diệt. Tất
cả pháp chỉ nương nơi vọng niệm mà có sai biệt. Nếu lìa
vọng niệm thì không có tướng tất cả cảnh giới. Cho nên,
tất cả pháp từ xưa đến nay lìa tướng ngôn thuyết, lìa
tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng,
không có biến khác, chẳng thể phá hoại, chỉ là nhất tâm,
nên gọi là chân như.
NHẤT
PHÁP là không có 2 pháp. GIỚI, chỉ cho những chủng tử trong
thức tạng, là nhân làm phát sanh tất cả nhân, quả, thánh,
phàm trong mười pháp giới. PHÁP GIỚI, Trung Biên Luận nói
“Vì là nghĩa của nhân thánh pháp cho nên gọi là pháp giới”.
Nhiếp Luận thì nói “Pháp giới là hết thảy mọi nhân pháp”.
Cái nhìn của Nhiếp Luận về pháp giới rộng hơn Trung Biên
Luận, nhưng chúng đều có chung một nghĩa là NHÂN, là chỗ
làm phát sanh vạn pháp. Song là nhân của tất cả pháp hay
chỉ là nhân của thánh đạo thôi, là y nơi mê và ngộ mà
lập. Mê thì ẩn đó mà ngộ thì hiển bày. Thấy thì khác
mà thật là không khác.
Không
gì có thể ngoài pháp giới ấy nên gọi là ĐẠI. Một vị
bình đẳng, lìa tướng sai biệt nhưng thâu tóm hết thảy
tướng sai biệt, gọi là TỔNG TƯỚNG. PHÁP MÔN, ngài Hiền
Thủ nói”Quĩ sanh vật giải viết pháp. Thánh trí thông du
viết môn”. Nghĩa là, những qui phạm nào giúp con người
nhận hiểu được sự vật gọi là PHÁP. Thánh trí thông đạt
gọi là MÔN.
NHẤT
PHÁP GIỚI ấy không có tướng sai biệt, bình đẳng một vị,
không gì có thể ngoài nó, lại là chỗ chung cho thánh nhân
nhập đạo, nên gọi là NHẤT PHÁP GIỚI ĐẠI TỔNG TƯỚNG
PHÁP MÔN.
CHÂN
NHƯ là THỂ của cái nhất pháp giới đó. Nói TÂM TÁNH là
muốn nhấn mạnh đến chữ TÁNH này. Nó cùng nghĩa với các
từ bản thể, thể, cội nguồn. CHẲNG SANH CHẲNG DIỆT là
tính chất của cái tánh ấy. Ngài Hiền Thủ nói “Cái
chẳng sanh chẳng diệt này là để giải thích pháp thể. Theo
vọng mà chẳng sanh, phá trừ cũng chẳng diệt. Sửa trị cũng
chẳng sanh, nơi nhiễm cũng chẳng diệt”.
Hiện
nay có sanh diệt đây là do vọng niệm. NIỆM là tướng của
tâm, chỉ chung cho những gì khởi lên trong tâm. Nói là VỌNG
vì chúng là thứ không thật có. Tuy NIỆM thì muôn hình vạn
trạng nhưng những tướng ấy không có chất thật nên nói
là VỌNG NIỆM. Chính vì không có chất thật nên niệm sanh
rồi lại diệt, diệt rồi lại sanh, liên tu bất tận. Vì
không có chất thật, ta mới có thể trừ bỏ vọng niệm để
trở về tâm chân thật của mình.
“TẤT
CẢ PHÁP chỉ nương nơi vọng niệm mà có sai biệt”
có 2 ý :
1.
Sự sai biệt do nhân duyên biến : Cảnh giới chúng sanh là
do lực HUÂN và BIẾN không thể nghĩ bàn của những chủng
tử huân tập trong tàng thức mà ra. Tùy loại niệm và tùy
mức độ huân tập mà hiện ra vô lượng vô biên tướng sai
biệt trong pháp giới này. Như niệm tham là nhân thì quả là
cảnh giới quỉ đói. Niệm sân là nhân thì quả là tướng
súc sanh. Niệm từ, bi, hỉ, xả là nhân thì quả là tướng
Bồ tát v.v...
2.
Sự sai biệt do phân biệt biến : Do không biết cảnh giới
trước mắt là do thức biến nên trên cảnh lại sanh phân
biệt chấp thủ, niệm niệm tương tục chẳng dứt, khiến
cảnh giới càng thêm sai biệt. Như trên cùng một cảnh mà
vui thì thấy cảnh tươi tắn rạng rỡ, buồn thì thấy cảnh
tiêu điều tang thương. Hoặc trên cùng một người mà người
thì thấy đẹp, kẻ lại thấy xấu. Cảnh giới phát sanh nhiều
thứ sai khác như thế là do tâm trạng và quan niệm của từng
người có sai khác.
Do
2 loại vọng niệm trên mà hiện ra vô số tướng cảnh giới
sai biệt trong pháp giới này.
TƯỚNG
TẤT CẢ CẢNH GIỚI đều do vọng niệm mà có như vậy, nên
“Nếu lìa vọng niệm thì không có tướng tất cả cảnh
giới”. Cảnh giới rốt ráo của Nhị thừa là diệt niệm,
nên chư vị thể nhập cảnh giới không. Cái không ấy rất
an lạc nên gọi là niết bàn. Cảnh giới ly niệm của Bồ
tát là ngay niệm mà lìa niệm, tức ngay cảnh mà bình thản
với cảnh. Đây là cảnh giới vô tâm mà nhà Thiền nói “Đối
cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”.
“Cho
nên, tất cả pháp TỪ XƯA ĐẾN NAY …” là nói lên THẬT
TƯỚNG của thế giới ta đang sống đây, của pháp giới rộng
lớn này. Thiên hình vạn trạng bao nhiêu, cũng chỉ là chiếc
bóng của một cái THỂ trong suốt, sáng ngời, chưa từng sanh
chưa từng diệt, chưa từng đến chưa từng đi.
Cái
THỂ này không thể dùng tâm phan duyên sanh diệt đây
mà thấu được, nên nói “Lìa tướng NGÔN THUYẾT, lìa tướng
DANH TỰ, lìa tướng TÂM DUYÊN”. Không bị chi phối bởi các
tướng sanh, trụ,ï dị, diệt nên nói KHÔNG CÓ BIẾN KHÁC.
Không thuộc hữu vi nên CHẲNG THỂ PHÁ HOẠI.
Vì
tất cả ngôn thuyết giả danh không thật, chỉ tùy vọng niệm,
chẳng thể nắm bắt, nên nói chân như mà cũng không có tướng,
chỉ là chỗ cùng cực của ngôn thuyết, nhơn ngôn thuyết
mà bỏ ngôn thuyết. Thể chân như ấy chẳng thể bỏ vì tất
cả pháp thảy đều chân. Cũng chẳng thể lập vì tất cả
pháp thảy đều đồng như. Phải biết, tất cả pháp chẳng
thể nói, chẳng thể niệm nên gọi là chân như.
Đây
giải thích vì sao trên nói chân như LÌA ngôn thuyết, danh tự
mà đây lại có tên là chân như. Đặt tên CHÂN NHƯ là để
người đời biết sự có mặt của nó, là để tạm phân
biệt với tâm sanh diệt của chúng sanh, chứ nó không phải
là vật thể để ta nắm bắt hay hình dung như một cái chén
hay con bò theo cái tên nó đang mang, cũng không phải có danh
mà không thật như lông rùa, sừng thỏ.
Vì
sao biết THỂ chân như chẳng thể bỏ mà cũng chẳng thể
lập? Nếu BỎ thì vạn pháp không có chỗ y cứ để sanh khởi
như hiện nay. Vì thế, biết thể chân như ấy là CÓ chứ
không phải không. CÓ nhưng chẳng thể LẬP. Vì LẬP thì THỂ
chân như ấy lại đồng với pháp sanh diệt, tức rơi vào
đoạn diệt. Đoạn diệt thì diệt rồi, không còn sanh, vạn
pháp cũng không thể sanh khởi nối tiếp như hiện nay. Nên
biết “Thể chân như ấy chẳng thể bỏ, cũng chẳng thể
lập”.
LẬP
đây chẳng qua là mượn ngôn thuyết để chỉ bày sự hiện
hữu của tâm chân như. Song muốn nhận được tâm ấy thì
ngôn từ, niệm tưởng và sự chấp thủ phải dứt bặt.
“TẤT
CẢ pháp chẳng thể nói, chẳng thể niệm nên gọi là chân
như” là muốn hiển bày cảnh giới chân như phải
là chỗ ly niệm rốt ráo, không phải cảnh giới bị thấy
hay bị biết. Không bị thấy, bị biết thì cũng không năng
thấy, năng biết.
Hỏi
: Nếu nghĩa ấy như vậy thì chúng sanh làm sao tùy thuận mà
thể nhập được?
Đáp
: Nếu biết tất cả pháp, tuy nói mà không có năng nói sở
nói, tuy niệm mà không có năng niệm sở niệm thì gọi là
tùy thuận. Còn nếu ly niệm thì gọi là được nhập.
Câu
hỏi nêu lên sự khó khăn khi nói chân như là thứ vượt ngoài
suy luận và nhận thức của người đời, lại là chỗ ly
tướng rốt ráo. Làm sao chúng sanh có thể thể nhập lại
nó bằng tâm ngôn thuyết và đầy suy nghĩ này?
NĂNG
là chỉ cho chủ thể. SỞ là chỉ cho đối tượng. NĂNG là
chỉ cho cái tạo tác, SỞ là chỉ cho cái được tạo tác.
Chúng là một cặp duyên khởi. Gọi là duyên khởi vì cái
này làm duyên để cái kia sanh khởi. Duyên khởi nên có thì
cùng có, không cùng không. NĂNG NÓI là chỉ cho người nói.
SỞ NÓI là chỉ cho cái được nói như ngôn thuyết, văn tự
v.v… SỞ NÓI cũng có thể hiểu là người nghe, là đối tượng
của cái nói ấy. Cái NÓI này là phần thô của NIỆM.
NIỆM,
nghĩa của nó rất rộng. Thô tế nhiều dạng, nhưng có thể
hiểu chung chung về niệm như sau : Những gì khởi lên trong
tâm đều gọi là niệm. Thấy cảnh mà khởi lên suy nghĩ thì
sự suy nghĩ ấy gọi là niệm. Đặt sự chú ý của mình vào
một tướng nào đó thì sự chú ý ấy gọi là niệm. Niệm
Phật là tâm khởi đọc danh hiệu Phật hoặc quán tưởng
hình tượng Phật. Niệm còn có nghĩa là nhớ nghĩ, phân biệt.
NĂNG NIỆM là chỉ cho chủ thể. SỞ NIỆM là đối tượng
của cái NĂNG NIỆM đó. Như niệm Phật thì NĂNG NIỆM là
người niệm, nói chính xác là cái tâm đang niệm. Phật là
SỞ NIỆM. Chú tâm vào cái bong bóng thì cái tâm đang chuyên
chú ấy là NĂNG NIỆM, bong bóng là SỞ NIỆM.
Để
thể nhập lại tâm chân như từ tâm sanh diệt, luận nêu ra
2 phần : Tùy thuận trước, thể nhập sau.
TÙY
THUẬN là chưa nhập một với tâm chân như, mà cùng hướng
thuận với nó rồi từ từ nhập lại với nó. Như chỗ đến
là Trúc Lâm, chưa đến nhưng đang trên đường hướng về
Trúc Lâm, gọi là tùy thuận. Muốn tùy thuận để thể nhập
thì khi đang nói hay đang niệm, đều quán biết chúng là không.
KHÔNG, nghĩa là những thứ đó không có thật thể. Tướng
thì có đó nhưng tánh thì không.
Vì
sao nói tánh của chúng là không? Vì cái NĂNG - SỞ ấy do duyên
mà có. Duyên hết thì NĂNG - SỞ cũng không. Vì pháp CÓ hay
KHÔNG là tùy duyên, mà ta biết các tướng ấy không tánh.
Vì không tánh nên Phật gọi chúng là vọng. “BIẾT tất cả
pháp, tuy nói mà không có năng nói sở nói, tuy niệm mà không
có năng niệm sở niệm” là BIẾT những thứ mình đang dùng
đây đều là vọng. BIẾT chúng đúng là vọng gọi là TÙY
THUẬN.
