Phật
Thích Ca dùng trí huệ vô thượng sáng lập pháp Thiền Trực
Tiếp vốn chẳng có tương đối và tuyệt đối, nhưng vì
hướng dẫn chúng sanh lìa khỏi hư vọng, gọi là tương đối,
để bước lên quốc độ chân thật, gọi là tuyệt đối,
nên mới có sự thuyết pháp để độ chúng sanh. Pháp ấy
chẳng ngoài phủ định tương đối tức là Phá Ngã Chấp,
Pháp Chấp, Không Chấp (1) để chứng minh tuyệt đối tức
là phát huy Chân Như (2).
Phật
Thích Ca gọi cái pháp của Ngài truyền dạy là pháp bản trụ.
Nói bản trụ nghĩa là xưa nay vốn sẵn có. Như vậy, nên
pháp môn đại thừa dùng những cơ xảo đặc biệt để phủ
nhận tương đối nhập vào tuyệt đối, ấy là do bản tánh
của con người tự nhiên như thế. Bởi vì tất cả sự vật
trong vũ trụ do trí óc của con người nhận biết được đều
là tương đối, từ chỗ tương đối thì phải sanh ra mâu
thuẫn và từ mâu thuẫn ắt phải sanh ra khổ não, do đó nên
mới cần phải phủ định tương đối. Sự phủ định đến
chỗ cùng tột thì vũ trụ tương đối kết thúc, vũ trụ
tuyệt đối bắt đầu.
Trong
vũ trụ tuyệt đối chẳng có tương đối nên chẳng có mâu
thuẫn, không mâu thuẫn nên không cần phủ định nữa. Tất
cả đều là tuyệt đối, bản trụ saün sàng, vĩnh viễn chẳng
biến đổi. Như thế vũ trụ mới có sự viên mãn cuối cùng,
cuộc sống của con người mới được đi đến chỗ đầy
đủ hạnh phúc.
Tại
sao nói từ sự tương đối sanh ra khổ não? Vì tương đối
thì có lợi ắt phải có hại cũng như khoa học văn minh hiện
tại mỗi năm đào tạo nhân tài khoa học, phát minh và cải
tạo máy móc, tăng gia sản xuất, để cung cấp cho đời sống
của con người được nhiều phương tiện và phong phú hơn.
Đấy là cái phần có lợi cho xã hội, nhưng do cái lợi này
lại phải sanh ra cái hại nhiều hơn. Tại sao vậy? Theo sự
thực tế đã xảy ra, ví như số nhân tài khoa học đào tạo
hàng năm, chỉ một số rất ít có năng khiếu thiên tài đặc
biệt, phát minh hoặc cải thiện máy điện toán và đủ thứ
máy móc, còn một số không ít nhân tài trình độ thông thường
lại kiếm không ra việc làm vì những đơn vị chức vụ đã
bị máy điện toán tối tân thay thế rồi, nên phải chịu
cái khổ thất nghiệp không tránh khỏi. Số còn lại kiếm
được việc làm thì lại vừa làm vừa phải học thêm mới
có thể theo kịp sự tiến bộ của khoa học, vậy ắt phải
chịu sự gánh vác nặng nề về thời gian lẫn tinh thần làm
cho cuộc sống căng thẳng và khổ não vô cùng.
Nay
đề ra một công án trong lịch sử Thiền Tông để tiêu biểu
cho pháp Thiền Trực Tiếp, cũng để chứng tỏ pháp bản trụ,
và đồng thời cũng chính là tiêu biểu cho Tuyệt Đối Luận
này để cho độc giả được tăng cường lòng tin tự tâm
và do đó quyết tâm thực hành theo để phát hiện tiềm năng
vô biên vốn sẵn có của chính mình.
Đạo-Lâm
Thiền-Sư có một thị giả tên là Hội Thông, ngày kia muốn
từ giã thầy để đi nơi khác.
Sư
hỏi: “Ngươi muốn đi đâu?”
Đáp:
“Hội Thông vì pháp mới xuất gia, lâu nay Hòa thượng chẳng
có dạy bảo gì, nên con muốn đi nơi khác học Phật pháp.”
Sư
nói: “Nếu là Phật pháp thì ở đây ta cũng có chút ít.”
Hội
Thông nói: “Thế nào là Phật pháp của Hòa thượng?”
Sư
liền ở trên áo mình nhổ một sợi lông vải thổi một cái
“ù”, Hội Thông ngay đó khai ngộ.
Công-Án
này tức là pháp Thiền Trực-Tiếp truyền từ Phật Thích
Ca cũng là ở trong sát na, từ quốc độ tương đối bước
vào quốc độ tuyệt đối vậy.
Hễ
vào được cảnh giới tuyệt đối thì những cái bị phủ
định như ngã, vạn hữu, các pháp v.v.... đều biến thành
tuyệt đối, hoàn toàn được thừa nhận trở lại.
Đến
đây tất cả đều là cảnh giới chân thật nên trong kinh
Đại Niết Bàn nói: “Thấy Nhất Thiết Không chẳng thấy
Bất Không chẳng gọi là Trung Đạo (3) cho đến thấy Nhất
Thiết Vô Ngã chẳng thấy có Ngã cũng chẳng gọi là Trung
Đạo”.
Trung
đạo gọi là Phật Tánh (4), vì phủ định nên không, vì thừa
nhận nên bất không, vì phủ định nên vô ngã, vì thừa nhận
nên có ngã.
Có
thể phủ định mà chẳng thể thừa nhận là người tiểu
thừa.
Có
thể phủ định mà cũng có thể thừa nhận là người đại
thừa.
Chẳng
nói phủ định cũng chẳng nói thừa nhận là Phật.
Lúc
phủ định thì nhất vọng nhất thiết vọng, khi thừa nhận
thì nhất chân nhất thiết chân. Khi chưa lìa tương đối thì
tất cả đều tương đối, đã vào tuyệt đối thì tất cả
đều tuyệt đối, chẳng phải ngoài tương đối có tuyệt
đối, chẳng phải ngoài tuyệt đối có tương đối, nên Uế
Độ tức là Tịnh Độ, Địa Ngục tức là Thiên Đàng, Phiền
Não tức là Bồ Đề (5), Chúng Sanh tức là Chư Phật. Nói
tóm lại Tương Đối tức là Tuyệt Đối, tất cả bình đẳng
gọi là pháp môn Bất Nhị (6), cũng gọi là Nhất Thừa (7),
như trong kinh Pháp Hoa nói:“Trong mười phương quốc độ chỉ
có pháp Nhất Thừa, chẳng hai cũng chẳng ba, trừ phương tiện
của Phật, chỉ dùng giả danh tự, dẫn dắt cho chúng sanh,
duy nhất sự thật này, ngoài ra đều chẳng chân” là nghĩa
này vậy.
Đến
đây, nên ghi nhớ rằng cảnh giới tuyệt đối chân-như chẳng
phải văn tự lời nói có thể diễn đạt, nên Phật Thích
Ca thuyết pháp xong liền phủ định ngay, nói rằng: “Ta 49
năm thuyết pháp chưa từng nói một chữ”, lại nói: “Ta
từ đêm ấy đắc chánh giác, cho đến đêm ấy nhập Niết
Bàn chẳng thuyết một chữ nào cả”, lại nói: “Ta đối
với Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác cũng chẳng được
một chút pháp nào cả.”
