THỜI
KỲ THỨ BA
(100
trước Công nguyên đến 300 sau Công nguyên):
NHỮNG
BƯỚC ÐẦU CỦA ÐẠI THỪA
Trước
khi xác định khoảng thời gian Ðại thừa được xuất hiện,
chúng ta cần phải nhận thức rõ những đặc tính của Ðại
thừa sai khác với Tiểu thừa. Nói một cách tổng quát, Ðại
thừa được liên hệ tương quan với:
- Quan
niệm Bồ-tát
-
Sự thực hành các hạnh Ba-la-mật
-
Sự phát triển Phật tâm
-
Mười tầng bậc (bhùmi = địa) của sự tu hành chứng quả
-
Mục đích Phật quả
-
Quan điểm về Trikàya (Ba thân) và
-
Quan điểm về Pháp không (Dharmasùnyatà) và Dharmasamatà hay
Tathatà (Chơn như).
Các
nhà Ðại thừa tự xem mình rất đặc biệt vì đã cố gắng
diệt trừ cả hai phiền não chướng và sở tri chướng, nhờ
chứng cả nhân không và pháp không. Tiểu thừa chỉ chứng
được nhân không, chỉ trừ diệt được phiền não chướng.
Như vậy các vị Tiểu thừa chỉ giải thoát khỏi các phiền
não và bình đẳng với các vị Ðại thừa trên phương diện
này, nhưng thiếu chơn trí như Ðại thừa quan niệm nghĩa là
Pháp không, vì không diệt trừ được sở tri chướng. Tuy
vậy, các nhà Tiểu thừa không công nhận sự thấp kém về
phương diện Jnàna (Trí) vì quan niệm rằng sự diệt trừ
Avidyà (Vô minh) hay sự chứng đạt chơn trí là phương diện
độc nhất để giải thoát và các vị A-la-hán cũng chứng
ngộ chơn trí này như các đức Phật. Các vị A-la-hán được
các tập Pàli nói đến là chứng được Chánh đẳng giác.
Tuy vậy các vị này cũng công nhận chư Phật vì công đức
vị trí đặc biệt (gotra = giòng tộc) chứng được một số
khả năng và thần lực, kể cả toàn tri, vượt trên khả
năng các vị A-la-hán. Ðây là vị trí tương đối giữa các
vị Tiểu thừa và Ðại thừa.
Nếu
chúng ta tìm hiểu các giai đoạn phát triển của Tiểu thừa,
chúng ta không khỏi nhận xét môt vài đặc tính riêng biệt
của Ðại thừa đã được đề cập trong những giai đoạn
cuối cùng của Tiểu thừa, nghĩa là:
- quan
niệm về Bồ-tát;
-
sự thực hành các hạnh Ba-la-mật;
-
sự phát triển Phật tâm;
-
mục đích Phật quả; và
-
quan niệm hai thân tức là Rùpa (hay Nìrmàna), Kàya (Sắc thân
hay hóa thân) và Dharmakàya (Pháp thân). Quan điểm sau khác hẳn
với quan điểm Ðại thừa (77).
Như
vậy, muốn chắc chắn về thời đại xuất hiện của Ðại
thừa chúng ta cần phải tìm đến thời gian khi quan niệm Pháp
không và Pháp thân được giới thiệu lần đầu tiên.
BÁN
ÐẠI THỪA
Với
sự nhận xét con đường phát triển trong giai đoạn trước,
chúng ta thấy rõ các nhà Tiểu thừa hoặc muốn phổ thông
hóa đạo Phật hay để hàng cư sĩ chú tâm vào nhiều hơn
nữa, và chấp nhận giáo lý của mình, quan niệm Bồ-tát và
sự thực hành các hạng Ba-la-mật. Mục đích này được thực
hiện nhờ sự xuất hiện một văn học mới, văn học Jàtaka
và Avadàna. Vì Jàtaka chỉ nói đến tiền thân đức Phật,
chúng ta phải tìm trong tác phẩm Avadànas, về sự xuất hiện
của quan niệm Bồ-tát và sự giới thiệu một lý tưởng
cho hàng cư sĩ. Mục tiêu của Avadàna là nêu rõ như thế nào
các tín đồ hy sinh tất cả, cho đến đời sống của mình,
để thực hiện các hạnh Ba-la-mật, không phải vì những
khoái lạc thế tục hay chư thiên mà chỉ cốt chứng được
chánh giác với mục đích cứu chúng sanh thoát khỏi đau khổ
(78).
Tập
Divyànadàna, như đã thấy, nói đến sự phát nguyện thành
Phật. Cũng vậy, chúng ta đọc trong tập Mahàvastu (79) về
các tín đồ phát Phật tâm và phát nguyện thành Phật, với
cử chỉ giản dị, lễ bái các tháp hay cúng dường phẩm
vật cho các tháp. Về phái Nhất thế hữu bô, luận tác củaVasumitra
nói đến (1) sự đồng đẳng về sự giải thoát của đức
Phật, Thanh văn và Duyên giác Phật; (2) về ba Thừa (Yàna);
và (3) về Bồ-tát vẫn còn giữ địa vị phàm phu Prthagjana
cho đến khi bước vào Samyaktvaniyàma (con đường đưa đ?n
Chánh trí (80). Tập Mahàvastu cũng nói đến sự có mặt của
ba Thừa (81) và những con đường, những phương pháp mà một
vị Bồ-tát phải theo. Tập này nói đến bốn Caryà của vị
Bồ-tát và 10 Bhùmis (địa), nhưng quan niệm về Bhùmi, như
sẽ nói đến sau (82) rất ít có liên hệ đến 10 Bhùmi của
tập Dasabhùmikasùtra, trừ hai địa vị đầu. Lẽ dĩ nhiên,
chúng ta có thể xem quan điểm về Bhùmi của phái Lokottaravàda
là hột giống cho sự phát triển về sau của quan điểm Ðại
thừa.