Điều
kiện để thể nhập lại tâm chân như là phải LY NIỆM. Phần
LY NIỆM này cũng có thô và tế. Tùy theo mức độ thô tế
mà hoặc là thể nhập hoàn toàn với pháp tánh chân như, hoặc
chỉ thể nhập được trạng thái bình đẳng của chân như.
[8]Phần bình đẳng này cũng có thô và tế.
Hỏi
: Vì sao trên có phần NĂNG NÓI và NĂNG NIỆM, nhưng khi thể
nhập lại chỉ nói đến việc ly niệm mà không nhắc đến
việc bỏ cái nói?
Đáp
: Vì NÓI là phần thô của NIỆM. Đã bỏ TẾ thì không cần
nói đến THÔ nữa.
Lại
nữa, chân như ấy y nơi ngôn thuyết phân biệt mà có 2 nghĩa.
Một là “Như thật không” vì hiển bày rốt ráo cái thật.
Hai là “Như thật bất không” vì có tự thể đầy đủ
vô lượng tánh công đức.
Đây
là mượn ngôn thuyết để giải bày về cảnh giới chân như.
Nói NHƯ THẬT vì nó không phải là vọng. NHƯ THẬT KHÔNG là
chỉ cho tự thể KHÔNG của vạn pháp. Kinh hay gọi là ‘Tánh
không’. NHƯ THẬT BẤT KHÔNG là để hiểu cái như thật không
ấy không tánh. Không tánh nên nó không phải là cái không
mình thấy trống trơn như hư không mà đầy đủ vô lượng
tướng công đức, không phải là cái không đoạn diệt.
A1.
KHÔNG là vì từ xưa đến nay, tất cả nhiễm pháp đều
chẳng tương ưng, lìa tướng sai biệt của tất cả pháp,
vì không có tâm niệm hư vọng. Phải biết, tự tánh chân
như chẳng phải tướng có, chẳng phải tướng không, chẳng
phải tướng chẳng có, chẳng phải tướng chẳng không, chẳng
phải tướng vừa có vừa không. Chẳng phải tướng một,
chẳng phải tướng khác, chẳng phải tướng chẳng một, chẳng
phải tướng chẳng khác, chẳng phải tướng vừa một vừa
khác. Cho đến nói một cách tổng quát là, bởi y nơi tất
cả chúng sanh vì có vọng tâm, niệm niệm phân biệt, đều
chẳng tương ưng, nên nói là không. Nếu lìa vọng tâm, thật
không thể không.
Đây
là hiển bày rộng nghĩa KHÔNG của chân như.
NHIỄM
PHÁP, là chỉ cho những pháp tương ưng với vô minh, do
vô minh mà có, như 9 tướng thuộc bất giác v.v…
TỰ
TÁNH CHÂN NHƯ là chỉ cho phần KHÔNG này. Nó chính
là cái nhân Phật tánh trong mỗi chúng sanh. Trực nhận được
chỗ này gọi là kiến tánh, là thấy được tự tánh của
chính mình. Cái KHÔNG này, nhiễm pháp không thể tương ưng.
Trong cái KHÔNG ấy cũng không có tướng sai biệt của tất
cả pháp. Vì sao? Vì không có tâm niệm hư vọng. Nghĩa là,
trong cái KHÔNG này không có 3 tế và 6 thô được nói trong
phần Tâm Sanh Diệt. Ngược lại, không có tướng của 3 tế
6 thô mới có thể nói là trực nhận được cái không này.
“PHẢI
BIẾT tự tánh chân như chẳng phải tướng có, chẳng phải
tướng không …” là muốn hiển bày THẬT THỂ chân như không
rơi vào nhị biên phân biệt. Nói rộng là không rơi vào tứ
cú. TỨ CÚ CÓ - KHÔNG là có, không, chẳng có chẳng không,
vừa có vừa không. TỨ CÚ MỘT - KHÁC là một, khác, chẳng
một chẳng khác, vừa một vừa khác.
Có,
không, một, khác v.v… là những quan điểm của người đời
đối với nhân sinh và thế giới. Như thấy thế giới mình
đang sống đây là thật, là ta đang vướng vào kiến chấp
CÓ. Thấy thế giới này hoàn toàn không, là rơi vào kiến
chấp KHÔNG. Thấy pháp này tồn tại độc lập với pháp kia,
pháp nào cũng có tự thể của riêng nó, là rơi vào kiến
chấp MỘT, KHÁC ... Phần lớn những loại kiến chấp này
đều hình thành từ quá trình thiền định và truyền thừa
nhau cho đến ngày nay. Do cái thấy chưa đến nơi, nên cái
nhìn về pháp có sai lệch. Như người mù sờ voi, sờ từng
bộ phận của voi mà cho chính là voi. Đây cũng vậy. Thấy
pháp là CÓ, KHÔNG, MỘT, KHÁC ... là tùy duyên mà thấy như
vậy. Đã tùy duyên thì không thể lấy tướng tùy duyên ấy
làm thật tướng của vạn pháp.
Không
phải là những tướng đó, nhưng không thể chỉ thẳng, vì
thật tướng của vạn pháp không phải là cái bị biết hay
đối tượng để nhận thấy, dù đó là tướng không. Vì
thế, chỉ có thể mượn 4 từ VÔ, BẤT, PHI, LY để phủ định
mà hiển cái không thể thấy, song không phải không có. Ngài
Hàm Thị nói “Đây là lời chỉ thẳng. Chỉ ngăn cái quấy
kia mà không nói cái phải kia. Nếu có chỗ phải thì khác
gì cái quấy. Như vàng làm đồ trang sức, nghĩa là vàng không
phải xuyến, không phải thoa … khiến người ngay đó thấu
suốt ‘không phải’ là không phải xuyến, không phải thoa
mà là vàng vậy”.
Nhân
sinh và thế gian là những thứ hiện diện như những thật
thể trước mắt ta, mà thật tướng của chúng còn không thể
lấy TỨ CÚ để suy lường, huống là ngay chính cái thật
tướng ấy? Nên nói “Phải biết tự tánh chân như chẳng
phải tướng có, chẳng phải tướng không ...”. Đây tương
đương với BÁT BẤT của Trung Luận, với 108 chữ PHI trong
kinh Lăng Già.
Hỏi
: BÁT BẤT của Trung Luận là “Chẳng sanh cũng chẳng diệt
…” khác gì “không có, không không” của TỨ CÚ, mà một
thì nhận một thì bác?
Đáp
: “Không có cũng không không” là để chúng sanh
buông cả CÓ lẫn KHÔNG. Vì pháp không phải là CÓ, nên nói
KHÔNG. Song nghe KHÔNG người đời lại chấp vạn pháp là KHÔNG
nên nói KHÔNG KHÔNG. Chỉ phủ định mà không thể chỉ thẳng
vì nó không phải là vật tướng có thể diễn tả. Chỉ cần
tâm không ở trạng thái sanh diệt của phàm phu, tức không
vướng vào CÓ, cũng không trụ ở cái không của Nhị thừa,
tức không chấp vào KHÔNG, thì ngay đó là “không có cũng
không không”. Còn “không có, không không” của TỨ CÚ là
một loại kiến chấp phủ định. Nghe nói “không có không
không” lại chấp rằng pháp “không cả có lẫn không”.
Từ đó hình thành nên một loại kiến chấp mới. Đó là
2 chỗ khác nhau của BÁT BẤT và TỨ CÚ. Cái khác ở đây
nằm ở một chữ chấp và buông.
“CHO
ĐẾN nói một cách tổng quát là …” là muốn hiển bày
cái NHƯ THẬT KHÔNG ấy không tánh, để đưa ra phần BẤT
KHÔNG sau. Nói KHÔNG là muốn hiển bày sự hư vọng của tâm
sanh diệt hiện nay. Những niệm tưởng ấy hoàn toàn không
có thật thể, không gì là không thể phá trừ nên nói là
không. Một khi tâm niệm hư vọng ấy hết thì có vô lượng
tướng công đức hiển bày. Cái THỂ ấy không phải không,
nên nói “NẾU LÌA vọng niệm thì không thể không”.
A2.
BẤT KHÔNG là, đã rõ thể của pháp là “không” không
có vọng, chính là chân tâm thường hằng không biến đổi,
đầy đủ pháp thanh tịnh, gọi là bất không. Cũng không có
tướng có thể thủ, vì cảnh giới ly niệm chỉ chứng mới
tương ưng.
Đây
là làm rõ nghĩa BẤT KHÔNG.
BẤT
KHÔNG, nghĩa là không phải không. Ngài Hám Sơn nói “Cái
BẤT KHÔNG này cũng chẳng phải là pháp nào khác. Trước đã
hiển thể của pháp là không, không vọng nhiễm, chính là
thật thể chân như thường hằng không biến đổi. Nhưng trong
cái thể không ấy vốn có vô lượng công đức thanh tịnh,
chỉ vì trước đây bị vọng nhiễm ngăn chướng mà chẳng
thể hiển. Nay vọng nhiễm đã hết thì tịnh pháp vốn sẵn
đầy đủ. Vì nghĩa ấy mà gọi là BẤT KHÔNG. Chẳng phải
riêng có một thật pháp có thể thủ. Thể BẤT KHÔNG ấy
chẳng phải vọng niệm phân biệt có thể thấu được. Đó
là cảnh giới ly niệm, chỉ chứng mới tương ưng”.
Như
vậy, cái BẤT KHÔNG nói đây là tướng và dụng của cái
KHÔNG. Nó chỉ có khi tâm niệm hư vọng của ta đã hết, chứ
BẤT KHÔNG không phải là những tâm niệm hư vọng đó. Một
khi niệm tưởng hư vọng còn thì phải lấy cái KHÔNG NIỆM
làm chỗ qui về. LY NIỆM rồi thì cái KHÔNG ấy mới BẤT
KHÔNG. Cho nên, cảnh giới sự sự vô ngại của thế giới
Hoa Nghiêm mà dùng tri thức toán học và sự phân biệt tri
thức đây để suy lường thì thế giới Hoa Nghiêm ấy không
thể thoát được cái luẩn quẩn và khổ ải của Tà Bà uế
trược. Đây đều do tâm vọng tưởng mà ra.
Trên
đã giải thích xong phần Tâm Chân Như.
B.
Tâm sanh diệt là, y Như Lai Tạng nên có tâm sanh diệt.
Đó là, chẳng sanh chẳng diệt cùng với sanh diệt hòa hợp,
chẳng phải một, chẳng phải khác, gọi là thức Alaida. Thức
ấy có 2 nghĩa hay nhiếp tất cả pháp và hay sanh tất cả
pháp. Thế nào là 2? Một là nghĩa giác. Hai là nghĩa bất giác.
Trong
kinh Lăng Già Phật nói “Đại Huệ! Có khi ta nói không, vô
tướng, pháp thân, pháp tánh, bất sanh bất diệt … những
câu như thế đều chỉ cho Như Lai Tạng”. Vậy Như Lai Tạng
là tên khác của pháp tánh chân như.
Như
Lai Tạng vốn không sanh diệt, do không tự tánh nên không tự
giữ, bất giác động niệm huân thành vô minh mà có sanh diệt.
Từ cái không sanh diệt bất giác mà thành sanh diệt nên nói
“Y NHƯ LAI Tạng nên có tâm sanh diệt”. Sanh diệt thế nào
cũng không lìa cái không sanh diệt, nên nói “CHẲNG SANH chẳng
diệt cùng với sanh diệt hòa hợp”. Ngài Hiền Thủ nói “Động
mà làm thành tâm sanh diệt, chẳng tách lìa nhau nên nói ‘hòa
hợp’, chẳng phải riêng có một pháp sanh diệt nào khác
đến hợp với chân”.
“Chẳng
phải một, chẳng phải khác” là nói đến mối liên hệ
giữa sanh diệt và không sanh diệt. Sanh diệt không lìa không
sanh diệt nên CHẲNG PHẢI KHÁC. Song sanh diệt không phải
là cái không sanh diệt, tướng sanh diệt có thể bỏ mà thể
của sanh diệt thì không thể bỏ nên CHẲNG PHẢI MỘT.
