Những điểm
tương đồng giữa hai thừa
được các
tác phẩm Ðại thừa đề cập đến
Một
số tác phẩm Ðại thừa cố gắng chứng minh sự phát sanh
đồng thời và sự đồng nhất căn bản giữa Tiểu thừa
và Ðại thừa bằng cách nêu rõ những điểm tương đồng
giữa hai thừa. Tập Madhyamakàvatàra (Tây Tạng) dựa theo lời
tuyên bố của Ngài Nàgarjuna trong tập Madhyamika - sùtra về
quan điểm Sùnyatà của Tiểu thừa và Ðại thừa ghi nhận
rằng: "Chỉ là một Sùnyatà, dù có nghĩa diệt tận hay bất
sanh" và xem sự kiện này như là một bằng chứng về sự
phát sanh đồng thời của Tiểu thừa và Ðai thừa (23). Tập
Sùtràlankàra (24) cũng cố gắng chứng minh rằng chỉ có một
thừa, không hai hay ba và Tiểu thừa không hoàn toàn sai khác
Ðại thừa, mục đích để nêu rõ chỉ có nhất thừa, chính
là Ðại thừa, hai thừa khác tùy thuộc vào thừa này. Tập
này nêu rõ có nhiều vấn đề tương đồng giữa Tiểu thừa
và Ðại thừa như một vài vấn đề nêu sau:
1)
Ðồng một Dharmadhàtu (Pháp giới), nghĩa là các nhà Thanh văn
và Bồ-tát đồng phát sanh từ một pháp giới giống nhau (Dharmadhàtu).(25).
2)
Ðồng nhất về Nairàtmya (Vô ngã). Các nhà Thanh văn xác định
không có tự ngã (Atmabhàva). Sự sai khác giữa các nhà Thanh
văn và Bồ-tát là các nhà Thanh văn chỉ áp dụng về Nhân
không (pudgalasùnyata) mà thôi, còn các vị Bồ-tát hiểu cả
Nhân không và Pháp không (dharmasùnayatà).
3)
Ðồng nhất về Vimukti (giải thoát). Cả hai Thanh văn và Bồ-tát,
đều tìm đến sự giải thoát các phiền não chướng (klesa
vimukti), các vị Bồ-tát còn đi xa hơn và tiến đến sự giải
thoát các sở tri chướng (Jneyàvaranavimukti).
4)
Dù cho có sự sai biệt về Gotra (Chủng tánh), có nhiều vị
thuộc về Aniyatagotra (Bất định tánh) và trở thành Ðại
thừa. Hạng bất định tánh gồm có hai loại, hạng hướng
về Thanh văn và hạng hướng về Bồ-tát. Hạng trên có thể
bị Ðại thừa hấp dẫn, còn hạng sau thì không cho phép rời
khỏi Ðại thừa (Samdhàranàya) (26).
5)
Dù cho các đức Phật và hàng Thanh văn có hai Asaya (xu hướng)
khác nhau, nhưng vẫn có điểm liên hệ. Một mặt các đức
Phật xem mình đồng nhất vơí tất cả chúng sanh, còn một
mặt khác những hàng thuộc Thanh văn tánh, trước khi nghiêng
hẳn về Thanh văn thừa, sẽ làm các thiện sự để chứng
được Bồ đề và cùng ôm ấp nguyện vọng (àsaya) để trở
thành Phật (27). Không có sự sai khác giữa các đức Phật
và các vị Thanh văn về vấn đề giải thoát sanh tử. Do vậy,
sau khi được giải thoát, các vị Thanh văn phát ước nguyện
(àsaya), nhờ sự nâng đỡ và che chở của chư Phật, trở
thành những đức Phật, và cuối cùng hai vị ước nguyện
trở thành giống nhau và do vậy chỉ có nhất thừa mà thôi.
