| 1.
Tỉểu Thừa |
2.
Trung Thừa |
3.
Đại Thừa |
4.
Tối Thượng Thừa |
| -Giai
đoạn ngã chấp |
-Giai
đoạn pháp chấp |
-Giai
đoạn không chấp |
-Giai
đoạn thực tướng |
| -Chủ
quan Duy vật luận |
-Chủ
quan Duy tâm luận |
-Tâm
và vật Hợp một |
-Phi
tâm phi vật |
-Phạm
vi tương đối
Tu
Tứ Đế |
-Phạm
vi tương đối
Tu
Thập Nhị Nhân Duyên |
-Phạm
vi tương đối
Tu
Sáu Ba La Mật |
-Phạm
vi tuyệt đối
Tham
Thoại Đầu |
-Ở
trong nhất
niệm
vô minh |
-Ở
trong nhất
niệm
vô minh |
-Đến
Vô Thủy
Vô
minh |
-Chân
Như Phật tánh |
-Thanh
Văn
Dứt
Lục Căn |
-Duyên
Giác
Dứt
nhất niệm Vô Minh |
-Bồ
Tát
Phá
vô thủy Vô Minh |
-Phật
Vạn
Đức viên mãn, vô tu
vô
chứng |
Triết
học Tây Phương chỉ có hai giai đoạn ngã chấp, pháp chấp
ở trong phạm vi nhất niệm vô minh tức là tư duy và lý niệm.
Tư duy lý niệm đều là hóa thân của nhất niệm vô minh cũng
là tác dụng của bộ não.
Mục
đích của Triết học Tây Phương ở nơi truy cứu lý, tìm
hiểu biết nên không chịu lìa nhất niệm vô minh, tại vì
hễ vào phạm vi vô thủy vô minh thì cảm thấy mênh mông trống
rỗng chẳng có lý gì để truy cứu chẳng có điều hiểu
biết gì để tìm, trái với mục đích của họ. Nên nhà triết
học Tây phương từ xưa nay chưa ai tiến vào cảnh giới vô
thủy vô minh, không vào cảnh giới vô thủy vô minh thì chẳng
thể phá vỡ không chấp cũng chẳng thể tiến vào tuyệt đối.
Mục
đích của nhà triết học Tây phương là cứu lý tìm hiểu
mà mục đích của người tu trì Phật pháp ở nơi liễu sanh
thoát tử.
Triết
học Tây Phương chú trọng lý luận mà Phật pháp thì chú
trọng thực tiễn nghĩa là từ nhất niệm vô minh tiến thẳng
đến tuyệt đối.
Các
thứ học thuyết của khoa học Triết học tung ra đủ thứ
đủ loại, bề ngoài so với Phật pháp hình như phong phú hơn,
nhưng đều thuộc về chân lý tương đối, chẳng ai đạt
đến tuyệt đối, vì bản thân của nhất niệm vô minh chính
là tương đối vậy.
Phật
pháp vì xét thấy nhất niệm vô minh hư huyễn chẳng thật
nên siêu việt nhất niệm vô minh thẳng vào giai đoạn vô
thủy vô minh rồi lại phủ định giai đoạn vô thủy vô minh
để đạt đến bản thể tuyệt đối cho nên nhà Phật rất
chú trọng phương pháp thực hành.
Giai
đoạn ngã chấp là giai đoạn tiểu thừa, người tiểu thừa
cho ngã với thế giới vạn vật đều là thật có, là kẻ
chủ quan duy vật luận, chỉ hướng ngoại quan sát, tất cả
đều lấy cảnh ngoài làm đối tượng để quan sát, cho nên
phương pháp của họ cũng là lấy vật làm đối tượng.
Họ
xem thế giới vạn vật đều ở trong quá trình thành trụ
hoại không, còn loài người thì ở trong quá trình sanh-trụ-dị-diệt,
tuần hoàn không dứt. Ở đây họ phát hiện cội nguồn của
tương đối, nghĩa là tất cả đều ở nơi sanh thành và hoại
diệt, ấy là mâu thuẫn tự nhiên, là vô thường. Tất cả
mâu thuẫn và vô thường sanh ra khổ não và bất an. Họ muốn
vượt qua vòng này cho nên mong cầu “thường”, mong
cầu bất sanh bất diệt, đối với nhân sanh thì mong cầu
liễu sanh thoát tử.
Họ
cho rằng muốn giải thoát sự mâu thuẫn và khổ não của
sanh tử duy có phủ định tự ngã, muốn phủ định tự ngã
duy có đoạn diệt lục căn vì tất cả khổ não đều do lục
căn chiêu tập vào vậy.
Nhà
Triết học Hòa Lan Benedick, Baruch de Spinoza (1632-1677) cho rằng
: “Muốn nghiên cứu hình thái tư duy nhất định của tinh
thần con người trước tiên cần phải nghiên cứu sự hoạt
động của cơ thể.”. Việc này so với người tiểu thừa
đem khổ não quy về trên lục căn là có chỗ giống nhau vậy.
Giai
đoạn tiểu thừa này thành lập quá trình nhận thức là sắc
thọ tưởng hành thức, gọi là ngũ uẩn (24), cũng là
lấy vật làm đối tượng. Sắc tức là hiện tượng tự
nhiên của ngoại cảnh, Thọ là lục căn thu nhiếp hiện tượng
tự nhiên vào, tưởng là chịu ảnh hưởng rồi sanh khởi
tư tưởng, hành là do tư tưởng mà hành động, thức là do
kinh nghiệm hành động mà được nhận thức.
Hai
chữ Thanh-Văn (Văn Phật Thanh Giáo : nghe tiếng Phật dạy
mà ngộ đạo gọi là Thanh-Văn), cũng có ý nghĩa duy vật
tức là vật (âm thanh) từ bên ngoài vào trong vậy.