Các
giới tư tưởng Tây Phương ít thấy Người đến gần chỗ
tuyệt đối là vì đường lối thực hành chẳng đồng. Chỉ
có nhà Triết học Hy Lạp, Parmenides, tư tưởng ông này đến
gần chỗ tuyệt đối hơn những triết gia khác. Sự giải
thích bản thể tuyệt đối của ông giống như lời Phật
Thích Ca, ông cho rằng: “Thế giới do cảm giác mà biết được
là thế giới hư vọng chẳng thật, chẳng qua là một thứ
ảo tượng, chẳng phải là tồn tại chân thật, mà bản chất
của vũ trụ duy nhất mới thực tồn tại. Tồn tại tuyệt
đối chẳng thể xen lộn với phi tồn tại. Nó là tuyệt đối
bất biến, bất động, bất sanh, bất diệt, vô thủy vô chung,
bởi vì giả sử như sự tồn tại mà có bắt đầu thì cái
tồn tại ấy nếu không sanh khởi nơi tồn tại ắt cũng phải
sanh khởi nơi phi tồn tại. Nếu nói tồn tại sanh khởi nơi
tồn tại thì chẳng thể nói có bắt đầu, nếu nói tồn
tại sanh khởi nơi phi tồn tại thì thuyết ấy chẳng thông
vì cái không có chẳng thể sanh ra cái có (Exnihilo nihilfit)”.
Lời
nói trên là tiêu biểu cho tư tưởng của Parmenides. Ông lại
nói: “Sự tồn tại chân thật thì chẳng có quá khứ,
hiện tại và vị lai, nó là vĩnh viễn chẳng thể phân chia.
Theo
sự thực, ngoài tồn tại chỉ có phi tồn tại. Sự tồn tại
là chẳng động, chẳng loạn, vì vận động và nhiễu loạn
đều là hiện tượng biến hóa, có biến hóa thì chẳng phải
tồn tại. Tồn tại tuyệt đối kỳ thực tự nó như là nó,
tồn tại vĩnh viễn như thế quyết chẳng biến đổi, cái
bản chất duy nhất của nó là tồn tại. Tồn tại chẳng
thể nói là cái này hay cái kia, chẳng thể nói có tánh chất
này hay tánh chất kia, cũng chẳng thể nói ở nơi này hoặc
nơi kia, lúc này hoặc lức kia. Nó chỉ là tồn tại, tồn
tại tức là Có (Sness)”.
(Cái Có này có nghĩa siêu việt số lượng, không nằm trong
phạm vi tương đối, nghĩa là chẳng phải đối với không
mà nó Có).
Rất
tiếc rằng, ông ấy (Parmenides) không biết dùng phương pháp
nội chiếu để phá vỡ thành trì bế tắc của Duy Tâm và
Duy Vật và để có thể đạt đến chỗ cảnh giới thực
tế của tồn tại. Chứng tỏ sự suy lý của ông đứng trên
tuyệt đối mà phát huy thì có thể được kết quả giống
như Phật Thích Ca và chẳng lọt vào nhị nguyên luận, lại
nữa tất cả sự tranh luận về Duy Tâm và Duy Vật của các
nhà Triết học Tây Phương cũng chẳng thể phát sinh. Mặc
dù từ xưa nay cả hai phái đều tôn ông ta làm thủy tổ mà
cho đến ngày này con cháu của hai phái vẫn tiếp tục đả
kích nhau đến kỳ cùng. Gốc tai họa ấy là do dùng bộ não
suy lường vậy.
Cho
đến ngày nay, những phương pháp tìm cầu chân lý của các
nhà triết học Tây Phương nếu chẳng phải dùng duy tâm thì
cũng dùng duy vật. Kỳ thực, duy tâm và duy vật chẳng qua
là hai đầu của một sự vật, nghĩa là nằm trong phạm vi
tương đối, nếu nhờ nó để suy diễn ra chân lý thì lý
ấy đương nhiên cũng là tương đối mà thôi. Ông Parmenides
chẳng phải không muốn đem Tồn Tại thuyết thành một
nguyên lý Nhất Nguyên Luận viên mãn nhưng dù biết có
Một mới đúng là khi suy diễn ra, kết quả lại biến
thành Hai. Cái sai lầm ấy là do dùng bộ não để phân
biệt, suy luận, mà chẳng biết cách dùng bộ não để đập
tan vô-thủy-vô-minh. Cách đó chính là pháp Thiền Trực-Tiếp
truyền thừa từ Phật Thích Ca, cũng gọi là Bồ Đề Đạt
Ma Thiền và ngày nay gọi là pháp Tham Tổ-Sư-Thiền vậy.
Cũng
có nhà triết học Tây Phương họ muốn nghiên cứu về tư
tưởng Đông Phương, người đầu tiên chịu ảnh hưởng của
Đông Phương là ông Arthur Schopenhauer, mà tiếc rằng ông gặp
người tiểu thừa. Phái tiểu thừa khiến ông thành bi quan
yếm thế, khiến ông phủ định dục vọng, ý chí, khái niệm,
thế giới v.v.... rốt cuộc chỉ được một chữ “Vô”.
Nếu tất cả đã Vô thì sự sống đâu còn ý nghĩa
gì? Ông tiếp tục cái khổ quán (8) của tiểu thừa cho rằng
dục vọng là nguồn gốc của thống khổ cho nên phải phủ
định dục vọng để đạt đến sự yên tịnh hòa bình. Nhưng
ông lại biết dục vọng là chẳng thể dứt hẳn, cho nên
lọt vào cái hầm sâu bi ai. Rất tiếc ông không gặp người
đại thừa, nếu ông gặp được thì sẽ cảm thấy đời
sống phong phú đầy đủ ý nghĩa, ắt sự thành tựu của
ông sẽ vĩ đại hơn.
Tinh
nghĩa của Phật pháp ở nơi Thực Tướng, Thực Hành, Thực
Dụng, nhưng học giả Tây Phương lại đặt cái tên gọi
là Hư Vô (Buddhistic Nihlism) thực là sai lầm lớn. Ấy
là vì học giả Tây Phương chưa rõ được giới hạn tam thừa
của Phật pháp mà lại lấy lý Tiểu Thừa cho là toàn bộ
tư tưởng của nhà Phật.
Chúng
ta xem nhà triết học Arthur Schopenhauer lọt vào tiêu cực thì
biết.
Thế
nào gọi là tuyệt đối? Tuyệt đối tức là Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
Vì
nói Phật tánh chẳng có gì để so sánh và thí dụ được,
như trong kinh nói: “Ví như chân như chẳng thể thí dụ.”
Ông
biết được bản thể cuối cùng của vũ trụ chăng?
Ông
biết được thực tướng của một hạt cát chăng?
Cũng
như ông Newton nói: “Sự hiểu biết của tôi còn không
bằng một hạt cát trên bãi biển.” Người ta vì câu
nói này mà khâm phục ông là một nhà khoa học rất vĩ đại
và khiêm tốn. Kỳ thật, ông Newton đã có phần tự hào, tự
tin, đánh giá phần tri thức của mình quá cao rồi vậy. Nếu
ông ấy chứng nhập tuyệt đối thì sẽ biết lời nói trên
là sai mà nên nói lại như vầy: “Tôi đối với thực
tướng của một hột cát cũng không biết một chút nào cả.”
Bởi
vì sự phát minh của tất cả nhà khoa học và triết học
chẳng qua là chân lý tương đối, chân lý có giới hạn, chẳng
phải chân lý tuyệt đối cuối cùng và vô hạn. Vì định
luật của ông Newton kiến lập đã bị Einstein lật đổ và
định luật của Einstein kiến lập sau này cũng có thể bị
người khác lật đổ. Cái chân lý mà có thể bị lật đổ
thì đâu còn giá trị gì nữa.