6)
Ðức Phật nhập Niết bàn theo Thanh văn thừa. Ðây đề cập
đến Ðại Niết bàn của đức Phật như quan niệm của các
nhà Tiểu thừa. Các nhà Ðại thừa thường giải thích rằng
đây là sự nhập Niết bàn hóa thân của đức Phật thật,
nhưng tác phẩm này lại xem đó như là một điểm liên lạc
giữa Ðại thừa và Tiểu thừa.
7)
Tính chất tối thượng của Ðại thừa (paryantàt) nghĩa là
không có gì vượt xa hơn Ðại thừa, vì vậy Ðại thừa là
nhất thừa, Thanh văn thừa chỉ là con đường đưa đến Ðại
thừa.
Những
lý lẽ trên của Asanga (Vô trước) để chứng minh những điểm
tương đồng giữa Ðại thừa và Tiểu thừa có vẻ gượng
ép. Ý kiến của Ngài rất rõ ràng, Ngài muốn nói chỉ có
nhất thừa thôi và xứng đáng gọi thừa đó là Ðại thừa
và các nhà Thanh văn theo Thanh văn thừa để tiến đến Ðại
thừa và thành Phật trong tương lai. Vị sứ giải giải thích
điểm này với một đoạn trích trong kinh Srìmàlàsùtra, theo
đoạn này, một Thanh văn trở thành một Ðộc giác và cuối
cùng sẽ thành Phật (28).
Tập
Lankàvatàra (Lăng già 29) nhấn mạnh hơn nữa quan điểm mọi
thừa là một và giống nhau. Tuy vậy, quan điểm của tập
này hoàn toàn khác hẳn, vì tất vả sự nhận xét đều dựa
trên lập luận Yogàcàra là vạn hữu đều là duy thức. Tập
này muốn xác chứng rằng mọi thừa chung quy là một và sở
dĩ được xem là sai khác chỉ vì chúng thích hợp với từng
hạng người, tùy thuộc với mức độ tiến bộ của mình
trong sự tiến bộ về đạo đức hay trí tuệ. Tập này chép:
Triyànam
ekàyanam ca àynam va dàmyaham, Bàlànam mandabuddìnàm àryànam ca
viviktatàm Dvàram hi paramàrthasya vijnaptidvayavarji tam Yànatrayavyavasthànam
niràbhàse sthite kuàth.
(Vì
sự sai biệt giữa người ngu, người đần và người trí
nên ta nói đến ba thừa, một thừa hay vô thừa như là cửa
ngõ để vào Chân đế. Chân đế không có hai tướng (vijnapti).
Vì không có hiện tướng (niràbhàse), làm sao lại có sự phân
biệt ba thừa?).
Ðịnh
nghĩa về nhất thừa lại càng triết lý hơn khi nói rằng
(30) sự chứng ngộ lý nhất thừa có nghĩa là sự diệt trừ
mọi vọng tưởng (vikalpa) bởi sự nhận thức hoàn toàn rằng
chủ thể và đối thể chỉ là vọng tưởng. Theo tập này,
nghĩa lý này được đức Phật tìm thấy đầu tiên, và các
vị không phải Phật tử, các hàng Thanh văn hay Ðộc giác
đều không biết được. Do đó phải được gọi là Ekayàna
hay Nhất thừa.
Ðại
thừa không phải đạo Phật nguyên thủy mà chỉ là sự phát
triển về sau và dồi dào hơn của đạo Phật
Ðứng
về phương diện triết học Ðại thừa, ba thừa có thể là
một, nhưng các nhà Luận sư triết học về Ekayànatà (nhất
thừa) không bao giờ đồng một quan điểm với các nhà Tiểu
thừa và dùng những danh từ khiếm nhã khinh thị đối với
Tiểu thừa. Còn các nhà Tiểu thừa, vâng theo lời dạy của
bậc Ðạo sư, assànam na ukkamseti param na vam bheti (không tự
tán hủy tha), và không ghi trong nền văn học của mình những
lời chỉ trích bài xích các đối thủ. Tuy vậy, chúng ta không
thể phủ nhận, Ðại thừa tự cho là có một số đặc tính
là nguyên tắc, do đó tự xem là cao thượng hơn Tiểu thừa
về một vài phương diện.
