THỜI
KỲ THỨ HAI
(350
đến 100 trước Công nguyên):
PHẬT
GIÁO TIỂU THỪA HỖN HỢP
Lịch
sử các sự kiện và giáo lý đạo Phật trong thời kỳ này,
một thời kỳ tối quan trọng trong lịch sử Phật giáo, vẫn
chưa được biết rõ ràng và đầy đủ; trước hết vì những
tài liệu để tìm hiểu lịch trình giai đoạn này quá ít
ỏi (2) và thứ hai là chưa xác định một cách rõ ràng thời
gian tính của những tài liệu đã tìm được. Giai đoạn này
chứng kiến sự phân hóa giáo hội Tăng già thành nhiều tông
phái và sự phân tán những tông phái này khắp lãnh thổ Ấn
Ðộ, mỗi tông phái phát triển riêng biệt. Sự phân hóa trong
Giáo hội tuy là một điều không hay theo quan điểm chính thống,
nhưng thực trạng này cũng chứng tỏ sự chú tâm đặc biệt
của các đệ tử, cố gắng xác định thế nào là lời dạy
chân chính của đức Phật. Ðây cũng là sự cố gắng để
giải thích những lời cựu giáo theo tân pháp và áp dụng
chúng vào thực trạng thay đổi của đời sống bấy giờ,
do sự tiến bộ của tư tưởng trải hơn một thế kỷ đem
đến.
Sự
trưởng thành của văn học Abhidhamma
Ðể
theo kịp đà phát triển của tư tưởng, các cựu tông phái
phải cố gắng vượt bực để kiện toàn và giữ vững vị
trí của mình. Và kết quả của sự cố gắng này là chúng
ta có văn học Abhidhamma của phái Theravàda (Thượng tọa bộ)
và phái Sarvàstivàda (Nhất thế hữu bộ). Những điểm tương
đồng lớn giữa các tập Nikaya (Àgama) (3) và tập Vinaya (Luật
bộ) (4) của phái Thượng tọa bộ và phái Nhất thế hữu
bộ, và những điểm tương phản lớn giữa văn học Abhidhamma
(5) của hai tông phái này nêu rõ rằng khi các tập Nikàya và
phần lớn luận bộ được kiết tập, hai giáo phái này sống
gần nhau ở Magadha (Ma kiệt đà) hay xung quanh xứ này (6) và
sử dụng chung một tài liệu (7), trái lại trong khi kiết tập
văn học Abhidhamma, chúng sống xa nhau và phát triển văn học
Abhidhamma một cách độc lập (8). Xét về nội dung của tập
Kathàvatthu, thuộc phái Thượng tọa bộ, chúng ta thấy rõ
rằng sự phát triển văn học Abhidhamma không những để kiện
toàn quan điểm riêng biệt của mình, mà cũng để công kích
quan điểm của đối phương và thành lập quan điểm của
mình đối với chúng. Do vậy, chúng ta có thể nói rằng giai
đoạn này không những chứng kiến sự xuất hiện của nhiều
tông phái mới mà cả sự phát triển mới mẻ của những
tông phái cũ (9).
Sự
xuất hiện của tập Jàtaka (Bổn sanh) và Avadàna (Thí dụ).
Ngoài
sự cố gắng của tân, cựu tông phái cạnh tranh nhau trong
địa hạt văn học, chúng ta cũng chứng kiến một sự tranh
chấp sắc bén để truyền bá giáo lý từng tông phái trong
quần chúng và chính nhờ sự tranh chấp này, đạo Phật được
truyền bá rất rộng rãi trong dân chúng. Chúng ta thấy rõ
rằng các tập Jàtaka và Avadàna có dụng ý xây dựng và phát
huy lòng tin của quần chúng đối với đạo Phật và nhờ
vậy quần chúng hóa tông giáo của mình (10). Các tập Jàtaka
là một hậu ý của Thượng tọa bộ, ban đầu không thuộc
Tam Tạng của phái này (Buddhavacana). Tập Jàtaka hay tổng số
các chuyện tiền thân mà một số mẩu chuyện được chạm
khắc vào các thạch tích danh tiếng ở Ấn Ðộ, nhất định
thuộc loại cựu trào như các học giả Rhys Davids, Cunningham,
Oldenbergn, và winternitz đã chứng minh, nhưng không phải tất
cả các mẩu chuyện Jàtaka đều đồng thời với các tập
Nikàyas. Theo Rhys Davids, các mẩu chuyện Jataka được tìm thấy
cả trong các tập Nikàya (Suttanta- Jàtaka của tập Cullaniddesa)
và trong tập Jàtaka thuộc loại chuyện tiền thân cổ kính
nhất. Ý kiến này được xem là rất có giá trị.
Jàtaka
được ghi vào trong chín bộ kinh (Navànga), một phân loại
rất xưa về kinh điển đạo Phật. Sự phân loại này có
thể khiến ta nghĩ rằng các Phật tử thời xưa không phải
không có một văn học Jàtaka riêng biệt. Sự thật không phải
vậy, chúng ta cần phải nhớ rằng sự phân loại kinh điển
thành 9 bộ kinh không phải nói đến 9 loại văn học riêng
mà chỉ là sự phân loại chín loại hành văn riêng được
tìm thấy trong kinh điển của các Phật tử cựu trào. Trong
một bài kinh Sutta hay Suttanta có thể có từng đoạn được
xem là một Sutta (Kinh), một Geyya (Ứng tụng) (11), một Gàthà
(Kệ), một Udàna (Vô vấn tự thuyết), một Veyyàkarana (Ký
thuyết), một Abbhutadhamma (Vị tăng hữu) hay một Jàtaka (Tiền
thân). Sau khi sự phân loại thành chín bộ kinh được thành
hình khá lâu, thời sự kiết tập các bộ Udàna, Itivuttaka
và Jàtaka mới xuất hiện. Sự giải thích về chín bộ kinh
của Ngài Buddhaghosa cũng nêu rõ rằng vị Luận sư này không
tìm thấy những bộ phận văn học nào tương ứng với chín
bộ kinh. Ðiều đặc biệt đáng chú ý là sự giải thích
của vị Luận sư về hai trong chín bộ kinh tức là Vedalla
(Phương quảng) và Abbhutadhamma (12). Vị Luận sư thú nhận
không tìm thấy một tập nào hay toàn bộ nào có thể phân
loại vào hai loại trên và vị này phải ghi một số kinh vào
loại này. Dựa vào hai điểm trên để suy xét, chúng ta nghĩ
đến nên giải thích cả bảy bộ kinh còn lại cũng tương
tự như hai bộ Vedalla và Abbhutadhamma. Thay cho liệt kê toàn
tập Abhidhamma vào Veyyàkarana (13), các bài kinh, trong ấy Ngài
Sàriputta, Mahàkaccàyana và đức Phật (14) giải thích với
nhiều chi tiết về Tứ đế và Bát chánh đạo, hay về giáo
lý khác của đạo Phật hay những lời dạy căn bản của
đức Phật, tất cả bài kinh kể trên nên liệt kê vào Veyyàkarana.
Cũng vậy, bộ kinh Jàtaka không phải chỉ nói đến 550 chuyện
tiền thân như Luận sư Buddhaghosa đã nói, mà chỉ cho một
số câu chuyện trong các tập Nikàya khi đức Phật kể đến
những tiền thân của Ngài. Pùrvànusmrtì (Túc mạng minh) là
một trong những thắng trí (Abhijnà) của vị A-la-hán. Như
vậy thật phù hợp với giáo lý nguyên thủy khi nói đ?n các
tiền thân. Nhưng dụng ý dùng các mẩu chuyện về Túc mạng
minh để làm phương tiện truyền bá đạo Phật, dụng ý này
đến sau, ít nhất là một thế kỷ nữa, từ khi đạo Phật
mới thành hình. Do vậy chúng ta phải đặt sự trước tác
hay kiết tập văn học Abhidhamma và văn học Jàtaka trong giai
đoạn thứ hai (15).