Phương
pháp dứt lục căn tức là đóng bít cánh cửa tư tưởng cảm
giác khiến trong tâm thanh thanh tịnh tịnh chẳng bị ảnh hưởng
bên ngoài. Hiện tượng bên ngoài là mâu thuẫn xung đột,
đã chẳng vào được tức là không có “Thọ”, đồng thời
đem ý căn ngưng lại thì không có “Tưởng”. Lúc này trong
tâm chỉ còn nhất niệm thanh tịnh, nhất niệm này tức là
nhất niệm vô minh, nó dù tạm thời ngưng lại nhưng vẫn
chẳng thoát khỏi tác dụng của cơ thể, phải chịu hạn
chế của thời gian. Cho nên người tiểu thừa nhập định
dù trải qua bao nhiêu thời gian đi nữa cũng chẳng thể duy
trì mãi, cần phải xuất định, huống là khi đóng bít các
cửa lục căn vẫn cần phải có một niệm thanh thanh tịnh
tịnh để duy trì nó cũng là việc cần phải ra sức.
Hễ
xuất định thì đọa trở lại trong gông cùm tư tưởng cảm
giác của tự ngã, cho nên người tiểu thừa mặc dù muốn
phủ định ngã chấp nhưng kết quả vẫn không thể vượt
ra ngoài phạm vi của ngã chấp.
Nhà
triết học Hy Lạp Plato chia ra hai thứ hiện thực, một thứ
là thế giới cảm giác của tương đối, một thứ khác là
thế giới lý niệm của tuyệt đối (kỳ thực thế giới
lý niệm vẫn là tương đối, chưa vượt qua phạm vi nhất
niệm vô minh). Ông mong siêu việt thế giới cảm giác mà tiến
vào thế giới lý niệm nhưng ông chẳng có cách nào vĩnh viễn
sinh tồn nơi thế giới lý niệm của ông, kết quả vẫn đọa
lại gông cùm của thế giới cảm giác.
Cái
mong cầu siêu việt cảm giác đó cũng giống như người tiểu
thừa. Người tiểu thừa đem cánh cửa tư tưởng cảm giác
hoàn toàn đóng bít mà Plato thì ở trong tư tưởng khai thác
một thế giới khác để mong làm chỗ giấu thân. Nhưng nói
đúng sự thực thì thế giới của ông vẫn còn ở trong phạm
vi nhất niệm vô minh, chẳng qua chỉ là từ đầu này (cảm
giác) chạy qua đầu kia (lý niệm), rốt cuộc vẫn chưa ra
khỏi “chuồng người).
Cho
nên phương pháp phủ định ngã chấp của tiểu thừa đã
thất bại, phải đến bàn tay người trung thừa phương pháp
phủ định ngã chấp mới được hoàn thành.
Giai
đoạn pháp chấp : người trung thừa xét thấy sự hướng
ngoại quan sát là không đúng, cái kết quả đoạn dứt lục
căn của tiểu thừa chẳng thể siêu việt phạm vi nhất niệm
vô minh, do đó quay đầu lại hướng trong tâm quan sát thấy
tất cả tương đối đều từ nhất niệm vô minh sanh khởi.
Giữa các thứ đối lập có một sự tác dụng liên kết làm
nhân duyên với nhau, ly hợp vô thường, khi hợp thì sanh khi
ly thì diệt, ví như cơ thể do tứ đại và ngũ uẩn hợp
thành, tứ đại ngũ uẩn ly tán thì cơ thể liền tiêu diệt,
cơ thể đã diệt thì cái ngã chẳng thể tồn tại, cho nên
nói : “Tất cả vạn vật đều là “khởi duy pháp khởi,
diệt duy pháp diệt”, ngoài nhân duyên ly hợp ra tất cả
đều chẳng thể tồn tại.”
Trung
thừa dùng Thập Nhị Nhân Duyên để giải thích quá trình
của nhân sanh (tức là vô minh - là nhất niệm vô minh chẳng
phải vô thủy vô minh - duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức
duyên Danh sắc, Danh Sắc duyên Lục Nhập, Lục Nhập duyên
Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên
Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên Lão Tử), mười hai nhánh này
bao gồm quá trình tuần hoàn của tam thế (quá khứ, hiện
tại, vị lai).
Vô
minh tức là nhất niệm vô minh (cũng gọi nhất niệm vọng
động tánh, vì bất giác khởi niệm sanh ra các thứ hoạt
động gọi là Hành, hai nhánh này là nhân sở tác của kiếp
trước; Thức là do hành động mà tạo thành nghiệp thức,
ví như thân trung ấm bị nghiệp lôi kéo mà đến đầu thai;
Danh Sắc là khi ở trong thai sắc thân chưa thành tựu, bốn
uẩn Thọ, Tưởng, Hành, Thức chỉ có tên gọi chưa có sắc
chất; Lục Nhập là chỗ nhập của lục trần tức là lục
căn đã hoàn thành; Xúc là sau khi thai sanh ra lục căn tiếp
xúc lục trần; Thọ là lãnh thọ tất cả hoàn cảnh, Năm
nhánh này là quả sở thọ của đời này; Ái là đối với
cảnh trần móng khởi ái dục; Thủ là do ái mà muốn chiếm
có; Hữu có nghĩa là nghiệp, tức là kiếp này tạo nghiệp
kiếp sau thọ báo, ba nhánh này là nhân sở tác của đời
hiện tại; Sanh là tùy theo chủng tử nghiệp đã gieo đời
nay mà thọ sanh đời sau; Lão Tử là khi đã có sanh ắt phải
có lão tử, hai nhánh này là cái quả đời sau phải chịu.
Đó là giải thích Thập Nhị Nhân Duyên theo thuyết xưa.
Biện
Chứng Trong Phật Pháp Tuyệt Đối
Thế
giới quan của Phật là Thành Trụ Hoại Không, vì vạn vật
đều đang lưu chuyển, đang biến hóa chẳng ngừng, đang ở
trong quá trình sanh thành và tiêu diệt, ấy là pháp biện chứng
đơn sơ của Nguyên Thủy.
Pháp
biện chứng của người Hy Lạp thời xưa đối với toàn thể
quan hệ giữa các thứ hiện tượng trên thế giới và trong
sự vật cá biệt cũng chưa được sáng tỏ, trong khi đó thập
nhị nhân duyên của Phật pháp lại thuyết minh thành một
thế hệ hoàn hảo hơn.
Pháp
biện chứng của Phật là muốn nhắc nhở những quan niệm
và lập trường của Bà La Môn và các tông phái khác (tức
là những truyền thống tôn giáo và thần thoại) để họ
tự xét lại.
Nhà
Triết học Hy Lạp Heraclitus (535-475 trước Tây lịch) nói :
“Mặc dù đang yên tịnh kỳ thực đang biến hóa”.