Khi
con mắt thần linh của tuyệt đối nhìn thẳng tất cả chúng
sanh thấy mỗi mỗi đều đang đoán mò hoặc cắm cúi dùng
kính hiển vi hoặc là dùng tư tưởng suy lường, với tất
cả tinh thần siêng năng làm việc, mong phát hiện được một
chân lý nào, thì thấy buồn cười rằng: “Dẫu cho các
ông vận dụng hết tim óc vẫn chẳng biết một tí gì về
ta. Bởi vì các ông dùng tư tưởng cảm giác là tương đối,
tương đối chẳng thể biết tuyệt đối, cho nên ông là ông,
ta là ta, ông muốn nhận thức tất cả trước tiên nên nhận
thức ta, nếu không nhận thức ta thì ông chẳng thể nhận
thức tất cả. Nhưng chỉ khi nào ông buông bỏ tất cả tìm
cầu, buông bỏ tất cả hình thức và danh tự mà dùng tâm
hồn trong sạch để nội chiếu, khi cơ duyên đến hoát nhiên
đại ngộ (9), khi ấy ông sẽ tự buồn cười rằng: “À,
mình vốn là nó.”
Không
gian và thời gian là môi trường hoạt động của tất cả
nhà khoa học và triết học cũng là môi trường hoạt động
của tất cả vật chất và tinh thần, nếu lìa khỏi không
gian và thời gian thì khoa học với triết học chẳng thể
hoạt động, vật chất và tinh thần cũng không có chỗ để
y chỉ và tồn tại.
Nhưng
không gian và thời gian là căn nhà do tư tưởng, cảm giác
của loài người tự kiến tạo ra, nếu không có tư tưởng
và cảm giác thì căn nhà này không thể thành lập.
Cho
nên tư tưởng cảm giác khi bị phủ định thì không gian và
thời gian cũng phải bị phủ định, không gian thời gian bị
phủ định thì tất cả vật chất tinh thần cũng phải bị
phủ định, tất cả khoa học triết học cũng phải bị phủ
định. Vậy thì tất cả thế giới vạn vật đều mất hết
chỗ đứng chân.
Bởi
vì tư tưởng cảm giác là tương đối cho nên không gian thời
gian cũng là tương đối, vì không gian thời gian tương đối
cho nên vật chất tinh thần cũng là tương đối, khoa học
triết học đều là tương đối. Từ đây suy rộng ra thì
tất cả vũ trụ vạn vật đều là tương đối.
Tương
đối là đối lập nhau, phủ định với nhau, nói tóm lại
cả vũ trụ vạn vật đều tự nó phủ định chính nó.
Nhưng
khi ông bước vào cảnh giới tuyệt đối thì sở thấy của
ông sẽ là mênh mông vô biên, vô thủy vô chung, vô cùng vô
tận, ấy là tồn tại của tuyệt đối.
Ngay
đó chẳng thể tưởng tượng thế nào gọi là không gian và
thời gian, thế nào gọi là vật chất và tinh thần, nhưng
mà những cái trên mỗi mỗi tự an nơi ngôi vị nó, hoàn toàn
đầy đủ, vĩnh viễn tồn tại nơi quốc độ tuyệt đối.
Ở
nơi quốc độ tuyệt đối, vật chất và tinh thần là bình
đẳng và cộng thể mà cùng nhau tồn tại, chẳng thể phân
chia. Ấy là bông hoa đẹp vĩnh viễn tồn tại không bao giờ
héo tàn. Ở đất này vĩnh viễn không có duy tâm luận và
duy vật luận, vĩnh viễn không có dấu tích của kẻ duy tâm
luận và duy vật luận. Họ chẳng thể dẫm chân vào đất
này bởi vì cánh cửa của tuyệt đối không bao giờ tư tưởng
và cảm giác có thể mở ra.
Đường
lối khoa học và triết học hiện nay chỉ là xu hướng đến
chỗ sa mạc hoang vu của tương đối. Con thuyền suy lý và
biện chứng hiện đang phiêu lưu nơi biển cả của vô minh,
vĩnh viễn không đến được bờ tuyệt đối.
Tư
tưởng cảm giác là hóa thân của nhất niệm vô minh. (9)
Vô
thủy vô minh (10) là hang ổ của nhất niệm vô minh.
Khi
nhất niệm vô minh chưa ra đời thì thời gian và không gian
chẳng thể bị bộ não cảm biết được, chẳng thể bị
tính toán được. Khi nhất niệm vô minh đã sanh khởi thì
thời gian bị giả lập rồi, không gian bị tính toán rồi,
sinh mạng được thừa nhận rồi, tự ngã bị tham luyến rồi.
Sự
bắt đầu của thời gian không gian cũng là bắt đầu của
sinh mạng, cũng là bắt đầu của tự ngã, cũng là bắt đầu
của vạn sự vạn vật, cũng là bắt đầu của tất cả sự
mâu thuẫn, nói tóm lại tức là bắt đầu của cả vũ trụ
tương đối.
Khi
nhất niệm vô minh im lặng trở về hang ổ vô thủy vô minh
thì tự ngã theo đó tiêu diệt, vạn sự vạn vật cũng theo
đó tiêu diệt, cả vũ trụ thời gian và không gian cũng theo
đó tiêu diệt, tất cả mâu thuẫn cũng theo đó tiêu diệt,
chỉ còn lại miếng đất đen tối mênh mông, hoang vu của
vô thủy vô minh, cũng là hang ổ của kẻ tương đối.
Vô
thủy vô minh giống như một bức màn đen che khuất tất cả
thể tướng chân thật, nó là ranh giới giữa tuyệt đối
và tương đối, ranh giới ngăn cách giữa chân với giả.
Khi
nhất niệm vô minh từ trong bóng tối của màn đen xuất hiện
thì tất cả tuồng kịch của thiện ác, thị phi, buồn vui,
tan hợp... ngay đó bắt đầu, tất cả mưa gió giông bão bắt
đầu, vận mạng biến đổi không chừng cũng bắt đầu, tất
cả lịch sử mâu thuẫn xung đột đấu tranh đổ máu đều
từ đó bắt đầu cả.
Nhưng,
tất cả những điều trên đều là ảo thuật hư vọng, chỉ
có Phật Thích Ca nhìn thấu sự thật, dùng bàn tay Bát Nhã
(11) của Phật mở ra bức màn đen tối của vô thủy vô minh
thì trong khoảnh khắc tất cả tuồng kịch vui buồn của tương
đối đều tiêu diệt, tất cả mưa gió giông bão đều yên
bình trở lại, trời đất hoát nhiên sáng tỏ, ngay đó tuyệt
đối bắt đầu, chân ngã (12) tự hiện, ngay trước mắt đều
là vũ trụ tuyệt đối, tất cả hoàn toàn đầy đủ chẳng
thiếu chẳng dư, cho đến một hạt bụi cũng tự hiện ra
hình tướng chân thật.
Đời
sống của tuyệt đối là vô cùng phong phú vô cùng an lạc
đẹp đẽ chẳng gì so bằng. Ở đây không có sanh tử, không
có thiện ác, không có giầu nghèo, không có giai cấp, không
có trí ngu, không có thị phi, không có tốt xấu, không có
mâu thuẫn, không có tất cả danh tự và hình thức của tương
đối. Ở đây chỉ có hoàn toàn bình đẳng vô hạn của tuyệt
đối, tự do chân chính, an lạc vô cùng, cuối cùng đến chỗ
không sanh không diệt, cũng là vĩnh sanh của tuyệt đối vậy.