ALAIDA,
còn gọi là thức tạng hay là thức thứ 8. Gọi là TẠNG vì
nó có khả năng chứa nhóm và duy trì các chủng tử thiện
ác, hữu vi, vô vi, hữu lậu, vô lậu. Nói là chứa nhóm nhưng
không nên hình dung Alaida như một cái kho sẵn có. Chỉ do chủng
tử tương tục họp lại mà có Alaida. Hòa thượng Thiện
Siêu mượn hình ảnh đồ vật để diễn tả thức
Alaida như sau “Tàng thức như một đống đồ vật chứa
đủ mọi thứ tốt xấu. Đồ vật từ đống đồ ấy sanh
ra. Đồ vật gì cũng chứa vào đống đồ vật ấy. Không
có đồ vật thì không có đống đồ vật. Không có đống
đồ vật thì cũng không có đồ vật … Tàng thức cũng vậy.
Không có chủng tử của các pháp thì không có tàng thức,
không có tàng thức thì không có chủng tử các pháp”.[9]
Vì thế Alaida vừa có nghĩa là NĂNG TÀNG vừa có nghĩa là
SỞ TÀNG. Lại là chỗ loài hữu tình nương đó chấp làm
tự ngã nên có thêm cái tên là NGÃ ÁI CHẤP TÀNG.
Thức
Alaida này rất vi tế. Hạng hữu tình không có chủng tánh
giác ngộ thì không thể biết tận căn để của nó. Ngay các
vị Nhị thừa thú hướng tịch diệt cũng không thể thông
đạt. Ngoài việc giữ gìn các chủng tử, thức này còn có
tác dụng làm chỗ nương một cách bình đẳng cho tất cả
pháp và giữ gìn sự lưu chuyển luân hồi trong các đường
cũng như sự hoàn diệt niết bàn. Thức này từ vô thủy đến
nay niệm niệm sanh diệt, trước sau biến khác, nhân diệt
quả sanh, chẳng phải thường nhất nên có thể làm chỗ cho
7 chuyển thức huân tập thành chủng tử. Giống như dòng nước
dốc, chẳng phải đoạn chẳng phải thường mà cứ nối tiếp
nhau nên có sự trôi nổi chìm đắm của loài hữu tình. Đó
là nói sơ về thức Alaida. [10]
THỨC
ẤY là chỉ cho Alaida. Thức ấy có 2 nghĩa là giác và bất
giác. Giác và bất giác đều có khả năng NHIẾP tất cả
pháp và SANH tất cả pháp. NHIẾP là chịu sự huân mà thành
chỗ cất giữ chủng tử. SANH là biến ra để làm thành cảnh
giới. BẤT GIÁC thì thuận với vô minh nên SANH 3 tế, 6 thô
và tất cả nhiễm pháp ở thế gian. GIÁC thì ngược dòng
vô minh nên SANH tịnh pháp và 4 thánh xuất thế.
Phần
sau giải thích để hiểu về GIÁC và BẤT GIÁC.
B1.
GIÁC là tâm thể ly niệm. Tướng ly niệm thì đồng với
hư không giới, không chỗ nào mà chẳng khắp.
“ĐỒNG
HƯ KHÔNG giới, không chỗ nào mà chẳng khắp” là diễn tả
cảnh giới của tâm khi mọi động niệm đã dứt bặt. TÂM
THỂ là chỉ cho bản thể hay tự tánh chân như. LY NIỆM là
điều kiện để tâm đồng hư không giới, không chỗ nào
mà chẳng khắp. Nghĩa là, sanh diệt đã diệt thì không sanh
diệt ngay đó hiển bày. Ngài Hám Sơn nói “Nếu hay ly niệm
thì bản thể rỗng nhiên như thái hư không, không chỗ nào
mà chẳng khắp. Tất cả cảnh giới sai biệt của vọng niệm
hòa thành một vị chân tâm, chỉ là pháp giới nhất tướng
không có đối đãi”.
LY
NIỆM là không dính với niệm hoặc là không có niệm.
Một niệm khởi lên mà ta không dính với nó, hoặc đưa nó
về không, gọi là GIÁC. Cái GIÁC này có cạn sâu, được
nói rõ ở phần 4 tướng dưới. GIÁC mà tâm đồng hư không
giới là chỉ cho tâm thể vô niệm.
Pháp
giới nhất tướng tức là pháp thân Như Lai bình đẳng. Y
nơi pháp thân ấy mà nói tên bản giác. Vì sao? Nghĩa bản
giác là do đối với thủy giác mà nói, vì thủy giác tức
đồng bản giác. Nghĩa thủy giác là, y bản giác nên mới
có bất giác, y bất giác nên nói có thủy giác. Lại, vì giác
tột nguồn tâm nên gọi là cứu cánh giác. Chẳng giác tột
nguồn tâm thì chẳng phải là cứu cánh giác.
Đây
là nói rõ từ đâu có 3 tên bản giác, bất giác và thủy
giác. BẢN là gốc, nguyên sơ, đầu tiên v.v... BẢN GIÁC là
chỉ cho cái GIÁC nguyên thủy, tối sơ - Chính là pháp thân
Như Lai bình đẳng không tăng không giảm mà Phật và chúng
sanh đồng có. Gọi là đầu tiên vì đã có cái thứ hai, thứ
ba … Không có cái thứ hai, thứ ba thì không nói cái đầu
tiên. Cái thứ hai, thứ ba đây chỉ cho BẤT GIÁC và THỦY
GIÁC.
BẢN
GIÁC là chỉ cho bản thể vốn không sanh diệt. Bản thể
chân như ấy không tánh nên BẤT GIÁC huân thành vô minh. BẤT
GIÁC là không tỉnh không sáng. Tức từ bản giác mà có bất
giác, bất giác y cứ nơi bản giác mà có. BẤT GIÁC huân rồi
thì luân chuyển vào 5 đường làm chúng sanh. Song luân chuyển
thế nào thì cái bản thể diệu minh ấy vẫn thường nhiên,
không hề thiếu vắng. Cái không thiếu vắng ấy là LỰC khiến
chúng sanh chán sanh tử khổ, hồi tâm tu hành. Dựa vào lực
ấy mà lập trí THỦY GIÁC. Những thứ như ngừa quấy, ngăn
ác, sám hối tội lỗi, tụng kinh, niệm Phật, thiền định
v.v… đều là công năng của trí THỦY GIÁC. Tùy thô tế mà
có biểu hiện khác nhau.
THỦY
nghĩa là mới. THỦY GIÁC là mới giác. Gọi là MỚI
không phải vì nó mới có - công năng của THỦY GIÁC không
khác bản giác, cũng là lực nội huân của bản giác mà thôi
- mà vì nó được lập thành sau khi đã có bất giác. Bất
giác rồi mới GIÁC nên gọi là THỦY GIÁC. Tức mê rồi mới
GIÁC nên gọi là THỦY GIÁC. Tu hành để trở về cội nguồn
chân thật, đi từ mê trở lại ngộ phải có thứ lớp trừ
dần, 4 tướng thô tế phân chia chưa đồng, nên THỦY GIÁC
vốn đồng bản giác mà chưa hẳn là bản giác. Vì thế nói
TỨC ĐỒNG BẢN GIÁC. TỨC, là thủy giác vốn là bản giác,
song chưa đến tột nguồn thì thủy giác chưa thể là bản
giác. ĐỒNG, là khi thủy giác nhập lại hoàn toàn với bản
giác.
Như
vậy, từ BẢN GIÁC mà sanh BẤT GIÁC. BẤT GIÁC rồi, nhờ
có BẢN GIÁC mới sanh THỦY GIÁC. Nói THỦY GIÁC vì đã có
BẤT GIÁC. Không có bất giác thì không có thủy giác, cũng
không đặt vấn đề bản giác. Song có BẤT GIÁC mà không
có BẢN GIÁC thì cũng không có trí THỦY GIÁC. Duyên khởi
mật thiết với nhau như thế, nên nói “Y bản giác mới có
bất giác, y bất giác nên nói có thủy giác”. Đây là hiển
bày mặt duyên khởi của 3 cái giác.
CỨU
CÁNH là chỗ tột cùng, là cội nguồn chân thật. CỨU CÁNH
GIÁC là cái giác tột cùng. Nó là cảnh giới khi thủy giác
nhập một với bản giác, nên nói “Giác tột nguồn tâm”.
Không nói thẳng bản giác mà nói là CỨU CÁNH GIÁC vì quá
trình tu hành ngược dòng hoàn tịnh là đi từ chúng sanh đến
Phật, đi từ thấp đến chỗ tận cùng ... đã có thứ lớp
nên có chỗ tột cùng hay chưa tột cùng. Gọi CỨU CÁNH GIÁC
là để phân biệt với 3 cái giác dưới là bất giác, tương
tợ giác và tùy phần giác. Đây là tùy tình trạng ly niệm
của tâm mà THỦY GIÁC phân làm 4 GIÁC tương ưng với 4 tướng.
Nên thứ lớp thì có 4 tên, nhưng tổng quát cũng đều là
THỦY GIÁC.
Nghĩa
ấy thế nào? Là để giải thích về trí THỦY GIÁC và CỨU
CÁNH GIÁC.
Phần
dưới là nói về tướng của 4 cái GIÁC. Song muốn hiểu về
4 cái giác này thì đầu tiên phải nắm được ý nghĩa của
4 tướng sanh, trụ, dị, diệt thông qua 9 tướng Bất Giác
nói ở phần sau. 4 tướng đó được lập thành là y vào tâm
sanh diệt mà lập, nên nó chỉ là giả lập. Bản thể chân
như vốn không có 4 tướng ấy, chỉ là một thể rỗng rang
vô sự, đầy đủ vô lượng công đức thanh tịnh mà thôi.
‘Không
có cũng không không’ song do bất giác mà pháp trong tam giới
dường như CÓ dường như KHÔNG. Bản thể ấy vốn không sanh
diệt chỉ vì không tánh nên không tự giữ mà biến thành
9 tướng kê trong phần Bất Giác. Luận Phật Tánh nói “Tất
cả pháp hữu vi, ước về tiền tế thì cùng tướng SANH tương
ưng, ước về hậu tế thì cùng tướng DIỆT tương ưng, ước
về trung tế thì cùng với tướng TRỤ và DỊ tương ưng”.
Cái vừa có gọi là SANH - ứng với phần Nghiệp Tướng là
tướng đầu trong 3 tế. Mé tận cùng gọi là DIỆT - ứng
với phần Khởi Nghiệp Tướng, là tướng gần cuối của
6 thô. SANH rồi nối tiếp tương tợ gọi là TRỤ - ứng với
phần Năng Kiến, Năng Hiện, Trí Tướng và Tương Tục Tướng,
là 2 tế sau và 2 thô đầu. Ngay nơi cái nối tiếp ấy mà
chuyển biến, gọi là DỊ - ứng với phần Chấp Thủ và kế
Danh Tự, là 2 cái thô giữa. Đây chỉ lướt sơ để có thể
nắm rõ về tướng của 4 cái GIÁC dưới.
Từ
chân tâm, bất giác biến khởi ra cảnh giới chúng sanh rồi
trải dài sanh tử luân hồi thì SANH trước DIỆT sau. Song ngược
dòng hoàn tịnh tu hành thì phải bắt đầu từ chỗ đang mê
mà ngược dòng lại những cái đã rồi, nên tướng DIỆT
được giác trước, dần dần giác đến tướng SANH.
1.
Như phàm phu, giác biết niệm trước khởi ác nên hay dừng
niệm sau khiến nó chẳng khởi, tuy gọi là giác mà thật là
bất giác.
Đây
là nói về tướng GIÁC thứ nhất. Cái GIÁC này được nói
đầu tiên vì nó là tướng thô nhất trong 4 tướng. Thô nhất
nên tác dụng của nó cũng yếu nhất và dễ thực hành nhất.
NHƯ
PHÀM PHU là, cái giác này dành cho phàm phu. Vì sao dành cho phàm
phu? Vì chỉ giác NIỆM ÁC mà thôi. NIỆM ÁC là chỉ cho những
niệm làm tổn người hại mình như tham, sân v.v... Giác niệm
ác là để niệm ấy không biến thành hành động mà phải
bị thân thọ báo trong 3 đường dữ. Vì thế tuy nói phàm
phu nhưng là loại phàm phu đã biết tin Nhân Quả, không phải
loại phàm phu bình thường. Ngài Hiền Thủ liệt những vị
này vào hàng Thập Tín.
Ngài
Hám Sơn nói “Đây giác tướng diệt trước. GIÁC TƯỚNG
DIỆT là, tâm tạo nghiệp của chúng sanh niệm niệm sanh diệt
chưa từng tạm nghỉ, nay giác chỗ một niệm diệt này”.
