Phần
LỢI ÍCH VÀ KHUYÊN TU
Đã
nói về phần Tu Hành Tín Tâm, giờ nói về phần Lợi Ích
Và Khuyên Tu. Như vậy tôi đã nói toàn bộ về Đại
thừa, bí tàng của chư Phật.
ĐÃ
NÓI … là kết phần trước, giới thiệu phần này. BÍ TÀNG
là kho tàng bí mật của chư Phật, chính là Đại thừa. Đây
là lời tổng kết của Luận chủ. Những gì là bí tàng của
Như Lai ngài đã nói tất cả nên nói NÓI TOÀN BỘ.
Nếu
có chúng sanh muốn vào cảnh giới thậm thâm của Như Lai,
được sanh chánh tín, xa lìa phỉ báng, bước vào con đường
Đại thừa thì phải trì luận này, tư lương, tu tập. Cuối
cùng sẽ đạt được đạo vô thượng.
Đây
là điều kiện để bước vào cảnh giới thậm thậm của
chư Phật. CẢNH GIỚI THẬM THÂM ấy là chân tâm diệu minh
của mỗi chúng sanh, là chỗ thâm sâu tối cùng của Đại
thừa. TRÌ là giữ gìn, nắm chặt. TRÌ LUẬN NÀY là muốn
nói đến việc nhận lãnh, thọ trì quyển luận. TƯ LƯƠNG
là tư duy, suy nghĩ. TU TẬP là thực hành những điều đã
tư duy ấy. Ngài Hám Sơn nói “Trì tức là văn tuệ, tư lương
tức là tư tuệ, tu tập tức là tu tuệ”. Đầy đủ 3 điều
ấy thì ĐƯỢC ĐẠO VÔ THƯỢNG, chính là cảnh giới thậm
thâm của Như Lai nói trên.
Nếu
người nghe pháp này rồi mà chẳng sanh khiếp nhược thì phải
biết, người này quyết định nối tiếp dòng giống Phật,
tất được chư Phật thọ ký.
Đây
hiển bày lợi ích của văn tuệ. NGHE PHÁP NÀY, là nghe về
pháp Đại thừa. Pháp này cũng có thể hiểu là bản thân
quyển luận đây, với đầy đủ 2 phần LÝ và SỰ ... Nghe
cả LÝ và SỰ như thế mà không sợ hãi thì người này quyết
định nối tiếp dòng giống Phật và được chư Phật thọ
ký.
KINH
SỢ là thế này, như có vị nghiên cứu Phật pháp rất lâu,
tánh không duyên khởi luận cũng rất dữ, đời sống khi nào
cũng nói tùy duyên, nhưng vừa nghe đến việc buông vọng tưởng,
giữ giới cấm của Như Lai đề ra, [42] liền quảy gót dời
chân. Nghĩa là, nghe cái ngoài da của Đại thừa thì kham được,
mà nhắc đến cái ruột rà của Đại thừa thì thối thân.
Song không có cái ruột ấy thì lấy gì làm THỪA để mà nói
ĐẠI? Đó là một dạng kinh sợ gọi là … vi tế. Ngoài ra,
không thấy sợ hãi nhưng nghe đến pháp này mà vội né xa,
dửng dưng, hoặc mới nghe đi chùa, tu hành, ăn chay, niệm Phật
mà mặt đổi sắc … Những dạng như thế đều thể hiện
cho cái kinh sợ này.
Song
vì sao lại kinh sợ? Vì pháp này là chỗ khó tin khó nhận,
vượt quá những suy nghĩ thường tình của người đời. Vì
nói đến pháp này là nói đến việc hành trì tu tập bất
kể thời gian và trải dài sanh tử không nhàm mỏi để bạt
khổ cho chúng sanh. Không phải là người có túc căn sâu dày
thì không thể không sợ hãi. Thành câu nói thấy thì đơn
giản nhưng nghĩa lý của nó rất sâu. Nó nói lên quá trình
huân tập sâu dày của người tu, không phải là chuyện một
ngày một bữa. Cho nên, KHÔNG SỢ HÃI PHÁP NÀY thì biết chắc
chắn sẽ NỐI TIẾP DÒNG GIỐNG PHẬT vậy.