Như
vậy, các tập Avadàna, một sáng tác của Nhất thế hữu bộ,
nêu rõ một giai đoạn phát triển mới trong Bồ-tát thừa
thuộc Tiểu thừa. Phái Lokottaravàda của Ðại chúng bộ còn
phát triển hơn Nhất thế hữu bộ với sự định nghĩa của
bốn Caryàs, nghĩa là Prakrticaryà (Tự tánh hạnh), Pranidhànacaryà
(Nguyện hạnh), Anulomacaryà (Thuận thứ hạnh) và Anivartanacaryà
(Bất thối hạnh) (83). Caryà đầu nói đến những thực hành
sơ bộ của vị Bồ-tát khi còn là Prthagjana (Phàm phu), Caryà
thứ hai nói đến sự phát triển của Bồ đề tâm, Caryà
thứ ba, sự tiến bộ thứ lớp của vị Bồ-tát cho đến
địa thứ sáu và Caryà thứ tư nói đến sự thực hành bốn
bhùmis cuối. Từ đây một vị Bồ-tát không còn thối lui
và cuối cùng chứng Bồ đề quả. Như vậy, sự chứng quả
Bồ đề được xem là một trong những mục đích của Tiểu
thừa. Do lý do này, chúng ta thấy tập Kosa bàn đến 34 sát-na
cần thiết để chứng Bồ đề (84) và những vấn đề khác
liên hệ đến Phật quả, và những tác phẩm Tiểu thừa (85)
nói đến một vài hạnh Bồ-tát và những danh từ triết học
như sùnyatà (không), dharmadhàtu (pháp giới), dharmakàya (pháp
thân), tathàtvà (chơn như) dù không bao hàm ý nghĩa Ðại thừa
gì.
Với
những sự kiện này, chúng ta có thể chấp nhận rằng, trước
khi Ðại thừa xuất hiện với sự giải thích mới mẻ về
những lời Phật dạy, đưa đến một nghĩa mới về sùnyatà,
đã có một Bồ-tát thừathuộc Tiểu thừa và thừa này có
thể được gọi là bán Ðại thừa hay Ðại thừa sơ sanh.
Bán Ðại thừa này chỉ nói đến 6 hạnh Ba-la-mật và những
thần lực, trí lực đặc biệt của chư Phật. Bán Ðại thừa
này chưa biết đến Advaya Advaidhìkàra (Thực bất nhị bất
sở khả nhị), Dharmasùnyata (pháp không) hay Tathatà (chơn như).
Sáu hạnh Ba-la-mật thuộc Tiểu thừa giới cũng được đề
cập đến trong tập Dasabhùmikasùtra (86). Trong kinh này cũng
như trong các tác phẩm khác nói đến các Bhùmi. 10 Bhùmi được
chia làm hai phần, 6 Bhùmi đầu đưa vị Bồ-tát chứng được
Pudgalasùnyatà (nhân không) hay nói một cách khác, chân lý như
các vị Tiểu thừa quan niệm, và bốn Bhùmi sau cùng đưa đến
sự chứng ngộ Dharmasùnyatà (pháp không), chân lý như các
vị Ðại thừa quan niệm. Như vậy, những giai đoạn thực
sự Ðại thừa bắt đầu từ Ðịa thứ bảy. Nhưng tập Dasabhùmikasùtra
cho chúng ta biết rằng 6 Ba-la-mật được một vị Bồ-tát
hoàn thành trong sáu Bhùmi đầu. Như vậy, chỉ một sự thực
hành 6 hạnh Ba-la-mật không làm một người trở thành Ðại
thừa, nhưng chúng ta phải công nhận rằng Ðại thừa dựa
trên 6 hạnh Ba-la-mật làm chân đứng về phương diện thực
hành. Như tập Prajnàpàramità đã nói, đức Phật thuyết pháp
liên hệ đến 6 Ba-la-mật (87) và tập Madhyamakàvatàra nói
rằng Ðại thừa không những chỉ dạy sùnyatà mà còn dạy
pàramita và bhùmi v.v... (88).
Cuối
cùng, quan niệm về nirnimitta (vô tướng) và nihsvabhàva (vô
tánh) nêu rõ những đặc tánh của một vị Bồ-tát chứng
đạt được trong bốn bhùmi cuối cùng (89), hai quan niệm này
không được tác giả tập Mahàvastu biết đến, vì vị này
không thể kể được những đức tánh chứng ngộ trong bốn
bhumi cuối. Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng đạo
Phật bước vào giai đoạn bán Ðại thừa rất sớm, nếu
không phải trong thời vua A-dục, ít nhất cũng liền sau triều
đại của Vua này.
Ngày
giờ tập Prajnàpàramità được biên soạn
Quan
niệm mới Ðại thừa về sunyatà được giảng lần đầu
tiên trong tập Prajnapàramità và do đó, chúng ta phải cố gắng
xác định ngày đầu tiên Prajnàpàramità được ra đời. Có
truyền thuyết Tây Tạng cho rằng chi nhánh Pùrvasaila và Aparasaila
có tập Prajanàpàramità viết bằng tiếng Pràkrit (90). Rất
tiếc không có tài liệu nào thêm nữa về vấn đề này. Tàranàtha
cho chúng ta biết, liền sau khi triều đại vua Mahàpadma Nanda,
một vị vua tên là Candragupta sống ở Odivissa (Orissa) (91).