Gọi là giác niệm diệt vì khi ta GIÁC được, thì niệm ác
đã sanh, đã có mặt. Sanh rồi mới giác nên không thể giác
niệm sanh mà là giác niệm diệt. Căn cứ trên TƯỚNG DIỆT
của tâm thì giác tướng diệt chính là giác Khởi Nghiệp
Tướng, là giác cái tướng khi nó sắp biến thành hành động.
Ngài Hiền Thủ nói “Bởi lực của vô minh đã chuyển tâm
tịnh ấy đến tận bờ mé mà hành tướng thô đến đó là
tột cùng, nên gọi là tướng diệt”. Sự chậm trễ này
là do cái BIẾT của mình chưa nhuần nhuyễn nhanh nhẹn bằng
lực của dòng vọng nghiệp, nên mình chỉ có thể giác được
niệm khi niệm đến tận bờ mé tướng diệt, mà chưa thể
giác khi chúng vừa sanh.
Không
tu thì niệm ác ấy sẽ thành hành động, gây nghiệp rồi
thọ khổ. Tu thì BIẾT được sự có mặt của nó và dừng
ngay, không để nó nối tiếp. GIÁC chính là BIẾT niệm ác
đã có mặt nên nói là GIÁC BIẾT. Ngừng ngay thì niệm ác
không tiếp tục, nên nói “Giác biết niệm trước khởi ác
nên hay dừng niệm sau khiến nó chẳng khởi”. KHỞI đây
có 2 nghĩa : Hoặc là niệm ác khởi tiếp trong tâm, hoặc là
niệm ác biến thành hành động.
Như
việc giết người. Giết người thường là kết quả của
tâm sân hay tham. Cái sân tham ấy chính là niệm ác. Nếu khi
niệm sân hay tham vừa xuất hiện ở tâm mà ta biết niệm
vừa hiện lên đó là niệm ác, không thể tiếp tục thì mọi
thứ yên ổn. Nhưng vì không ý thức được đó là niệm ác,
nên hoặc là việc giết người xảy ra lập tức, hoặc niệm
ấy được nuôi dưỡng thành những kế hoạch thiện xảo,
sau mới thành hành động. Khởi niệm nối tiếp trên tâm hoặc
khởi thành hành động đều diễn tả cái KHỞI đây.
GIÁC
nhưng vì sao vẫn gọi là BẤT GIÁC? Vì chỉ mới GIÁC NIỆM
ÁC thì quả báo vẫn thuộc về cõi trời người, tức vẫn
thấy tam giới là thật. Thấy tam giới thật là cái thấy
còn mê, chưa phải là cái giác của Bồ tát và chư Như Lai.
Tỉnh nên có giác, nhưng cái tỉnh ấy vẫn chưa ngoài cái
mê, nên tuy giác mà vẫn gọi BẤT GIÁC là vậy.
Ngài
Hám Sơn giải thích “Vì tuy là giác niệm ác chẳng để nó
khởi, nhưng thật ra chỉ là ở trên tâm sanh diệt mà đè
nén, chưa thấy được tánh chẳng sanh diệt”. Tâm sanh diệt
đây là chỉ cho ‘phần đoạn sanh tử’ của chúng sanh. Nói
là GIÁC niệm, nhưng cái giác ấy chỉ là loại trừ dần niệm
ác, vẫn chưa thoát được sự chi phối của dòng nghiệp lực.
Như đứng trong dòng thác, xoay sở qua lại để thuyền xuôi
được theo dòng thác khỏi lật chết, chưa phải là thoát
được dòng thác. Lấy niệm sanh diệt trừ niệm sanh diệt
nên tuy GIÁC mà vẫn gọi là BẤT GIÁC.
2.
Như trí quán của Nhị thừa và bậc Bồ tát mới phát tâm,
giác ở niệm dị, niệm không tướng dị. Vì xả bỏ tướng
chấp trước phân biệt thô nên gọi là tương tợ giác.
Đây
là GIÁC NIỆM DỊ. Cái GIÁC này dành cho bậc Nhị thừa và
chư vị Bồ tát mới phát tâm. NHỊ THỪA là chỉ cho Thanh
văn và Duyên giác. TRÍ QUÁN là hành tướng tu hành của chư
vị. Pháp tu của chư vị là quán các pháp vô thường, khổ,
không, vô ngã, bất tịnh … thường ở chỗ vắng vẻ, luôn
thủ hộ các căn để cảnh không thể làm duyên sanh nghiệp,
dùng một niệm không phá trừ sự sanh khởi của tâm.
BỒ
TÁT là chỉ chung cho các vị tu Đại thừa cầu Phật quả
chẳng kể là xuất gia hay tại gia. Thanh văn và Duyên giác
chuyển tâm tu theo Phật đạo cũng gọi là Bồ tát. BỒ TÁT
MỚI PHÁT TÂM là chỉ cho những vị phát nguyện tu Đại thừa
và bắt đầu thực hành công phu. Không có phần công phu này
thì không phải là Bồ tát mới phát tâm nói đây.
2 loại
vị này đều tập trung vào việc trừ bỏ những sanh khởi
trong tâm để đưa tâm trở về trạng thái KHÔNG trong lặng
của nó. Vì thế, niệm ác hay niệm thiện, niệm vui hay niệm
buồn v.v… các vị đều GIÁC. Những trạng thái hiện lên
trong tâm đó đều gọi chung là TƯỚNG DỊ. Dị là không giống
nhau. Những thứ hiện hành đó không ở một dạng nhất định
nào nên gọi là DỊ. Song niệm dù muôn hình vạn trạng bao
nhiêu mà giác được thì niệm ấy liền không. Cái KHÔNG ấy
là bình đẳng, không có tướng khác nên nói “Giác ở niệm
dị, niệm không tướng dị”. Cái KHÔNG nhờ giác được
tướng dị đó tuy gần với cái KHÔNG của bản giác, nhưng
chưa phải là cái không của bản giác nên nói TƯƠNG TỢ.
Vì đạt được quả vị rốt ráo của Nhị thừa chăng nữa,
thì cái KHÔNG rốt ráo ấy cũng mới là HÀNH không, [11] THỨC
vẫn còn. Cái KHÔNG của Phật tánh là THỨC cũng không. Vì
thế, giác tướng dị tuy cũng gọi là GIÁC nhưng chỉ mới
là TƯƠNG TỢ, chưa phải là chính nó.
Chỗ
hướng đến của Nhị thừa và Bồ tát phát tâm tu Phật tuy
khác nhau, nhưng hành tướng tu hành cũng như kết quả đạt
được thì như nhau, nên phần GIÁC TƯỚNG DỊ này bao gồm
cả Nhị thừa lẫn Bồ tát mới phát tâm. Dẫn Nhị thừa
ra đây là để hiểu thêm chỗ đứng của chư vị đối với
cả quá trình tu Phật. Nhị thừa buông được TƯỚNG DỊ
nhưng thủ chặt cảnh giới KHÔNG ấy làm niết bàn. Bồ tát
buông được TƯỚNG DỊ, nhưng biết cái không ấy mới chỉ
là hóa thành chưa phải bảo sở, nên không an trụ nơi cái
lạc ấy mà tiến lên phá tiếp tướng trụ để trở về
cội nguồn chân thật nhất tâm, đầy đủ vô lượng tướng
công đức thanh tịnh.
TƯỚNG
CHẤP TRƯỚC PHÂN BIỆT THÔ là chỉ cho tướng Chấp Thủ và
Kế Danh Tự ở phần Bất Giác sau. CHẤP TRƯỚC là chỉ cho
tướng Chấp Thủ. PHÂN BIỆT THÔ là chỉ cho Kế Danh Tự.
Tham, sân, khổ, vui … Những hình tướng biến khác ấy đều
biểu hiện cho trạng thái dính mắc của tâm đối với cảnh.
Nếu những tướng trạng ấy không, tức sự dính mắc không
còn. Dính mắc không thì xem như đã giác phá được tướng
Chấp Thủ. Tướng Chấp Thủ đã phá thì tướng Kế Danh cũng
chẳng còn nghĩa lý, nên nói “Xả bỏ tướng chấp trước
phân biệt thô”.
Xả
bỏ được những tướng đó thì tâm coi như không, nhưng cái
không ấy chưa phải là cái không của Phật tánh, vì nó còn
vướng cái phân biệt tế Trí Tướng[12] nên nói “VÌ
XẢ BỎ tướng chấp trước phân biệt thô, nên gọi là tương
tợ giác”. Quả vị rốt ráo của Nhị thừa thấy như phá
được tướng tương tục của tâm, nhưng thật ra chỉ mới
là phần hiện hành, nên luận chỉ nói “XẢ BỎ TƯỚNG chấp
trước phân biệt thô” mà không nói đến việc xả bỏ tướng
tương tục.[13]
4.
Như bậc pháp thân Bồ tát giác ở niệm trụ, niệm không
tướng trụ. Vì lìa tướng niệm phân biệt thô nên gọi là
tùy phần giác.
NIỆM
TRỤ là chỉ cho 4 tướng Năng Kiến Tướng, Cảnh Giới Tướng,
Trí Tướng và Tương Tục Tướng trong phần Bất Giác sau.
NĂNG KIẾN là chỉ cho cái thấy của mình. Thân tứ đại và
thế giới mình đang sống đây liệt chung vào CẢNH GIỚI TƯỚNG.
Khi đã có cái thấy và cảnh giới bị thấy thì lập tức
trên cảnh lại sanh phân biệt. Cái phân biệt này gọi là
TRÍ TƯỚNG. Phân biệt rồi sanh ái trước nên tâm càng động,
niệm càng huân … vì thế niệm niệm tương tục không dứt.
Cái tương tục không dứt đó gọi là TƯƠNG TỤC TƯỚNG.
Gọi
là NIỆM TRU, vì Nghiệp Tướng - tức tướng SANH - vừa xuất
hiện thì lập tức 4 tướng ấy theo đó mà dàn trãi, nên
gọi là niệm trụ. Ngài Hiền thủ nói “Vô minh cùng tướng
sanh hòa hợp chuyển tâm tịnh ấy đến chỗ này, hành tướng
của nó còn tế, pháp chấp kiên trụ nên gọi là tướng trụ”.
PHÁP
THÂN BỒ TÁT là chỉ cho những vị đã trực chứng được
nhân Phật tánh, chính là tự tánh chân như không sanh không
diệt của chính mình. Là chỉ cho chư vị Bồ tát thuộc hàng
Thập Địa, luận đây gọi là NHƯ THẬT TU HÀNH. Do chư vị
đã khoét thủng được màng vô minh, đặt chân lên đất Như
Lai, nên gọi là pháp thân Bồ tát. Tuy cùng được một niệm
đặt chân ấy, mà viên mãn quả Phật có tới 10 địa, chưa
được hoàn toàn như Phật, nên gọi là ‘tùy phần giác’.
TÙY
PHẦN GIÁC tức là giác từng phần. Chứng được nhân
Phật tánh rồi nhưng tập khí bao đời chưa xong, pháp thân
chưa thể hiển lộ tròn đầy, qua cái niệm đốn ngộ ấy,
hiện thân vẫn là Bồ tát giác tướng trụ nên gọi là giác
từng phần.
BỒ
TÁT GIÁC TƯỚNG TRUï là, tuy đã kiến tánh nhưng thân, căn,
cảnh và sự nhận biết về những thứ ấy vẫn còn, trí
phân biệt chưa hết, dòng tương tục tuy có đứt đoạn nhưng
chưa dứt hẳn. Bởi cớ sự ấy mà gọi là TỪNG PHẦN. Hành
thiền mà nhận chân được thật tướng của 4 tướng ấy,
gọi là GIÁC TƯỚNG TRUï. Tùy mức độ giác mà có 10 địa.
Ngài Hám Sơn nói “Phần phá, phần chứng nên gọi là tùy
phần giác”.
TƯỚNG
PHÂN BIỆT THÔ là để phân biệt với Nghiệp Tướng phân
biệt tế. Nói phân biệt tế là chỉ cho sự liễu biệt của
Alaida thức, chỉ là liễu biệt mà không có sự tham gia của
ý thức. Chính cái Nghiệp Tướng này mà dù đạt được tâm
giác chiếu không còn cảnh giới lục trần, tâm ấy vẫn chưa
phải là pháp tánh chân như tròn khắp mà Phật và chúng sanh
đồng có, nên nói “VÌ LÌA TƯỚNG niệm phân biệt thô nên
gọi là tùy phần giác”.