Giả
sử có người giáo hóa chúng sanh đầy cả tam thiên đại
thiên thế giới, khiến họ hành thập thiện, chẳng bằng
có người trong khoảng một bữa ăn suy nghĩ chín chắn pháp
này. Công đức của người này vượt hơn người trước chẳng
thể lấy gì ví dụ.
Đây
là công đức của người để tâm tư duy về pháp này. Dạy
người hành thập thiện không bằng để tâm suy nghĩ chín
chắn pháp này vì Thập thiện thuộc phúc báu trời người,
còn suy nghĩ chín chắn pháp này tức đang gieo cái nhân để
có cái quả là công đức pháp tánh. Công đức pháp tánh thì
vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, nên nói “CÔNG ĐỨC
CỦA người này vượt hơn người trước chẳng thể lấy
gì ví dụ”.
Chưa
tu tập mà chỉ mới suy nghĩ chín chắn về pháp này, công
đức đã hơn hẳn bậc thiện tri thức dạy người hành thập
thiện. Người hành thập thiện thì công đức sao bằng bậc
thiện tri thức dạy người? Huống là chưa hành được thập
thiện mà chỉ mới làm phúc, bố thí? Song ai cũng thích làm
phúc, bố thí hơn là suy nghĩ chín chắn pháp này trong khoảng
một bữa ăn. Vì làm phúc bố thí thì dễ mà vui, đọc kinh
đọc luận thì khó thành ngán. Chẳng qua là vì làm phúc bố
thí thuận với cái động của tâm. Tập trung suy nghĩ chín
chắn pháp này là phải gom cái động ấy vào một chỗ. Song
không lẽ nói khó rồi mình chỉ lấy việc làm phúc, bố thí
hay công quả làm kế sinh nhai cho vạn kiếp về sau?
Không
có thứ gì bước vào mà làm được ngay. Phải có thời gian
huân tập. Phải nắm được ý nghĩa và tác dụng của từ
HUÂN TẬP mà luận đã nói đây. Như ngồi thiền, lúc đầu
ngồi liền 30 phút hay 1 tiếng thì không thể ngồi được.
Nhưng nếu ngồi 5 hoặc 10 phút thì không phải chuyện khó
làm. Chỉ cần có quyết tâm là làm được. Ngày nào cũng
cố gắng như vậy. Quen rồi thì từ từ lên 20 phút, 30 phút
v.v... Cũng chỉ tập trung theo dõi hơi thở cho nhuần nhuyễn
thì chưa có gì khó khăn ... Huân tập một ngày một ít như
thế thì thứ gì cũng thành dễ dàng. Ngồi được 2 tiếng
lúc nào không hay. Đó là nói về ngồi thiền, khó hơn việc
suy nghĩ chín chắn nói đây. SUY NGHĨ CHÍN CHẮN là ngồi đọc
từng lời từng chữ của Tổ dạy một cách cặn kẽ, ngẫm
cho được nghĩa lý của Như Lai nói. Ngẫm chưa ra thì để
đó, từ từ lấy sự tu tập làm phương tiện sáng tâm rồi
ngẫm tiếp. Phần nào dễ như Tu Hành Tín Tâm, Nhân Duyên tạo
luận hay Lợi Ích và Khuyên Tu thì đọc trước, phần nào
khó để đó đọc sau. Đọc kinh luận thì không thể như đọc
tiểu thuyết của Quỳnh Dao hay kiếm hiệp của Kim Dung, nên
cũng phải áp dụng như phương pháp ngồi thiền trên. Lúc
đầu chỉ cần đọc 1/2 trang là đủ. Đọc 1/2 trang dễ rồi
thì đọc lên 1 trang. Cứ vậy mà tập trung đọc từ từ và
bắt đầu áp dụng tu tập. Hiện tại làm ít mà công đức
nhiều. Tương lai còn được cái vui rốt ráo.