Manjuri đến tại nhà vua này dưới hình thức một vị Tỳ
kheo và giảng dạy giáo lý Ðại thừa. Phái Sautràntika xác
định lời dạy ấy là tập Astasàhasrikà Prajnàpàramita, còn
học phái Tantra cho là tập Tattvasangraha (92). Chúng ta có thể
bỏ qua một bên truyền thuyết của học phái Tantra vì những
tài liệu trong tập Tattvasangraha, và chú trọng đến truyền
thuyết Sautràntika cho rằng tập Astasàhasrikà là tác phẩm
sớm nhất chứa đựng giáo lý Ðại thừa. Nếu chúng ta so
sánh nội dung ba tập Astasàhasrikà, Pancavimsatisàhasrikà và
tập Satasàhasrikà, chúng ta sẽ thầy rằng tập Astasàhasrikà
là tập sớm nhất trong cả ba tập và được biên soạn vào
khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên.
Những
tài liệu địa dư về nguồn gốc Ðại thừa
Không
chú trọng đến triều đại các vua chúa và các tài liệu
khác do Tàranàtha đề cập tới, chúng ta có thể, với sự
dè dặt cần thiết, sử dụng một vài lời tuyên bố của
vị này về sự phát triển trong lịch sử của tôn giáo, sự
phân phối địa dư của các học phái và sự thừa kế các
tổ sư tại nhiều trung tâm sai khác. Tàranàtha nói rằng, theo
một truyền thuyết 500 vị Bồ-tát (93) tham dự kỳ kiết tập
Jalandhara của Kanishka và trong thời gian này, Ðại thừa xuất
hiện và được các vị tu sĩ đã chứng được Anutpattikadharmaksànti
(vô sanh pháp nhẫn) (94) thuyết giảng. Giáo điều này là một
đặc tính của các nhà Ðại thừa và có thể là một sự
phát triển của thuyết Anutpadajnàna (vô sanh trí) Tiểu thừa
(bất sanh của các lậu hoặc, không còn sanh tử luân hồi),
và Ksayajnàna (lậu tận trí) (95) nhưng ở đây không có một
ý nghĩa Ðại thừa gì cả. Nói đến sự xuất hiện của
môt hạng tu sĩ gọi là Bồ-tát trong thời kỳ kiết tập Kanishka
cũng có ý nghĩa, vì chúng ta đọc trong tập Divyàvadàna sự
hiện hữu của một loại tu sĩ gọi là Bodhisattvajàtika với
gợi ý hạng tu sĩ này không được các nhà Tiểu thừa tán
thành cho lắm (96).
Tàranàtha
nói lên sự khó khăn của mình khi xác nhận sự hiện hữu
của một loại tu sĩ gọi là Bồ-tát tại kỳ kiết tập Kanishka.
Ngài cho chúng ta biết thêm, khoảng thời đại vua Kanishka,
Bà-la-môn Kulika xứ Sauràstra mời Sthavira (thượng tọa) và
A-la-hán Nanda, sinh trưởng ở Anga và hiểu giáo lý Ðại thừa,
đến giảng giáo lý mới (97). Chúng ta để ý đến danh từ
Sthavira và Arahanta, hai danh từ này chứng tỏ Nanda là một
tu sĩ Tiểu thừa và hiểu giáo lý Ðại thừa. Tàranàtha nói
đến các tu sĩ chứng được Anutpattikadharmaksànti (vô sanh
pháp nhẫn), diễn giảng Ðại thừa; như vậy là có một hạng
tu sĩ Tiểu thừa thuyết pháp truyền bá giáo lý Ðại thừa
(98). Sự liên hệ giữa Odivisa với sự khởi nguyên của Ðại
thừa và vị tu sĩ Nanda với Anga khiến chúng ta phải tìm nguồn
gốc của Ðại thừa tại một chỗ nào về phương Ðông.
Một đoạn được tìm thấy trong mọi tập Prajnàpàramita một
phần nào đã ủng hộ lời tuyên bố của Tàranàtha. Ðoạn
này nói rằng giáo lý Ðại thừa phát sanh về phía Nam (Daksinàpàtha),
đi qua các xứ phía Ðông (Vartanyàm) (99) và thịnh hành phía
Bắc. Như vậy, lời tuyên bố này của các tập Prajnàpàramita
được viết lên khi tập này đang được biên soạn ở phương
Bắc, sau khi Ðại thừa đã được truyền bá mạnh ở nơi
đây.
Chúng
ta có thể xác chứng lời tuyên bố này với truyền thuyết
Tây Tạng nói đến sự có mặt của tập Prajnàpàramita bằng
thổ ngữ Pràkrit, thuộc các học phái Saila, trung tâm của
những học phái này thuộc Nam Ấn (quận Guntur). Rất có thể,
tập Prajnàpàramita này hàm chứa những hột giống giáo lý
Ðại thừa. Rồi địa điểm được thay đổi qua phương Ðông
như Tàranàtha đã đề cập đến ở trên. Ở đây, cũng cần
ghi thêm, Nalanda là một trung tâm sớm nhất, là kho tàng chứa
giữ giáo lý Ðại thừa và sau này trở thành căn cứ điểm
của Nàgàrjuna. Như vậy, rất có thể Ðại thừa sinh trưởng
ở phương Nam khoảng thời gian trước Kanishka, trở thành một
hình thức Phật giáo được công nhận dưới thời đại Vua
này, nghĩa là bắt đầu kỷ nguyên khi đặt được trọng
tâm ở phương Ðông, rồi từ từ truyền bá lên phương Bắc
để được phát triển rực rỡ huy hoàng dưới sự lãnh đạo
của Nàgàrjuna.