3 tướng
trên đều chưa gọi là CỨU CÁNH GIÁC vì chưa đến được
cội nguồn của tâm.
4.
Như Bồ tát địa tận đầy đủ phương tiện, nhất niệm
tương ưng, giác tâm sơ khởi, tâm không có tướng sơ. Vì
xa lìa niệm vi tế nên được thấy tâm tánh, tâm tức thường
trụ, gọi là cứu cánh giác.
Đây
là giác TƯỚNG SANH.
BỒ
TÁT ĐỊA TẬN là Bồ tát ở vị kế Phật. PHƯƠNG TIỆN là
những phương thức, phương cách tiện dụng … mà nhờ chúng,
người tu đạt được cứu cánh niết bàn. Như niệm Phật,
ngồi thiền, chỉ - quán v.v… Phương tiện thì đủ từ GIÁO
đến SỰ, từ tự lợi đến lợi tha. Ngài Hám Sơn nói “Phương
tiện là các pháp quán, hạnh, tu, đoạn”. Vậy ĐẦY ĐỦ
PHƯƠNG TIỆN là, công hạnh đã tròn, hoặc nhiễm đã hết,
chỉ là một nguồn tâm chân thật.
NHẤT
NIỆM TƯƠNG ƯNG là chỉ cho cái trí đoạn được phần tập
khí cuối cùng, thủy giác hợp nhất hoàn toàn với bản giác.
TƯỚNG SANH hay NIỆM VI TẾ là chỉ cho Nghiệp Tướng, là động
niệm tối sơ của tâm biến khởi. Động niệm vi tế này
là động niệm đầu tiên làm chỗ nương cho Năng Kiến và
Cảnh Giới xuất hiện. GIÁC TƯỚNG SANH chính là giác cái
niệm làm tâm động đó. Nên nói GIÁC TÂM SƠ KHỞI. Ngài Hiền
Thủ nói “TÂM SƠ KHỞI là, căn bản vô minh y nơi giác nên
có mê mà làm động tâm tịnh ấy, khiến niệm vi tế sanh
khởi, nay nhờ giác mà biết nếu rời bản giác thì không
có bất giác, tâm động ấy vốn tịch diệt. Như do lầm phương
hướng mà đông thành tây. Hết lầm thì tây chính là đông,
phương tây hoàn toàn không có, nên nói TÂM KHÔNG CÓ TƯỚNG
SƠ. Ở 3 cái giác trước, mỗi cái đều có sở giác[14]
vì động niệm chưa hết, nên chỉ nói niệm không có tướng
dị, tướng trụ v.v... Đây ở địa vị cứu cánh, động
niệm đều hết, chỉ là nhất tâm, nên nói tâm không có tướng
sơ vậy”.
Cho
nên Tudala nói “Nếu có chúng sanh hay quán vô niệm thì hướng
về trí Phật”.
Đây
là câu kết luận sau khi đã giải bày toàn bộ 4 tướng
THỦY GIÁC. Chỗ tột cùng cần đến thì vô niệm. VÔ NIỆM,
hiểu đơn giản là không khởi niệm. Pháp tánh chân như ấy
hoàn toàn không có niệm tưởng hư vọng. Vì thế, tu để
trở về nguồn cội chân thật thì phải quán vô niệm. QUÁN
VÔ NIỆM là quá trình tu hành được giải bày từ phần ‘tương
tợ giác’ đến ‘cứu cánh giác’ trên. TRÍ PHẬT là chỉ
cho cội nguồn nhất tâm chân như. CHÚNG SANH là chỉ chung cho
tất cả thánh, phàm, tăng, tục chưa thành Phật. Bất kể
là tăng hay tục, ai thực hành được cái quán vô niệm ấy
trong tất cả thời thì người đó đang hướng về trí Phật.
Nói là HƯỚNG vì còn QUÁN.
Lại
tâm khởi, không có tướng sơ có thể biết mà nói biết tướng
sơ chính là vô niệm. Cho nên, tất cả chúng sanh chẳng gọi
là giác, vì từ xưa đến nay niệm niệm tương tục, chưa
từng ly niệm, nên nói vô thủy vô minh.
LẠI
TÂM KHỞI là lập lại câu nói giác tâm sơ khởi trên. Chẳng
phải khi giác mà biết có tướng sơ nên nói “KHÔNG CÓ tướng
sơ có thể biết”. Đã không có tướng sơ có thể biết
vì sao lại nói biết tướng sơ? Giải thích rằng, nói biết
tướng sơ chính là vô niệm. Như khi hết lầm thì biết tây
chính là đông, hoàn toàn không có tướng tây có thể biết.
Nói biết tướng tây chính là đông vậy.[15]
CHO
NÊN, là từ những điều vừa nói đó mà ngẫm ra điều kế
tiếp đây. “TẤT CẢ chúng sanh chẳng gọi là giác”. Vì
sao chẳng gọi là giác? Vì chưa từng rời khỏi niệm, dù
chỉ là một ý tưởng MUỐN LY thoáng qua trong đầu. Không
ai dám nghĩ rằng, không có suy nghĩ và những cảm giác vui
buồn đây mà con người sống được. Thật ra, càng ít niệm
tưởng, định kiến bao nhiêu sống càng khỏe, càng hạnh phúc
bấy nhiêu. Chưa từng giác tức chưa từng tỉnh. Không tỉnh
tức là mê. Mê nên gọi là vô minh. Cái vô minh này không biết
có mặt từ bao giờ nên nói là VÔ THỦY VÔ MINH. Vô thủy
là không có bờ mé ban đầu. Không có bờ mé ban đầu vì
vô minh này không có chất thật, không thật nên không tìm
được chỗ khởi đầu của nó. Minh và vô minh chỉ là 2 mặt
duyên khởi của một chân tâm thường trụ bất biến mà thôi.
Nếu
được vô niệm thì biết sanh, trụ, dị, diệt là tướng
của tâm, vì đồng vô niệm, thật không có sự biến khác
của thủy giác. Vì tứ tướng đồng thời có, đều không
tự dựng lập, xưa nay bình đẳng, đồng một giác.
NẾU
ĐƯỢC VÔ NIỆM là khi thủy giác đã hợp nhất với bản
giác, khi pháp thân đã hiển lộ hoàn toàn. VÌ ĐỒNG VÔ NIỆM
là cái nhân (điều kiện) để biết 4 tướng sanh, trụ, dị,
diệt là tướng của tâm. Vì sao gọi là tướng của tâm?
Vì tâm vô niệm chính là bản thể của 4 tướng ấy. Chúng
là mặt duyên khởi của một bản thể vô niệm chứ bản
thân chúng không có tự thể riêng. Là SANH vì có DIỆT và
TRỤ. DIỆT và TRỤ là nhân khiến lập tướng SANH. Nói là
DIỆT vì có SANH và TRỤ. DIỆT là nhân để SANH và TRỤ được
lập thành. Tướng DỊ không rời tướng TRỤ mà có. 4 tướng
ấy luôn là duyên khởi của nhau nên có thì đồng có, không
thì đồng không, không có thứ lớp trước sau như ta đang
thấy hiện nay. Hiện nay thấy vậy là do mê mà thấy.[16]
Cái đồng khởi, đồng mất này cho thấy 4 tướng ấy không
có tự tánh. Vì nếu có tự tánh thì SANH không thể đồng
thời với DIỆT. Không tự tánh, xuất hiện nhờ duyên nên
nói KHÔNG TỰ DỰNG LẬP.
Trong
kinh Trung Bộ, Phật nói “Ai thấy được duyên khởi,
người ấy thấy pháp. Ai thấy được pháp người ấy thấy
duyên khởi. THẤY PHÁP là thấy được thật tướng
của vạn pháp, chính là trở về cội nguồn chân thật của
mình. THẤY DUYÊN KHỞI chính là trực nhận được chỗ nhân
quả đồng thời. Đã đồng thời thì thủy giác không có
thứ lớp trước sau nên nói “Không có SỰ BIẾN KHÁC của
thủy giác”.
XƯA
NAY tức khi nào cũng vậy. BÌNH ĐẲNG ĐỒNG MỘT GIÁC là nói
lên thật tướng của bất giác và thủy giác. Chẳng qua chỉ
do mê và ngộ mà thấy có tướng khác, không phải cái khác
này xuất phát từ chính bản thân chúng. Như nhặm mắt mà
thấy bóng đèn có vân tròn chung quanh, không phải bóng đèn
thay đổi từ cái không vân tròn sang có vân tròn. Một khi
mắt hết nhặm thì biết bóng đèn có vân chẳng qua chỉ là
bóng đèn không vân.
Lại
nữa, bản giác tùy nhiễm phân biệt sanh 2 tướng, cùng bản
giác kia chẳng tách rời nhau. Thế nào là 2? Một là Trí tịnh
tướng, hai là Bất tư nghì nghiệp tướng.
NHIỄM
tức là nhiễm ô. Như áo trắng vấy mực, người không uống
rượu nhưng ở gần người uống rượu rồi sinh uống rượu
… những hình thức như thế gọi là nhiễm. Vậy, nhiễm là
đối với tịnh mà nói, là chỉ cho những thứ mới huân,
không có gốc thật. Thập Bất Nhị Môn Chỉ Yếu nói về
sự NHIỄM ở tâm như sau “Lấy tâm trói buộc hiện tại
mà nhìn các pháp thì cái một và nhiều sẽ trở ngại lẫn
nhau, niệm niệm bám víu gọi là nhiễm”. Gọi NHIỄM PHÂN
BIỆT vì nhiễm là do phân biệt mà có.
BẢN
GIÁC TÙY NHIỄM cũng là một loại vọng tâm nhưng không phải
là loại vọng tâm gây nghiệp tạo tội của chúng sanh, mà
là cái vọng tâm hoàn tịnh, chính là chỉ cho tướng thủy
giác. Ngài Hiền Thủ nói “Thủy giác này không phải mới
khởi, chính là bản giác tùy nhiễm tạo ra”.
Vì
sao lại có tùy nhiễm? Ngài Hiền Thủ nói “Vì nếu lìa nhiễm
duyên thì chẳng thành được, nên nói tùy nhiễm”. Nghĩa
là, nhờ cái tùy nhiễm hoàn tịnh ấy mới có được 2 tướng
đây. Nên nói “Tùy nhiễm phân biệt SANH 2 tướng”. Bản
giác chính là thể tánh của 2 tướng ấy nên sanh rồi chẳng
rời bản giác thành CHẲNG TÁCH RỜI NHAU.
TRÍ
TỊNH TƯỚNG, nghĩa của nó nằm ở 2 từ TRÍ TỊNH. TRÍ TỊNH
là cái trí có được khi bản giác tùy nhiễm hoàn tịnh.
BẤT
TƯ NGHÌ NGHIỆP TƯỚNG, tương tự như phần Trí tịnh, nghĩa
của nó nằm ở mấy từ ‘bất tư nghì nghiệp’. NGHIỆP
là chỉ cho nghiệp dụng, là những cái dụng có được khi
bản giác tùy nhiễm hoàn tịnh. Cái dụng này không thể dùng
đầu óc suy nghĩ đây mà nghĩ ngợi bàn luận, nên nói BẤT
TƯ NGHÌ. Như 32 ứng thân của Quan Âm Đại Sĩ v.v… đều
là nghiệp dụng của bản giác tùy nhiễm hoàn tịnh.
Phần
sau là đi vào chi tiết của 2 tướng ấy.
B1a.
TRÍ TỊNH TƯỚNG là, y nơi pháp lực huân tập, như thật
tu hành, đầy đủ phương tiện, phá tướng thức hòa hợp,
diệt tướng tương tục của tâm, hiển bày pháp thân, trí
thuần tịnh.
NHƯ
THẬT TU HÀNH là chỉ cho những vị đã chứng được nhân
Phật tánh. Nương cái nhân vô sanh ấy mà tu chân như tam muội
không thủ, không niệm nên nói Y NƠI PHÁP LỰC HUÂN TẬP. Nói
HUÂN TẬP là muốn nói cái LÝ được trực nhận đó phải
quán suốt trên tất cả SỰ để LÝ - SỰ viên dung mà thể
nhập SỰ - SỰ viên dung. Phần PHÁP LỰC này, ngài Hiền Thủ
cũng như ngài Hám Sơn không chỉ cho nó là lực huân tập của
chân
như bên trong mà còn là lực huân tập của dòng giáo pháp
bên ngoài. Lấy đó tu tư lương gia hạnh thiện căn,[17]
chứng nhân vô sanh, đăng địa tu chân như tam muội.