Thấy
khó mà không huân tập thì cứ ngang đến mức làm phúc, bố
thí hay công quả là hết. Phúc dù đầy đủ bao nhiêu mà không
đủ chánh kiến thì chưa chắc đã lên được cõi trời. Khi
chết mà bốc đồng lại rơi vào hoàn cảnh chú voi nhà giàu
thời đức Phật. Song được phúc cõi trời cũng chưa hẳn
tốt, vì ở đó mình không có cơ hội làm phúc tiếp tục
để có lương thực cho những kiếp về sau. Hết phúc lại
chui vào đường dữ. Không bằng suy nghĩ pháp này, một ngày
vài dòng, rồi lên một ngày vài trang … cứ vậy mà huân
tập dần. Động bao nhiêu dần dần sẽ thành tịnh. Khó bao
nhiêu dần dần cũng thành dễ. Kiếp này huân tập được
bao nhiêu thì hay bấy nhiêu. Có huân tập thì kiếp sau sẽ
có đà huân tập tiếp. Giờ thấy khó bỏ mặc thì không bao
giờ có thể chín chắn suy nghĩ pháp này.
Lại
nữa, nếu người thọ trì luận này, quán sát tu hành trong
một ngày một đêm thì có vô lượng vô biên công đức chẳng
thể nói được. Giả như tất cả chư Phật ở mười phương
đều tán thán công đức của người này trong vô lượng vô
biên a tăng kỳ kiếp cũng chẳng thể hết. Vì sao? Vì công
đức pháp tánh thì vô tận. Công đức của người ấy cũng
lại như thế, không có bờ mé.
Đây
là công đức của người thực hành tu tập pháp này. Nêu
một ngày là để thấy công đức ấy to lớn thế nào nếu
chúng ta thực hành tu tập trong vô lượng vô biên kiếp. Công
đức ấy không có bờ mé.
Có
chúng sanh nào, đối với luận này, hủy báng chẳng tin, sẽ
bị tội báo qua vô lượng kiếp, chịu vô vàn khổ não. Cho
nên, chúng sanh chỉ nên kính tin, chẳng nên hủy báng. Vì chỉ
hại mình cũng hại cả người, đoạn tuyệt tất cả hạt
giống Tam bảo. Bởi tất cả Như Lai đều nương pháp này
mà được niết bàn, tất cả Bồ tát nhơn đây tu hành mà
được nhập Phật trí.
Nghe,
suy nghĩ, thực hành có công đức vô lượng thì không nghe,
không suy nghĩ, không thực hành sẽ không có công đức. Nếu
thêm cái tật HỦY BÁNG CHẲNG TIN thì sẽ chịu tội báo qua
vô lượng kiếp, chịu vô vàn khổ não. Vì thiện nghiệp tùy
thuận với pháp tánh chân như. Nếu hủy báng chẳng tin thì
chẳng hành thiện nghiệp, không hành thiện nghiệp thì quả
báo ở 3 đường dữ không tránh khỏi, nên nói “HỦY BÁNG
CHẲNG TIN sẽ chịu tội báo qua vô lượng kiếp, chịu vô
vàn khổ não”.
Kinh
là lời Phật nói, luận là lời Tổ nói … nếu chẳng tin,
tức không tin vào Tam bảo, nên nói “ĐOẠN TUYỆT tất cả
hạt giống Tam bảo”. Vì những cái hại nêu trên mà “Chúng
sanh chỉ nên kính tin, chẳng nên hủy báng”. Nói chung, những
gì mà chư Phật Tổ đã nói thì dù chưa tin, mình cũng không
nên phỉ báng. KHÔNG NÊN PHỈ BÁNG, vì cái thấy của mình
hiện nay bị hạn chế rất nhiều chứ không phải những điều
ấy không có. Như kẻ mù không thể thấy mặt trời, không
phải là mặt trời không có. Cho nên “Chỉ nên kính tin, chẳng
nên hủy báng”.
Phải
biết, Bồ tát quá khứ đã y pháp này mà được thành tịnh
tín. Bồ tát hiện tại cũng y pháp này mà được thành tịnh
tín. Bồ tát vị lai sẽ y pháp này mà được thành tịnh tín.
Vì vậy, chúng sanh cần nên tu học.