Ở
phương Nam, Ðại thừa tiếp tục được hưng thịnh , vì trong
tập Gandavyùha có nói đến Manjusrì bắt đầu từ Jatavana
(Kỳ viên) để đi trong xứ Daksinàpatha, đến tại Màladhvajavyùha
caitya, tại thành phố lớn Dhanyàkara (100), tại đây có rất
nhiều tín đồ. Ở đây Manjusrì thuyết pháp khiến cho Sudhanu,
con một vị chủ ngân hàng rất giàu, phát Bồ đề tâm và
dạy Sudhanu đi đến Sugrìvaparvata trong xứ Ràmavartta (cũng
trong Daksinàpatha) để học Samanta bhadra bodhisattvacaryà (Phổ
hiền Bồ-tát đại nguyện). Sudhanu du hành trải qua nhiều
xứ để tìm chân lý và cuối cùng đến tại Dvàravatì. Sau
khi đã học tất cả những gì có thể học được ở Nam
Ấn, Sudhanu đi đến Kapilavastu và du hành qua nhiều nước (101)
ở phương Bắc. Cũng trong tập Manjusrimùlakalpa (102), Dhànyakataka,
Srìparvata và một số địa điểm khác ở Daksinàpatha được
đề cập đến và nêu rõ đạo Phật được hưng thịnh tại
những chỗ này. Nàgàrjuna sanh ở Vidarbha (Berar), cũng trú ở
phía Nam và sống những ngày cuối cùng ở Srìparvata (hiện
tại là Srìsailam) (103). Ariyadeva (Thánh thiên) cũng từ Nam Ấn
đến, Nàga một đệ tử khác của Nàgàrjuna cũng vậy.
Như
vậy hình như Nam Ấn không những chỉ là chỗ sinh trưởng
của Ðại thừa mà cũng là chỗ sinh trưởng của nhiều nhân
vật quan trọng đã tác thành Ðại thừa được địa vị
hiện có vào thế kỷ thứ hai và thứ ba sau Công nguyên. Niên
đại của Àryadeva và Nàga được ghi vào khoảng đầu thế
kỷ thứ ba (200 - 225) và Nàgàrjuna sống trước khoảng vài
mươi năm (104). Sự huy hoàng của Nàgàrjuna với hệ thống
triết lý của Ngài làm lu mờ hình ảnh vĩ đại của Maitreya,
vị sáng lập truyền thống của học phái Yogàcàra cho đến
thời đại Asanga (Vô trước), vị này đặt các tác phẩm
của Maitreya lên hàng đầu và dành cho hệ thống triết học
này một địa vị rất cao quý.
Nội
dung các tác phẩm Ðại thừa sớm nhất
Hai
thế kỷ đầu sau Công nguyên chứng kiến sự xung đột giữa
Ðại thừa và Tiểu thừa và sự hệ thống hóa giáo lý Ðại
thừa. Các tác phẩm diễn tả (lẽ dĩ nhiên có thiên lệch)
sự xung đột này là Prajnàpàramita, sadharmapundarikà, Lankàvatara,
Dasabhùmikasùtrà và Gandavyùha rất có thể là sản phẩm của
thời đại này, nhưng cũng chưa có những bằng chứng cụ
thể về những ngày nhất định khi các tập này được sáng
tác. Một bằng chứng độc nhất là triều đại các tác phẩm
này được dịch ra chữ Hán, nhưng đây chỉ là giới hạn
thời gian cuối cùng của các tập này mà thôi. Vì không có
những tài liệu cụ thể về giới hạn thời gian sớm nhất,
chúng ta phải để ý đến tính chất nội dung những tập
này, nêu rõ thời gian khi các nhà Ðại thừa đang cố gắng
phủ nhận giá trị của những nhà Tiểu thừa.
Tập
Prajnàpàramita đầy những danh từ chuyên môn và hành văn Tiểu
thừa với mục đích nêu rõ lập trường không vững mạnh
của Tiểu thừa, như thế nào các nhà Tiểu thừa bị mê lầm
bởi những ảo ảnh thiển cận của tôn giáo và sự thấp
kém về giác ngộ của hàng Tiểu thừa, so sánh với trí tuệ
của vị Bồ-tát thực hành Bát nhã ba la mật. Tập Sadharmapundarika
tự nhận lấy trách nhiệm nêu rõ sự thiển cận của trí
giác Tiểu thừa, tuy vậy cũng vẫn có thể tiến trên con đường
tu hành và cuối cùng theo Ðại thừa để chứng ngộ chân
lý. Tập Gandavyùha cố gắng diễn tả sự phấn đấu lớn
lao của một Bồ-tát, sự phấn đấu vượt ngoài khả năng
của một vị Tiểu thừa để học Samantabhadrabodhi-sattvacaryà;
Sudhanu yết kiến nhiều vị Bồ-tát, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu
bà tắc, Ưu bà di, mỗi vị tinh thông một phần nào trong hạnh
nguyện Phổ hiền và học những hạnh nguyện từ những vị
ấy. Tập Dasabhùmikasùtra, như đề sách nêu rõ, nói đến
những phương pháp thực hành liên hệ đến các bhùmi, những
giai đoạn tuần tự của một vị Bồ-tát tiến đến Thánh
quả. Tập này cũng không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để công
kích các vị Tiểu thừa và nêu rõ bốn Bhùmi cuối cùng hoàn
toàn vượt ngoài khả năng của các vị Thanh văn. Tập Lankàvatàra,
một trong những tập của loại này được dịch ra Hán văn,
có trình bày hệ thống tư tưởng của phái Yogàcàrà sớm
nhất, và luôn luôn nhắc đi nhắc lại cũng một đề tài
nghĩa là các nhà Tiểu thừa chỉ để ý đến Svasàmànyalaksana
(tính cách đặc biệt và phát sanh của sự vật) và không
biết đến sự không hiện hữu của các pháp.