Như
Buddhaghosa , các nhà Luận sư Ðại thừa đã cố gắng phân
loại Tam tạng kinh điển của mình theo 12 bộ kinh - một sự
phân loại được Nhất thế hữu bộ, Ðại chúng bộ và các
tông phái khác chấp nhận đặt tập Astasàhasrikà Prajnàpàramità
theo Sùtra,và đặt tập Gandavyùha, Samàdhiràja và Saddharma-
pundarika (Diệu pháp liên hoa) theo Veyyàkarana, v.v... Nhưng sự
phân loại kinh điển theo 12 bộ kinh này không phải là công
trình của các nhà Ðại thừa. Chính do các vị Nhất thế
hữu bộ (16) và Ðại chúng bộ khởi xướng và được các
tông phái Tiểu thừa khác tuân theo. Ba bộ kinh được thêm
là Nidàna (Duyên khởi). Avadàna (Thí dụ) và Upadesa (Luận nghị).
Burnouf giải thích Nidàna là những tác phẩm nói đến những
nguyên nhân trước khi xảy ra sự tình, nghĩa là như thế nào
Sàkyamuni thành Phật. Nguyên nhân là đức Phật đã thành tựu
các hạnh Pàramita (Ba-la-mật) và như vậy các tác phẩm hay
một phần của những tác phẩm này diễn tả sự thành tựu
các hạnh Ba-la-mật được gọi là Nidàna. Burnouf cũng nêu
rõ là không có một văn học nào được gọi là Nidàna. Sự
giải thích của Burnouf được chứng minh bởi phần Nidanakathà
của tập Jàtakatthavannanà. Nhưng trong văn học Ðại thừa
cũng như trong tập Mahàva- stu, Nidàna có nghĩa là tự phần,
phần này nhiều khi đề cập trước đến vấn đề sẽ nói
đến ở các đoạn sau, như trường hợp tập Mahàvastu (17).
Những đoạn đức Phật sửa soạn nhập thiền, phóng hào
quang v.v..., sự xuất hiện của đức Phật trên hoa sen v.v...
trước khi giảng tập Prajnàpàramita được gọi là Nidàna
(18). Trong những bản dịch Tây Tạng của tập Ratnakùtasùtra
(Bảo tích kinh), dịa điểm diễn giảng của một kinh được
gọi là Nidàna. Theo các giải thích trên, Nidàna có thể xem
là tự phần của một tác phẩm. Nghĩa của chữ Avadàna đã
rõ ràng và không cần giải thích thêm. Chữ này gồm tất
cả những mẩu chuyện tiền thân đức Phật hay những đệ
tử của Ngài, hay những đệ tử tại gia đặc biệt của
Ngài và một văn học rất phong phú được nẩy nở theo phân
loại này (19). Nhưng sự giải thích danh từ Upadesa có một
vài điểm khó hiểu. Không có lý do gì để phân loại các
loại kinh Tantrà (Mật kinh) theo Upadesa vì các loại này chưa
được thành hình khi danh từ Upadesa được phổ biến. Upadesa
nghĩa là giảng huấn, như chữ Tây Tạng bab-par-bstanpahisde
dịch chữ Upadesa đã chứng minh. Trong một tác phẩm Hán văn
(20), upadesa được giải thích là những bài đề cập đến
những pháp tế nhị và bí mật. Như vậy chữ này, về sau
được hiểu theo nghĩa bí mật, như tập Abhisamayalankàra kàrikà
đôi khi được gọi là Prajnàpàramitopadesasàstra (21).
Sự
chấp nhận các hạnh Ba-la-mật trong giáo lý Thượng tọa bộ
Chúng
ta thấy rõ loại văn học được chấp nhận, ít nhất là
theo hai phân loại. Chúng gồm phần lớn các mẩu chuyện, sự
tích và ví dụ v.v... hơn là phần giáo lý chính của đạo
Phật. Chúng được chấp nhận trong văn học Phật giáo dưới
hình thức Pùrvànusmrtis. Mục đích chính là phổ thông hóa
đạo Phật và để nêu rõ đạo Phật là đạo cho đại chúng
cũng như cho một số ít người chọn lọc có thể thoát tục
xuất gia. Ðây là một sáng kiến mà tông phái nguyên thủy
sớm nhất, tông phái Thượng tọa bộ, phải chấp nhận một
cách miễn cưỡng vì sự bắt buộc của hoàn cảnh. Văn học
đầu tiên của Thượng tọa bộ không nói đến Pàramità (22)
và mãi sau này, khi nói đến các hạnh Ba-la-mật, chỉ để
gợi niềm tin cho tín đồ chứ không phải khuyến khích tín
đồ làm theo. Nhưng thái độ của Nhất thế hữu bộ và Ðại
chúng bộ lại khác hẳn. Các vị này không phủ nhận sự
khó khăn tày trời để thực hiện các hạnh Ba-la-mật, nhưng
vẫn khuyến khích tín đồ nên cố gắng thực hành các hạnh
trên. Không những gây niềm tin, nhưng cũng khuyến khích mọi
người thực hành hạnh Dàna (Bố thí), Sìla (Trì giới) Ksànti
(Nhẫn nhục), Vìrya (Tinh tấn), Dhyàna (Thiền định) và Prajnà
(Trí tuệ), các vị này tạo ra rất nhiều mẩu chuyện không
những liên hệ với đời sống đức Phật mà cả với đời
sống của những người đạt đến địa vị trọng yếu trong
đạo Phật.
Tông
phái Thượng tọa bộ nói đến 10 Ba-la-mật tức là Dàna (Bố
thí), Sìla (Trì giới), Nekkhamma (Ly dục), PaJnà (Trí tuệ),
Viriya (Tinh tấn), Khànti (Nhẫn nhục), Sacca (Sự thật), Adhitthàna
(Phát nguyện), Mettà (Từ) và Upekkhà (Xả). Nhưng trong toàn
văn học Sanskrit, Tiểu thừa hay Ðại thừa, sớm hay muộn
chỉ nói đến 6 Ba-la-mật (23). Chỉ trong tập Dasabhùmikasùtra
(Thập địa kinh) (24) mới nói đến 10 Ba-la-mật, thêm 4 pháp:
Upàyakausalya (Xảo phương tiện), Pranidhàna (Phát nguyện), Bala
(Lực) và Jnàna (Trí). Nếu chúng ta so sánh ba danh sách thì
danh sách 6 Ba-la-mật là xưa nhất. Thượng tọa bộ thêm vào
Nekkhamma (Ly dục), Sacca (Sự thật), Adhitthàna (Phát nguyện),
Mettà (Từ), Upekkhà (Xả) và bỏ rơi Dhyàna (Thiền). Rõ ràng
danh sách này thiếu hệ thống vì Mettà và Upekkhà là 2 pháp
trong 4 vô lượng tâm và phải được các vị A-la-hán thực
hành triệt để, và Sacca có thể bỏ vào Sìla (Giới). Trong
hai pháp còn lại, Adhitthàna là phát nguyện (như Sumedha phát
nguyện thành Phật) và cố gắng thực hành cho kỳ được
pháp này tương đương với pháp Pranidhàna của Ðại thừa
(25). Nekkhamma (Ly dục Ba-la-mật) nghĩa là thoát ly thế tục,
đặc biệt được Thượng tọa bộ nhấn mạnh, và hạnh này
thật sự là một đặc điểm của giáo lý Thượng tọa bộ,
còn Ðại chúng bộ và Nhất thế hữu bộ thời ít đả động
đến. Các nhà Ðại thừa cũng dành một địa vị đặc biệt
cho Nekkhamma, nhưng không bắt buộc mọi người đều phải
thoát ly thế tục để được hưởng những đặc ân của
tôn giáo.
Một
trong những nguyên nhân chính của ba thái độ khác nhau của
ba tông phái đối với vấn đề Ba-la-mật là Thượng tọa
bộ bác hẳn quan niệm một cá nhân có thể phát nguyện thành
Phật, còn hai tông phái kia vẫn xem sự phát nguyện thành Phật
có thể thành tựu được, dầu là một việc làm rất khó
khăn. Trong tập Divyàvadàna (26) có những đoạn nói đến sau
thời thuyết pháp của đức Phật, có chúng sanh nhận chân
được sự thật, có chúng sanh chứng được một trong bốn
quả thánh, có chúng sanh phát nguyện chứng Thanh văn quả hay
Duyên giác quả và có chúng sanh chứng được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác (Anuttara-samyaksambodhi). Ðoạn này cho chúng
ta thấy Nhất thế hữu bộ (bộ phái của tập Divyàvadàna)
không bảo thủ như Thượng tọa bộ. Ðại chúng bộ như đã
được biết là học phái đầu tiên đã chấp nhận sự thay
đổi quan điểm này. Tông phái này là tông phái tiên phong
của Ðại thừa và tự nhiên các hạnh Ba-la-mật trở thành
giáo lý của học phái này. Như vậy, sự chấp nhận và sự
hệ thống hóa các hạnh Ba-la-mật chính do Ðại chúng bộ
hay Nhất thế hữu bộ khởi xướng và sau cùng được phái
Thượng tọa bộ chấp nhận với một vài sửa đổi cần
thiết.