ĐẦY
ĐỦ PHƯƠNG TIỆN, chỉ cho chỗ hành của Bồ tát địa tận.
PHÁ THỨC HÒA HỢP là phá vào phần nghiệp thức. Chính là
‘giác tướng sơ’ đã giải thích ở phần Cứu Cánh Giác.
Tướng thức hòa hợp đã phá, tức sanh diệt đã diệt, chỉ
còn cái thể không sanh diệt nên nói TRÍ THUẦN TỊNH.
TƯỚNG
TƯƠNG TỤC nói đây là chỉ cho tương tục vi tế. Kinh Lăng
Già gọi là lưu chú. Sơ Địa là đã phá thủng được tướng
tương tục của dòng vọng niệm, nhưng phải đến địa vị
tột cùng của Thập Địa mới dừng hết tương tục vi tế
của tâm mà thể nhập quả vị Phật.
Tùy
theo pháp thân hiển lộ từng phần hay viên mãn mà tướng
trí tịnh này có từng phần hay viên mãn.
Nghĩa
ấy thế nào? Vì tất cả tướng tâm thức đều là vô minh.
Tướng vô minh chẳng lìa giác tánh, chẳng thể hoại, chẳng
phải chẳng thể hoại. Như nước của đại dương, nhơn nơi
gió mà dậy sóng. Tướng nước và tướng gió chẳng rời
nhau mà nước chẳng phải là tánh động. Nếu gió ngừng,
tướng động ắt diệt nhưng tánh ướt chẳng hoại. Tự tánh
thanh tịnh của tâm chúng sanh cũng như vậy, nhơn gió vô minh
mà động. Tâm và vô minh đều không hình tướng, chẳng tách
rời nhau, mà tâm chẳng phải tánh động. Nếu vô minh diệt
thì tương tục ắt diệt mà trí tánh chẳng hoại.
NGHĨA
ẤY THẾ NÀO là để giải thích vì sao những tướng khác
như tướng hòa hợp, tương tục của tâm đều dứt mà tướng
TRÍ TỊNH lại có?
Tướng
tương tục và tướng hòa hợp đều diệt bởi nó thuộc phần
tâm thức sanh diệt. TÂM THỨC là chân tâm do động niệm mà
biến thành thức. Tướng sanh diệt có, chẳng qua là từ chỗ
không sanh diệt mà thành sanh diệt, như nước biển gặp gió
mà thành sóng. Hết gió thì hết sóng nhưng nước biển vẫn
còn. Không phải không gió, không sóng là không luôn nước.
Như vậy, sóng là tướng biểu trưng cho thể ướt của biển
khi ở trạng thái động, nước là tướng biểu trưng cho thể
ướt của biển khi ở trạng thái tĩnh. TRÍ TỊNH TƯỚNG chính
là phần nước đó, là tướng biểu trưng cho phần thể không
sanh diệt. Vì thế, khi không có gió vô minh thì các tướng
khác đều diệt, nhưng tướng của cái nguyên thể ban đầu
vẫn còn. Kinh Lăng Già nói “Chẳng phải tự tướng chân
thức diệt, chỉ là nghiệp tướng diệt”. Đây là nói gọn
lại phần ví dụ trên để dễ nắm vấn đề.
Sóng
biển thì làm lật thuyền, nhưng nước biển thì lại tải
thuyền. Cái tải ấy là dụng của nước khi ở thể tĩnh.
Cái dụng này chỉ cho phần BẤT TƯ NGHÌ NGHIỆP TƯỚNG nói
sau.
B1b.
BẤT TƯ NGHÌ NGHIỆP TƯỚNG là, y nơi Trí tịnh tướng
hay tạo mọi cảnh giới thù thắng vi diệu. Đó là, vô lượng
tướng công đức thường không đoạn dứt, tùy theo căn tánh
của chúng sanh, tự nhiên tương ưng với mọi thứ mà hiện
để được lợi ích.
Y,
là nương vào đó. Loại nghiệp dụng này chỉ có khi tướng
Trí tịnh đã xuất hiện. Nghĩa là, bản giác tùy nhiễm hoàn
tịnh rồi, mới có được loại nghiệp dụng chẳng thể nghĩ
bàn này, nên nói Y NƠI TRÍ TỊNH TƯỚNG.
CẢNH
GIỚI THẮNG DIỆU này, Thật Tánh Luận nói “Thân của chư
Phật Như Lai như hư không, không tướng. Chỉ vì các bậc
thắng trí mà làm thành cảnh giới 6 căn, thị hiện thành
sắc tướng trang nghiêm, phát ra âm thanh vi diệu, khiến người
người ngửi được giới hương của Phật, nếm được diệu
pháp của Phật, đạt được giác tam muội[18] mà thấu
được diệu pháp thâm sâu,[19] nên gọi là cảnh giới
vi diệu”. Cảnh giới này không phải chỉ Phật mới có.
Theo kinh Lăng Già, Bồ tát từ địa thứ ba trở đi đã có
thể hóa hiện ra vô số huyễn thân, tùy niệm thị hiện làm
lợi ích cho chúng sanh.
ĐÓ
LÀ, là giải thích “Trí tịnh tướng hay tạo mọi cảnh giới”
như thế nào. Là tùy theo căn tánh của chúng sanh mà hiện
để được lợi ích. LỢI ÍCH là, tạo đủ các loại hạnh
duyên hỗ trợ để giúp chúng sanh quay dần về bản tâm thanh
tịnh của mình. Hạnh duyên này, hình tướng của nó không
nhất định. Có thể là hình tướng trang nghiêm đầy đủ
lực dụng thần thông, biện tài vô ngại như Phật Thích Ca
Mâu Ni. Có thể là hình tướng dịu hiền của một Quán Thế
Âm hay hình tướng dữ tợn của một ngài Tiêu Diệm. Có thể
là hình tướng của một người đàn bà nghèo khổ xin ăn
cùng cực cùng đàn con nhỏ …[20]] Song dù là hình tướng
nào thì tất cả đều biểu trưng cho một thể TỪ BI vô hạn.
Vì sao nói vô hạn? Vì đều cùng mục đích là giúp chúng
sanh “Lìa tất cả khổ, đạt được cái vui rốt ráo”.
Ứng
thân và báo thân của chư Phật cũng như của chư vị Bồ
tát đăng địa đều tùy thuộc vào căn tánh của chúng sanh
mà hiện, nên tuy nói TẠO mà thật là không có tạo, chỉ
là CẢM nên ỨNG mà thôi. Phần CẢM ỨNG này là sự vi diệu
không thể nghĩ bàn của bản tâm thanh tịnh. Tâm của chúng
sanh càng thanh tịnh thì càng dễ gặp Phật. Vì thế nói “Vì
các bậc thắng trí mà làm thành cảnh giới lục căn”. THẮNG
TRÍ là chỉ cho những vị tâm tương đối thanh tịnh. Đây
là lý do vì sao vào thời đức Phật còn tại thế và sau đó
một ít thôi, chúng sanh đọc học kinh luận dễ dàng mà chứng
thánh đạo cũng nhiều. Vì căn tánh của họ vốn thắng diệu.
Vốn thắng diệu, họ mới gặp được Phật và cách thời
Phật ra đời không xa. Nói vậy không có nghĩa càng xa Phật
thì căn tánh của chúng ta càng lụn bại. Càng xa Phật mà
không tu tập thì căn tánh lụn bại là lẽ tất nhiên. Nhưng
càng xa Phật mà càng tu tập miệt mài thì tuy không thấy được
tướng Phật với 32 tướng tốt trang nghiêm, nhưng lại thể
nhập được chính ông Phật vô tướng, vô trụ mà Phật cùng
chúng sanh đồng có.
Cái
ứng và cảm này cho thấy DUYÊN KHỞI chi phối mọi sự mọi
vật ở thế gian. Không có thứ gì tự xuất hiện một mình
mà đều có nhân có duyên. Phật pháp cũng như thế. Phải
có nhân có duyên không có gì tự khởi. Trí và bi của chư
Phật đầy đủ trùm khắp, nhưng chúng sanh không có căn lành,
không biết hướng về, tức không cảm thì không có sự ứng
hiện. Cầu mà ứng chính là do công đức mình đã tu tạo
nhiều đời trước đây. Không cầu mà ứng bởi căn lành
quá thành thục. Như nước và mặt trăng, chỗ nào nước trong
không bị che chắn thì trăng liền hiện.
CÔNG
ĐỨC nói đây là chỉ cho trí tuệ thanh tịnh nhiệm mầu không
có bờ mé của pháp tánh chân như, nên nói THƯỜNG KHÔNG ĐOẠN
DỨT.
Lại
nữa, tướng giác thể có 4 nghĩa đại, đồng với hư không
và giống như kính sạch trong.
GIÁC
THỂ là nói về thể của cái giác, chính là bản giác hay
tâm chân như. Giác thể này có 4 tướng. Vì giác thể rộng
lớn không bờ mé, bao hàm tất cả như hư không, nên nói là
ĐẠI. Lại tròn sáng mà hay hiện như kính sạch trong, nên
lấy hư không và kính làm dụ.
Thế
nào là 4?
1.
NHƯ THẬT KHÔNG KÍNH, xa lìa tất cả tướng cảnh giới của
tâm, không pháp có thể hiện, chẳng phải nghĩa giác chiếu.
Đây
là nghĩa NHƯ THẬT KHÔNG đã nói ở phần Tâm Chân Như. Nói
NHƯ THẬT bởi cái không này là THỂ TÁNH chân thật của tất
cả pháp.
TƯỚNG
CẢNH GIỚI là chỉ cho thân, căn và cảnh giới ta đang có
đây. Nó cũng chỉ cho ‘cảnh giới chứng’ còn trong vòng
năng giác - sở giác. Hành thiền mà còn thấy có cảnh giới
- dù cảnh giới ấy sáng rực không có bờ mé như hư không
- thì cảnh giới ấy vẫn là cái bị thấy, chưa phải là
cái THỂ như thật không này. Gọi là CỦA TÂM, vì tất cả
tướng cảnh giới đều không ngoài tâm mà có. Không ngoài
tâm nên tất cả đều không có chất thật, chỉ do vọng niệm,
vọng giác mà thành. Như mắt bịnh mà thấy hoa đốm trên
hư không. Hoa đốm vốn không thật có. Tướng cảnh giới
kia cũng vậy. Do tâm bịnh mà tướng cảnh giới xuất hiện.
Cảnh giới vốn không. Nên nói “XA LÌA tất cả …”.
Dùng
KÍNH để dụ cho cái NHƯ THẬT KHÔNG thì biết cái như thật
không ấy tính nó hay hiện vật. Đây nói “Không pháp có
thể hiện” là do vật vốn không, không phải kính ấy không
có tính hay hiện. Lìa năng giác - sở giác mới thấu được
tánh thể này nên nói KHÔNG PHẢI NGHĨA GIÁC CHIẾU.
2.
NHÂN HUÂN TẬP KÍNH, là như thật bất không. Tất cả cảnh
giới thế gian đều từ trong đó mà hiện, chẳng ra chẳng
vào, chẳng mất chẳng hoại, nhất tâm thường trụ, vì tất
cả pháp tức là tánh chân thật. Lại, tất cả nhiễm pháp
đều chẳng thể nhiễm, trí thể bất động, đầy đủ vô
lậu huân chúng sanh.
Đây
là nghĩa NHƯ THẬT BẤT KHÔNG ở phần tâm chân như. Gọi là
NHÂN HUÂN TẬP bởi cái thể này là chỗ HUÂN TẬP của các
chủng tử, chính là sở nhân y của tất cả pháp. Gọi là
SỞ NHÂN Y vì nó là chỗ Y TỰA của tất cả pháp, cũng là
NHÂN làm phát sanh vạn pháp. Nhiễm tịnh y nơi chánh nhân quả
của mười phương pháp giới đều hiển hiện tại nhất tâm
này, như gương sáng hiện tất cả sắc tượng, rời gương
thì không có hình tượng, nên nói “TẤT CẢ CẢNH GIỚI thế
gian đều từ trong đó mà hiện”.