PHẢI
BIẾT… là nhấn mạnh lại tác dụng của pháp Đại thừa
- cũng như chính quyển luận này - để thấy vì sao chúng sanh
cần phải tu học. Vì không có pháp nào ngoài pháp này có
thể khiến chúng sanh thoát khổ thành Phật. Nên Bồ tát trong
3 thời đều phải nương pháp này đến đất Như Lai. TỊNH
TÍN là niềm tin thanh tịnh, chỉ cho nhân Phật tánh, là nhân
để có quả là niết bàn Phật.
Nghĩa
lý thậm thâm quảng đại của chư Phật
Nay
tôi tùy thuận tổng trì thuyết
Hồi
hướng công đức như pháp tánh này
Lợi
ích khắp tất cả cõi giới chúng sanh
NGHĨA
LÝ THẬM THÂM QUẢNG ĐẠI là những gì đã được nói trong
phần Lập Nghĩa và Giải Thích. TỔNG TRÌ, tiếng Phạn là
Đà la ni, là niệm tuệ lực có khả năng chấp trì vô lượng
Phật pháp không để mất. Nay Tổ tùy thuận niệm tuệ lực
ấy mà lập ra quyển luận này. Nói cách khác, quyển luận
này là giáo pháp được lưu xuất từ pháp tánh chân như.
Công đức có được đều hồi hướng cho tất cả chúng sanh
ở khắp các cõi.
Đại
Thừa Khởi Tín Luận
Hết
phần II
Sách
tham khảo
1.
Đại Thừa Khởi Tín Luận Nghĩa Ký của ngài Hiền Thủ.
2.
Đại Thừa Khởi Tín Luận Trực Giải của ngài Hám Sơn.
3.
Đại Thừa Khởi Tín Luận Giảng Ký của H.T Ấn Thuận.
4.
Lăng Già Tâm Ấn - Bản dịch của H.T Thanh Từ.
5.
Thập Nhị Môn Luận - Bản dịch của H.T Thanh Từ.
6.
Luận Tọa Thiền - Bản dịch của H.T Nhật Quang.
7.
Thủ Lăng Nghiêm - Bản dịch của T.T Phước Hảo.
8.
Thành Duy Thức Luận - Bản dịch của H.T Thiện Siêu.
9.
Luận Tân Duy Thức - Bản dịch của H.T Thiện Siêu.
10.
Từ Điển Phật Học Hán Việt - Viện Nghiên Cứu Phật Học.
11.
Từ Điển Phật Học Huệ Quang - tập I.
CHÚ
THÍCH
01
6 vị còn lại là Long Thọ, Đỗ Thuận, Trí Nghiễm, Pháp Tạng,
Trừng Quán, Tông Mật.
02
Lời của ngài Hám Sơn.
03
Kinh Hoa Nghiêm.
04
‘Kho vô lượng công đức’ đây có vị cho nó thuộc về
‘Bậc như thật tu hành’. Song ‘Bậc như thật tu hành’
có đến 10 địa. Công đức theo đó mà bị hạn cuộc khi
nhiễm chưa hoàn tịnh hoàn toàn. Nên đây giải thích ‘kho
vô lượng công đức’ thuộc phần ‘pháp tánh chân như’.
05
Phần này sẽ được khai triển rộng trong phần Tu Hành Tín
Tâm.
06
Lời của ngài Hám Sơn.
07
Cũng là dụng mà dụng của nghiệp lực, không phải dụng
chân như.
08
Đều được khai triển rộng ở phần Thập Địa sau.
09
Luận Thành Duy Thức. Bản dịch của H.T Thiện Siêu. Phần
ghi chú.
10
Thành Duy Thức Luận.