Thế giới tuyệt đối này tức là miếng đất trong sạch
của Niết Bàn do mười phương chư Phật (13) cùng nhau tán
thán. Phật Thích Ca đã dùng bốn chữ Thường- Lạc- Ngã-
Tịnh để tán thán cảnh đẹp của Niết Bàn này.
Ở
đây chẳng sanh chẳng diệt, chẳng phải do sáng tạo mà là
bổn nhiên, ấy là chữ Thường của Tuyệt Đối.
Ở
đây vô khổ vô lạc, chẳng có bó buộc và giải thoát, ấy
là chữ Lạc của tuyệt đối.
Ở
đây vô ngã, vô nhơn, vô Phật vô chúng sanh, chẳng phải siêu
thăng mà là bản trụ, ấy là chữ Ngã của tuyệt đối.
Ở
đây vô cấu vô tịnh, vô tội vô phúc, chẳng cần tu tập
mà bổn lai trong sạch, ấy là chữ Tịnh của tuyệt
đối.
Đem
tất cả cảnh giới tương đối buông bỏ rồi tức là giải
thoát, ấy là phương pháp duy nhất để tiến vào tuyệt đối
nên gọi là pháp môn bất khả tư nghì. Bất khả tư nghì
tức là tuyệt đối chân như, nghĩa là chẳng thể dùng tư
duy cảm giác để đạt đến, chẳng thể dùng ngữ ngôn văn
tự để diễn tả, chỉ do phủ định tương đối mới có
thể tiến đến quốc độ tự do bình đẳng của tuyệt đối.
Phương
pháp của Phật Thích Ca đem tất cả tương đối đều hoàn
nguyên trở lại thành tuyệt đối cho nên tất cả đều là
nguyên nhân tự kỷ (cội nguồn do mình), ngoài nguyên nhân
tự kỷ ra chẳng có nguyên nhân nào khác, cho nên gọi là Vô-Dư-Niết-Bàn
(14) cũng gọi là Vô-Lậu-Giải-Thoát (15). Đã chẳng
có nguyên nhân nào khác tức là hoàn toàn tự chủ, hoàn toàn
tự do bình đẳng, chẳng có giai cấp và xung đột.
Cái
bản thể của tuyệt đối là như như bất động, nếu nó
có biến động thì chẳng phải là tuyệt đối, nếu nó có
biến động ắt phải có một thứ nguyên nhân nào khác hoặc
sức mạnh lay động nó, ấy tức là tương đối rồi, nên
chẳng thể được tôn xưng là Duy-Nhất-Nguyên Nhân của
tuyệt đối.
Nhà
triết học Immanuel Kant (1724-1804) nói:
“Mỗi
mỗi cảm giác vui hoặc buồn chẳng phải do ngoài cảm giác
ảnh hưởng mà sanh khởi, là do tình cảm của mỗi cá nhân
tự mình sanh ra, vì vậy nên trong khi một người cảm thấy
vui mừng thì người khác có thể cảm thấy chán ghét, một
người vì ái tình đau khổ, trong khi kẻ tình địch thì cảm
thấy sung sướng, cảm tình mỗi mỗi vốn là chẳng đồng
là lại mong cầu một thứ cảm giác đồng nhất ấy là đều
chẳng thể được, từ đây mà sanh ra tranh biện thực là
ngu si.Xem như thế thì trên thế giới đâu có món nào chẳng
phải tương đối, có gì là tiêu chuẩn chân chính, cho nên
sự an lạc của tương đối đồng thời cũng là đau khổ.”
Nhà
triết học Friedrich Wilhelm Nietzsche cho là:
“Con
người mỗi mỗi tự tạo cho mình một cái “chuồng người”,
nếu muốn ra khỏi nó phải làm siêu nhân, nhưng siêu nhân
lại biến thành “chuồng người” nữa, bởi vì có một
cái chuồng người giống như ác ma dính sát trên cơ thể con
người mà nó chỉ biết đả phá chuồng người bên ngoài
mà không chịu trở lại tìm chuồng người nơi bản thân mình
để tự phá, cho nên mặc kệ ông chạy trốn đến chân trời
góc biển nào đều chẳng thể thoát thân.Muốn tìm cách thoát
ra, khôi phục tự do của loài người ấy là công lao của
Immanuel Kant”.
Khi
ông rõ được tác dụng của nhất niệm vô minh thì ông sẽ
biết được tại sao tất cả đều thành “Nhị” (tương
đối), khi ông rõ được tác dụng tuyệt đối của Phật
tánh thì ông sẽ hiểu được tại sao tất cả đều “Bất
nhị” (tuyệt đối) - nhưng chớ lầm nhận vô thủy vô
minh là “cảnh giới bất nhị”, bề mặt nó dù giống “bất
nhị” mà có chủng tử “nhị”, khi nhất niệm vô minh từ
nó sanh khởi thì tất cả đều thành “nhị” rồi.
Khi
tất cả đều thành “Nhị” rồi thì sự vật ở ngay
trước mặt ông, ông cũng chẳng có cách nào để biết được
thực tướng của nó. Khi tất cả đều “bất nhị” thì
sự vật dù ở xa ngoài địa cầu ông cũng được biết hết
chẳng thiếu sót. Hiện tại ông biết như thế, quá khứ cũng
phải như thế, vị lai cũng phải như thế, vì ông tự mình
tức là tuyệt đối, tuyệt đối tức là ông, khi ấy ông
đã siêu việt không gian và thời gian rồi.
Phật
Thích Ca từng nói “Biết hết sự vật trong mười phương
tam thế”, nếu ông hiểu rõ đạo lý tuyệt đối thì
ông sẽ nhìn nhận lời của Phật Thích Ca rất chính xác.
Cái sinh mạng vĩnh viễn không chết, cái chân lý vĩnh viễn
không thay đổi, sự chính xác này đâu có gì để so bằng
được, đâu có ý nghĩa gì có thể hơn nữa.
Từ
xưa đến nay, tất cả nhà triết học chưa từng có người
nào bước đến cửa tuyệt đối, lại chú ý những việc
tương đối như thị phi, thiện ác, quá khứ vị lai, sanh trưởng
hủy diệt, quyền lực sinh mạng v.v..., kết quả chẳng có
một món nào chẳng bị chìm đắm nơi biển cả tương đối,
theo Phật nhãn (16) mà xem xét ấy là ngu dại đáng thương
xót biết bao! Cái hiệu quả của tư tưởng cảm giác chẳng
qua là một phê phán điên đảo và trong “mở mắt chiêm bao”
(17), do họ hôn mê và hiểu lầm làm cho cả loài người đều
lọt vào vậng mạng bi thảm.
Bởi
vì khổ với vui là tương đối chẳng thể phân chia, ví như
trên mặt người có thể hiện ra hào quang vui vẻ cũng có
thể đắp lên đám mây u sầu bi thảm. Hai cái buồn vui liên
kết với nhau cho nên ai muốn được an vui tối cao ắt phải
chuẩn bị lãnh thọ thống khổ tối cao, trái lại kẻ đã
chịu đựng thống khổ nhiều nhất thì có thể cảm giác
đến sự an vui nhiều nhất, bởi vì an vui và thống khổ đối
đãi lẫn nhau, chẳng có thống khổ thì an vui cũng chẳng thể
thành lập.
Kỳ
thật, khổ vui đều là hóa thân của nhất niệm vô minh, nhất
niệm vô minh ẩn giấu nơi hầm sâu của vô thủy vô minh tức
là cái kho tàng bí mật thâm sâu của A-lại-da-thức (18). Khi
nhất niệm vô minh chạy ra khỏi cửa bí mật đó liền biến
thành những thứ tình cảm mừng giận buồn vui mỗi mỗi chẳng
đồng chen vào tâm trí của ông để chi phối ông, lúc ấy
ông đã thành một người múa rối rồi.