Lời này giống như duy-thức-học. Lại nói : “Thần là
ban ngày cũng là ban đêm, là mùa đông cũng là mùa hè, là
chiến tranh cũng là hòa bình, là no cũng là đói, lá tất cả
đối lập.” Chữ Thần của ông nói tức là nhất niệm
vô minh vậy.
Plato
mặc dù cho lý niệm là bản chất của tồn tại, là thế
giới nguyên hình hiện thực của tất cả vật thể và quan
hệ, chỉ có lý niệm mới là cao nhất chân thật nhất, nhưng
ông lại nói :“Lý niệm chỉ có thể từ khái niệm của
tư duy đắc được, quyết chẳng thể từ trong khái quát của
kinh nghiệm cảm giác nắm lấy được nhận thức chân chính.”
Khoa
học thì chẳng thể chỉ từ cảm giác mà được, cần phải
từ nguồn suối tư duy của pháp biện chứng mới được.
Còn ông Plato lại cho là lìa khỏi cảm giác toàn nhờ tư duy
có thể đắc được tuyệt đối.
Kỳ
thực, cảm giác cố nhiên chẳng thể đạt đến tuyệt đối,
tư duy cũng chẳng thể đạt đến tuyệt đối vậy.
Học
thuyết hiện tượng biến động của Aristote rõ ràng phản
ảnh ở trong học thuyết đối lập vật của ông. Cái tư
tưởng về đối lập vật thống nhất (giống như lý bất
nhị) là công lao vĩ đại của nhà triết học Hy Lạp này.
Aristote
đối với tư tưởng Hữu và phi Hữu, thấy cùng một tánh
chất thống nhất. Ông dù có mãnh liệt đấu tranh nhưng lại
chẳng thể tiến thêm một bước để giải quyết, ông mặc
dù muốn nghiên cứu tánh chất của mâu thuẫn lại không thiết
tha thực hành theo.
Trong
triết học Tây Phương, luận về sự nhị nguyên và thoả
hiệp sở dĩ lọt vào sự mâu thuẫn đều tại chưa thể chân
chính đạt đến tuyệt đối mới sanh ra kết quả như vậy.
Tổ
sư của Thiền Tông đều là nhà thực tiễn mà chẳng phải
nhà lý tưởng, họ rất phản đối ảo tưởng hoặc mộng
tưởng. Thiền tông đem tất cả tâm và vật đều biến thành
tuyệt đối vô hạn và hoàn toàn chứng thực nó.
Bản
thân thực thể của Spinoza ở trên bản chất đã có tánh
chất của hình nhi thượng học, nó siêu việt thời gian mà
tồn tại, bất vận động bất biến hóa, phủ định tất
cả vận động vì chỉ là trạng thái biến hình của thật
thể. Thật thể bản thân lại có cái tánh chất bất động
của trừu tượng. Thật thể lìa khỏi vật hữu hạn của
thế giới biến hóa mà tồn tại và đã đi trước trên thế
giới này.
Kỳ
thật, thực thể này chỉ là không tưởng nên mới có mâu
thuẫn như vậy. Vì bản thể này là do suy nghĩ sanh ra, chẳng
phải đích thân thấy bản thể của tuyệt đối vốn saün
có nên không thể đạt đến tự do của tuyệt đối.
Có
người cho rằng người lý trí nhiều chừng nào thì lìa khỏi
sự thực nhiều chừng nấy, đúng “logic” nhiều chừng nào
thì phản bội tự nhiên nhiều chừng nấy.
Nhận
định này hợp với nguyên tắc của tương đối, do đó có
người chủ trương dùng trực giác, tưởng làm như thế thì
có thể gần với chân thật.
Kỳ
thật trực giác và lý trí cùng ở trong phạm vi nhất niệm
vô minh, trực giác mặc dù gần với nguyên thủy của nhất
niệm vô minh hơn nhưng vẫn chẳng thể tiến vào tuyệt đối.
Giữa trực giác và tuyệt đối còn có một khoảng sa mạc
mênh mông ngăn cách, trực giác không cách nào thông qua được.
Nhà
triết học Pháp Henri Bergson (sanh 1859 tại Paris) chính là người
chủ trương dùng trực giác để đạt đến chân thật, ông
mong muốn ở trong phương pháp huyền học Đông Phương tìm
ra một đường lối nhưng ông không hiểu phương pháp chứng
nhập tuyệt đối của Phật và có thể vì hiểu lầm thiền-pháp
của Bà La Môn mới có chủ trương này, nên ông đã bị thất
bại vậy.
Người
ta thường xem vật ở bên ngoài cho là tự nhiên. Kỳ thực
cái tên gọi tự nhiên chỉ là do một người có học thức
danh tiếng nào đó đặt ra cái tự nhiên của tự mình mà
thôi.
Vậy
tự nhiên là gì? E rằng chỉ có Phật Thích Ca mới chân chính
hiểu biết. Chỉ có Phật mới rõ cái mặt mũi bổn lai của
tự nhiên, nó ẩn giấu sau lưng của vũ trụ tương đối,
ở ngoài phạm vi giới hạn của tư tưởng cảm giác con người
tức là bản thể của tuyệt đối vậy.
Phật
Thích Ca gọi bản thể này là Phật-tánh, là Chân-Như, là
Như-Lai. Nói Chân-Như tức là chân thật như bản thể, nói
Như-Lai tức là bổn lai như thế.
Khi
tất cả sự vật trong cảm giác của con người giải phóng
ra rồi thì tất cả trở về bản lai diện mục (Tự Tánh)
ấy mới là tự nhiên của chân chính.
Nếu
người ta muốn thấy cái tự nhiên chân chính này chỉ có
cách đả phá cội nguồn của tương đối (vô thủy vô minh)
thì sẽ tiến vào quốc độ của tự nhiên tuyệt đối vậy.
Piere
Joseph Proudhon (1809-1865) người Pháp nói : “Tài sản tức
là tang vật.” Tôi thì nói : “Tư tưởng tức là tang
vật”, vì nó làm ô nhiễm tự tánh, nó là tang vật của
tự tánh trong sạch.
Hỡi
con người đáng thương xót kia! Tại sao ông lấy tang vật
của ông mà tự hào vậy? Những đồ ô uế, hôi thối khắp
trời kia, con ruồi đáng thương xót kia sao ông vĩnh viễn không
muốn lìa khỏi nó, cho đến mất cả sinh mạng mà cũng không
chịu lìa!