Ðại
thừa có một nhãn quan rộng rãi hơn, nhấn mạnh đến Maitrì
(Từ) và Karunà (Bi) và sự cố gắng hệ thống hóa các sự
thật triết học một cách hoàn bị, và từ đó tự cho có
một địa vị cao hơn các nhà Tiểu thừa. Nhưng chúng ta phải
nhớ rằng Ðại thừa là một giai đoạn tiến bộ của đạo
Phật; sự thật Ðại thừa là một giai đoạn về sau của
tư tưởng và tôn giáo đạo Phật, một kết quả của nền
văn hóa Phật giáo dài hai hay ba thế kỷ.
Sự
liên hệ giữa Ðại thừa và Tiểu thừa đã được tiến
sĩ Maeda khéo léo diễn tả như sau: "Lời dạy của đức Thích
Ca Mâu Ni là hột giống, lời dạy của Tiểu thừa là cành
và lá, lời dạy của Ðại thừa là hoa và trái. Một thời
gian lâu sau khi các hột giống đã bị che mất, và khi thời
gian đã chín muồi, các trái cây hiện ra." Theo tiến sĩ Murakami
(31), Ðức Phật chưa chắc đã dạy Tiểu thừa hay Ðại thừa,
vì những danh từ này được đặt ra về sau. Giáo lý mà đức
Phật thật sự giảng dạy chính là đ?o Phật nguyên thủy
và đạo Phật nguyên thủy không phân biệt Ðại thừa và
Tiểu thừa. Cho đến các tập Àgama của Tiểu thừa, theo ý
tiến sĩ Murakami cũng không gìn giữ những sắc thái đặc
biệt của đạo Phật, vì chúng được kiết tập nhiều thế
kỷ sau đức Phật, nhưng các tập này chứa đựng nhiều đạo
Phật nguyên thủy hơn các kinh tạng khác.
Các
tiến sĩ Anisaki và Chuki Tominaga cũng đồng ý rằng Ðại thừa
không có phần lịch sử trực tiếp liên hệ đến đức Thích
Ca Mâu Ni (32).
Những
cố gắng để chứng minh Ðại thừa chính do Thích Ca Mâu Ni
trực tiếp giảng dạy
Tuy
vậy có một số học giả, xưa và nay, không vui lòng công
nhận sự thật khó chịu là Ðại thừa không do Sakyamuni trực
tiếp giảng dạy. Các vị học giả xưa núp dưới những lập
luận học giả để chống lại quan niệm này, còn các học
giả hiện đại, với mục đích tương tự, dựa vào một
số truyền thuyết được gìn giữ trong văn học Nhật Bản
và Ấn Ðộ.
I)
Asanga (Vô trước):
Asanga
trong chương đầu của tập Sùtràlankàra (33) đưa ra những
lập luận như sau:
- "Nếu
thật sự Ðại thừa không do đức Phật giảng dạy và được
tạo ra (utpàditam) bởi một số người, trong một thời gian
về sau, như vậy Ðại thừa trở thành một nguy cơ (antaràya)
cho chánh pháp (Saddharma). Nếu vậy Ðại thừa lẽ ra phải
được đức Phật báo trước như là một trong những nguy
cơ mà tôn giáo của Ngài có thể mắc phải trong tương lai
(anàgala-bhayas) (34), nhưng đức Phật lại không đề cập đến.