Nếu
ông không chịu làm người múa rối thì phải lợi dụng trí
Bát Nhã (tham Thoại-đầu (19)) theo sát dấu chân của nhất
niệm vô minh, tìm đến chỗ ẩn thân của nó là hầm sâu
vô thủy vô minh để phá hủy ngay thì màn đen của vô thủy
vô minh được mở ra, sợi dây khống chế người múa rối
được cắt đứt, bổn lai diện mục liền xuất hiện, lúc
ấy tất cả mừng giận buồn vui đều biến thành tuyệt đối
của Phật tánh, tất cả đều do bản năng tuyệt đối tự
mình làm chủ.
Trước
khi kẻ tương đối bị vô minh chi phối nay liền được giải
thoát, tất cả đều trở về chân thực tuyệt đối.
Khi
tất cả đã trở về tuyệt đối thì khổ và vui bình đẳng,
tất cả hình thức và danh dự bình đẳng, cái bản năng của
tuyệt đối đứng trên đài tư lệnh phát huy lệnh tuyệt
đối khiến khắp cả vũ trụ đều biến thành hoàn toàn tuyệt
đối. Chỉ có trên quốc độ tuyệt đối mới có sự giải
thoát chân chính, mới có sự tự do chân chính, mới có bình
đẳng chân chính, chẳng phải do ai kiến tạo mà bổn lai vốn
như thế.
Cái
bản nguyện tự tánh của chúng sanh vốn là tuyệt đối tự
do và bình đẳng, cái tự do bình đẳng này hễ đắc được
rồi thì vĩnh viễn không thể biến mất vì nó là từ vô
thủy bổn nhiên như thế.
Hiện
nay có một số người tự cho mình là tư tưởng cao siêu,
đứng trước thời đại hô to khẩu hiệu tranh thủ tự do
bình đẳng. Kỳ thực, họ chưa hiểu được ý nghĩa chân
chính của tự do bình đẳng, cái tự do bình đẳng trong tâm
trí họ chẳng qua là một thứ tự do bình đẳng tương đối
có giới hạn mà thôi. Bởi vì họ đã chịu đựng đủ thứ
thống khổ đàn áp, bó buộc của tương đối cho nên mới
nghĩ đến cần và quý sự tự do bình đẳng, cũng vì tầm
nhìn của họ có giới hạn chẳng thể đạt đến ngoài vòng
tương đối cho nên lấy tự do bình đẳng của tương đối
làm thỏa mãn làm mục tiêu để tranh thủ mà thôi.
Phật
Thích Ca đã đến chỗ tự do bình đẳng tuyệt đối siêu
việt tương đối nên Ngài dẫn dắt đại chúng tranh thủ
nó. Ngài nhận rằng sự tự do bình đẳng của tương đối
vẫn không siêu việt biển khổ của luân hồi, bị hạn cuộc
ở trong không gian thời gian, chẳng thể duy trì lâu dài, là
biện pháp không rốt ráo.
Mặc
dù chúng ta chẳng thể không thừa nhận sự tương đối trên
thế giới, sự tự do bình đẳng của tương đối so với
cái khác thì tốt đẹp hơn tiến bộ hơn, đáng khen hơn, nhưng
khi chúng ta đã biết được có một thứ tự do bình đẳng
tuyệt đối có thể đạt đến thì nên bỏ cái kia để lấy
cái này. Nếu lấy được tuyệt đối rồi thì không còn sự
bỏ và lấy của tương đối nữa.
Câu
nói tự do bình đẳng này trước tiên là từ trong miệng Phật
Thích Ca nói ra, Ngài là người đầu tiên dẫn dắt loài người
tranh thủ tự do bình đẳng nhưng ngày nay đã bị người ta
quên mất lại cho Ngài là một vị thần hoặc chúa tể, là
một quái vật mê tín chẳng thể hiểu. Thật là không bình
đẳng biết bao!
Thật
là ngu dại quên cội nguồn biết bao!
Xin
ghi nhớ rằng sự tự do bình đẳng của tuyệt đối là trung
tâm tư tưởng của Phật, trong kinh điển Đại-Thừa có phát
huy rằng : “Đắc đại giải thoát, đắc đại tự tại
cho đến định huệ bình đẳng (20), tất cả bình đẳng v.v...”
đều là nghĩa này, chẳng phải lời nói suông mà là thực
tại có thể đạt đến, là lý lẽ vĩnh viễn chẳng biến
đổi.
Chúng
ta nếu thực hành theo tinh thần cứu thế của Bồ Tát (21)
thì nên đưa Phật pháp vào trào lưu triết học thế giới
cho nó tự phát khởi tác dụng. Dù người ta xem nó như một
khúc cây vẫn còn có chỗ để dùng, cũng có thể được một
đại nhân duyên xuất hiện trên đời một lần nữa cũng
không chừng. Ít nhất so với việc thăng tòa giảng kinh thâu
mấy bà lão thiện lương làm đệ tử quy y còn có tác dụng
khá hơn, lại có thể nối tiếp huệ mạng Phật hoặc mở
rộng huệ mạng Phật. Nhưng công việc này rất phức tạp
khó khăn, chúng ta vì muốn khuyến nhủ nhà triết học đối
với Phật pháp sanh khởi hứng thú, chúng tôi nguyện đem Phật
pháp chỉnh đốn thành một thế hệ sáng tỏ chính xác cho
một số người nghiên cứu dễ tiến vào khu vườn đã bị
quên lãng từ lâu này, cho nên không tránh khỏi sự trào phúng
cho là miễn cưỡng theo đuổi, khổ tâm này mong sẽ được
những bậc trí thức tha thứ cho.
Phật
Thích Ca cùng môn đồ phát huy pháp môn bốn thừa (22) là một
quá trình biện chứng, trong quá trình này phủ định lại
thêm phủ định, mâu thuẫn lại thêm mâu thuẫn, bởi vì bản
thân của pháp môn này tức là tương đối mà chẳng phải
tuyệt đối. Cho nên có đại thừa tiểu thừa, các tông phái
đối lập với nhau, phân chia rồi lại thống nhất, nhưng
trung tâm tư tưởng của Phật Thích Ca thì là bản thể tuyệt
đối (chân như) và phát huy ra tự do bình đẳng tuyệt đối,
nghĩa là dù trải qua vô tận thời gian cũng chẳng thể thay
đổi chút nào, bởi vì nó đã đạt đến tuyệt đối tức
là chân thực cuối cùng, tất cả đã được khẳng định
mà chẳng thể phủ định nữa.
Pháp
môn bốn thừa chẳng qua là một thứ phương tiện đưa người
đến cửa tuyệt đối mà bản thể tuyệt đối là mục đích
cuối cùng, đạt đến mục đích rồi thì phương tiện cũng
phải bỏ hẳn.
Giá
trị chân chính của Phật Thích Ca là đặt trên bản thể
tuyệt đối cuối cùng, hễ đến bản thể tuyệt đối này
thì tất cả vấn đề tương đối như sanh tử, thiện ác,
tồn tại và hủy diệt v.v.... đều tự nó giải quyết xong.
Người
nghiên cứu Phật pháp trước tiên nên rõ điểm này rồi đối
với Phật pháp mới khởi sanh ra sự hiểu lầm, như phương
pháp tiểu thừa là ngưng nghỉ lục căn mà trung thừa thì
lại phản đối ngưng nghỉ lục căn mà ngưng nghỉ nhất niệm
vô minh, phương pháp của đại thừa thì phản đối cả ngưng
nghỉ lục căn và nhất niệm vô minh mà lợi dụng lục căn
và nhất niệm vô minh để phá vô thủy vô minh, tối thượng
thừa thì trực tiếp biểu thị Phật tánh tuyệt đối, nếu
người học công phu thuần thục “chạm nhằm cơ duyên”
liền được tiến vào cửa tuyệt đối.