Các
tác phẩm Ðại thừa tiếp theo là những tác phẩm của Nàgàrjuna,
Asanga, Àryadeva, Vasubandhu v.v... Dù cho mục đích của những
bài kệ của Nàgàrjuna là để nêu rõ sự hiện hữu tương
đối của các pháp và chân lý chỉ có thể tự mình tự giác
chứng với mình, Ngài cũng đề cập đến những giáo lý chính
của học phái Tiểu thừa và nêu rõ sự rỗng tuếch của
chúng, đứng trên lập trường mới được Ngài xây dựng
lên. Asanga, tuy thuộc thời đại về sau nhiều, cũng không
để giáo lý Tiểu thừa được nằm yên. Trong tập Sùtràlankàra,
Ngài nêu lên địa vị thấp kém của các vị Tiểu thừa về
khả năng tâm linh và sự bất lực của chúng để chứng ngộ
sự thật. Vasubandhu cũng vậy, trong tập Vijnaptimàtratàsiddhi
(Thành duy thức), nêu thẳng như thế nào các nhà Tiểu thừa
vẫn bị chi phối bởi những tà kiến, và mục đích của
Ðại thừa là diệt trừ hoàn toàn những tà kiến này. Như
vậy chúng ta thấy rằng, dù phần lớn các tài liệu được
nói đến thuộc về thời đại sau thời đại được đề
cập, chúng cũng giúp chúng ta được nhiều tài liệu nêu rõ
sự tranh chấp ảnh hưởng giữa Tiểu thừa và Ðại thừa.
Tuy
vậy một đặc tính của những lời công kích trong những
tập này chống các nhà Tiểu thừa là chúng không cố ý xuyên
tạc vị trí của các nhà Tiểu thừa để đem phần thắng
cho các nhà Ðại thừa. Các lời tuyên bố trong các tập này
về các nhàTiểu thừa được minh chứng bởi các tập Tiểu
thừa sớm nhất và muộn nhất. Như vậy, không những không
xuyên tạc vị trí của các nhà Tiểu thừa, những tập này
soi sáng rất nhiều về giáo lý Tiểu thừa. Các vị Ðại
thừa thấy khuyết điểm của các nhà Tiểu thừa, không phải
vì những vị này hiểu lầm lời Phật dạy, nhưng những vị
này xem là chân lý những gì các nhà Ðại thừa chưa xem là
chân lý tuyệt đối. Trong chương tiếp, chúng tôi sẽ đề
cập đến sự đánh giá các nhà Tiểu thừa bởi các nhà Ðại
thừa và những lý do ẩn nấp dưới sự đánh giá như vậy.
CHÚ
THÍCH CHƯƠNG MỘT
1-
Không phải tất cả bài kinh của tất cả Nikàyas, vì nhiều
kinh được đem vô về sau. Tập Khuddaka Nikàya (Tiểu bộ kinh)
gồm một số ít kinh nguyên thủy nhưng nhiều kinh thuộc giai
đoạn sau. Tập Divyàvadàna luôn luôn nói đến bốn Àgama (A
hàm), nghĩa là chỉ có bốn tập Àgama được công nhận khi
tập Divyàvadàna được tập thành. Xem Divyà. Trang 17, 253, 333.
Giáo sư Bhapat và Winternitz đều công nhận các tập Nikàyas
gồm nhiều thành phần lẫn lộn thuộc nhiều thời đại khác
nhau.
2-
Sanskrit: Mahàvastu, Lalitavistara, Divyàvadàna, Avadànasataka, Asokàvadàna,
Tiểu luận của Vasumitra về các Tông phái, những đoạn Sanskrit
tìm được ở phía Ðông Turkestan và các miền phụ cận.
Pàli:
Kathàvatthu, Milindapanha, các tập biên niên sử Tích Lan, Nikàyasangraha.
3-
Theravàda: Suttapitaka = Dìghanikàya, Majjhimanikàya, Anguttaranikàya,
Samyuttanikàya và Khuddakanikàya, Sarvàstivàda: Dìrghàgama, Madhya-màgama,
Ekottaràgama và Samyuktàgama.
4-
Theravàda: Vinayapitaka, Pàtimokkha, Mahàvagga, Cullavagga, Suttavibhanga
và Parivàra. Sarvàstivàda: Vinayapitaka = Vinayavastu, Pràtimoksa-sùtra,
Vinayavibhàga, Vinayaksudrakavastu và Vinaya-uttaragrantha.
5-
Theravàda: Abhidhamma: Dhammasangani, Vibhanga, Dhàtukathà, Puggalapannatti,
Kathàvatthu, Yamaka và Patthàna.
Sarvàstivada:
Abhidharma: Sangìtiparyàya, Dhàtu-kàya, Prajnaptisàra, Dharmaskandha,
Vijnànakàya và Prakaranapàda.
Các
chi tiết, xem quyển Early History, trang 277 v.v...
6-
Nghĩa là trong giai đoạn thứ nhất.
7-
Muốn so sánh các bản Sanskrit mảy mún của A hàm Nhất thế
hữu bộ với các tập Pàli Nikàya, xem Hoernle Manuscript Remains
trang 30 v.v... Muốn đối chiếu tập Pràtimokkha của Nhất thế
hữu bộ với tập Pàtimkkha, Thượng tọa bộ, xem J. A., 1913,
cũng xem Levi, J. A 1912 Oldenberg Z.D.M.C, tập Iii, Watanabe Tables
of Problems in the Samyukta àgama and Samyutta Nikàya (Tokyo, 1926).
8-Xem
J.P.T.S., 1904 - 5, trang 60 v.v...