Liên
hệ mật thiết với các hạnh Ba-la-mật là các Jàtaka (Bổn
sanh) và Avadàna (thí dụ) và kết quả là các điêu khắc ở
Bharaut và Sanchi. Cả ba học phái đều tận lực tuyên truyền
và nay cũng chưa rõ học phái nào là cha đẻ tinh thần cho
các kiến trúc bằng đávĩ đại ấy. Nhiều học giả (27)
cố gắng truy nguyên những bia đá khắc những mẩu chuyện
Jàtaka và nhiều mẩu chuyện được tìm thấy trong tập Jàtakatthavannanà.
Tuy vậy sự truy nguyên này cũng chưa lấy gì làm chắc chắn
cho lắm và rất có thể văn học rất phong phú của Avadàna
nay còn trong tình trạng bản thảo có thể giúp phần truy nguyên
được chắc chắn và tốt đẹp hơn.
TRUYỀN
GIÁO
Sự
cố gắng của các học phái để truyền bá giáo lý của mình
được thành công như đã được các kiến trúc bằng đá
ở Ấn Ðộ chứng thực. Mỗi học phái chắc chắn tăng số
tín đồ rất nhiều như đã được chứng thực trong một
số bia ký, các bia ký này thuộc một giai đoạn sau hơn một
chút giai đoạn hiện đang được đề cập. Những bia ký này
có nói đến tặng vật đặc biệt cho mọi học phái. Nhưng
ngoài những bia ký này còn những bia ký khác không ghi một
học phái đăc biệt nào mà chúng cúng cho Tăng giới khắp
bốn phương (Caturdisasangha). Sự kiện này nêu rõ các đệ
tử có thể thuộc một học phái đặc biệt nào nhưng chúng
cúng dường tất cả học phái. Vì thời đại những bia ký
này không giúp nhiều cho thời đại đang được đề cập
đến, nên chúng ta phải tự bằng lòng với những kết quả
nhỏ mọn của một số tài liệu ít oi. Số tài liệu này
có thể được biên tập chậm hơn thời đại đang được
đề cập đến, nhưng có thể xem là đem lại những tài liệu
cần thiết cho giai đoạn hiện tại.
Từ
các tập Nikàya, chúng ta thấy rằng đạo Phật nguyên thủy
được giới hạn trong vòng Trung Ấn từ Anga đến Avanti, ngoài
ra còn có một số tín đồ ở những địa phương xa xăm phương
Bắc và phương Nam (28). Ðoạn nói về sự phân chia xá lợi
đức Phật trong kinh Mahàparinibbàna, văn hệ Pàli và Tây Tạng
(29) cho chúng ta rõ một cách khá xác đáng sự truyền bá đạo
Phật trong khoảng bắt đầu giai đoạn thứ nhất. Những dân
tộc được chia xá lợi là dân tộc Licchavis ở Vesàli, Sàkyas
ở Kapilavatthu, Buli ở Allakappa, Koliyas ở Ràma-gàma, Bràhmana
ở Vethadìpa, Mallas ở Pàvà Kusinàrà, Moriya ở Pipphalivana và
dân chúng ở Magadha (Ma kiệt đà). Những địa điểm được
đề cập đến đều thuộc đông Ấn Ðộ. Một địa điểm
ngoài đông Ấn được đề cập là Gandhàrapura, được xem
là có thờ một răng Phật (30). Nhưng chi tiết này được
thêm về sau, như vị chú giải đã nêu rõ. Chắc chắn dân
chúng Gandhàrapura không được chia phần xá lợi.
Giới
vức của Majjhimajanapada (Trung quốc, một tên khác của Ấn
Ðộ chỉ giới vức đạo Phật được truyền bá) như đã
ghi trong tập Mahàvagga thuộc Luật tạng (31) giúp chúng ta hiểu
thêm về sự bành trướng đạo Phật trong giai đoạn đầu.
Giới vức ấy như sau: Kajanagala nigama, phương Ðông, sát rừng
Mahàsàlà, con sông Sallavatì phía Ðông nam, Setakannika nigama
phía Nam, Thùna bràhmanagàma phía Tây và Usìrapabbata phía Bắc.
Theo tài liệu này, Avantidakkhinàpatha là một biên địa (32),
cũng như nước phía Ðông xứ Kajan-gala, được xem chính là
Bhagalpur (33). Tập Divyàvadàna (34) duy trì truyền thống này,
chỉ thay xứ Kajangala phía Ðông bởi xứ Pundravardhana. Nếu
Pund-ravardhana được xác nhận là một địa điểm ở Bắc
Bengale, thời tập Divyàvadà-na có nới rộng giới vức phía
Ðông một chút.
Tên
một địa điểm nữa trong tài liệu này cần được chú ý.
Ðó là Usìraddhaja của tập Mahàvagga và Usìragiri của tập
Divyàvadàna. Chúng ta được biết một hòn núi Usìra ở gần
Mathurà (35) và Tàranàtha cũng nói chúng ta biết rằng Upagupta
(Ưu ba cúc đa), vị tu sĩ danh tiếng ở Mathurà và theo truyền
thống Nhất thế hữu bộ là vị tôn sư của vua A-dục, sống
tại chỗ này ba năm trước khi đi đến Kashmir và sau khi rời
khỏi vàrànasì (36). Như vậy Mathurà một thành trì của Nhất
thế hữu bộ, được kể vào trong Majjhimajanapada.
Theo
tài liệu về kỳ kiết tập Vesàli như tập Cullavagga (37) đã
ghi chép, và trong Luật tạng của Nhất thế hữu bộ và học
phái Dharmagupta, hình như chân trời của đạo Phật, cho đến
bắt đầu thế kỷ thứ hai sau khi đạo Phật dù được thành
lập, cũng không được rộng rãi cho lắm. Những tài liệu
địa dư trích được trong tập Cullavagga như sau: Yasa, vị
triệu tập kỳ kiết tập chính thống Vesàli, từ Vesàli đến
và đi Kosambi. Và tại đây, vị này cử sứ giả đi đến
các vị Tỳ kheo ở Pàtheyya và Avantidakkhinàpatha. Sambhùta Sànavàsi
lúc bấy giờ ở tại núi Ahoganga, tập họp 60 vị Tỳ kheo
ở Pàtheyya và 80 vị Tỳ kheo ở Avanti-dakkhinàpatha, tất cả
những vị này đều theo hạnh đầu đà. Ðại đức Revata
ở Soreyya, đi ngang qua các xứ Sankassa, Kannakujja, Udumbara và
Aggalapu- ra đến tại Sahajàti. Ðại đức Salha ở Sahajàti,
sau khi thảo luận xác nhận rằng các Tỳ kheo ở Pàtheyya xử
sự đúng với giới luật, còn các Tỳ kheo ở Pàcìnaka là
sai lầm.
Ðể
giải quyết sự tranh chấp, một hội đồng được thành lập.
Trong hội đồng này, các Ðại đức Sabbakàmi, Salha, Khujjasobhita
và Vàsabhagàmika đại diện cho phái Pàcìnaka, còn các đại
đức Revata, Sambhùta Sànavàsi, Yasa và Sumana đại diện cho
phái Pàtheyyaka. Một sự kiện cần phải để ý trong tài liệu
này là sự phân chia các vị Tỳ kheo thành hai phái: Pàcìnaka
và Pàtheyyaka. Pàcìnaka chỉ cho người ở phương Ðông, đặc
biệt là dân Vesàli. Vị đại diện chính thức cho phái này
là Sabbakàmi (38), một đệ tử của Ananda và Salha, một tu
sĩ có tiếng ở Sahajàti. Pàtheyyaka là những tu sĩ ở Kosambi,
Pàtheyya và Avantidakkhinàpatha; đại diện cho phái này là Sambhùta
Sànavàsi, một nhân vật quan trọng trong truyền thống Thượng
tọa bộ và Nhất thế hữu bộ, Revata - một lão Tỳ kheo ở
Soreyya, và yasa - nổi danh vì liên hệ kỳ kiết tập thứ hai
(39).