CHẲNG
RA CHẲNG VÀO … là muốn hiển bày vạn pháp chỉ là bóng
dáng của tự tâm, không có tự tánh của riêng nó. Thấy ra
thấy vào chỉ là do mê mà thấy. Ngài Hiền Thủ nói “Phải
đợi huân tập mới hiện các pháp, không phải không huân
mà tự hiện được, nên nói CHẲNG RA. Không có tâm năng huân
thì không có pháp, pháp không từ ngoài vào, nên nói CHẲNG
VÀO. Tuy pháp không từ trong ra, không từ ngoài vào, song vì
duyên khởi mà pháp hiển hiện, không phải là không, nên nói
CHẲNG MẤT. Do duyên tụ khởi mà thành, không có xuất xứ,
chẳng khác chân như, nên nói CHẲNG HOẠI. Như ảnh trong gương,
dao chẳng thể chém. Vì đồng với gương nên chẳng thể hoại
vậy”.
NHẤT
TÂM THƯỜNG TRUï vì nhất tâm chân như chính là thể của
các tướng ấy. Như cảnh vật hiện trong gương và gương
không phải một, nhưng bản chất của cảnh vật ấy lại
chính là gương, tức vật và gương không khác. Vì cái KHÔNG
KHÁC ấy mà nói “Pháp ấy tức là tánh chân thật”. Vì
cái KHÔNG MỘT ấy mà nói “Tất cả nhiễm pháp đều chẳng
thể nhiễm”. CHẲNG THỂ NHIỄM vì cảnh đến thì hiện cảnh,
vật đến thì hiện vật, nó không có tánh lưu giữ khi vật
và cảnh đã không. Chính cái tánh không lưu giữ ấy mà ta
biết mặt gương dù chất đầy cảnh tượng, thể của gương
vẫn trong. Chẳng nhiễm nên nói TRÍ THỂ BẤT ĐỘNG. [21]
ĐẦY
ĐỦ VÔ LẬU là chỉ cho pháp tánh chân như đầy đủ công
đức thanh tịnh. HUÂN CHÚNG SANH là tự thể ấy làm nhân huân
tập bên trong, khiến người chán cái khổ sanh tử, thích cầu
cái vui niết bàn.
3.
PHÁP XUẤT LY KÍNH, là pháp bất không thoát phiền não ngại
và trí ngại, lìa tướng hòa hợp, thuần thanh tịnh và sáng
suốt.
XUẤT
LY nghĩa là rời bỏ, thoát khỏi. Gọi là XUẤT LY KÍNH vì
pháp bất không ấy thoát khỏi sự trói buộc của phiền não
và sở tri. PHÁP là chỉ cho pháp tánh chân như. PHIỀN NÃO
NGẠI và TRÍ NGẠI là chỉ cho phiền não chướng và sở tri
chướng. Phá được 2 chướng này chính là phá được tướng
hòa hợp giữa sanh diệt và không sanh diệt, nên nói LÌA TƯỚNG
HÒA HỢP. Như gương, không còn bụi bặm thì mặt gương bóng
sạch trong suốt hiển bày, nên nói “thuần thanh tịnh và
sáng suốt”. THUẦN nghĩa là không có gì khác ngoài sự thanh
tịnh và sáng suốt ấy. Đây là lúc thủy giác và bản giác
hợp nhất.
4.
DUYÊN HUÂN TẬP KÍNH, là y pháp xuất ly nên chiếu khắp tâm
chúng sanh, khiến tu thiện căn, tùy niệm thị hiện.
Kính
thứ hai trên nói về NHÂN huân tập. Đây, nói về DUYÊN huân
tập. Gọi là duyên vì nó làm ngoại duyên giúp chúng sanh tu
tập thiện căn. Phần này tương đương với phần dụng Bất
tư nghì nghiệp tướng nói trên. Song đây nói ngay THỂ, kia
nói ở TRÍ. Một bên là y nơi pháp xuất ly, tức ngay nhân
tức quả mà nói. Một bên là y nơi bản giác tùy nhiễm hoàn
tịnh, là quá trình từ nhân đến quả.
Cái
dụng này chỉ có khi tâm đã qua được 2 chướng trong phần
Xuất Ly Kính trên, nên nói Y PHÁP XUẤT LY. PHÁP XUẤT LY chính
là giác thể mà Phật cùng chúng sanh đồng. Ngài Hám Sơn nói
“Trước, là chúng sanh vốn có Phật tánh làm nhân nội huân.
Nay tu hành thì lìa chướng xuất triền, chứng được pháp
thân, tức hay chiếu khắp tâm chúng sanh mà khởi đồng thể
đại bi, hiện mọi thứ thân tướng để điều phục chúng
sanh, làm duyên ngoại huân. Đại viên cảnh bình đẳng hiển
hiện, cùng tâm chúng sanh chiếu sáng lẫn nhau. Chỉ vì chúng
sanh mê mà chẳng biết. Trí giác tròn sáng nên hay chiếu khắp”.
TÙY
NIỆM THỊ HIỆN là tùy tâm niệm của chúng sanh mà hiện hóa
thân, báo thân làm lợi ích cho chúng sanh.
B2.
BẤT GIÁC là, chẳng biết đúng như thật pháp chân như
toàn nhất, bất giác tâm khởi mà có niệm. Niệm không có
tự tướng, chẳng lìa bản giác. Giống như người mê nương
nơi phương hướng mà lầm. Nếu lìa phương hướng thì không
lầm. Chúng sanh cũng vậy. Y giác nên mê. Nếu lìa giác tánh
thì không có bất giác. Vì có tâm vọng tưởng bất giác nên
hay biết danh nghĩa mà nói chân giác. Nếu lìa tâm bất giác
thì không có tự tướng chân giác có thể nói.
BẤT
GIÁC là đối với GIÁC mà nói. BẤT GIÁC thì không phải giác.
Tự tánh chân như do không tự tánh nên không tự giữ mà vọng
động. Cái động đó là do BẤT GIÁC mà có. BẤT GIÁC vì
chẳng biết đúng như thật về một cái toàn nhất.
Bản
giác biểu trưng cho cái không động. Nay động nên gọi là
bất giác. Bất giác thì khởi niệm. Niệm này là do bản giác
vọng động mà có, nên nó không có tự thể riêng mà thể
của nó chính là bản giác, nên nói “Niệm không có tự tướng,
chẳng lìa bản giác”. Như sóng lăn tăn từ nước mà có,
thể của nó vẫn là nước.
GIỐNG
NHƯ NGƯỜI MÊ … là ví dụ để hiểu bất giác nương nơi
giác mà có. Bất giác không phải là bản giác, nhưng không
lìa bản giác. GIÁC TÁNH là chỉ cho thể tánh của cái giác,
chính là bản giác, là cái thể ‘như thật không’ nói trên.
Có
bất giác nên có niệm tưởng, có niệm tưởng nên có ngôn
từ, văn tự. DANH là chỉ cho tướng, hình thức. NGHĨA là
chỉ cho nội dung, tính chất, ý nghĩa. Cũng như từ chân như,
lập ra CHÂN GIÁC vì có bất giác. Bất giác đã không thì
chân giác cũng chẳng thể nói. Bởi nó là thứ không năng
giác - sở giác, không năng kiến - sở kiến nên không thể
lấy tri thức đây mà suy lường hay nói năng.
Đây
là nêu bày mặt duyên khởi của chân giác và bất giác. Không
có chân giác thì không có bất giác mà không có bất giác
thì cũng không lập chân giác, chỉ là một thể thường trụ
không sanh không diệt, không đến không đi. Duyên khởi nên
ngay bất giác chính là giác. Ngay cái sanh diệt chính là cái
không sanh diệt. Ngay cái mê ấy mà biết là mê, chính là giác.
Như người ngủ rồi mộng, ngay trong mộng mà biết mình đang
mộng thì lúc ấy không mộng.
Lại
nữa, y bất giác nên sanh 3 thứ tướng, cùng với bất giác
kia tương ưng chẳng lìa.
Y BẤT
GIÁC NÊN SANH … tức bất giác là nhân sanh ra 3 thứ tướng.
TƯƠNG ƯNG nghĩa là phù hợp không trái nghịch, như nắp đi
đôi với nồi. Cùng bè cùng lứa gọi là tương ưng. Phải
có nhân bất giác mới có quả là 3 tướng, không có bất
giác thì không có 3 tướng nên nói CHẲNG LÌA.
Tướng
trước là nhân để tướng sau sanh khởi. Theo thứ tự trước
sau có tất cả 9 tướng, khiến chân tâm thanh tịnh vô tướng
khởi sanh thế giới, chúng sanh, nghiệp quả, luân hồi …
nối tiếp vô hạn định.
Thế
nào là 3?
I.
VÔ MINH NGHIỆP TƯỚNG : Vì y bất giác nên tâm động mà
gọi là nghiệp. Giác thì bất động. Động tức có khổ vì
quả chẳng lìa nhân.
Nghĩa
VÔ MINH, ngài Hàm Thị nói như sau “Trong Như Lai Tạng thật
có 2 nghĩa minh và vô minh. Minh, là giác thể vốn minh. Vô minh,
là giác thể vốn không tánh, vì cực chân nên không phân biệt,
trong cái không phân biệt ấy mà trạm nhiên thường trụ -
gọi là diệu, trong cái không phân biệt mà mờ mịt chẳng
tỉnh - gọi là vô minh”. Bị cái lực mờ mịt ấy mà tâm
không còn ở trạng thái tĩnh lặng nên gọi là động. Tướng
động ấy gọi là NGHIỆP TƯỚNG. Nghiệp tướng là nói về
tướng nghiệp. Nghiệp là chỉ cho hành động hoặc sự tạo
tác. Không tĩnh lặng mà đã có vọng động nên gọi là nghiệp.
Gọi VÔ MINH NGHIỆP TƯỚNG vì tướng nghiệp ấy do vô minh
mà có.
Bản
chất của bất động là thường, lạc, ngã, tịnh. Động
thì ngược lại với bất động, lại chính từ cái động
ấy mà sanh ra 9 tướng trong phần Bất Giác đây, khiến chúng
sanh chịu nhiều sanh tử khổ não, nên nói “Động tức có
khổ, vì quả chẳng lìa nhân”. NHÂN là chỉ cho Nghiệp Tướng.
QUẢ là chỉ cho tướng Nghiệp Hệ Khổ, là tướng cuối cùng
trong 6 thô.
Ngài
Hiền Thủ nói “Đây tuy động, nhưng động niệm này rất
vi tế. Duyên khởi mà thành nhất tướng, năng sở chưa phân.
Chính là phần tự thể của thức Alaida”.
II.
NĂNG KIẾN TƯỚNG : Vì y động nên hay thấy. Bất động
thì không có thấy.
KIẾN
nghĩa là thấy. NĂNG là chỉ cho phần chủ thể. NĂNG KIẾN
là chỉ cho chủ thể hay thấy. Tuy nói là thấy nhưng không
nhất định phải có mắt mới thấy, mà sự rõ biết của
tâm thức cũng gọi là thấy. Điều này sẽ được nói rõ
ở phần Cảnh Giới Tướng sau.
Nói
NĂNG là do đối với SỞ mà nói. Sở kiến là chỉ cho Cảnh
Giới Tướng dưới. Phần Năng Kiến này là do Nghiệp Tướng
chuyển thành, nên nói “Y động nên hay thấy”. Tuy là do
bất giác mà có, nhưng nó là cái thấy chưa bị nhiễm ô bởi
sự phân biệt của Trí Tướng và Tương Tục Tướng. Kinh
Lăng Nghiêm gọi nó là KIẾN TINH, là cái thấy còn tinh ròng.
Có sự vọng động của Nghiệp Tướng mới có Năng Kiến,
không có sự vọng động đó thì không có Năng Kiến, nên
nói “Bất động thì không có thấy”.
III.
CẢNH GIỚI TƯỚNG : Vì y Năng Kiến mà vọng hiện cảnh
giới, lìa Kiến thì không có cảnh giới.
CẢNH
GIỚI TƯỚNG, ngài Hám Sơn giải thích là hư không và tứ
đại. Trong phạm vị xa nguồn hiện nay, cảnh giới mà một
chúng sanh hữu tình đang thọ nhận chính là Cảnh Giới Tướng.