11
Nên cái định của các vị có tên là “Diệt thọ tưởng
định”. Thọ và tưởng thuộc về hành. Phần chân thức
không có duyên để khởi thành tưởng như không, nhưng không
phải không. Rất nhiều người đã lập luận rằng “Hành
không thì thức không”. Lập luận như vậy là trái với tinh
thần NHÂN QUẢ của nhà Phật. Trong điều kiện không gian
và thời gian thứ lớp rõ ràng thế này thì NHÂN diệt QUẢ
mới diệt, chứ QUẢ diệt chưa chắc NHÂN đã diệt. Như đốn
gốc thì phần cây lá chắc chắn chết theo. Nhưng chỉ đốn
phần cây lá thì chưa chắc gốc rễ đã chết. THỨC không
thì chắc chắc HÀNH không, nhưng HÀNH không thì THỨC chưa
hẳn không. Cho nên, trong kinh Trung Bộ, với vòng hoàn diệt
khi nào Phật cũng nói “Vô minh diệt nên thức diệt, thức
diệt nên hành diệt …”. Không có bài pháp nào là “Hành
diệt nên thức diệt, thức diệt nên vô minh diệt …” cả.
12
Gọi là tế vì so với cái thô ở đây. Còn luận đây đều
gọi 2 tướng TRÍ và KẾ này là phân biệt thô. Để phân
biệt, phần này có thêm tướng CHẤP TRƯỚC. Cái thấy “Có
sanh tử đáng lìa, niết bàn đáng nhập” của Nhị thừa
là biểu hiện cho phần Trí Tướng này.
13
Tương tục này, kinh Lăng Già phân thành 11 loại, thuộc sở
tri chướng.
14
Sở giác là “chỗ bị giác” tức chỉ cho tướng trụ, tướng
dị, tướng diệt. Năng giác chính là giác.
15
Lời của ngài Hiền Thủ.
16
Vì thế, Trung Quán Luận Phá Nhân Duyên, Nhân Quả để hiển
tinh thần Duyên Khởi giữa Nhân và Duyên, giữa Nhân và Quả.
17
Mượn công đức thiện căn làm lương thực giúp mình đạt
thánh quả gọi là TƯ LƯƠNG. Tư lương này có 2 : Phúc đức
tư lương và Trí đức tư lương, tương đương với phước
huệ song tu. Phương tiện để đạt được những thiện căn
đó gọi là GIA HẠNH. Không gọi phương tiện mà gọi là gia
hạnh vì những phương tiện ấy chưa phải là phương tiện
thiện xảo của Phật quả.
18
Giác tam muội : là loại thiền định giúp người đạt được
quả Phật.
19
DIỆU PHÁP nói trên là chỉ cho giáo pháp của Như Lai, thuộc
phần Tục đế. DIỆU PHÁP THÂM SÂU này là chỉ cho việc chứng
ngộ bản tâm, thuộc Đệ nhất nghĩa đế.
20
Tích ngài Văn Thù Sư Lợi hóa thân thành người đàn bà bụng
mang dạ chửa, cùng 2 con nhỏ và chú chó đến xin ăn tại
một đàn tràng bố thí nọ, giúp vị Hòa thượng phá đi tâm
phân biệt trong việc bố thí.
21
Do tính chất này của bản giác mà chư Phật Tổ đã dạy
người bất động với ngoại cảnh, để thuận dần với
tâm chân thật của mình.
22
Kinh Lăng Nghiêm nói “Giác không phải sở minh. Nhơn minh lập
sở. Sở đã vọng lập liền sanh cái vọng năng của ông”.
Sở là sở minh. Vọng năng là chỉ cho Năng Kiến. Nói vậy,
in tuồng như năng trước sở sau. Thật ra là muốn nhấn mạnh
sở minh là nhân để biết vọng năng đã xuất hiện, như
y Năng Kiến mà có Cảnh Giới Tướng vậy.
23
Kinh Lăng Nghiêm – Ma sự thuộc thức ấm
24
Thủ Lăng Nghiêm, thiền sư Hàm Thị trực giải.
25
Kinh Lăng Già cũng phân thành 2 loại : Một là sự tương tục
của dòng vọng niệm. Một là sự tương tục của sanh tử.
26
Alaida có 2 phần là giác và bất giác.
27
Sở kiến : Chỉ cho Cảnh Giới Tướng
28
Thành Duy Thức Luận – Bản dịch của H.T Thiện Siêu, trang
322.