Hình như Ðại thừa được phát sinh một lần với Tiểu thừa
chứ không phải về sau; như vậy tại sao lại không thể xem
Ðại thừa là Buddhavacana (lời Phật dạy). Ðai thừa là một
tôn giáo cao siêu, sâu kín và như vậy các nhà đa nghi (tàrkika)
không thể hiểu thấu. Cũng không đúng khi nói rằng Ðại
thừa được một vị không phải là đức Phật diễn giảng,
vì Ðại thừa không xuất hiện trong kinh luận ngoại đạo
(tìrthika), và nếu các ngoại đạo được giảng dạy Ðại
thừa, các vị này cũng không tin. Nếu chúng ta công nhận Ðại
thừa được một vị không phải là Sakyamuni diễn giảng,
như vậy vị ấy phải là vị đã chứng Bồ đề. Trong trường
hợp này Ðại thừa cũng phải được xem là lời Phật dạy,
vì ai đã chứng Bồ đề và đã giảng dạy thời vị ấy
là đức Phật. Nếu sự hiện hữu của Ðại thừa bị phủ
nhận, như vậy sẽ không có Thanh văn thừa vì Thanh văn thừa
là lời Phật dạy, và thật không đúng lý chút nào nếu nói
rằng không có Ðại thừa (hay Phật thừa), vì đức Phật
không thể xuất hiện ra đời nếu không có Phật thừa. Ðại
thừa cũng là lời Phật dạy vì rằng Sarvanirvikalpajnàna (nhất
thế vô vọng tưởng trí) chứng được nhờ Ðại thừa đối
trị lại mọi phiền não.
Sự
biện luận học giả này của Asanga có thể tự có một giá
trị riêng biệt nhưng không chứng minh được sự xuất hiện
đồng nhất giữa Tiểu thừa và Ðại thừa.
II)
Sàntideva (Thánh thiên):
Sàntideva
trong tập Bodhicaryàvatàra dùng những lý lẽ khác Ngài Vô trước
để chứng minh sự chính xác của giáo điển Ðại thừa.
Sự cố gắng của Ngài có thể xem là để thách đố sự
chính xác của Tiểu thừa Àgama hơn là để chứng minh vấn
đề đã nói trên. Sau đây là lý luận của Ngài:
- Thứ
nhất, các nhà Tiểu thừa không công nhận lời tuyên bố các
tập Prajnàpàramità cho rằng ba thừa đã được giảng trong
những tập này (atra prajnàpàramitàyàm sarvàni trìni yànàni
vistarenopadistàni) vì các nhà Tiểu thừa không công nhận kinh
điển Ðại thừa là chính xác. Ðể chứng minh kinh điển
Àgamas của mình là chính xác, lý luận đầu tiên của các
nhà Tiểu thừa là các nhà Ðại thừa không chống lại sự
chính xác của kinh điển Tiểu thừa, còn các nhà Tiểu thừa
không công nhận kinh điển Ðại thừa là chính xác. Nhưng
theo Ðại thừa, vấn đề công nhận kinh điển là chính xác
do bất cứ ai (ở đây là do các nhà Tiểu thừa hay Ðại thừa)
đều vô giá trị.
Lập
luận thứ hai của các nhà Tiểu thừa là tập Àgamas của
họ được truyền kế từ thầy đến trò và như vậy hợp
với nguyên tắc đức Phật đặt ra để chứng minh sự chính
xác của kinh điển, nghĩa là hợp với kinh tạng, có thể
tìm thấy trong luật tạng và không trái với nguyên tắc duyên
sanh của sự vật (Dharmatà (35) pratìtyasamutpàda). Nhưng lý
luận này không đứng vững được vì các nhà Ðại thừa
cũng có thể nêu lên một đoạn văn tương tự trong tập Adhyàsaya-samcodanà-sùtra
thuộc kinh điển Ðại thừa.
Lập
luận thứ ba của các vị Tiểu thừa là sự chính xác kinh
điển của Tiểu thừa được chấp nhận không những bởi
các nhà Tiểu thừa và Ðại thừa mà cả những người ngoại
đạo. Lập luận này cũng bị các nhà Ðại thừa bài bác,
vì như vậy các tập Vệ Ðà và các loại văn học khác tương
tự cũng được công nhận là chính xác.
Lập
luận thứ tư và cuối cùng của các nhà Tiểu thừa là không
có những ý kiến mâu thuẫn đối với kinh điển Tiểu thừa,
trái lại rất nhiều ý kiến mâu thuẫn đối với kinh điển
Ðại thừa. Các nhà Ðại thừa trả lời rằng để ngoài
các tài liệu ngoại đạo như của phái Mimànsakas, các nhà
Tiểu thừa cũng không đồng ý về kinh điển của mình vì
có đến 18 học phái Tiểu thừa.