Ông
muốn nhận thức nhất niệm vô minh chăng? Nay tôi giải thích
thêm để ông dễ hiểu hơn: Khi ông an lạc thì nó gọi là
an lạc, khi ông thống khổ thì nó gọi là thống khổ, khi
ông bi ai thì nó gọi là bi ai, khi ông phẫn nộ thì nó gọi
là phẫn nộ, khi ông yêu thì nó gọi là yêu, khi ông ghét
thì nó gọi là ghét, khi ông tham thì nó gọi là tham, khi ông
sân thì nó gọi là sân, khi ông si thì nó gọi là si, khi ông
cảm thấy hạnh phúc thì nó gọi là hạnh phúc, khi ông cảm
thấy tội lỗi thì nó gọi là tội lỗi, khi ông v.v...., nói
tóm lại tất cả đều là hóa thân của nhất niệm vô minh.
Nhất niệm vô minh biến hóa vô thường đều là tương đối,
cho nên những hóa thân của nó cũng là tương đối.
Con
người bị nhất niệm vô minh chi phối mà tự chẳng biết,
suốt ngày mừng giận buồn vui biến hóa không chừng, nên
nhà triết học Đông Phương nói : “Con người ứng dụng
hằng ngày mà chẳng tự biết.”
Thêm
nữa, nhất niệm vô minh là do một niệm bắt đầu mà phát
triển thành vũ trụ phức tạp của tương đối bao gồm sinh
mạng, tư tưởng, cảm giác, dục vọng, ý chí, đạo đức,
nhân nghĩa v.v.... Nó hiện diện khắp không gian thời gian,
không chỗ nào lúc nào mà không có nó, cho đến khi nó trở
về vô thủy vô minh mới tạm ngưng hết lại. Đến đây chỉ
cần đả phá vô thủy vô minh để tiến vào tuyệt đối mà
thôi.
Luận
Về Bốn Tướng
Phật
Thích Ca đem tất cả hiện tượng vũ trụ nhân sinh do nhất
niệm vô minh cảm biết được (tội gọi nó là vũ trụ tương
đối) đều gọi là Tướng. Tướng tức là tương đối,
là biến hóa, là hữu lậu (25) là hữu hạn, là chẳng thật,
do đó khiến chúng sanh mê vọng. Cả vũ trụ nhân sanh cho đến
các phương pháp nhận thức luận đều là tương đối đều
nên phủ định.
Trái
lại, Phật Thích Ca đặt tên bản thể tuyệt đối cuối cùng
gọi là Tánh. Tánh tức là Phật tánh, cũng gọi là tự
tánh, chân như, những danh từ này so với những danh từ trong
triết học Tây Phương như lý tánh, tánh chất, tánh tình....
ý nghĩa chẳng đồng.
Tánh
của bản thể tuyệt đối này tức là tồn tại chân thật,
là bất biến, là vô lậu, là vô hạn, là chân thật, là bổn
lai như thế nên cũng gọi là Như-Lai, là khẳng định tuyệt
đối, tôi gọi nó là vũ trụ tuyệt đối.
Muốn
đạt đến vũ trụ tuyệt đối trước tiên phải phủ định
vũ trụ tương đối, muốn phủ định vũ trụ tương đối
trước tiên phải tìm chủng tử tương đối của vô thủy
tức là cội nguồn của tương đối, đem chủng tử cuối
cùng này phủ định rồi thì chẳng có gì để phủ định
nữa liền tiến vào tuyệt đối.
Trong
quá trình phát triển đại thừa Phật pháp ở Ấn Độ có
một phái chủ trương phát huy từ bản thể gọi là Tánh-Tông,
còn một phái khác chủ trương từ hiện tượng dẫn dắt
vào bản thể gọi là Tướng-Tông.
Kỳ
thực, Phật pháp cuối cùng đạt đến vũ trụ tuyệt đối
rồi thì bản thể và hiện tượng hợp một, tánh tướng
bất nhị cho nên cái Tánh của bản thể tuyệt đối này Phật
Thích Ca gọi nó là Thực Tướng, là chỉ rõ khi tiến
vào tuyệt đối thì tướng cũng biến thành chân thực tuyệt
đối vậy. Nhưng khi chưa nhập tuyệt đối, tướng tức là
tương đối chẳng thật, muốn tiến vào bản thể tuyệt đối
cần phải phủ định Tướng đạt đến “không, vô tướng,
vô tác” mới cho là được giải thoát bước đầu tiên.
Phật
Thích Ca đem tất cả tướng chia thành bốn loại tức là :
Ngã Tướng, Nhơn Tướng, Chúng Sanh Tướng, Thọ Giả Tướng,
gọi chung là tứ tướng. Bốn tướng này đại diện cho tất
cả hiện tượng của nhân sinh vũ trụ tương đối, có thể
dùng để giải thích nội tâm của con người đối với vũ
trụ vạn vật sở sanh đủ thứ sai lầm.
Ví
như bốn tướng trong kinh Viên Giác (26) là chuyên dùng để
chỉ rõ người tu hành nhận lầm bốn thứ cảnh giới nội
tâm, bốn tướng trong kinh Kim-Cương thì cũng cùng mục đích
độ chúng sanh mà chỉ rõ ràng chúng sanh vì chấp bốn tướng
mà sanh khởi sai lầm; bốn tướng trong kinh Lăng-Già thì dùng
để phê bình cái chấp trước do ngoại đạo sở kiến lập.
Bởi
vì tất cả tư tưởng và hành vi của chúng sanh đều chẳng
thể vượt qua phạm vi bốn tướng này, do đó muốn chúng
sanh giác ngộ sự sai lầm của họ tốt nhất là dùng bốn
tướng này để thuyết minh.
Cái
phương pháp của Phật Thích Ca này rất cao minh và có hệ
thống ấy là vì Ngài đã đích thân tiến vào tuyệt đối,
đã thấu rõ tất cả nội tâm và ngoại vật của nhân sanh
vũ trụ, biết tất cả chúng sanh sở dĩ lầm vào lối tẻ,
trầm luân biển khổ đều do chấp tướng cho nên mới đặt
cái phương pháp này để phá vỡ nó.