Bốn
thừa khác biệt và đối lập thực là mâu thuẫn biết bao,
nhưng hễ bước lên khu vườn tuyệt đối thì tất cả mâu
thuẫn kể trên liền biến thành hoàn toàn thống nhất.
Xưa
nay nhà triết học Tây phương và Đông phương chưa thấy rõ
toàn diện của Phật pháp, thường hay lấy một bộ phận
nhỏ trong quá trình Phật pháp bèn tự cho là toàn bộ Phật
pháp như thế này hoặc như thế kia, từ đó phồng mang trợn
mắt hồ đồ dùng ngòi bút sắc bén của họ để phê bình
công kích Phật pháp tự thấy đắc ý mà chẳng biết Phật
Thích Ca nghe xong cũng không nổi giận mà lại tỏ vẻ nhân
từ rằng : “Chúng sanh thiếu thốn trí tuệ như thề, thô
thiển như thế, hiểu lầm ý nghĩa và mục đích cuối cùng
của tôi, thật là rất đáng thương xót.”
Có
người thấy sự dứt lục căn của tiểu thừa bèn quả quyết
rằng Phật pháp là chủ nghĩa diệt dục.
Có
người thấy sự dứt tư tưởng (nhất niệm vô minh) của
Trung thừa lọt vào chấp “không” bèn quả quyết rằng Phật
pháp là chủ-nghĩa hư-vô.
Có
người thấy Phật pháp phủ định tất cả bèn quả quyết
rằng Phật pháp là chủ nghĩa tiêu cực.
Những
người đánh giá như thế còn là người thông minh đáng kính
và tự cho là có học thức về triết học, còn bọn thô thiển
thiếu trí thức xưa nay chưa từng xem qua một cuốn kinh sách
Phật nào, chỉ dựa theo con mắt ngu dại của họ, thấy một
số thiện nam tín nữ cúng kiếng lễ bái liền lớn tiếng
la lên rằng : “Ấy là qủy thần giáo, ấy là tôn giáo mê
tín”.
Học
giả Tây Phương xưng Phật pháp là Buddistic Nihlism (Thuyết
Hư Vô của Đạo Phật) tức là bằng chứng nhận lầm phương
pháp của tiểu thừa cho là toàn diện của Phật pháp. Kỳ
thực trung tâm tư tưởng của Phật pháp là bản thể tuyệt
đối chân thật chẳng phải quan niệm hoặc tượng trưng,
cũng như một vật cụ thể rất chân thật có thể dùng tay
cầm nắm được cho nên Phật Thích Ca gọi nó là thực tướng,
nay đem thực tướng xem thành hư vô há chẳng phải hoàn toàn
trái ngược ư!
Đối
với người trung thừa lọt nơi hư vô, tiểu thừa diệt dục
dứt lục căn, Phật Thích Ca luôn luôn chỉ trích mắng họ
vô dụng như “tiêu nha bại chủng” - hạt lúa bị cháy không
thể làm giống được nữa - (ghi trong kinh Niết Bàn), ý là
muốn họ vượt qua hư vô để tiến lên Đại thừa.
Phật
Thích Ca thường dùng khẩu hiệu “đại vô úy, sư tử rống
(23)” hiệu triệu quần chúng và thúc đẩy môn đồ khiến
họ dũng mãnh tiến tới cho đến quốc độ tuyệt đối cuối
cùng, rồi cả thế giới ô uế đều biến thành thế giới
trong sạch tự do bình đẳng, chẳng tiếc hy sinh tất cả để
đạt đến mục đích này. Hành vi tích cực như thế có lẽ
nào bị xem là tiêu cực!
Nói
đến phương diện mê tín nên truy cứu theo truyền thống của
dân tộc tính, hiện tượng mê tín này trong quá trình biện
chứng từ mê tín tiến lên đến chánh tín cũng là điều
ắt phải có. Hiện tượng này sanh ra rồi cũng phải bị phủ
định, chẳng dính dáng với trung tâm tư tưởng của Phật
bởi vì sự trang nghiêm của tự tánh không một ảnh tượng
nào của tương đối có thể ô nhiễm được.
Phật
Thích Ca dạy bảo chúng sanh bước thứ nhất là muốn chúng
sanh tin rằng : “Tự kỷ tức là Phật chẳng có chúa tể
khác”. Chúng ta ngày nay sở dĩ thành con người là hoàn
toàn do tự mình tạo thành theo luật nhân quả “gieo nhân
nào thì được quả nấy”, nếu chúng ta muốn thành Phật
cũng chỉ nhờ tự mình nỗ lực tự tu tự chứng, Phật Thích
Ca chẳng qua chỉ là một đạo sư mà chẳng phải chúa tể,
Ngài chỉ có thể dẫn dắt ông đến trước cửa tuyệt đối,
vào được hay không được là việc của ông, theo đó mà
xem thì còn có ý gì gọi là thần bí và mê tín.
Một
số truyện tích kỳ lạ trong kinh điển cũng chẳng phải mê
tín hoặc thần thoại, ấy là hình thức văn học của dân
tộc Ấn Độ. Người Ấn Độ từ xưa nay hay làm những tác
phẩm ngụ ngôn tuyệt diệu như những sách cầm dụ, thú dụ
v.v.... Bậc thánh của Phật Giáo đem lý Phật nạp vào trong
hình thức của truyền thống này để mong sự truyền bá thu
hoạch được hiệu quả rộng lớn hơn, vì theo lý tuyệt đối
vốn chẳng thể dùng ngôn ngữ để biểu thị chỉ có thể
nhờ những truyện tích kỳ dị mong cho con người được khai
phát trí huệ phần nào. Như Kinh Lăng Nghiêm nói : “Phật
bảo A-Nan : Hôm nay Như Lai nói thật với ngươi những người
có trí cần phải dùng thí dụ mà được khai ngộ.”
Chúng
ta nên ghi nhớ rằng chúng ta học Phật pháp là vì muốn phủ
định sanh tử tiến vào tuyệt đối để rồi độ chúng sanh,
chẳng muốn làm cho đầu óc mình bị hồ đồ thêm hoặc là
cư trú trong màng lưới của pháp-chấp cho là chỗ an thân
lập mạng của mình.
Trong
Đại tạng kinh có nhiều kinh điển hoàn toàn dùng phương
thức ngụ ngôn viết thành như : Lục Độ Tập Kinh, Bồ Tát
Bổn Sanh Kinh, Bá Dụ Kinh,
Tạp
Thí Dụ Kinh, Đại Trang Nghiêm Kinh, Soạn Tập Bá Duyên Kinh,
Hiền Ngu Nhân Duyên Kinh, Tạp Bảo Tạng Kinh v.v... giá trị
văn học rất cao.
Tổ
sư ngộ đạo Thiền Tông đối với ngụ ngôn trong kinh đều
dùng thái độ tuyệt đối để quét sạch nghi hoặc của con
người. Hiện nay đề ra một chuyện để dẫn chứng : Như
trong Thích Ca phả nói Thích Ca ra đời, Đông Tây Nam Bắc mỗi
phương bước đi bẩy bước, mắt nhìn bốn phương một tay
chỉ trời một tay chỉ đất rằng : “Trên trời dưới đất
duy ngã độc tôn”, ấy là biểu thị Phật tánh từ thể
khởi dụng “đứng cùng tam thế ngang khắp mười phương”,
nghĩa là cùng khắp thời gian và không gian, cũng là tuyệt
đối chẳng hai.