9-
Một bằng chứng sự trưởng thành về sau của văn học Abhidhamma
là truyền thuyết chính thống (Athha, trang 28 -32) cho rằng đức
Phật không giảng toàn bộ Abhihamma mà chỉ giảng những Matikà
(toát yếu). Những toát yếu này sau được Ngài Xá Lợi Phất
giảng rộng ra và thừa truyền ngang qua các đệ tử cho đến
Revata. Bằng chứng này quan trọng vì do chính Ngài Buddhaghosa
nói ra. Ngài là một vị tin tưởng mọi lời ghi trong kinh đều
là Phật ngôn. Ðại chúng bộ xem Abhidhamma là không thuộc
chính tạng. Xem Early History trang 235. Trong tập Kosavyàkhyà (trang
12), Abhidhamma được xem là do đức Phật giảng từng phần.
10-
Xem Speyer, tự phần cho tập AVA.S, trang V, VI.
11-
Attha, trang 26. Sabbampi sagàthakam suttam Geyyanti veditabbam.
12-
Tattha, trang 26. Sabbe pi acchariyabbhutadhamma patisamyuttà Suttantà
Abhutadhammanti veditabbam. Kinh Acchariyab-bhutadhammasutta (Majjhima
III, trang 118 v.v...) có thể xem thuộc loại Abbhutadhamma. Cũng
xem Mtu III, tr. 200.
13-
Như đã làm trong Attha, tr. 27 -28.
14-
Kinh Mahakaccànabhddekarattasutta (Majjhima III, số 133) là một ví
dụ điển hình về một bài kinh có cả gàthà và Veyyàkaranà.
Kinh Mahàkammavibhangasutta (Majjhima III, số 136) là một loại
Veyyàkaranà. Ngài Buddhaghosa chứng minh tập Kathàvatthu cũng
là Phật ngôn như kinh Madhupindika và các kinh khác do Ananda,
Mahàkaccàna và các đại đức khác giảng. Ngài biện minh rằng
đức Phật chỉ giảng Màtikà (toát yếu) rồi được gọi
là Phật ngôn. Theo tôi, những loại kinh như vậy có thể phân
loại vào Veyyàkaranà. Xem Attha, tr. 5.
15-
Phái Ðại chúng bộ bác bỏ Abhidhamma và Jàtaka không thuộc
vào kinh điển Phật giáo. Hãy so sánh với truyền thuyết Yogàcàra
cho rằng trong đoạn đầu đời Ngài, đức Phật giảng bốn
Àgamas, Dharmanusmrtyupasthàna, Lalitavistara, Karmasataka, và Avadànasataka,
Wassiljew, Buddhimus, tr. 352. Theo phái Nhất thế hữu bộ, mỗi
tập Abhidharma đều có một tác giả.
16-
Kosa VI, 29b. Giáo sư La Vallee Poussin khiến tôi chú ý đến sự
kiện là 12 bộ kinh được tập Vyàkhyà của Yasomitra đề
cập đến, chứ không phải chính bộ Kosa.
17-
Mtu I, tr. 2, 4.
18-
Panca, tr. 17.
19-
Xem Speyer s In tro. To the Ava. S . Pàli có tập Apadàna nói đến
tiền thân các vị A-la-hán.
20-
Về 12 bộ kinh, xem Nanjo s Catologue, số 1199 (Taisho, tập 31,
tr. 586).
21-
Xem tự phần của tôi cho tập Panca.
22-
Sự vắng mặt của các Pàrami trong Dasuttara và Sangìtisuttanta
của tập Dìgha rất có ý nghĩa.
Danh
từ Pàramippatto (Majjhima III, trang 28) được dùng với ý nghĩa
toàn thiện hơn là ý nghĩa các hạnh Ba-la-mật.
23-
Divyà. Tr.95, 127, 490; Lal. Vis. Tr.345, 474; Sata. Tr.242.
24-
Dasa, tr.63, 72, 81, 94. Cf Mvyut - 34.
25-
Xem đoạn sau, chương IV, về 4 loại phát nguyện, xem Mvyut.,
80 và P.I.S. Dict Adhitthàna trong tập Mahavamsa, chương XVII, S1.46.
26-
Divyà., tr, 226, 271, 368, 469, 476, 478, 495, 569.
27-
Như Cunningham, Oldenberg, Barua, Charpentier.
28-
Xem các chi tiết, Early History., tr. 92, 137 v.v..., 155, 169 v.v...
Dr. E. Thomas, Lief of the Buddha, bản đồ.
29-
Dìgha II, tr. 167, As. Res. XX, tr. 316.
30-
Dìgha II, tr. 167.
31-
Mv., I, tr. 197; Jàt. I 49. Divyà, tr. 21.
32-
Mv., I, tr. 197.
33-
Muốn xác nhận giới vức Majjhima Janapada xem S.M. Majundar s Intro.
to Cunningham s Geography, tr. XLiii.
34-
Divyà, tr. 21: Pundravardhana phía Ðông; Saràvatì phía Nam; Sthùnopasthùnaka
bràhmanagràmas phía Tây; và Usìragiri phía Bắc.
35-Watters
Yuan Chuang I, tr.308.
36-Tàra.,
tr. 10, 13.
37-
Cv., XII, i, tr. 7. Xem Ind. Ant. 1908, Councils ...; Pag Sam Jon Zang,
tr. VIII; về truyền thuyết Mahisàsaka, xem biệt chú của Wassiljew
trong the App. To Tàra. Tr. 289 - 290/
38-
Theo Cv. (XII, 21). Vị này đã thọ đại giới 120 năm, tức
là ít nhất già hơn 140 tuổi. Pag Sam Jon Zang (tr. 81) nói đến
vị này tham dự kỳ kiết tập thứ 2, được đặt dưới
sự bảo trợ của Mahàpadma Nanda.