Con
người từ khi biết dùng bộ não và cảm giác để quan sát
tất cả là đã trải qua một quá trình lâu dài, ban sơ hướng
bên ngoài quan sát tức là quan sát sự biến đổi của con
người và cảnh giới thiên nhiên v.v... Kế đó, trở lại
quan sát hoạt động tư tưởng cảm giác thay đổi không chừng
của bản thân bộ não tức là quan sát cái công cụ mà bản
thân dùng để quan sát đó. Công cụ này gọi là Tâm.
Khi
chưa kiến tánh tác dụng của bộ não là giả, thế giới
vạn vật do bộ não quan sát được cũng là giả : Giả + Giả
= Giả. Nếu theo đó tu hành thì kết quả vẫn là giả nên
lao nhọc mà chẳng có công hiệu.
Khi
đã kiến tánh thì bộ não là chân, thế giới vạn vật đều
là chân : Chân + Chân = Chân. Một chân thì tất cả chân nên
chẳng cần tu gọi là vô tu vô chứng (27), ấy là chuyển thức
thành trí, thế giới tương đối biến thành thế giới tuyệt
đối.
Chúng
ta muốn có sự đánh giá chính xác đối với Phật pháp thì
chẳng nên xem theo chi tiết thế hệ mà phải thấu đạt trung
tâm. Thể hệ của Phật mặc dù chia thành nhiều môn nhiều
loại rất phức tạp, nhưng trung tâm tư tưởng của toàn thể
hệ chính là Phật tánh (tức là Tuyệt-đối-luận), còn những
cái khác đều từ đó suy diễn mà ra như Tứ-Thánh-Đế, Thập
Nhị Nhân Duyên, Sáu Ba La Mật, và Tam Giới Thân v.v... đều
xuất phát từ trung tâm lý luận này vậy.
Học
thuyết của Plato sở dĩ thành cội nguồn của nhị nguyên
luận là tại ông đem cảm giác với lý tánh phân chia cho là
đúng, như vậy không những hoàn toàn khác biệt mà lại đốI
nghịch với nhau, do đó làm cho hai lý không cách nào dung thông
được. Cái nhị nguyên luận của ông ắt phải hiển hiện
nơi đối lập của quan niệm và vật chất, tái hiện nơi
đối lập của cảm giác và tư tưởng, lại hiện nơi đối
lập của nhục thể với linh hồn nữa.
Ông
đem chân lý với thực tại để trên phương diện lý tánh
mà chẳng để trên phương diện cảm giác, lý ấy dù đúng
nhưng cảm giác với lý tánh mặc dù phân chia thành khác biệt
lại cũng cần phải nhất trí, nghĩa là cả hai cần phải
khác suối mà đồng nguồn mới được.
Diệu
lý của Phật thì chẳng có khuyết điểm kể trên, nó là
rất viên mãn, rất nhất nguyên. Nó ban sơ phủ định cảm
giác, cho cảm giác là hư vọng nên phủ định nó, nhưng cái
cội nguồn hư vọng này chẳng phải lỗi của bản thân cảm
giác mà do bị vô minh che khuất. Khi màn đen vô minh mở ra
thì hư vọng tiêu diệt, lúc ấy cảm giác tức đồng với
lý tánh nghĩa là với Phật tánh chẳng khác. Cho nên cảm giác
với Phật tánh ban sơ mặc dù phân chia cuối cùng vẫn đồng
một thể.
Cái
cửa ải khó khăn của nhà triết học Hy-Lạp và Tây Phương
ở nơi sau khi siêu việt cảnh giới cảm giác nhập vào cảnh
giới tư tưởng thuần túy rồi lại đọa trở lại trong gông
cùm của cảnh giới cảm giác nữa.
Phật
thì siêu việt hai cảnh giới này và đạt đến chỗ cảnh
giới mà triết gia Tây Phương chưa thể đến tức là cảnh
giới Phật tánh vậy.
Cảnh
giới này chẳng thể dùng tư tưởng suy lường, chẳng thể
dùng ngôn ngữ văn tự diễn tả, cần phải thực chứng rồi
mới biết được. Sau khi chứng ngộ tất cả cảm giác tư
tưởng đều không lìa Phật tánh, nên nói : “Duy có kẻ
chứng với kẻ chứng mới biết được.”
Về
cảnh giới biểu thị trong Kinh và Ngữ lục Tổ-sư hoặc nói
hoặc nín, kẻ chứng thì thấu hiểu rõ ràng, kẻ chưa chứng
thì suy nghĩ mãi cũng không hiểu, cũng như phương pháp “niêm
hoa thị chúng” của Phật và “hét gậy chửi mắng” của
Tổ Sư đều vậy.
Có
vô thủy vô minh rồi mới có nhất niệm vô minh cho nên vô
thủy vô minh với nhất niệm vô minh là tương đối, có niệm
thứ nhất thì có niệm thứ nhì, có niệm thứ ba v.v...., cho
đến cái niệm vô cùng vô tận, nghĩa là từ tương đối
sanh ra vô số tương đối. Cho nên tương đối là chẳng thể
cùng tận, không có chỗ dứt, chẳng thể truy cứu như cái
vòng tròn chẳng có đầu mối nên gọi là luân hồi.
Con
người hễ sanh ra tức là tương đối, có da trắng, da đen,
da vàng, da đỏ v.v... do đó sanh khởi nhiều mâu thuẫn và
phiền não, nghĩa là con người sanh ra thì phải chịu đựng
cái vận mạng bi thảm vậy.
Phật
Tánh Siêu Việt Luận Lý
Nói
Logic là thuộc về việc của tư tưởng, là phạm vi tương
đối, Phật tánh là siêu việt tương đối chẳng phải tư
tưởng có thể đến nên nói siêu việt logic.
Văn
tự trong kinh giải thích tuyệt đối của Phật tánh đều
chẳng thể dùng logic để chứng minh vì Phật tánh vốn chẳng
thể giải thích. Phật vì lợi ích chúng sanh đã dùng mọi
phương pháp để mong giải thích một phần nào nên văn tự
lời nói ấy phải trải qua bao sự khó khăn mới được cấu
tạo thành kinh Phật.
Người
đọc bỗng nhiên chẳng thấy hợp logic, thực ra thì đã siêu
việt phạm vi logic mà nhập với cảnh giới nghĩa cú tuyệt
đối. Nếu thấu đạt ý này thì chỗ nào cũng là logic nhưng
logic đó là logic của tuyệt đối vậy.