29
Duy Thức Học gọi loại cảnh được nhận biết y như chính
nó này là TÁNH CẢNH, là loại cảnh không bị ý thức làm
biến dạng thành đẹp, xấu, vui, buồn hay biến thành những
vật bị đóng khung bởi sự so sánh. Loại tánh cảnh này được
gọi là HỮU CHẤT TÁNH CẢNH. Còn một loại tánh cảnh nữa
là VÔ CHẤT TÁNH CẢNH, chỉ cho thật tánh chân như.
30
Đây là khoảnh khắc mà cái thấy chưa bị trí phân biệt
chi phối. Sát na đầu này là chỗ hành giả tu thiền cần
trực nhận, rồi y cứ đó mà tu để bỏ dần trí phân biệt
khi đối duyên xúc cảnh. Cảnh được trực nhận ngay sát
na đầu ấy chính là loại HỮU CHẤT TÁNH CẢNH nói trên.
31
Loại phim khoa học giả tưởng hiện nay là một điển hình.
Những cảnh thuộc nhớ và tưởng được nói đây, Duy Thức
gọi chung là “Độc ảnh cảnh”.
32
Như nhìn anh A rồi khởi lên ý niệm “Anh A mập ra”. Có
niệm “mập” ấy là do lấy cái “ốm” của anh A trước
đây làm nền tảng để so sánh. Đây là chỗ mà kinh nói “Thấy
biết dựa trên thấy biết là gốc của vô minh”.
33
Bất cứ những gì hiện lên trong tâm, biết mà buông là đang
phá dần vào phần ý thức này.
34
3 tánh : biến kế, y tha và viên thành.
35
Thành Duy Thức Luận.
36
LÂU XA, có thể chỉ trong một kiếp mà cũng có thể là vô
số kiếp về sau. Đây là tùy theo chủng tánh tu hành được
huân tập trước đây của mỗi người.
37
Phần này đã được giải thích rõ ở 9 tướng bất giác.
38
Phần nói của ngài Hám Sơn đây không để trong dấu ngoặc
kép vì đã được sắp xếp, tóm những ý cần thiết để
người đọc dễ nhận hiểu vấn đề, nhưng ý thì hoàn toàn
không khác.
39
Chóng được bất thối giải thích ở đây là thấy được
nhân Phật tánh mà gọi là bất thối. Còn căn cứ theo địa
vị bất thối đang nói đây - chỉ cho việc nhập chánh định
tụ tương ưng với địa vị cuối Thập Tín sang Thập Trụ
- thì câu trên phải hiểu là “Do tâm được trụ mà tùy
thuận được với chân như tam muội, dẹp sâu phiền não.
Do tâm được trụ mà tín tâm tăng trưởng, chóng được bất
thối”.
40
Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới.
41
Chỉ tình trạng lùng bùng, nặng nề hay hơi thở không thông
… Đây là do nhiếp tâm vọng động vào một niệm A Di Đà
mà ra.
42
Kinh Lăng Nghiêm nêu 3 giới cấm chính là chẳng sát, chẳng
đạo, chẳng dâm và khuyên giữ gìn chay tịnh.
CON
ĐƯỜNG DẪN ĐẾN GIÁC NGỘ
ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN LUẬN
Tác
giả : Bồ tát Mã Minh
Dịch
& giải : Chân Hiền Tâm
*
Chịu
trách nhiệm xuất bản
TRẦN
ĐÌNH VIỆT
Biên
tập : Châu Anh Kỳ
Sửa
bản in : Hồng Nguyên
Trình
bày : Nguyên Hiền
Bìa
: Đạo Huy
*
NHÀ
XUẤT BẢN TỔNG HỢP TP HỒ CHÍ MINH
62
Nguyễn Thị Minh Khai Q.1
ĐT
: 8225340 - 8296764 - 8222726
Fax
: 84.8.8222726 - Email : nxbtphcm@bdvn.vnd.net
Thực
hiện liên doanh : Thủy Tiên
In
2000 cuốn. Khổ 14.5x20.5cm tại Cty In Khánh Hội TP. HCM. GPXB
số : 333-12 /XB – QLXB, ngày 19/03/2004.
In
xong và nộp lưu chiểu tháng 11 năm 2004.
Giá
: 25.000đ