Sự
phân hóa không phải chỉ dừng ở đây. Nhà sớ giải viết
thêm, vì rằng trong mỗi học phái lại có những tư tưởng
mâu thuẫn, thuộc người theo kinh bộ (chỉ tin kinh tạng mà
thôi) hay người theo luận bộ (chỉ tin luận tạng mà thôi)
hay người tin theo luật bộ (chỉ học giới luật mà thôi).
Cho nên, các nhàTiểu thừa phải bỏ kinh tạng, luật tạng
và luận tạng. Sự kiện này nêu rõ lập luận thiếu vững
vàng của các nhà Tiểu thừa cho rằng kinh điển của mình
được thừa kế từ thầy đến trò một cách trung thành.
Hơn nữa, lẽ phải không thể có sự bất đồng ý kiến về
vấn đề Buddha-vacanvà hay Sarvajà vacanà (Phật thuyết hay nhất
thế trí thuyết) nếu kinh điển của Phật được gìn giữ
một cách trung thành.
Lập
luận của Sàntideva có thể nêu lên vị trí mâu thuẫn của
các nhà Tiểu thừa nhưng không chứng minh được kinh điển
Ðại thừa chính do đức Phật dạy.
III)
Ý kiến của các học giả Nhật Bản về sự chính xác
của Ðại thừa
Nay
chúng ta hãy tìm đến các học giả hiện đại và xem các
vị này nói gì về sự chính xác của Ðại thừa và của
kinh điển Ðại thừa.
Ông
Suzuki theo một chiều hướng lý luận khác hẳn các học giả
thời xưa. Ông cố gắng nêu rõ sự tương tự giữa đạo
Phật và đạo Cơ Ðốc và nói rằng nếu đạo Tin Lành được
xem là lời dạy chân xác của Jesus ở Nayareth, thời Ðại
thừa Phật giáo cũng phải được xem là lời dạy chân xác
của đức Phật Sàkyamuni. Lập luận này có thể giúp ông
Suzuki trong một cuộc biện luận của một vị bênh vực đạo
Tin Lành chính thống nói về Ðại thừa, nhưng trong một cuộc
phê bình về lịch sử, lập luận này không có giá trị. Tuy
vậy, ông cũng đã nêu lên được thực trạng của vấn đề
khi ông nói, trong một đoạn khác, rằng Ðại thừa không phải
là một tôn giáo hóa thạch mà chính là một tôn giáo linh
hoạt như đạo Cơ Ðốc và dù cho có "một vài sự thay đổi
trong sự diễn tiến lịch sử của Ðại thừa Phật giáo,
tinh thần và những tư tưởng chính yếu vẫn giống với vị
sáng lập tôn giáo". Ông nói thêm rằng nếu chúng ta hiểu
danh từ "chính xác" là một sự bảo thủ tiêu cực của nguyên
thủy Phật giáo, thì Ðại thừa không phải là lời dạy chính
xác của đức Phật, nhưng các nhà Ðại thừa rất hãnh diện
về sự kiện này, vì là một sức mạnh tôn giáo linh động,
Ðại thừa không bao giờ tự bằng lòng trở thành một cái
xác không hồn của một tôn giáo đã qua". Sau cùng, ông nói:
"Như vậy nào có quan hệ gì vấn đề Ðại thừa là lời
dạy chính xác hay không chính xác của đức Phật" (37).
Như
vậy, ông Suzuki công nhận Ðại thừa có thể không phải là
lời dạy của đức Phật. Nhưng ông Kimura, tuy không chối
bỏ sự kiện rằng "các kinh điển Ðại thừa và những lời
dạy trong kinh điển ấy, chắc chắn được xuất hiện sau
khi đức Phật nhập Niết bàn", ông này đưa ra quan điểm
đức Phật có hai loại nhận thức, Ðại thừa đại diện
cho "Mật giáo hay Nội giáo", còn Tiểu thừa đại diện cho
"Hiển giáo hay Ngoại giáo" (38). Ông Kimura tin rằng đức Phật
dạy Mật giáo cho một số đệ tử chọn lọc, thân tín và
dạy Hiển giáo cho số đệ tử còn lại.