Tuyệt
đối luận tức là Phật tánh luận, Phật tánh cùng khắp
không gian và thời gian, chẳng hoại chẳng tạp, vô chứng
vô thủ, chẳng bị huân nhiễm, xưa nay saün đủ nên gọi
là Tuyệt Đối. Còn vũ trụ vạn tượng đều thuộc về Thành-trụ-hoại-không,
hư vọng chẳng thật nên gọi là tương đối.
Nay
tôi làm luận này phải dùng văn tự lời nói để giải thích.
Văn tự lời nói đều thuộc về tương đối nhưng vì muốn
hiển bày tinh lý của Phật nên phải nhờ sự phương tiện
của văn tự này để hiển bày chánh lý, độc giả chớ nên
kẹt nơi văn tự, cần phải được ý quên lời vậy.
Triết
học Tây Phương có đại ngã, tiểu ngã, là tương đối mà
Phật, chúng sanh, ngã đều bất nhị là tuyệt đối. Tương
đối thì bất bình đẳng, tuyệt đối thì bình đảnh. Bất
bình đẳng nên có tranh luận có đấu tranh, bình đẳng nên
không tranh luận không đấu tranh.
Pháp
thân phải dựa theo thời gian không gian rồi mới biết sinh
mạng là vật gì, nó kéo dài thời gian, nó hoạt động không
gian, như vượt qua thời gian không gian thì chẳng nói là sinh
mạng nhưng chẳng phải không có sinh mạng vì bản thân của
sinh mạng tức là tuyệt đối cũng gọi là pháp thân.
Con
người chỉ biết ở nơi thời gian không gian để nhận biết
sinh mạng tương đối mà không chịu siêu việt thời gian không
gian để nhận biết sinh mạng tuyệt đối, do đó sinh mạng
bị thời gian không gian sở phủ định.
Kẻ
sinh mạng tuyệt đối lại phủ định thời gian không gian
nên nói : “Trời đất chưa sanh vật này đã có, trời
đất hủy hoại vật này chẳng hoại.”
Cảnh
Giới An Lạc Của Tuyệt Đối
Tự
ngã là gông cùm của con người. Con người chỉ ở lúc quên
tự ngã mới đắc được an lạc. Muốn quên tự ngã phải
nhờ trợ giúp của pháp ngã.
Pháp
ngã tức là cái ngã của vạn sự vạn vật ở ngoài tự ngã
ví như âm nhạc, nghệ thuật, vận động v.v..., đều là pháp
ngã. Chúng ta khi nghe âm nhạc hoặc thưởng thức nghệ thuật
sẽ được quên tự ngã. Lúc ấy có thể tự do an lạc hơn,
nhưng tự ngã dù quên lại lọt nơi phạm vi pháp ngã. Pháp
ngã vẫn bị hạn chế trong thời gian không gian ví như nghe
âm nhạc chỉ được ở trong một khoảng thời gian nào, khi
thời gian qua đi vẫn té trở lại trong gông cùm, tự ngã mà
tiếp tục chịu đựng thống khổ, do đó chúng ta muốn tìm
một an lạc lớn hơn nên bỏ pháp ngã vào nơi Không ngã.
Không
Ngã thì an lạc hơn, chỗ đó chỉ là mênh mông không tịch,
tất cả vật ngoài chẳng thể xâm nhập, đây là cảnh giới
diệt tận định (28) của Tiểu Thừa Thiền. Khi ấy, thân
tâm khinh an, đạm nhiên tự đắc, là một thứ cảnh giới
Niết Bàn của tương đối, nhưng Không Ngã vẫn bị thời
gian hạn chế, khi ông bước ra cảnh Không, ông vẫn bị té
trở lại trong gông cùm tự ngã nữa.
Cho
nên ông nếu muốn đắc được an vui triệt để cần phải
bỏ cái Không Ngã để chứng nhập cảnh giới chân như
Phật tánh, lúc ấy mới không bị thời gian không gian hạn
chế, nghĩa là giải thoát tất cả khổ của con người, mới
là tự do tự tại của tuyệt đối, mới là an lạc của tuyệt
đối.
Immanuel
Kant muốn nhờ toán học cấu tạo một màng lưới vũ trụ
để bắt con cá to của tuyệt đối, kết quả chẳng những
không được gì cả trái lại tự thân lại bị bọc trong
màng lưới mà chẳng thể tự thoát.
Thiền
tông Trung Quốc có kẻ tiều phu dốt nát nghe một lời nói
liền chứng ngộ tuyệt đối, có kẻ thì thấy hoa đào nở
liền chứng tuyệt đối, có kẻ thì nghe tiếng trúc mà ngộ
tuyệt đối. Chẳng biết người Tây Phương đến năm nào
mới hiểu được những việc này.
Nhà
triết học Tây Phương đang sinh sống nơi thế giới tương
đối, họ được mâu thuẫn tự nhiên của tương đối khơi
động, lợi dụng toán học và vật lý học của tuyệt đối
trong tương đối để phủ định vật chung quanh của tương
đối, ấy là dùng phương pháp tương đối để phủ định
tương đối vì họ chưa hoàn toàn biết rõ bản thân của
Toán học và Vật lý học tức là tương đối. Nếu lìa khỏi
thời gian không gian của tương đối thì Toán học và Vật
lý học cho đến tất cả khoa học đều không thể hoạt động
gì được nữa. Sau hết, khi Toán học và Vật lý học siêu
việt thời gian không gian của tương đối tiến vào thời
gian không gian của tuyệt đối, thì Toán học và Vật lý học
tất cả đều thành tuyệt đối. Lúc ấy bản thân của Toán
học và Vật lý học tức là tuyệt đối, hoàn toàn thoát
khỏi bộ não ngu dại của con người mà tự tồn tại nơi
vũ trụ của tuyệt đối, họ do đó đắc được vĩnh sanh
vậy.
Tuyệt
đối nguyên là đại diện cho Phật pháp Đại thừa ấy là
tư tưởng tối cao của con người chẳng ai có thể vượt
qua. Vì nó siêu việt không gian và thời gian nên trải qua muôn
kiếp cũng như mới, vì nó chẳng lìa thời gian và không gian
nên trong đời sống ứng dụng hàng ngày mà chẳng có chướng
ngại. Nay muốn ở trong tự điển của Triết học Tây Phương
để tìm một tên gọi cũng không thể được.