39-
Chi tiết xem I.A. 1908.
40-
I.A. 1908, tr. 4 v.v...; 89 v.v...
41-
Tàranàtha (tr.44) nói đến Sthavira Vatsa đã đem vào thuyết
Hữu ngã luận. Tàranàtha thêm rằng Dhitika, nối nghiệp Upagupta,
triệu tập một kỳ kiết tập tại tu viện Puskarinì để
trừ Hữu ngã luận của Vatsa và thành công, giáo hóa được
các đồ đệ của Vatsa và cuối cùng cả Vatsa nữa. Sự tích
này rõ ràng nói đến Vàtsìputrìyas hay Vajjiputtaka, từ chi
nhánh này khởi lên chi nhánh Sàmmitiyàs được thịnh hành
dưới thời đại Harsavardhana. Xem Early History, tr. 297 v.v...
42-
Majjhima, Sutta 108; cũng xem Dutt, Early Buddhist Monachism, tr. 141.
43-
Attha, tr. 32, Àcariyaparamparà. Sàriputta, Bhaddaji, Sobhito, Piyajàli,
Piyapàlo, Piyadassì, Kosiyaputto, Siggavo, Sandeho, Moggaliputto Visudatto
Dhammiyo Dàsako, Somako, Revato (rồi ở Tích Lan) Mahindo, Iddhiyo,
Bhaddanàmo và Sambalo.
44-
Tàra, tr. 9.
45-
Cần phải chú ý rằng sự thọ giới của Mahinda có liên quan
đến tên Majjhantika (rất có thể vị sư danh tiếng ở Kashmir)
và Mahàdeva, vị truyền bá đạo Phật ở Mahisamandala với
Moggaliputta. Cũng xem Early History., tr. 260.v.v...
46-
Mahàvamsa, tr. 54.
47-
Truyền thuyết Nhất thế hữu bộ cho rằng Madhyàntikà truyền
bá đạo Phật phương Bắc và Mahàvamsa chép rằng Majjhantika
được gửi đi để giáo hóa Kashmir và Gandhàra.
48-
Waddell trong J.A.S.B. 1897, pt, i, tr. 76. Proc. A.S.B., 1899, tr. 70.
Smith, Early History of India, 4th ed, tr. 199.
49-
Mahàvamsa, tr. 94. Sàsanavamsa, tr. 10. Các chi tiết, xem Smith, Asoka
(3rd ed), tr. 44. Bhandarkar, Asoka, tr. 159 v.v...
50-
Ep. Ind, IX, tr. 139, 141, 146.
51-
Ibid, XI, tr, 211, về các địa điểm khác của Ðại chúng bộ,
xem Early History., tr. 241 v.v...
52-
Burgess, Amaravati và Jaggayapeta stupas, tr. 100.
53-
Annual report of S.I. Epigraphy, 1924, tr. 97; 1926, tr. 70, 6203; 1927,
tr. 42 cũng xem I.H.Q.V, tr.794 -6.
54-
Burgess (như số 52), tr. 6; Tàra, tr. 73, 81.
55-
Mil, tr. 8, 16.
56-
Tàra, tr. 23. Mọi truyền thuyết Nhất thế hưữ bộ, Trung
Hoa và Tây Tạng đều ghi rõ Dhitika kế vị Upagupta.
57-
Schiefner gợi ý là Minàra = Menander và Imhasa = Hermaios, xem Tàra,
tr. 23 -24.
58-
Có nói đến đạo Phật được truyền bá đến Tích Lan. Krsna
được xem là có đến viếng thăm chỗ này. Tàra, tr. 44.
59-
Kàla được gọi là Krsnavarna theo truyền thuyết Trung Hoa, xem
Samyuktavastu II, tr. 95b; Tàra, tr. 47. Khó mà chấp nhận lời
tuyên bố của Tàranàtha cho rằng Sadarsana và Asoka chết cùng
một lúc.
60-
Tàra, tr. 50.
61-
E.R.E. s.v. Docetism.
62-
Huber truy nguyên 18 Avadànas của Divyàvadàna trong luật tạng
Nhất thế hữu bộ chữ Hán (B.E.F.E.O. V, tr. I -37). Cũng xem
Levi, T oung Pao, Ser-II (1907), Như vậy rất có thể tập Divyàvadàna
thuộc Nhất thế hữu bộ.
63-
Trong luận tác Vasumitra cũng như trong tập Kathàvatthu có chép
rằng phái Nhất thế hữu bộ xem các vị A-la-hán có thể
bị rời khỏi quả vị A-la-hán. Phái Thượng tọa bộ không
công nhận điểm này và xem các vị A-la-hán cũng thanh tịnh
như đức Phật. Phái Ðại chúng bộ cũng không đồng ý với
Nhất thế hữu bộ. Xem Masuda, Origin, tr. 27, Kvu, i, 2.
64-
Divyà, tr. 226, 271.v.v... Luận tác của Vasumitra có nói rằng
phái Nhất thế hữu bộ biết đến ba thừa. Ngày giờ kiết
tập của Divyàvadàna có thể chậm nhưng tập này có chứa
nhiều Avadàna rất xưa. Như vậy, phái Nhất thế hữu bộ
xem Phật quả là một mục đích cố gắng đạt đến như
hai quả vị khác.
65-
Xem đoạn sau chương III (b) giáo lý Kàya.
66-
Lal Vist, tr. 419, Divyà, tr. 367. Xem Kosa VI, tr. 163 và VII, tr. 31,
tại đây Sùnya được giải thích với nghĩa vô ngã.