Truyền
thống Tổ sư hay Àcariyaparamparà
Những
tài liệu về kỳ kiết tập thứ hai của Nhất thế hữu bộ
và Thượng tọa bộ giống nhau (40). Và về danh sách các vị
Tổ sư thừa kế cũng không có sự sai khác. Thượng tọa bộ
chỉ nói đến Sambhùta Sànavàsi như là một hội viên của
hội đồng kỳ kiết tập thứ hai, còn Nhất thế hữu bộ
nói vị này là Tổ sư thừa kế Ananda. Hai truyền thống lại
tách riêng ra sau kỳ kiết tập thứ hai, một truyền thống
nói đến kỳ kiết tập của vua A-dục dưới sự lãnh đạo
của Moggaliputta Tissa, còn truyền thống kia thì làm lơ và chỉ
nói đến Upagupta, vị cố vấn tôn giáo của vua A-dục và
nói rất nhiều đến kỳ kiết tập Kaniska ở Jalandhara, thế
cho kỳ kiết tập vua A-dục. Sự sai khác về truyền thuyết
này rất có ý nghĩa, và từ đó, lịch sử đạo Phật không
còn là lịch sử của một đạo Phật mà trở thành lịch
sử của nhiều học phái, đặc biệt là ba học phái Thượng
tọa bộ, Nhất thế hữu bộ và Ðại chúng bộ (41).
Phái
Thượng tọa bộ thiên hẳn về Luật tôn và dù cho truyền
thuyết Tây Tạng xem Kaccàyana là vị lãnh đạo của học phái
này, Upàli, vị kiết tập Luật tạng cũng được học phái
này kính trọng, và sự liên hệ của Upàli với kỳ kiết
tập vua A-dục, được tiếp tục nhờ những đệ tử của
Ngài. Chúng ta cần để ý rằng tuy Thượng tọa bộ nói đến
một danh sách Tổ sư truyền thừa (Acariyaparamparà) từ Upàli
hay Sàriputta, nhưng không bao hàm ý nghĩa lịch đại tổ sư.
Trong tập Majjhima Nikàya (42), đặc biệt nói đến Tăng già
Phật giáo không có vị lãnh đạo tối cao. Sự thật chỉ
có truyền thuyết Tây tạng và Trung hoa mới cho chúng ta một
quan niệm lịch đại tổ sư thừa kế. Tập Atthasàlinì cho
chúng ta một danh sách các vị Tổ sư A tỳ đàm, bắt đầu
từ Sàriputta, nhưng truyền thuyết này không đáng tin cậy
(43).
Truyền
thống Thượng tọa bộ và Nhất thế hữu bộ về lịch đại
tổ sư trong hai thế kỷ đầu có thể tóm tắt như sau:
MAHÀ-KASSAPA
ANANDA
SANAVÀSIKA
(giảng sư tại Sràvasti và lân cận)
MADHYÀNTIKA
(Benares, Ùsìra rồi giảng sư ở Kashmir).
UPAGUPTA
(Tirhut- Mathura, cố vấn tôn giáo của A-dục theo truyền thuyết
Nhất thế hữu bộ)
DHITIKA
(Nhập đạo tại Mathurà, đến thăm hay trú ở Kashmir, Tukhàra,
KàmarÙpa và Malava, Menander và Hermasios là hai vị đồng thời
và thọ giáo với Ngài).
SÀRIPUTTA
BHADDAJI
SOBHITA
MOGGALI-PUTTA
TISSA (Pàtaliputta: Cố vấn tôn giáo của A-dục theo truyền
thuyết Thượng tọa bộ)
NÀGASENA
của MILINDAPANHA (nếu Minàra của Tàranàtha là Milinda của các
tập Pàli)
UPÀLI
SÀSADA
(Vesali)
SONAKA
(Ràjagaha)
SIGGAVA
(Pàtaliputta)
Như
chúng tôi đã lưu ý, chúng ta không nên xem Àcariya-paramparà
như là lịch đại tổ kế vị, và chúng ta cũng đừng để
thời gian làm vị Tổ sư theo thời gian trung bình thông thường
chúng ta làm, khi nói đến sự kế vị của vua chúa, vì các
vị Tổ sư Phật giáo thường sống lâu và không có truyền
thống trò kế vị thầy; lại nữa lễ nhập đạo nhận đệ
tử có thể xảy ra trong đời sống sớm nhất hay trễ nhất
của vị Tổ sư. Theo truyền thuyết Tây Tạng, Madhyàntika được
Ananda nhận làm đệ tử không bao lâu trước khi Ananda nhập
diệt (44). Và như vậy Madhyàntika có thể đồng thời cả
với Sanavàsi và Upagupta, hay của Dàsaka, Sonaka, Siggava và Moggaliputta.
Ðọc truyền thuyết theo cách này và chú ý đến tên các thành
phố, địa điểm hoạt động của mỗi vị Tổ sư, chúng
ta cho thể nói rằng, sau kỳ kiết tập Vesàli, phái Nhất thế
hữu bộ ngày càng được nhiều tín đồ, được truyền bá
về hướng Bắc và có hai địa điểm quan trọng: Mathura với
Upagupta là vị lãnh đạo, và Kashmir với Madhyàntika là vị
lãnh đạo. Hai địa điểm này được hợp nhất dưới sự
lãnh đạo của Dhitika, vị này hình như mở rộng chân trời
ảnh hưởng của Nhất thế hữu bộ về hướng Ðông, đến
Kàmarùpa, về hướng Tây, đến Màlava, về hướng Tây bắc,
đến Tukhàra, lãnh vực của Minàra và Imhasa. Phái Thượng
tọa bộ vẫn giữ căn cứ tại Magadha cùng với một nghành
ở Ujjeni do Mahàkaccàyana sáng lập. Mahindavà Sanghamittà (45)
hình như có liên hệ mật thiết đến ngành Ujjeni của Thượng
tọa bộ và truyền bá học phái này đến Tích Lan.
Vai
trò của vua A-dục trong sự truyền bá đạo Phật
Chúng
ta chưa biết được rõ ràng vai trò của vua A-dục trong sự
truyền bá đạo Phật. Nếu thật vua A-dục có giúp đỡ cho
đạo Phật được truyền bá, chúng ta cũng chưa biết rõ Vua
giúp cho một học phái nào nói riêng, hay giúp cho đạo Phật
nói chung. Trong những lời huấn dụ của Vua được ghi chép
trong các bia ký, chúngta không tìm thấy một bằng cớ nhỏ
mọn nào nêu rõ sự giúp đỡ thiết thực của Vua trong sự
truyền bá đạo Phật. Các bia ký Ngài nói đến Dhammavijaya
(Pháp thắng) chống với sự chinh phục bằng binh khí, nhưng
Dhamma không phải chỉ riêng cho đạo Phật. Dhamma theo vua A-dục
gồm có những cách ngôn khuyến khích một đời sống lý tưởng
hay làm các việc phước thiện đưa đến hạnh phúc cho đời
này hay đời sau.
Các
bia ký không đề cập đến Niết bàn, hay Chơn không hay Vô
ngã hay Khổ đế. Trái lại chỉ nói đến Chư thiên, sự hạnh
phúc sống trên thiên giới, đời sống này không bao giờ là
lý tưởng của đạo Phật nguyên thủy, vì đời sống ở
Dục giới, Sắc giới hay Vô sắc giới đều vẫn phải chịu
đau khổ, theo quan niệm của đạo Phật nguyên thủy. Nhưng
chúng ta phải công nhận rằng khi một hoàng đế như A-dục
có thiện ý với một tôn giáo đặc biệt nào và tự xưng
là tín đồ cư sĩ của đạo Phật và đi chiêm bái các thánh
tích Phật giáo, thời tự nhiên tôn giáo ấy được sự khích
lệ phát triển và do vậy sự truyền bá của các tu sĩ Phật
giáo trở thành dễ dàng. Như vậy chúng ta có thể xem vua A-dục
như môt nhà truyền bá đạo Phật tiêu cực, và dưới triều
đại của Ngài, đạo Phật được truyền bá rộng rãi trong
quốc độ của Ngài và nhiều khi vượt ngoài biên giới Ấn
Ðộ, như các quốc gia của Yavana, Kamboja, Gandhàra và Pitinika
về phía Tây và Codas, Pàndyas cho đến Tàmraparni về phía Nam.