Cái
nhất nguyên luận của Tây Phương là nhất nguyên luận của
tương đối, cái tuyệt đối luận của Tây Phương là tuyệt
đối luận của tương đối, so với cảnh giới tuyệt đối
của Đại thừa Phật pháp thì chưa được đúng đắn. Duy
có tuyệt đối nhất nguyên của Đại thừa Phật pháp mới
là tuyệt đối luận chân chính.
Muốn
xem nó là bản thể luận thì không đúng, gọi nó là hình
nhi thượng học cũng không đúng bởi vì ở cảnh giới tương
đối chân như, bản thể và hiện tượng đã đồng một,
hình nhi thượng (tư duy trừu tượng) với hình nhi hạ (hiện
tượng cụ thể) cũng chẳng có khác biệt. Nói tóm lại, nào
là duy tâm, nào là duy vật, nào là bản thể, nào là hiện
tượng, nào là nhận thức, nào là nhân sinh v.v.... đều bao
gồm hết trong đó chẳng thiếu sót, chúng ta chẳng có tên
gì để gọi, tạm gọi nó là Tuyệt Đối Nhất Nguyên của
Đại Thừa Phật Pháp vậy.
Kết
Luận Của Dịch Giả
Ngài
Nguyệt Khê là người đã kiến tánh, tịch năm 1965 ở Cửu
Long, Hồng Kông. Đại Thừa Tuyệt Đối luận này tác giả
có ý muốn giúp ích người Tây Phương, trong đó luận về
pháp biện chứng của triết học Tây Phương, cho thấy hầu
hết đều lẩn quẩn trong phạm vi tương đối tức là nhất
niệm vô minh, cũng có người suy ra đến vô thủy vô minh,
nhưng chưa có ai đạt đến chỗ tuyệt đối cuối cùng. Tất
cả đều vì không biết đường lối thực hành, chỉ nhờ
bộ não để suy lý mà thôi, nên Ngài Nguyệt Khê dùng pháp
biện chứng của Phật Thích Ca để chứng minh và giới thiệu
cách thực hành tức là pháp Thiền Trực Tiếp truyền từ
Phật Thích Ca.
Nếu
người Tây Phương chịu theo đó thực hành thì sẽ được
đả phá vô thủy vô minh mà tiến vào vũ trụ tồn tại tuyệt
đối vậy.
Ngoài
ra, chúng tôi có ấn hành riêng Đường Lối Thực Hành và
Cơ Bản Tham Tổ Sư Thiền là pháp Thiền trực tiếp của Phật
Thích Ca đích thân truyền dạy, đọc giả có thể tìm xem
(Từ Ân Thiền Đường có ấn tống).
Chú
Thích
1.
Ngã chấp, Pháp chấp, Không chấp :
Chấp
thật cái thân thể và sự suy nghĩ cũa bộ não là Ta gọi
là Ngã chấp.
Chấp
thật vạn sự vạn vật trong vũ trụ pháp giới do ta hiểu
biết được cho là có Thật Tánh Thật Tướng, gọi là Pháp
Chấp.
Phá
được Ngã chấp, Pháp chấp, thấy tất cả đều không, chấp
cái không này là thật Không gọi là Không Chấp.
2.
Chân Như :
Là
biệt danh của Tự Tánh, Tự Tâm. Chân thật đúng như bản
thể của Tự Tánh Tự Tâm gọi là Chân Như.
3.
Trung Đạo : Nghĩa thường là không có nhị biên
tương đối, nói sát nghĩa hơn là vô-sở-trụ, cũng như chẳng
trụ nơi có, chẳng trụ nơi không, chẳng trụ nơi cũng có
cũng không, chẳng trụ nơi chẳng có chẳng không, gọi là
Trung Đạo.
4.
Phật Tánh : Phật nghĩa là giác ngộ, có tánh giác
ngộ gọi là Phật tánh.
5.
Bồ Đề : là tiếng Phạn, dịch nghĩa là giác
ngộ.
6.
Pháp môn bất nhị :
Bất
nhị có nghĩa hiển bày thể dụng của Tự Tánh cùng khắp
không gian và thời gian, chẳng thể dùng tư tưởng để suy
lường nên vượt ra ngoài đối đãi và cũng chẳng phải Một.
Pháp môn tu tập để đưa đến chỗ bất nhị này gọi là
pháp môn bất nhị.
7.
Pháp nhất thừa : tức là Phật thừa. Kinh Pháp
Hoa nói chẳng hai cũng chẳng ba là nghĩa này vậy.
8.
Khổ quán : cho tất cả là khổ. Khổ tức nhiên
là khổ rồi, vui lại làm nhân cho khổ nên cũng là khổ.
9.
Hoát nhiên đại ngộ : không có qua bộ óc lý giải
mà chơn tâm đột ngột sáng tỏ, tự động hiểu biết đúng
như thực tế trùm khắp không gian thời gian.
10.
Nhất niệm vô minh : từ nguồn gốc vô thủy vô
minh (cũng là chỗ vô niệm của bộ óc) khởi lên một niệm
gọi là nhất niệm vô minh.
11.
Vô thủy vô minh : nguồn gốc phát sinh ra ý thức
phân biệt sai lầm gây tai hại từ lâu đời. Cũng là chỗ
mịt mù đen tối.
12.
Bát Nhã : thể dụng của trí huệ Tự Tánh, không
cần qua bộ óc tác ý, tự động tùy duyên hiện ra sức dụng
gọi là Bát Nhã.
13.
Chân Ngã : tức là Tự Tánh, cũng gọi là chân
như Phật tánh.
14.
Mười Phương chư Phật : tất cả Phật ở trong
không gian.
15.
Vô dư Niết Bàn : Niết là không sanh, Bàn là không
diệt. Bản thể của Niết Bàn cùng khắp không gian và thời
gian chẳng còn chỗ nào lúc nào thiếu sót nên gọi là
Vô dư Niết Bàn.
16.
Vô lậu giải thoát : lậu là tập khí phiền não.
Chẳng còn phiền não được tự tại gọi là vô lậu giải
thoát.
17.
Phật nhãn : chiếu soi cùng khắp không gian thời
gian không có chỗ nào lúc nào thiếu sót.
18.