Kẻ
không hiểu ý nghĩa ngụ ngôn thường cho là thần thoại do
bày đặt mà ra, hoặc cho Phật Thích Ca là chúa tể kiêu mạn
hoặc độc tài không có bình đẳng, kẻ ngu dại lại cho Phật
Thích Ca là sinh ra có thần tánh đặc dị, ấy đều là không
rõ cách diễn tả về văn học của ngụ ngôn Ấn Độ và
trong đó có ám thị lý tuyệt đối.
Có
người đem truyện trên hỏi Vân Môn Thiền Sư, Vân Môn nói
: “Khi ấy nếu tôi gặp thấy, một gậy đánh chết cho con
chó ăn để mong thiên hạ được thái bình”. Sau này Lăng
Nha Thiền Sư bình phẩm Vân Môn về công án này rằng : “Hết
lòng phụng sự vô số cõi, ấy mới gọi là đền ơn Phật.”
Vậy
mới biết thái độ của Tổ Sư Thiền Tông đều là sáng
tỏ chính xác mà không thoả hiệp với kẻ khác, bởi vì đã
tiến vào tuyệt đối nên chẳng có kẻ nào làm lay động
được (Phật Thích Ca ám thị nghĩa bất nhị, Vân Môn cũng
ám thị nghĩa bất nhị).
Người
nghiên cứu Phật pháp chớ nên xem theo các thứ mầu sắc kỳ
lạ của lớp áo ngoài, áo ngoài ấy chẳng qua là những đặc
tính của dân tộc, trải qua bao nhiêu không gian thời gian kết
hợp những hình thức mâu thuẫn như quan niệm truyền thống,
phong tục tập quán mà thành. Trái lại nên cho ánh sáng con
mắt thấu qua lớp áo ngoài mà nhìn vào tinh túy của Phật
pháp, ấy mới là chân lý của tuyệt đối không bao giờ biến
đổi.
Các
tông Đại Thừa đều có một bộ áo ngoài của họ gồm đủ
mầu sắc kỳ lạ khiến người xem cảm thấy kinh ngạc và
chới với, ông chẳng nên bị nó làm cho kinh sợ mà lui sụt.
Ông nên xem rõ các công năng chính xác của nó chẳng qua là
muốn từ tương đối đạt đến tuyệt đối, khi đến tuyệt
đối rồi liền bỏ hẳn nó đi.
Các
nhà triết học Tây Phương thế kỷ 18 đều cho Arthur Schopenhauer
chịu ảnh hưởng nhiều của Phật pháp Đông Phương, ông
ấy phủ định lý chí, phủ định khái niệm, phủ định
tất cả, cuối cùng lại được một chữ vô, vì vậy
nói ông ấy là tiêu cực. Chúng ta thừa nhận A. Schopenhauer
chịu ảnh hưởng của Phật pháp kết quả được chữ vô
thành tiêu cực ấy cũng là lẽ dĩ nhiên, nhưng A. Schopenhauer
chịu ảnh hưởng của Phật pháp về giai đoạn nào mà được
kết quả này, điểm này rất cần chú ý, chúng ta nên xét
cho rõ chớ nên hàm hồ làm cho người đời sau hiểu lầm.
Thực
ra sai lầm của A. Schopenhauer là vì đem tiểu thừa của Phật
pháp cho là toàn diện của Phật pháp, ông chỉ biết phủ
định tất cả mà chưa đạt đến chỗ khẳng định tất
cả, nên ông bị chữ vô cuốn ngã đọa vào hầm sâu đen
tối mênh mông. Ông ấy tiếp thụ khổ quán của tiểu thừa
mà chủ trương phủ định dục vọng, phủ định tất cả,
xem giống như hình thức Đông Phương, nhưng ông không tiếp
thụ phương pháp dứt lục căn của tiểu thừa, ông không
chịu đóng bít cánh cửa cảm giác mà muốn dùng nghệ thuật
âm nhạc để mong đắc Niết Bàn nghĩa là lại trở thành
hình thức Tây Phương vậy.
A.
Schopenhauer muốn dùng nghệ thuật âm nhạc để cầu giải
thoát, cầu tạm thời tiêu diệt cái ngã của cá nhân, mong
tạm thời giải toả tất cả dục vọng thống khổ nhưng
ông chẳng biết làm như thế cái ngã cá nhân tạm thời tiêu
diệt đó khi ấy đã thấm nhập trong cái ngã của nghệ thuật
âm nhạc rồi. Cái ngã của nghệ thuật âm nhạc này tức
là pháp ngã, cũng gọi là pháp chấp, vẫn bị thời gian không
gian hạn chế, ấy là giải thoát của tương đối chẳng phải
giải thoát của tuyệt đối. Khi thời gian không gian chuyển
biến thì ông sẽ lại rơi trở lại trong gông cùm của tự
ngã nữa.
A.
Schopenhauer dùng phương pháp của hình thức Tây Phương để
mong thu nhiếp nhất niệm vô minh vào một cảnh giới đơn
thuần để được tự do an lạc, thực tế thì chẳng khác
gì với chủ nghĩa ma túy. Ông dùng nghệ thuật âm nhạc để
làm say mê con người, như vậy so với việc dùng rượu chè
mỹ nữ cũng để làm say mê con người đâu có cao hơn bao
nhiêu?
Người
tiểu thừa đóng bít cánh cửa cảm giác, người Tây Phương
xem thế lấy làm kinh sợ cho nên họ không dám đi theo thử
mà lại dùng một cách khác với mức độ nhẹ hơn, nhưng
cả hai đều sai lầm vì cùng là phương pháp tương đối,
chẳng thể đạt đến Niết Bàn của tuyệt đối.
Cái
ngã của triết học Tây Phương tức là nhất niệm vô minh
của Phật pháp, cái vô ngã của triết học Tây Phương tức
là vô thủy vô minh của Phật pháp.
Nhất
niệm vô minh bắt đầu tức là tự ngã bắt đầu, khi nhất
niệm vô minh trở về cảnh giới vô thủy vô minh tức là
vô ngã vậy. Lúc vô thủy vô minh bị kích thích mà tái phát
nhất niệm vô minh nghĩa là từ cảnh giới vô ngã té trở
lại cảnh giới ngã vậy. Ngã và vô ngã là tương đối, thay
phiên nhau không chừng cho nên chẳng phải thực tại của tuyệt
đối.Âm nhạc là hóa thân của nhất niệm vô minh, nó có
thể thu nhiếp cả vũ trụ tư tưởng cảm giác vào trong hơi
thở của sinh mạng nhờ vậy mà nhất niệm vô minh, qua sự
cảm giác của nhĩ căn, đắc được Niết Bàn của tương
đối. Khi nhĩ căn đắc được Niết Bàn tạm thời thì ngũ
căn kia cũng đồng thời được cùng một hiệu quả, lúc ấy,
tức là nhất niệm vô minh hồi phục lại trạng thái nguyên
thủy (vô thủy vô minh).
Người
tiểu thừa dứt lục căn là lợi dụng ý căn thuộc về phạm
vi tư tưởng, ấy là lợi dụng pháp ngã ở cấp tối cao.