Lý
thuyết này một phần dựa trên những truyền thống với mục
đích tương tự được Nhật Bản gìn giữ và một phần dựa
trên sự công nhận không suy đoán về một vài lời tuyên
bố thuộc Tục đế và Chơn đế được các tác phẩm Ðại
thừa đầu tiên đề cập đến, nhất là tập Saddharmapundarika
(Pháp hoa). Chúng ta có thể chấp nhận lập luận của ông
Kimura nếu ông có thể cho chúng ta biết "những đệ tử xuất
chúng và lỗi lạc" đã "nắm giữ đúng đắn Mật giáo của
đức Phật", và từ những Mật giáo ấy, các vị này đã
thuyết trình và phát triển để trở thành những "tư tưởng
Ðại thừa". Nếu các Ngài Sàriputa (Xá Lợi Phất), Subhùti
(Tu Bồ Ðề), Mahàmaudgalyàyana (Mục Kiền Liên) không thể
nhận thức được Mật giáo của đức Phật như tập Saddharmapundarìka
đã tuyên bố, thời có những vị nào khác làm được việc
này? Các vị này lẽ dĩ nhiên không phải là các hàng Bồ-tát,
những vị có tính cách tượng trưng ngay cả trong văn học
Ðại thừa. Sự thật, các nhân vật trong các tác phẩm Ðại
thừa đầu tiên như tâp Prajnàpàramità, là những nhà bác
học Tiểu thừa, như Ngài Sàriputra, Subhuti v.v... và những
tên chúng ta thường gặp trong các tác phẩm Ðại thừa là
những nhân vật quan trọng trong văn học Tiểu thừa.
Những
sinh viên sử học sẽ không bao giờ tin lời tuyên bố của
các tập Prajnàpàramitàs, cho rằng các đệ tử này giảng
giáo lý Ðại thừa là chỉ do đức Phật cảm hứng (39) và
tuy giảng nhưng vẫn không hiểu giáo lý Ðại thừa. Truyền
thống Nhật Bản với mục đích chứng minh sự chính xác của
Ðại thừa, theo ý tôi, đã nêu ra thực trạng của vấn đề.
Những truyền thống này đặt ưu tiên nguyên thủy cho Tiểu
thừa như sẽ được thấy trong cách phân loại sau đây:
(a)
Phái Hiền thủ sắp đặt các truyền thống Nhật Bản về
những hình thức Phật giáo theo thứ tự niên đại như sau:
1/
Tiểu giáo hay lời dạy nguyên thủy;
2/
Thủy giáo hay sự bắt đầu của chân giáo (giai đoạn chuyển
tiếp);
3/
Chung giáo hay sự phát triển cuối cùng của chân giáo;
4/
Ðốn giáo hay Thiền học (40); và
5/
Viên giáo hay sự phát triển vẹn toàn của mọi học phái.
(b)
Tôn Thiên thai theo thứ tự như sau:
1/
Tạng giáo hay thủy giáo;
2/
Thông giáo hay giáo lý trong thời đại chuyển tiếp;
3/
Biệt giáo hay tân giáo; và
4/
Viên giáo hay sự phát triển vẹn toàn của mọi học phái
(41).
Tuy
vậy, tôn Thiên thai thêm rằng các loại kinh Avatamsakasùtra
(Hoa nghiêm) được giảng dạy đầu tiên, nhưng vì các đệ
tử không hiểu thấu, nên các tập Àgamas (A hàm) được giảng
thế. Rồi, sau khi đức Phật có một số đệ tử đầy đủ
khả năng tâm linh hơn, những mật giáo trong tập Prajnàpàramità
và các tác phẩm tương tự được giảng dạy. Cả hai truyền
thống đều ủng hộ quan điểm rằng cả hai hình thức giáo
lý đều được đức Phật thuyết dạy trong khoảng bốn mươi
năm.