Mở mắt chiêm bao : lúc ngủ chỉ một mình thức
thứ 6 (ý thức) hoạt động hiện ra cảnh giới chiêm bao gọi
là “nhắm mắt chiêm bao”. Lúc thức tỉnh thì
thức
thứ 6 cùng với tiền ngũ thức (gồm nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân thức) đồng thời hoạt động hiện ra cảnh giới cuộc
sống hàng ngày đều gọi là ở trong “mở mắt chiêm bao”.
Nhắm
mắt chiêm bao thì sau khi ngủ đủ rồi sẽ tự động thức
tỉnh, còn mở mắt chiêm bao thì không bao giờ tự động thức
tỉnh được, phải tham thiền đến kiến tánh mới được
thức tỉnh, cũng gọi là giác ngộ.
19.
A-Lại-Da-Thức : cũng gọi là thức thứ 8 hay Tạng
Thức (Tạng là kho chứa) chuyên chứa các thứ chủng tử của
vạn sự vạn vật.
20.
Tham thoại đầu : Thoại là lời nói, khi chưa nổi
niệm muốn nói là thoại đầu, nếu đã nổi niệm muốn nói
dù chưa nói ra miệng cũng là thoại vĩ rồi. Như vậy thoại
đầu tức là khi một niệm chưa sanh. Tham là nghi, nghi là không
hiểu không biết. Nếu một việc gì đã hiểu biết rồi thì
hết nghi, hết nghi tức là không có tham.Vậy tham thoại đầu
tức là nhìn ngay chỗ một niệm chưa sanh, không biết đó
là cái gì, Thiền Tông gọi là nghi tình, có nghi tình mới
được gọi là tham thoạI đầu. Do nghi tình này đưa đến
chỗ giác ngộ gọi là kiến tánh thành Phật.
21.
Định-huệ-bình-đẳng : Định là thể, huệ là
dụng. Tâm chẳng loạn là định, dụng chẳng sai là huệ.
Khi định thì tự động hiện ra huệ, lúc huệ thì phải ở
trong định, tức là ngoài định không có huệ, ngoài huệ
không có định, cho nên nói định huệ bình đẳng.
22.
Bồ Tát : theo tiếng Phạn là Bồ Đề Tát Đỏa,
nói tắt là Bồ-Tát nghĩa là giác ngộ hữu tình. Hữu tình
được giác ngộ mới có thể lìa khổ được vui, chuyên
độ cho chúng sanh lìa khổ được vui gọi là Bồ Tát.
23.
Bốn Thừa : gồm ba thừa (Tiểu, Trung, Đại Thừa) thêm
Tối Thượng thừa nữa là bốn.
24.
Đại vô úy, sư tử hống : đây là thí dụ về uy lực
thuyết pháp của Phật. Bá thú đều sợ sư tử, sư tử không
sợ bá thú. Cũng vậy, khi Phật thuyết pháp thì không
sợ tà mà khuấy rối nên gọi là đại vô úy.
25.
Ngũ uẩn : là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc là
tế bào của cơ thể do tứ đại kết hợp thành. Thọ là
lãnh thọ sự buồn, vui, thương, ghét v.v.... của cảm
tình. Tưởng là tư tưởng suy lường. Hành là sự sanh diệt
biến đổi của tế bào và hành vi. Thức là tác dụng của
bộ óc hay nhận thức phân biệt tất cả sự
vật
sanh diệt trong vũ trụ.
26.
Hữu lậu : còn tập khí phiền não gọi là hữu lậu.
27.
Bốn tướng trong kinh Viên Giác, Kim Cương và Lăng Già
: Nói chung tả sự nhận lầm bốn thứ cảnh giới nội tâm.
Bốn tướng có 2 thứ :
1.
Bốn tướng mê thức của phàm phu :
Chấp
nhận cái thân ngũ uẩn này là Ta gọi là Ngã tướng
Bỏ
Ngã tướng chấp vào toàn nhân loại gọi là Nhân tướng
Bỏ
nhân loại chấp vào toàn chúng sanh gọi là Chúng sanh tướng.
Chấp
có thời gian chân thật gọi là Thọ giả tướng.
2.
Bốn tướng mê trí của bậc thánh :
-Bậc
thánh tâm biết có cơ sở chứng, dù chứng đến mức nào
đều thuộc về Ngã tướng.
-Nay
ngộ thêm một bậc, biết chẳng phải ta chứng, siêu việt
tất cả chứng, nhưng còn cái tâm năng ngộ gọi là Nhân tướng.
-Nay
tiến thêm một bậc nữa, liễu tri năng chứng năng ngộ là
Ngã tướng, Nhân tướng, chỗ Ngã tướng Nhân tướng chẳng
thể đến, chỉ còn tâm liễu tri, gọi là chúng sanh tướng.
-Rồi
tiến thêm một bậc nữa, chiếu soi tâm liễu tri cũng bất
khả đắc, chỉ một giác thể thanh tịnh, gọi là cứu kính
giác, tất cả tịch diệt, cũng gọi là Niết Bàn. Nếu
còn trụ nơi Niết Bàn thì mạng căn chưa dứt, gọi là thọ
giả tướng.
28. Vô
tu vô chứng : Thể dụng của tự tánh cùng khắp không
gian và thời gian, thần thông trí huệ vốn saün đầy đủ
bằng như chư Phật. Ví như vàng thật ẩn trong quặng,
quặng được bỏ tạp chất thì tự hiện vàng thật, cũng
vậy, tâm được bỏ tập khí phiền não thì tự hiện thể
dụng của tự tánh, chẳng do tu mới thành chẳng do chứng
mới có nên gọi là vô tu vô chứng.
29.
Diệt tận định : có 2 thứ :
Là
cõi trời tứ không, đã diệt hết tất cả vọng tưởng nhưng
chưa tận gốc, còn chấp A Lại Da Thức là ngã, chưa ra khỏi
luân hồi.
Là
diệt tận định của A-La-Hán, đã dứt hết kiến hoặc và
tư hoặc của tam giới, chẳng còn nhân-ngã nên được ra khỏi
luân hồi.
Cảm
ơn Thầy Thích Vân Phong Hàn Quốc,
Liên
Đăng Quốc Tế Thiền Viện
Http://www.lotuslantern.net
đã
rà soát lại.
09-10-2007
11:34:56
HẾT