Vì vua A-dục chỉ là một vị hộ trì, một cư sĩ, lẽ dĩ
nhiên Ngài không thể can thiệp vào các tranh chấp học phái
đang xảy ra trong triều đại của Ngài. Vì vậy rất khó mà
tin truyền thuyểt của tập Mahàvamsa cho rằng Vua ủng hộ
phái Vibhajjavàda (tức là Thượng tọa bộ) (46) hay truyền
thuyết của các tập Avadàna cho rằng Vua là một đệ tử
trung kiên của Upagupta.
Một
điểm rất đặc biệt nữa là vua A-dục không đề cập đến
quan niệm Bồ-tát, các hạnh Ba-la-mật, những hạnh này rất
dễ dàng thuận tiện được chấp nhận vào quy ước đạo
đức gồm những câu cách ngôn của Ngài. Vua khuyến khích
dân chúng nên lựa con đường trung đạo, tránh xa hai sự thái
quá, một là thoát ly ra khỏi thế tục, hai là sự đắm say
trong ganh tị, sân hận, giải đãi v.v... Như vậy chứng tỏ
Vua không tán thành một đời sống thoát ly gia đình, một
lối sống được đ?o Phật nguyên thủy Tiểu thừa quan trọng
hóa. Có lẽ vì vua A-dục ưa thích đời sống lý tưởng của
một cư sĩ hơn đời sống thoát tục của một tu sĩ nên các
tu sĩ đạo Phật tìm cách phổ thông hóa đạo Phật và nhờ
vậy chúng ta có một nền văn học Jàtaka và Avadàna rất phong
phú.
Truyền
thuyết của tập Mahàvamsa về vai trò vua A-dục trong đệ tam
kiết tập với Moggaliputta Tissa, và sự đặc phái của sứ
giả truyền giáo đến nhiều địa điểm tại Ấn Ðộ đang
chờ đợi sự minh chứng. Rất có thể có một kỳ kiết tập
riêng của học phái Thương tọa bộ được triệu tập với
sự lãnh đạo của Moggaliputta Tissa trong thời đại vua A-dục
và những hoạt động tích cực để truyền bá đạo Phật
ở trong và ngoài xứ Ấn Ðộ (47), với sự ghi chép có màu
sắc đặc biệt của tập Mahàvamsa. Cũng một nhận xét tương
tự, chúng ta nên xem các truyền thuyết về hai vị cố vấn
tôn giáo cho vua A-dục, Ngài Upagupta và Ngài Moggaliputta Tissa.
Vua A-dục, một vị Vua không thiên vị, đối xử bình đẳng
với những Phật tử và không phải Phật tử. Trong trường
hợp này, tự nhiên Ngài không ủng hộ một học phái này
chống lại một học phái khác. Các vị Thượng tọa bộ và
Nhất thế hữu bộ liên hệ tên của Ngài với những vị
Tổ sư lãnh đạo, với mục đích quan trọng hóa học phái
của mình. Như vậy thật là vô ích, mọi cố gắng chứng
minh Upaguputa và Moggaliputta Tissa là một, như Smith và một số
học giả đã làm (48). Chúng ta có thể tin tưởng chấp nhận
truyền thuyết của Mahàvamsa, nói rằng trong thời đại vua
A-dục, đạo Phật được truyền bá đến các nước Kashmira
Gandhàra, Mahisamandala, Vanavàsì, Yona, Mahàrattha, Himavanta Padesa,
Suvannabhùmì và Lankàdìpa (49).
Sự
nghiệp của phái Ðại chúng bộ
Nếu
chúng ta tìm đuợc các tài liệu của phái Ðại chúng bộ,
chúng ta sẽ được biết thêm nhiều về sự truyền bá đạo
Phật trong giai đoạn này. Rất có thể tài liệu chữ Hán
về Luật tạng Ðại chủng bộ, chứa chấp nhiều tin tức
quan trọng, nhưng hiện chúng ta chưa biết gì về những tài
liệu này. Vì không có một truyền thuyết nào của Ðại chúng
bộ, nên chúng ta không có những tin tức rõ ràng về Ðại
chúng bộ và phần đất Ấn Ðộ nào mà học phái này giới
hạn sự hoạt động của mình. Theo tài liệu về cuộc kiết
tập ở Vesàli, chúng ta có thể nói rằng học phái này vẫn
gìn giữ trung tâm ở Vesàli và từ nơi bia ký trên tượng
đá sư tử ở Mathura (120 trước kỷ nguyên (50), và những
chữ khắc trên độc bình Wardak ở A phú hản (51), chúng ta
có thể tin rằng học phái này cố gắng truyền bá về hướng
Bắc. Nhưng các hang ở Karle và vị trí trung tâm hoạt động
hai chi phái Pubbaseliya và Aparaseliya của Ðại chúng bộ ở
Dhanakataka cho chúng ta thấy học phái này thành công trong sự
truyền bá về hướng Nam hơn là về hướng Bắc.
Theo
Bác sĩ Burgess, các tháp Amaràvatì ở Dharanikot (Dhànykataka)
bắt đầu được xây dựng sớm cho đến khoảng thế kỷ
thứ hai trước kỷ nguyên (52) và Nàgàrjuna có liên quan mật
thiết với sự đóng đô đạo Phật ở địa điểm này. Dù
thế nào, không có gì nghi ngờ sự kiện Dhànyakataka là trung
tâm chính của phái Caityaka, hai chi nhánh Pùrva và Aparasaila
của học phái Ðại chúng bộ và dân chúng ở tại đây đã
cúng dường rất nhiều cho trung tâm Phật giáo này. Chính là
một địa điểm được tập Manjusrìmùlakalpa xem là thích
hợp để tu hành. Tập Manjusrìmùlakalpa nói thêm chỗ này có
thờ xá lợi đức Phật. Sự kiện này được một bia ký
mới tìm được chứng thực, bia ký này ghi rõ, người chị
của vua Màdhariputra srìvìrapurusadatta có cúng dường một cột
trụ cho bảo tháp cất chứa xá lợi của đấng Chánh giác.
Trong những bia ký trên tượng đá sư tử ở Mathura (120 trước
kỷ nguyên (50), và những chữ khắc trên độc bình Wardak ở
A phú hản (51), chúng ta có thể tin rằng học phái này cố
gắng truyền bá về hướng Bắc. Nhưng các hang ở Karle và
vị trí trung tâm hoạt động hai chi phái Pubbaseliya và Aparaseliya
của Ðại chúng bộ ở Dhanakataka cho chúng ta thấy học phái
này thành công trong sự truyền bá về hướng Nam hơn là về
hướng Bắc.
Theo
Bác sĩ Burgess, các tháp Amaràvatì ở Dharanikot (Dhànykataka)
bắt đầu được xây dựng sớm cho đến khoảng thế kỷ
thứ hai trước kỷ nguyên (52) và Nàgàrjuna có liên quan mật
thiết với sự đóng đô đạo Phật ở địa điểm này. Dù
thế nào, không có gì nghi ngờ sự kiện Dhànyakataka là trung
tâm chính của phái Caityaka, hai chi nhánh Pùrva và Aparasaila
của học phái Ðại chúng bộ và dân chúng ở tại đây đã
cúng dường rất nhiều cho trung tâm Phật giáo này. Chính là
một địa điểm được tập Manjusrìmùlakalpa xem là thích
hợp để tu hành. Tập Manjusrìmùlakalpa nói thêm chỗ này có
thờ xá lợi đức Phật. Sự kiện này được một bia ký
mới tìm được chứng thực, bia ký này ghi rõ, người chị
của vua Màdhariputra srìvìrapurusadatta có cúng dường một cột
trụ cho bảo tháp cất chứa xá lợi của đấng Chánh giác.