67-
Cần để ý rằng Nàgàrjuna và các nhà Ðại thừa sớm nhất
phần lớn chống đối lý thuyết thực tại luận của Nhất
thế hữu bộ.
68-
Xem đoạn sau, chương III (Dasabhumikasutra).
69-
Tàra, tr. 58.
70-
Masuda I, 31, Prajnà và về Prayaga, xem Mtu, I, tr. 270. Trong suốt
tập Mtu, Niết bàn được xem là tịnh lạc. Ðại thừa không
chấp nhận khổ lạc gì cả.
71-
Kvu, XV, 6.
72-
Points of Controvesy XV, 6
73-
Nghĩa là vị đã chứng nhập Darsanamàrga.
74-
Masuda op cit. 1, 5, 40. Ðây chống lại quan điểm Ðại thừa
xem lời dạy của đức Phật có hai nghĩa Nìtàrtha và Neyyàrttha
và cũng chống đối với Nhất thế hưữ bộ.
75-
Cf Mtu I, tr. 263, Ðức Phật hiện ra khắp nơi. Trong các tập
Nikàyas có nói đến "Ekopi hut và bahudhà hoti". Dìgha I, tr. 78.
Trong tập Lalitavistara (tr. 100), vị Bồ-tát hiện ra trong tất
cả nhà do các Sàkya cúng dường.
76-
Nhất thế hữu bộ xem sự giải thoát của Thanh văn, Duyên
giác và chư Phật giống nhau. Masuda, tr. 49. Mahìsàsaka cũng
đồng một quan điểm (Masuda, tr. 62). Dharmagupta trái lại không
đồng ý về điểm này. Tập Sùtràlankàra cho rằng, về giải
thoát, đức Phật và hàng Thanh văn bình đẳng. Ðây cũng là
ý kiến của các luận Yogàcàra.
77-
Trong tập Mtu, danh từ Sambhogakàya không nói đến, nhưng sự
diễn tả thân của đức Phật nhiều khi cho chúng ta hiểu
theo quan niệm này.
78-
Divyà, tr. 473.
79-
Mtu, tr. 364-365-367. Bodhàya cittam nametvà. Tr. 375-477. Bodhim atulyam
sprsati.
80-
Masuda, tr. 49. Ðức Phật và hai Thừa không có sai khác về
giải thoát (Vimukti): con đường (Màrga) của ba Thừa lại khác
nhau. Ðoạn này không có trong truyền thuyết Tây Tạng.
81-
Mtu II, tr. 362.
82-
Xem sau, chương IV.
83-
Mtu I, tr. 46. Lal, Vis, tr. 35.
84-
Kosa II, 44, VI, 21 a-b.
85-
Mtu, II, tr. 357: Sùnyatam Sàntam bhàventi. Samyutta II, tr. 267; III,
167.
86-
Xem sau, chương IV.
87-
Panca, tr. 7,: Satpàramitàpratisamyuktàm- dharmadesanàm Karoti.
88-
M. Ava (Le Muséon, VIII, tr. 271). En effet, La doctrine du grand véhicule
Nagasamala enseigne pas non seulement le néant des éléments, mais encore
les terres des Boddhisattvas, les vertus transcendantes (Pàramità), les
résolutions (pranidhàna), la grande compassion etc., mais encore Papplication
du mérite à illumination, les 2 équipements de mérite et de savoir
et la nature incompré hensible du dharma (acintya - dharmatà).
89-
Xem đoạn trước.
90-
Vassiljew, Buddhismus, tr. 291, nói đến tập Tây Tạng Siddhànta.
91-
Tàra, tr. 58, Pag sam Jon Zang, tr. 82 cũng nói Ðại thừa Phật
giáo bắt đầu ở Odivisa, sau thời đại vua Mahàpadma Nanda
không bao lâu.
92-
Mới in theo bộ Gaekwad oriental series.
93-
Asvaghosa được gọi là vị Bồ-tát trong tập Samyuktaratna-
Pitakasùtra chữ Hán (số 1329, tập VI, xem Takakusu, Itsing, tr.
1 IX, cf De groot, Le code du Mahayàna en Chine, tr. 8: Hai hay ba ngày
sau lễ thọ Ðại giới theo Pràtimksa, các tu sĩ lại thọ một
giới đặc biệt theo giới Bràhamjàlasùtra (Phạm võng kinh)
và trở thành vị Bồ-tát. Xem chương V.
94-
Tàra, tr. 61. Lankà tr. 81; Asta, tr. 331: Anutpàdajnànakasàntiko
boddhisattavà. Xem sau, chương III.
95-
Xem Kosa, VI, 17, 71. Ksayajnàna với Anutpàdajnàna tác thành Bodhi,
cũng xem Kosa VI, 50, VII, I, 46, 7.
96-
Divyà, tr. 261.
97-
Tàra, tr. 62.
98-
Có thể chăng, Asvaghosa, tác giả tập Buddhacarita thuộc loại
Tu sĩ Tiểu thừa này?
99-
Asta, tr. 225. Về Vartanyàm, xem Trikàndasesa 2 hàng 12.
100-
Rất có thể đồng với Dhànyakataka
101-
Những xứ phương Bắc được Ngài đến thăm là Bodhimada và
Kapilavastu.
102-...
trang 88.
103-
Tên của Nàgàrjuna có liên hệ mật thiết với Dhàyakataka,
gần đấy có Srìparvata và Nàgàrjunikunda.
104-
Giáo sư Walleser cho rằng khoảng đầu thế kỷ thứ hai. Nàgàjuna,
Asvaghosa và Àryadeva được xem là đồng thời với Kàniska
trong tập I- tsing, tr. Ivii.