Truyền
thuyết Tây Tạng đi xa hơn và tuyên bố rằng Sakyamuni giảng
dạy kinh Prajnàpàramità, 16 năm sau khi chứng quả Bồ đề,
tức lúc Ngài 51 tuổi, khi Ngài ở tại núi Linh Thứu, và thêm
rằng chính Ngài Ca Diếp (42) kiết tập các lời dạy ấy.
Những
ai suy xét cách hành văn, nội dung giáo lý và những vấn đề
khác được bàn đến trong tập Gandavyùha, một tác phẩm cựu
trào về loại Vavatamsaka (Hoa nghiêm), đều không còn nghi ngờ
gì về tính cách hậu đại của loại văn học này. Không
những trễ hơn các tập Tiểu thừa Àgama, hay các tập Nikàya
mà cả tập Prjnàpàramità nữa.Ví dụ về quan điểm các thế
giới (Lokadhàtu) hay vấn đề sự hiện hữu của đạo Phật
ở Nam Ấn Ðộ như đã tìm thấy trong tập Gandavyùha, thời
tập này được trước tác sau tập Prajnàpàramitàs trong một
thời gian khá dài (43).
Các
tập Prajnàpàramità như tập Bát thiên tụng và Bách thiên
tụng giữ một địa vị ở giữa tập Mahàvastu và tập Saddharmapundarika
hay tập Gandavyùha. Như vậy rất hợp với sự sắp đặt theo
niên đại với truyền thuyết Nhật Bản, nếu chúng ta để
ra ngoài lời tuyên bố ghi trong tập này, nói rằng đức Phật
không có một đệ tử nào có thể hiểu những lời dạy ghi
chép trong tập Avtamsaka. Như vậy, chúng ta thấy rằng truyền
thuyết không phủ nhận đặc tính nguyên thủy của Tiểu thừa
được xem là Tạng giáo. Truyền thuyết này nói đến Thông
giáo cũng rất đáng chú ý, vì Thông giáo, có lẽ chỉ cho
các học phái như Nhất thế hữu bộ, Ðại chúng bộ, Xuất
thế bộ v.v... những học phái nằm giữa Tiểu thừa và Ðại
thừa.
Ông
Yamakami Sogen (44) lại quan niệm rằng: "Giáo lý của Harivarman
(Satyasiddhi, Thành thực tôn) được xem là sự phát triển tuyệt
đích của quan niệm triết lý Tiểu thừa, và như vậy có
nghĩa là đứng ở địa vị chuyển tiếp giữa Tiểu thừa
và Ðại thừa". Nhưng thật khó mà xem học phái Thành thực
tôn là giai đoạn chuyển tiếp của đạo Phật vì học phái
này ra đời chậm cho đến thế kỷ thứ 3 sau công nguyên,
khi Ðại thừa đã được phát triển. Học phái này được
xem như là một sự cố gắng của Harivarman để dung hòa Tiểu
thừa và Ðại thừa. Danh từ thứ ba: Biệt giáo hay Chung giáo,
dĩ nhiên nói đến hình thức đầu tiên của Ðại thừa như
được tìm thấy trong tập Prajnàpàramità và trong văn học
hiện đại.