Trong những bia ký tại chỗ này, do Bác sĩ Burgess biên tập,
có bia ký số 121 nói đến học phái Caityaka, học phái này
có hai chi nhánh Pùrva và Aparasaila. Trong những vật tìm được
ở khu vực kế cận chỗ này, có hai trong nhiều bia ký khác
tìm được, có nói đến học phái Puvaseliya (Pùrvasaila) và
Avaras (Aparasaila) (53). Các bia ký này có thể được xem là
thuộc khoảng thế kỷ thứ hai sau kỷ nguyên. Một địa điểm
quan trọng khác gần Dhànykataka là Srìparvata (Srisailam) tại
chỗ này, theo truyền thuyết Tây Tạng, ngài Nàgàrjuna sống
những ngày cuối cùg của đời Ngài (54). Tập Manjusrìmùlakalpa
cũng chú ý đến núi này, xem đó là một địa điểm thích
hợp để tu hành. Một bia ký mới tìm được ghi rõ một số
tín đồ xây dựng một số tháp tịnh xá và đào giếng cho
các tín đồ đi chiêm bái các Phật tích từ Gandhàra, Cìna,
Aparànta, Vanga, Vanavàsì, Tambapannidìpa đến. Từ những sự
kiện này, chúng ta có thể kết luận rằng khoảng đầu thế
kỷ thứ nhất sau kỷ nguyên, trên bờ sông Krishna tại quân
Guntur có môt trung tâm quan trọng của phái Ðại chúng bộ.
Danh từ Andhaka dùng để gọi các chi phái của học phái này
cho chúng ta biết học phái này rất thịnh hành ở xứ Andha
và được vua chúa, quý tộc và dân chúng xứ Andha ủng hộ
như bia ký ở Amaràvati nêu rõ.
Ðạo
Phật sau vua A-dục
Tập
Mahàvamsa và Sàsanavamsa trình bày một lịch sử liên tục của
đạo Phật ở Ấn Ðộ cho đến thời đại vua A-dục, rồi
nói đến lịch sử đạo Phật ở Tích Lan, khiến chúng ta
không rõ về sự nghiệp của phái Thượng tọa bộ ở Ấn
Ðộ cho đến khi chúng ta có tập Mìlindapanha. Theo tập này,
vua Milinda ở Sàgala (Sialkot, Lahore) rất chú ý đến đạo Phật,
và Nàgasena sinh ở Kajangala, phương cực đông của Majjhimajanapada,
đến thăm vua, đi ngang qua các xứ Vattaniya và Pàtaliputta. Nàgasena
dừng tại Sankheyyaparivena ở Sàgala, con đường của Nàgasena
đi cho chúng ta thấy đạo Phật đã truyền bá đến Sàgala
(55) về phương Bắc.
Tàranàtha
trái lại tiếp tục câu chuyện và cho chúng ta biết sự truyền
bá đạo Phật ở Ấn Ðộ sau vua A-dục. Nhưng vì Ngài phần
lớn dựa theo truyền thuyết Nhất thế hữu bộ cho nên phần
lịch sử Ngài nói đến có thể xem là lịch sử của phái
Nhất thế hữu bộ. Ngài chép rằng Upagupta độ cho Dhitika
(56) sinh trưởng ở Ujjayinì, tại Mathura, chỗ ở thường nhật
của Upagupta. Sự lãnh đạo như vậy đã trao qua từ Upagupta
đến Dhitika, và vị này truyền bá đạo Phật rất mạnh và
giáo hóa được Minàra, Vua xứ Tukhàra. Nhiều tu sĩ đồng
thời với Dhitika từ Kashmir đến tại chỗ này và xây dựng
nền tảng đạo Phật vững bền ở đây. Các vị này được
sự ủng hô của vua Minàra và Imhasa, (57) con vua Minàra. Rồi
Dhitika đi đến Ðông Ấn ở Kamarùpa và độ cho một Bà-la-môn
giàu có tên là Siddha và xây dựng đạo Phật ở tại chỗ
này. Xong Ngài đi đến Màlava và độ cho một Bà-la-môn giàu
có tên là Adarpa và như vậy đạo Phật bắt đầu được
truyền bá tại địa phương này. Cuối cùng Ngài đến tại
sinh quán Ujjayinì và sống những ngày cuối cùng của đời
Ngài tại đây. Ngài được Kàla và Krsna (58) kế vị và tiếp
theo là Sudarsana và Bharukaccha. Lãnh vực hoạt động phần lớn
của cả hai vị Ty kheo này là ở phía Tây (Sindhu) và phía
Bắc (Kashmir) Ấn Ðộ. Krsna được ghi chép là truyền bá đạo
Phật đến Nam Ấn, kể cả các đảo nhỏ chung cả Tích Lan
và sau đó truyền bá đến Màhàcìna (59). Poshada, vị kế tiếp
Krsna truyền bá đạo Phật ở Orissa dưới triều đại vua
Vigatàsoka (60). Tài liệu của Tàranàtha đầy những chuyện
thần thoại và do vậy không thể xem là chân xác. Nhưng nhiều
lời tuyên bố của Ngài không phải là vô lý và trong nhiều
trường hợp được các nhà chiêm bái Trung Hoa xác chứng.
Do vậy những tài liệu này cũng có giá trị của chúng, nhưng
chúng ta phải dè dặt thận trọng trong khi dùng đến.
Những
phát triển về giáo lý
Nay
chúng ta tìm hiểu một quan điểm tổng quát về những phát
triển giáo lý trong giai đoạn tiền Ðại thừa. Phái Ðại
chúng bộ rõ ràng là môn phái Tiểu thừa sớm nhất đã nêu
rõ có xu hướng quan niệm đức Phật như một hóa thân và
quan niệm này được phát xuất thế bộ (61), một chi phái
của Ðại chúng bộ, phát triển cùng độ. Nhưng chúng ta chưa
chắc học phái Ðại chúng bộ hay học phái Nhất thế hữu
bộ đã sáng tác đầu tiên quan niệm Bồ-tát và hạnh Ba-la-mật,
6 hạnh Ba-la-mật mà một vị Bồ-tát nào cũng bắt buộc phải
thực hành, thường được các tác phẩm của Ðại chúng bộ
và Nhất thế hữu bộ nói đến, và cả hai đều chịu trách
nhiệm về sự lớn mạnh và phong phú của văn học Avadàna
(62), đề tài chính của nền văn học này là sự thành tựu
các hạnh Ba-la-mật.
MỤC
ÐÍCH PHẬT QUẢ
Nay
còn lại một quan điểm nữa, tức là sự chứng ngộ Phật
quả như là mục đích và kết quả là A-la-hán quả bị hạ
thấp xuống (63). Phái Thượng tọa bộ không phải tuyệt đối
cho rằng Phật quả không thể đạt được, vì có Bà-la-môn
Sumedha đã trở thành Thích Ca Mâu Ni và một chúng sanh nào
đó sẽ trở thành Phật Di Lặc, nhưng vì hai trường hợp
này quá hy hữu nên phái này tự nghĩ khó mà đề cập Phật
quả làm lý tưởng cho nhân loại noi theo. Các vị Thượng
tọa bộ tuyên bố rằng phải trải nhiều kiếp một đức
Phật mới xuất hiện ở đời và các tập Latitavistara, Mabàvastu
và nhiều tập Ðại thừa khác cũng đồng ý quan niệm này.
Tuy vậy, tập Divyàvadàna chép rằng sau khi đức Phật thuyết
pháp, có kẻ chứng Thanh văn giác, có kẻ chứng Ðộc giác,
có kẻ chứng Chánh đẳng giác (64). Nói rằng có kẻ chứng
được Chánh đẳng giác có nghĩa là, đến thời đại tập
Divyàvadàna, phái Nhất thế hữu bộ đã công nhận lý tưởng
Chánh đẳng giác là một quả vị có thể thành đạt được.
Như vậy rõ ràng phái Nhất thế hữu bộ khuyến khích nguyện
vọng đạt được Phật quả, nghĩa là đời sống của vị
Bồ-tát và như vậy, mục tiêu Phật quả không phải chỉ
thuộc Ðại chúng bộ hay Ðại thừa. Các vị Nhất thế hữu
bộ cũng như các vị Thượng tọa bộ đều quan niệm đức
Phật như một con người, nhưng các vị này quan trọng hóa
những đức tính và năng lực của đức Phật khiến đức
Phật trở thành một bậc siêu nhân.
Sự
cống hiến của phái Nhất thế hữu bộ cho Ðại thừa.