Như với Nhân đạo thì Cảnh Giới Tướng chính là thế giới
con người đang sống bao gồm cả thân và các căn, còn tâm
thuộc về Năng Kiến.
Vì
có Năng Kiến mới có Cảnh Giới Tướng, nó là phần SỞ
KIẾN của tướng Năng Kiến này, nên nói Y NĂNG KIẾN. Không
có Năng Kiến thì không có Cảnh Giới Tướng nên nói “LÌA
KIẾN thì không có Cảnh Giới”. Nói VỌNG HIỆN vì cảnh
giới này không có thật thể, chỉ do tâm bất giác mà vọng
thấy có cảnh giới. Như đi trong sa mạc, do ảo giác mà thấy
có nước. Nước ấy vốn không thật có. Cái thấy do ảo
giác ấy chỉ cho Năng Kiến. Nước chỉ cho Cảnh Giới Tướng.
Đây là do mê Như Lai Tạng mà thấy dường như có thân căn
và cảnh giới trước mắt, nên nói VỌNG HIỆN.
Quá
trình biến khởi từ chân tâm ra cảnh giới chúng sanh được
giải rõ trong kinh Lăng Nghiêm như sau : Khi ngài Phú Lâu Na hỏi
“Tánh bản nhiên thanh tịnh vì sao bỗng nhiên sanh ra núi,
sông, đất liền cùng các thứ hữu vi thứ lớp dời đổi…
?”. Trả lời từng chi tiết xong, Phật kết luận “… Đều
do tánh rõ biết sáng suốt của giác minh. Nhơn rõ biết mà
phát ra tướng. Từ cái vọng thấy mà sanh ra núi, sông, đất
liền cùng các tướng hữu vi thứ lớp dời đổi …”. Nhơn
rõ biết mà phát ra tướng thì cái tướng được thấy đầu
tiên là SỞ MINH. Sở minh chính là MINH. Song gọi là sở minh
vì cái minh ấy trở thành đối tượng mà ta nhận biết được.
Nghĩa
là, GIÁC TÁNH vốn là minh, song TÁNH thì không rơi vào năng
sở, nên cái MINH này không phải là đối tượng để ta thấy
được. Do không tự tánh, không thể tự giữ nên có Nghiệp
Tướng. Có nghiệp tức có sự chuyển biến mà sanh ra sở.
Chính là SỞ MINH. Sở lập thì năng sanh,[22] chỉ cho Năng
Kiến Tướng. Nói năng - sở vì trạng thái sáng chiếu thanh
lương ấy vẫn là thứ mà ta cảm nhận được, không phải
vì nó tách biệt thành chủ thể và đối tượng rõ rệt như
ta thấy hiện nay. Chỉ thuần là một GIÁC MINH thanh tịnh.
Đây là cảnh giới niết bàn của các vị Duyên giác. [23]
Khi
sở minh được lập tức giác tánh bị che mờ. Giác tánh đã
mờ thì minh ẩn mà vô minh hiện, nên xem trở lại đồng như
mờ tối, chính là hư không. Hư không mờ tối không chủ thì
động tịnh so nhau nên đối đãi mà thành dao động, sanh ra
phong luân nắm giữ thế giới. Do sự dao động mà minh giác
càng thêm cứng chắc nên có kim luân giữ gìn cõi nước. Phong
đại và kim bảo cọ xát với nhau nên có lửa sáng. Ánh sáng
của kim bảo thấu suốt trong ngoài như thủy tinh có hơi đượm
ướt, thêm lửa liền biến thành chất lỏng nên có thủy
đại trùm khắp mười phương v.v…[24] Đây là nói về
quá trình biến khởi của hư không và tứ đại từ chân thể
thanh tịnh. Từ hư không tứ đại ấy mới phát sanh núi, sông,
đất liền và các pháp hữu vi. Tất cả đều thuộc Cảnh
Giới Tướng.
SỞ
MINH là phần sở kiến tế, khi ấy chưa có thế giới và thân
căn của chúng sanh, nên nói “không nhất định phải có mắt
mới thấy mà sự rõ biết của tâm thức cũng gọi là thấy”.
Chưa có căn thân vì sao lập bày Năng Kiến? Vì sự rõ biết
về cái sáng chiếu ấy không thể là nghe, ngửi hay nếm mà
chỉ có thể là thấy, nên đây lập Năng Kiến và cũng chỉ
lập Năng Kiến chứ không thể lập gì khác.
Vì
có cảnh giới làm duyên lại sanh 6 tướng.
CẢNH
GIỚI LÀM DUYÊN vì Năng Kiến là nhân. Nhân duyên đầy
đủ thì trổ quả, nên nói SANH 6 TƯỚNG.
Thế
nào là 6?
1.
TRÍ TƯỚNG : Y nơi Cảnh Giới, tâm khởi phân biệt mà
có yêu thích cùng chẳng yêu thích.
Nói
TRÍ TƯỚNG thì nghĩa của nó nằm ở chữ TRÍ. Nên tuy nói
“Tâm khởi phân biệt mà có yêu thích cùng chẳng yêu thích”
nhưng phần chính chỉ nằm ở mấy chữ KHỞI PHÂN BIỆT mà
thôi. Song vì sao lại có thêm yêu thích cùng chẳng yêu thích?
Vì phải có phần YÊU THÍCH cùng CHẲNG YÊU THÍCH thì trí này
mới thuộc bất giác, Thiền sư Tổ Nguyên nói “Khéo hay phân
biệt mà chẳng sanh yêu ghét, gọi là huệ”.
Phân
biệt mà sanh yêu ghét là do không biết cảnh giới trước
mắt chỉ là tướng sở hiện của hiện thức. PHÂN BIỆT
là thấy mình khác người, người khác người, vật khác vật
v.v… nói chung, những cái thấy rơi vào nhị biên đều gọi
là phân biệt. Vì thấy thứ nào cũng có tự tánh của riêng
nó, nên sanh tâm yêu thích hay không yêu thích. Song bản chất
của các pháp thì không tánh, chỉ do tự tâm bất giác vọng
hiện. Pháp không có thật thể mà lại nảy sanh yêu ghét thì
biết cái yêu ghét ấy là thứ để đánh giá TRÍ này bị
vô minh chi phối. Vì thế không chỉ nói “Tâm khởi phân biệt”
mà còn kèm theo “Có yêu thích cùng chẳng yêu thích”.
2.
TƯƠNG TỤC TƯỚNG : Y nơi Trí Tướng mà sanh ra khổ
vui, giác tâm khởi niệm tương ưng chẳng dứt.
Nghĩa
chính của đoạn này nằm ở mấy từ “Giác tâm khởi niệm
tương ưng chẳng dứt”. Y NƠI TRÍ TƯỚNG vì do phân biệt
ta, người, tốt, xấu … mới sanh quan niệm, suy nghĩ, cảm
giác ... niệm này nối tiếp niệm kia không dứt, kết thành
một sự tương tục chặt chẽ. Cái tướng nối tiếp liên
tục ấy gọi là TƯƠNG TỤC TƯỚNG. Vì ta hay hướng ra ngoài
để ý đến cảnh nhiều hơn đến tâm nên không thấy được
sự tương tục này.
Người
tu thiền chiếu phá vọng tâm, sẽ thấy được sự tương
tục không dứt này. Kinh Lăng Già phân nó này thành 11 thứ
sâu kín. Do chấp pháp và chấp vào nhị biên phân biệt mà
hình thành nên 11 loại này. Như chấp 5 ấm, chấp vô ngã,
chấp nhân duyên v.v... mà có tương tục. Ngài Hiền Thủ thì
phân thành 2 loại[25] là tha và tự như sau “Y nơi phân
biệt trước, đối với cảnh yêu thích thì khởi sự vui thích,
với cảnh chẳng yêu thích thì sanh đau khổ buồn phiền. Mỗi
mỗi khởi niệm mà tương tục hiện tiền, đây là để rõ
cái TỰ tương tục. Lại hay khởi hoặc làm nhuận thấm thêm
nghiệp duy trì sanh tử, đây là cái THA tương tục”.
3.
CHẤP THỦ TƯỚNG : Y nơi Tương Tục, duyên niệm cảnh
giới, duy trì sự khổ vui, tâm khởi dính mắc. CHẤP
là chẳng chịu xa lìa. THỦ là nắm giữ. Nghĩa của nó tương
đương với từ DÍNH MẮC thêm nghĩa DUY TRÌ.
DUYÊN
NIỆM CẢNH GIỚI là chú ý đến cảnh, rồi duyên lấy cảnh
ấy mà sanh ra sự khổ, vui. KHỔ VUI là 2 trạng thái đối
nghịch của tâm thức. Nóùi khổ vui nhưng là nói tất cả
những trạng thái khởi lên trong tâm như tham, sân, thích thú,
đau khổ v.v… Chúng đều biểu hiện cho việc duyên niệm
cảnh giới. Do tâm dính mắc với cảnh mà sanh ra những trạng
thái đó. Dính mắc còn biểu hiện ở việc không yên lòng
với chính mình mà cứ hướng ra ngoài bám vào âm thanh, sắc
tướng … như cần một cuốn sách để đọc, cần một ai
đó để nói chuyện, không chịu được sự tĩnh lặng v.v…
Ngược lại, không chịu được sự ồn náo mà chỉ thích
chỗ tĩnh lặng cũng biểu hiển cho tâm dính mắc. Song dính
mắc vào sự tĩnh lặng dù gì cũng gần đạo hơn dính mắc
vào cảnh bên ngoài.
DÍNH
MẮC có, là do sự tương tục của dòng vọng niệm làm nhân,
cảnh giới trước mắt làm duyên mà thành sự. Sự tương
tục của dòng vọng niệm chính là sự nối kết liên tục
những định kiến và quan niệm của mỗi người về thế
giới mình đang sống. Vì lấy những thứ đó làm nền tảng
để đánh giá so đo vạn pháp, nên thuận thì sanh vui thích
rồi muốn nắm giữ, nghịch thì sanh khổ lạc và muốn xa
lìa. Cả 2 đều chỉ cho sự dính mắc, chính là Chấp Thủ
Tướng.
4.
KẾ DANH TỰ TƯỚNG : Y nơi vọng chấp, phân biệt tướng
danh ngôn hư dối.
KẾ
là tính toán so đo. PHÂN BIỆT nói đây mang nghĩa suy tính so
đo nhiều hơn là sự phân biệt của Trí Tướng. Trí Tướng
chỉ có phân biệt chứ chưa bị sự chi phối của Tương Tục
Tướng và Chấp Thủ Tướng. Phân biệt của Trí Tướng khiến
tâm tương tục không dứt, song nó chưa có tác dụng tạo nghiệp
như sự phân biệt ở đây. Vì vậy Bồ tát ở các địa dưới,
tuy còn trí phân biệt nhưng không bị dòng nghiệp lực chi
phối tạo nghiệp như chúng sanh.
VỌNG
CHẤP là chỉ cho tướng Chấp Thủ trên. Gọi là VỌNG vì
nó chỉ là thứ hư dối, do huân tập lâu đời mà thành, không
có thật thể. Song do sự dính mắc ấy mà trên cảnh sở thủ
mới nảy sanh tâm suy lường rồi tạo nghiệp.
DANH
NGÔN là chỉ cho danh và ngôn thuyết. Gọi là DANH nhưng trong
đó gồm đủ cả danh và tướng. Bởi có tướng mới lập
danh. NGÔN là ngôn thuyết vọng tưởng. Ba thứ danh, tướng
và vọng tưởng này đi liền với nhau. Kinh Lăng Già nói “Tướng
và danh theo nhau mà sanh các vọng tưởng”. Nói chúng HƯ DỐI
vì tướng là từ tâm biến hiện không có thật thể. Danh
và vọng tưởng là y nơi cái không thật thể ấy mà lập,
nên cũng không có thật thể.
5.
KHỞI NGHIỆP TƯỚNG : Y nơi danh tự, tìm danh thủ trước,
tạo mọi thứ nghiệp
KHỞI
NGHIỆP là khởi lên hành động, tạo tác. Nghĩa chính của
nó nằm ở mấy từ TẠO MỌI THỨ NGHIỆP. Làm các việc thiện
gọi là khởi nghiệp thiện. Làm các việc ác gọi là khởi
nghiệp ác. Song đây đang nói về quá trình bất giác nên chỉ
nói đến nghiệp ác chứ