Người tiểu thừa dứt lục căn là mong đóng bít cánh cửa
tư tưởng cảm giác khiến hoàn toàn cách tuyệt với tự ngã,
lúc ấy, trong tâm thanh thanh tịnh tịnh cảm thấy an lạc,
nhưng muốn duy trì cảnh giới thanh tịnh thì chẳng thể buông
bỏ cái nhất niệm của thanh tịnh, cho nên lúc ấy nhất niệm
vô minh dù về nơi thống nhất nhưng chưa phải hoàn toàn ngưng
nghỉ vẫn bị không gian thời gian hạn chế. Lúc không gian
đổi dời, thời gian qua đi tức là âm nhạc đã hết, vở
kịch diễn xong, tai mắt lìa khỏi nghệ thuật từ trong cảnh
định của tiểu thừa chạy ra rồi cũng phải té trở lại
trong gông cùm của tự ngã.
Người
trung thừa thì muốn nhờ pháp ngã để mong đắc được giải
thoát, nhưng chẳng biết giải thoát ấy chưa đến cứu kính
nên họ từ Tiểu thừa tiến thêm một bước đem nhất niệm
vô minh hoàn toàn ngưng nghỉ tức là đem tư tưởng cảm giác
hoàn toàn tiêu diệt. Cảnh giới lúc ấy rất đáng kinh sợ,
là vô tri vô giác, chỉ còn hô hấp chưa ngưng nghỉ ngoài
ra hoàn toàn đồng như gỗ đá, mênh mông trống rỗng chẳng
còn gì cả. (Cái Vô của Arthur Schopenhauer chẳng
qua là cái Vô trên lý luận, còn cái Vô của trung
thừa này là cái Vô trên thực nghiệm).
Cái
cảnh giác Vô do thực nghiệm sở đắc này tức là cái
cảnh giới vô thủy vô minh vậy. Cảnh giới này giống như
thuần nhất cho nên nhiều người nhận lầm cho đó là bản
thể cuối cùng của tuyệt đối, nhưng cảnh giới vô thủy
vô minh này vẫn còn chủng tử tập khí rất vi tế, chủng
tử này bao gồm tinh thần lẫn vật chất, đương lúc ẩn
giấu giống như rỗng không nhưng hễ bị kích thích liền
phát sinh thành nhất niệm vô minh. Cho nên vô thủy vô minh
với nhất niệm vô minh tức là tương đối, tức là đại
diện cho Vô và Hữu. Một là thể một là dụng,
một là tịnh một là động, từ thể khởi dụng tức là
nhất niệm vô minh, tức dụng quy thể là vô thủy vô minh,
thay phiên tuần hoàn, có sanh có diệt, chẳng phải bản thể
tuyệt đối cuối cùng, bản thể tuyệt đối là bất sanh
bất diệt phi động phi tịnh.
Cái
lầm nhận cảnh giới vô thủy vô minh cho là bản thể tuyệt
đối cuối cùng này Phật Thích Ca gọi nó là Không Chấp.
Cần phải đả phá không chấp này mới có thể đạt tới
bản thể tuyệt đối cuối cùng tức là chân như Phật tánh.
Cái phương đả phá không chấp này chẳng phải Lý Luận
mà là Thực Chứng (cần phải tham cứu Tổ Sư Thiền
mới có thể thực chứng được.)
Cái
bản thể tuyệt đối cuối cùng này nếu chẳng phải chân
thật đạt đến thì những lời nói kể trên đều biến thành
hư vọng suông mất rồi. Nhưng tôi dám quả quyết rằng cái
bản thể tuyệt đối là chân thật có thể chứng nhập. Phật
Thích Ca đã đích thân chứng nhập bản thể này, về sau có
rất nhiều tổ sư, hành giả cũng dùng phương pháp của Phật
Thích Ca và đã chứng nhập bản thể tuyệt đối này, có
kinh điển đại thừa và tổ sư ngữ lục để chứng minh
đời nào cũng có chư tổ kiến tánh thành Phật cho đến cá
nhân tôi sở dĩ dám cả gan trình bày như thế cũng là vì
sở chứng của tôi với sở chứng của Phật Thích Ca hoàn
toàn đồng nhất.
A.
Schopenhauer tự mình chưa đạt đến cảnh giới cuối cùng,
ông chẳng dùng phương pháp đại thừa để chứng thực mà
chỉ nhờ tư tưởng cảm giác suy luận, kết quả lọt nơi
rỗng không. Ông chỉ biết cảnh giới cuối cùng là vô ý
chí, vô quan niệm, vô thế giới, ấy là nhận lầm cảnh giới
vô thủy vô minh cho là cảnh giới tuyệt đối cuối cùng mà
chẳng biết khi chứng nhập tuyệt đối rồi thì ý chí, quan
niệm, thế giới đều được khẳng định trở lạk, đều
là tồn tại của tuyệt đối.
Trong
kinh điển đại thừa của Phật Thích Ca luôn luôn biểu thị
tuyệt đối, lịch đại tổ sư thường dùng hét gậy chửi
mắng cũng để biểu thị tuyệt đối. Các ngài gặp mặt
trình nhau trọn vẹn đưa ra, chỉ đáng tiếc là ông không
chịu thừa đường, chẳng thể lãnh ngộ mà thôi. Ví như
Phật Thích Ca đem pháp thiền trực tiếp của Đại thừa tuyệt
đối truyền lại cho người đời sau, ấy là kinh nghiệm quý
báu của Ngài tự đã chứng qua, nếu ông không chịu theo phương
pháp ấy thực hành thì cũng như có chìa khóa mà không chịu
mở khóa rương thì làm sao đắc được bảo vật trong rương
vậy.
Hai
câu danh tiếng : “Sắc tức thị không, Không tức thị
Sắc” trong Bát Nhã Tâm Kinh thường bị một số người
hiểu lầm lạm dụng dẫn chứng giải thích bậy bạ. Theo
đúng ý kinh là : “Hiện tượng tức là Bản thể, Bản
thể tức là Hiện tượng”, bởi vì lúc ấy tất cả
hiện tượng và sắc chất chướng ngại đều biến thành
tuyệt đối mà chẳng thể phân chia, tinh thần và vật chất
đến đây đều biến thành bản thể của tuyệt đối, duy
tâm luận với duy vật luận đến đây mới bỏ hết oán thù
từ xưa nay, hai phái hoan hỉ hòa hợp thành một chẳng còn
gì khác biệt nữa. Ấy là công lao vĩ đại của Phật Thích
Ca nay tôi trình lại với
đại
chúng xem cho minh bạch.
Thiền
Tông vốn không có áo ngoài bởi vì họ dùng “bất lập
văn tự chỉ thẳng tâm người” làm tông chỉ. Nếu
chúng ta nhất định muốn tìm ra cái áo ngoài của Thiền tông
vậy thì những cách chư tổ thường dùng để tiếp dẫn người
mậu học như phương pháp hét gậy chửi mắng và những lời
nói cử chỉ kỳ lạ ghi trong lịch sử Thiền tông tức là
cái áo ngoài chẳng thể biết của họ vậy.
Thiền
tông cũng là từ tương đối tiến vào tuyệt đối, là pháp
thiền rất trực tiếp chẳng phải qua nhiều lớp phủ định,
chỉ có một phủ định sau cùng, tức là phương pháp trực
tiếp đả phá vô thủy vô minh thẳng vào quốc độ tuyệt
đối chân như. Nhưng sau khi ông tiến vào tuyệt đối thì
cái áo ngoài chẳng thể biết ấy ông lại có thể biết được
những lời nói cử chỉ kỳ là như hét gậy chửi mắng v.v.....
vốn là trực tiếp biểu thị thể dụng của tuyệt đối.
Lúc ấy, nhân sinh vũ trụ vạn sự vạn vật đều trở nên
tuyệt đối, đều được khẳng định lại vậy
Xem
Tiếp