Phái
Nhất thế hữu bộ có hai quan niệm về thân (Kàya) (65): Rùpakàya
(Sắc thân) và Dharmakàya (Pháp thân) nhưng không có ý nghĩa
Ðại thừa gì, dù cho quan niệm Pháp thân của phái này giúp
phái Yogàcàrin hình thành quan niệm Svasambhogakàya (tự thọ
dụng thân) của chúng. Các vị Nhất thế hữu bộ cũng chịu
trách nhiệm thêm một pháp ấn thứ tư Sùnya (Không) vào ba
pháp ấn Khổ, Vô thường và Vô ngã, nhưng Sùnya không có
nghĩa Ðại thừa gì và chỉ có nghĩa Vô ngã mà thôi (66).
Nhưng
một trong giáo lý quan trọng của phái Nhất thế hữu bộ,
và tôi tin rằng chính giáo lý này đã giúp cho Ðại thừa
phát triển, đó là lý thuyết cực đoan Astitvavàda (lý thuyết
công nhận sự thức hữu của các pháp họp thành một chúng
sanh). Chúng ta có thể nói Ðại thừa là một sự tiếp tục
của những biện thuyết về đức Phật của phái Ðại chúng
bộ và các chi nhánh của bộ phái này và một sự chống đối
lý thuyết Astitvavàda của phái Nhất thế hữu bộ, một giáo
điều, theo các nhà Ðại thừa, đã xuyên tạc trắng trợn
giáo lý đức Phật (67). Chính sự chống đối này đưa đến
một cực đoan khác, lý thuyết Dharmasùnyatà (Pháp không, không
có một pháp nào thật có) mới là giáo lý chơn chân chính
của đức Phật.
Sự
đóng góp thứ ba của các phái Tiểu thừa, đặc biệt là
phái Nhất thế hữu bộ, là sự trình bày hay phân tích về
Skandhas (Uẩn), Dhàtu (Giới), Àyatana (Xứ), Àryasatya (Thánh
đế), các Angas (Pháp) của Pratìtyasamutpàda (Duyên khởi) v.v...
các nhà Ðại thừa chấp nhận toàn diện những lý thuyết
này, nhưng liệt chúng vào giới vức Samvrti (Tục đế), Parikalpita
(Biến kế sở chấp), Paratantra (Y tha khởi), tuy vậy vẫn công
nhận sự lợi ích cần thiết của chúng để một vị Bồ-tát
đạt đến Paramàrtha (Chơn đế) hay Parinispanna (Viên thành
thực) (68).
Sự
tiếp xúc của các vị Nhất thế hữu bộ với các vị Ðại
thừa
Các
vị Ðại chúng bộ có thể là các tiền phong của Ðại thừa,
nhưng rõ ràng các vị Nhất thế hữu bộ cống hiến rất
nhiều cho sự lớn mạnh của Ðại thừa, cách này hay cách
khác. Như một dấu hiệu của sự tiếp xúc mật thiết, Subhùti
(Tu bồ đề) một nhân vật quan trọng của truyền thống Nhất
thế hữu bộ đóng một vai trò quan trọng trong tập Prajnàpàramita
(Bát nhã Ba-la-mật). Thật là kỳ dị khi thấy một tu sĩ Tiểu
thừa giải thích lý thuyết Chơn không (Sùnyata), phản ngược
với giáo lý của chính mình. Cho nên tập Prajnàparamita giải
thích sự mâu thuẫn này bằng cách xem sự thuyết pháp của
Subhùti không phải do sở kiến của mình mà chịu ảnh hưởng
của chư Phật. Tập Lalita Vistara được các nhà Ðại thừa
công nhận là chân tả chính xác lịch sử Phật Tổ và sự
kiện này cho thấy sự liên lạc giữa Nhất thế hữu bộ
và Ðại thừa, vì theo các dịch giả Trung Quốc, tập Lalista
Vistara là lịch sử Phật Tổ theo phái Nhất thế hữu bộ.
Ðại thừa chắc chắn bắt đầu ở Nam Ấn, khu vực này cũng
là trung tâm hoạt động của nhiều chi nhánh phái Ðại chúng
bộ, nhưng Ðại thừa thật sự phát triển ở Ðông Ấn, và
tại chỗ này ảnh hưởng của Nhất thế hữu bộ rất mạnh.
Tàranàtha cho chúng ta biết tập Prajnàpàramita (Bát nhã Ba-la-mật)
được Manjurì (Văn Thù Sư Lợi) thuyết đầu tiên ở Odivisa
(Orissa) (69). Ðịa điểm này tuy không phải là trung tâm chính
của phái Nhất thế hữu bộ nhưng ở gần khu vực chịu ảnh
hưởng của bộ phái này. Chúng ta đã thấy Dhitika truyền
bá đạo Phật Nhất thế hữu bộ ở Kàmarùpa và Pundravardhana
là biên giới cực đông khu vực ảnh hưởng của phái Nhất
thế hữu bộ. Nhưng địa điểm tiếp xúc có kết quả nhất
giữa các vị Nhất thế hữu bộ và các vị Ðại thừa là
ở Nalanda, địa điểm này trở thành trung tâm chính của Ðại
thừa và là địa điểm hoạt động của Ngài Nàgàrjuna (Long
thọ).
Các
vị Ðại chúng bộ chính thuộc phái Tiểu thừa
Như
vậy chúng ta thấy rằng các vị Nhất thế hữu bộ cũng chịu
trách nhiệm về sự lớn mạnh của phái Ðại thừa như các
vị Ðại chúng bộ. Ngoài những biện thuyết về đức Phật,
các vị Ðại chúng bộ không được xem là có đóng góp thêm
gì cho sự lớn mạnh của Ðại thừa. Rất có thể tập Prajnàpàramita
(Bát nhã Ba-la-mật), theo truyền thuyết Tây Tạng, thuộc phái
Pùrvasaila, đã cống hiến nhiều cho triết lý Ðại thừa,
nhưng chúng ta không biết gì đến tập Prajnàpàramita ấy.
Từ bản tường trình của Vasumitra về giáo lý Ðại chúng
bộ và từ những cuộc thảo luận ghi chép trong tập Kathàvatthu
về giáo lý của Ðại chúng bộ, chúng ta không thấy có đặc
tính Ðại thừa gì cả. Như Ðại chúng bộ nói về:
1)
Năm hay sáu ViJnànakàya (Thức thân), khác với Thượng tọa
bộ và Nhất thế hữu bộ về công năng của các căn.
2)
Bốn hay tám Tiểu thừa Thánh đạo và Thánh quả, tập kathàvatthu
có thêm:Ðại chúng bộ cho rằng các vị A-la-hán vẫn còn
Avijjà-Vicikicchà (Vô minh nghi) vì các vị này không biết được
những vấn đề thuộc về Phật giới (Buddhavisaya).
3)
Sự cần thiết sử dụng (Prayoga) Trí tuệ (Prajnà) để trừ
khổ và hưởng lạc, một trong những giáo lý quan trọng của
các học phái Tiểu thừa (70).
4)
Samyagdrsti (Chánh kiến), Sraddhendriya (Tín căn) (71) không thuộc
thế tục (Laukika), tập Kathàvatthu thêm rằng các vị Ðại
chúng bộ cho rằng già và chết không thuộc thế tục Laukika
và xuất thế (Lokiya), vì chúng thuộc Aparinipphanna (Vô vi) và
sự già và chết của các pháp thế xuất cũng thuộc xuất
thế (72).
5)
Samyaktva-niyàma (73) hướng đến chánh kiến và sự diệt trừ
các kiết sử (Samyojana).
6)
Ðức Phật giảng pháp theo nghĩa Nìtàrtha (74).
7)
Các pháp Asamskrta (Vô vi) có đến 9 pháp, không phải ba như
của Nhất thế hữu bộ.
8)
Các Upaklesa (Phiền não), Anusaya (Tùy miên) và Paryavasthàna.
9)
Không có các pháp quá khứ và vị lại, trái với lý thuyết
của Nhất thế hữu bộ.
10)
Không có Antaràbhàva (Trung ấm thân), chống với lý thuyết
Nhất thế hữu bộ và Sammitìyas.
Theo
những điểm kể trên và một vài điểm trong tác phẩm của
Vasumitra và tập Kathàvatthu, chúng ta không tìm thấy những
đặc tính Ðại thừa gì. Cũng trong tập Màhvastu, những đoạn
giải thích về Tứ đế, lý Duyên khởi và lý Vô thường,
khổ và vô ngã không vượt khỏi giới vực Tiểu thừa. Những
dấu vết Ðại thừa trong giáo lý Ðại chúng bộ như sau:
(I)
Các giả thuyết về các đức Phật xem các đức Phật là
xuất thế (lokottara), không có Sàsravadharma (hữu lậu pháp),
đầy đủ sắc thân (Rùpakàya) (75), Prabhàva (năng lực) và
Àyu (tuổi thọ) vô biên, có thể sống không cần ngủ hay
nằm mộng, luôn luôn trong tình trạng thiền định, không giảng
bằng danh từ hay bằng lời, đầy đủ Ksanikacitta (Sát-na tâm
= hiểu tất cả pháp trong một Sát-na) v.v...
(II)
Quan niệm về Bồ-tát nghĩa là các vị Bồ-tát không sinh và
không lớn trong mẫu thai như người thường. Vào mẫu thai
với tâm thần sáng suốt không bao giờ chứa chấp những tư
tưởng, cảm giác về dục lạc, hận thù hay làm hại, và
chịu thọ sanh vào hạ giới vì lợi ích cho chúng sanh.
Những
giả thuyết về đức Phật như vậy nhiều hay ít cũng tương
xứng với quan điểm đại chúng bộ về đời sống của đức
Thích Ca Mâu Ni. Các vị Ðại chúng bộ không công nhận tất
cả chúng sanh sẽ thành Bồ-tát và cuối cùng sẽ thành Phật.
Quan niệm về bốn Càryà (hạnh) và 10 Bhùmi (Ðịa) của phái
Xuất thế bộ có hơi thiên về Ðại thừa. Chất liệu Ðại
thừa hình như không có bao nhiêu trong giáo lý của Ðại chúng
bộ. Như vậy, Ðại chúng bộ hoàn toàn thuộc Tiểu thừa,
trừ quan điểm về đức Phật có hơi sai khác.
Nay
chúng ta có thể tuyên bố tóm tắt lịch sử đạo Phật trong
giai đoạn thứ hai như sau:
- Ðạo
Phật không còn là một, nay đạo Phật đã chia thành ba học
phái chính là: Thượng tọa bộ, Nhất thế hữu bộ và Ðại
chúng bộ, Thượng tọa bộ ở lại vòng đai trung tâm Ấn
Ðộ, làm cho địa vị c?a mình mạnh hơn ở Avanti; tại đây
Mahakaccàya xây dựng nền tảng đạo Phật, và tại chỗ này,
mahinda được gửi đi Tích Lan để truyền bá đạo Phật Thượng
tọa bộ. Nhất thế hữu bộ cũng ở Trung Ấn với trung tâm
hoạt động ở Matahura và Kashmir, địa điểm đầu do Upagupta
sáng lập, địa điểm thứ hai do Madhyàntika - Dhitika, kế vị
của Upagupta và Madhyàntika truyền bá đạo Phật rất rộng
rãi ở Bắc Ấn, gồm có Tukhàra phía Tây Bắc, Màlava và Odivisa
(Orissa) và Kàmarùpa về phía Ðông, Ðại chúng bộ đặt trung
tâm ở Vesàli và có đồ đệ rải rác khắp Bắc Ấn, nhưng
được thịnh hành ở phương Nam. Tóm lại, đạo Phật trong
thời đại này được truyền bá khắp Bắc Ấn và một phần
ở Nam Ấn.
- Hoàng
đế A-dục chú trọng đặc biệt đến đạo Phật, nhưng không
giúp đỡ một học phái nào riêng biệt. Dhamma (Pháp) được
các bia ký đề cập đến phần lớn có tính chất đạo đức
và thiếu màu sắc đặc biệt của một học phái nào hay của
đạo Phật về sau. Vua khuyến khích một đời sống tại gia
chân chính hơn là đời sống của một vị xuất gia hay ẩn
sĩ. Tuy vậy Vua kính trọng và ủng hộ các vị tu sĩ và ẩn
sĩ. Sự chú ý đặc biệt của các vua chúa như Minàra và Imhasa
đã giúp đỡ rất nhiều để đạo Phật được truyền bá
ra ngoài nước Ấn Ðộ.
- Sự
liên hệ giữa cư sĩ và Tăng già không có những thay đổi
rõ rệt so sánh với giai đoạn trước, nhung các hàng cư sĩ
được chú trọng đặc biệt hơn với sự cố gắng phổ thông
hóa đạo Phật, nhờ các Jàlaka và Avadàna và nhờ đề cao
các hạnh Ba-la-mật cho hàng cư sĩ thấy.
- Sự
biên tập các Jàtaka và Avadàna được nhấn mạnh và những
ai đọc, viết, vẽ khắc chúng đư?c xem là được nhiều công
đức tôn giáo. Ðiểm này được quần chúng cư sĩ tán thành
và xem là nguồn gốc gặt hái nhiều công đức. Kết quả
là có nhiều thạch tích điêu khắc được chạm trổ và chỉ
có một số được gìn giữ ở Sanchi và Bharaut. Công đức
phổ thông hóa đạo Phật bằng Jàtaka và Avadàna trước hết
là do Nhất thế hữu bộ, sau mới đến Thượng tọa bộ.
- Sự
phân loại chín bộ kinh (Navàngas) được tăng thêm thành 12
bộ kinh Dvàdasànga, cộng thêm Nidàna, Avadàna và Upadesa. Dù
cho các tập Jàtàkas thành một bộ trong chín bộ kinh, chúng
không thành một nền văn học riêng, nhưng được nhập trong
các bài kinh được xem là do đức Phật và các đệ tử của
Ngài thuyết giảng.
- Ðời
sống đức Phật bắt đầu không phải từ khi Siddhartha xuất
gia mà từ lời phát nhuyện (pranidhàna) của Bà-la-môn Sumedha
(Thiện Tuệ) và sự dự đoán (Veyyà-Karana = thọ ký) của
đức Phật Nhiên Ðăng.
- Các
giáo lý căn bản vẫn tương tự như trong giai đoạn trước
với một vài thay đổi nhỏ, như là thêm Sùnya (Không) vào
ba pháp ấn Vô thường, Khổ, Vô ngã và thêm sáu Ba-la-mật
vào ba mươi bảy pháp trợ đạo.
- Một
vài thay đổi căn bản được thành hình trong giáo lý của
các học phái được phát triển trong giai đoạn này. Như Nhất
thế hữu bộ bắt đầu lý thuyết thực tại luận của chúng,
về sự hiện hữu của quá khứ, hiện tại và vị lai v.v...
; còn Ðại chúng bộ quan niệm đức Phật như hóa thân và
chấp nhận quan niệm về Bồ-tát.
- Mục
đích của đời sống vẫn là A-la-hán quả và Ðộc giác quả
đối với Thượng tọa bộ, còn Nhất thế hữu bộ thêm vào
Chánh đẳng giác.
- Quan
niệm Niết bàn là Sukha (Lạc), Sànta (Tịnh) không thay đổi
bao nhiêu. Nhất thế hữu bộ và Ðại chúng bộ phần lớn
đồng quan điểm với Thượng tọa bộ (76). Nhưng giáo lý
thực tại luận của Nhất thế hữu bộ khiến giáo sư Stcherbatsky
giải thích Niết bàn như một trạng thái cuối cùng không
có sinh mệnh.
- Sự
phát triển của văn học Abhidhamma xảy ra trong thời kỳ này.
Vì các học phái chính có những trung tâm hoạt động tại
nhiều địa điểm khác nhau ở Ấn Ðộ, nên sự phát triển
văn học Abhidhamma của từng học phái độc lập với văn
học Abhidhamma của các học phái khác. Sự kiện này giải
thích sự sai khác quá nhiều giữa văn học Abhidhamma của Thượng
tọa bộ với văn học tương đương của Nhất thế hữu bộ.
- Quan
điểm về Bồ-tát, các hạnh Ba-la-mật và mục đích Phật
quả là những dấu vết Ðại thừa độc nhất trong giáo lý
của Ðại chúng bộ, Nhất thế hữu bộ và những chi phái
của chúng.