Chính
sách hòa giải của tập Pundarika (Pháp hoa)
Tiến
sĩ Enryo Inouye và một số học giả khác, dựa trên truyền
thuyết Nhật Bản, cho rằng Sakyamuni giảng hai loại giáo pháp,
mật giáo và hiển giáo. Chắc chắn quan điểm này bắt nguồn
từ những lời tuyên bố trong các tác phẩm Ðại thừa, cho
rằng đức Phật giảng hai loại sự thật, Tục đế và Chơn
đế. Quan điểm này cũng dựa vào tập Pundarika, tập này cố
gắng cho rằng Tiểu thừa chỉ là một phương tiện thiện
xảo (upàya- kàusalyà) do đức Phật Thích Ca chấp nhận để
lôi kéo những người có trí óc tầm thường vào đạo Phật,
rồi từ đó cuối cùng hướng đến Ðại thừa. Tập Pundarika
rất được các nhà Ðại thừa hoan nghênh và ảnh hưởng
rất mạnh đến tư tưởng các nhà Ðại thừa. Những lời
tuyên bố này có giá trị đứng về phương diện của chúng,
vì mục đích chính của chúng là sự hòa giải giữa Ðại
thừa và Tiểu thừa. Các nhà Tiểu thừa, như Ngài Xá Lợi
Phất, được xem là thâu nhận nhiều công đức trong các đời
sống quá khứ như các vị Bồ-tát nhưng nay các vị ấy không
thể nhớ được (46).Chính vì để nhắc nhở các vị này
về những công đức ấy và những lời thề nguyện các vị
này đã phát nguyện trong các đời quá khứ mà tập Pundarika
được giảng cho hàng Thanh văn (47).
Dù
cho tập này từ đầu đến cuối nói đến sự ưu thắng của
giáo ly và phương pháp tu hành Ðại thừa đối với Tiểu
thừa, nhưng tập này không khinh Tiểu thừa là vô dụng, mà
cố gắng nêu rõ Tiểu thừa là một xảo phương tiện (upàyakausalya)
đức Phật dùng để thích ứng với hạng đệ tử còn sút
kém về trí thức và khả năng tâm linh và là một nấc thang
đưa đến Ðại thừa. Những vị đạt đến giai đoạn tu
chứng cao nhất nhờ giáo lý Tiểu thừa hướng đến có thể
trở thành Ðại thừa và cuối cùng thành Phật.
Sự
thật, tập này đã dành một đoạn khá dài để nêu rõ sự
hối hận của các vị Tỷ kheo như Sàripu tra (Xá Lợi Phất),
Kàsyapa (Ca Diếp), Subhùti (Tu Bồ Ðề), Mahàkàtyàyana (Ma Ha
Ca Chiên Diên), Mahàmaudgalyàyana (Ma Ha Mục Kiền Liên), Pùrna
Maitràyanìputra (Mản Từ Tử, Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử), Ànanda
(A Nan), Ràhuala (La Hầu La), và những vị khác cùng với các
Tỷ kheo ni Mahàprajàpatì Gautami (Ma Ha Bà Xà Bà Ðề, Kiều
Ðàm Di), Ràhulamàtà (mẹ của La Hầu La). Những vị này rất
được các hàng Tiểu thừa kính trọng vì cao độ tu chứng
tâm linh và thánh quả. Những vị này khi đã về già mới
hối hận vì phải theo một phương pháp thấp kém, vì các
vị này không đủ khả năng để hiểu thấu bí giáo (samdhàbhàsà)
của đức Phật và không được tận hưởng lợi ích của
giáo pháp đức Phật. Lời nói này được đặt vào miệng
của Ngài Sàripputra mà đức Phật xem là vị đệ tử tối
cao của hàng Thanh văn. Ngài Xá Lợi Phất được xem là trưởng
tử của Như Lai và được sanh từ miệng của Ngài (Jyesthaputra
mukhajàta). Tuy vậy Ngài than thân trách phận vì chỉ được
chứng Niết bàn của A-la-hán và không thể thành Bồ-tát hay
đức Phật. Rồi Ngài tự trách mình vô phúc được đức
Phật xem là chỉ xứng đáng được hướng dẫn với một
phương pháp thấp kém (hìnena yànena nìryàtittah). Vị đạo
sư được xem là an ủi Ngài và nói rằng đức Phật không
có ý định dạy nhiều thừa (yàna), Ngài chỉ dạy nhất thừa
mà thôi. Dù cho thoạt tiên đức Phật có dạy Tiểu thừa
cho một số đệ tử, nhưng cuối cùng Ngài sẽ hướng các
vị này về Ðại thừa và khiến các vị này cuối cùng sẽ
chứng Phật quả (48).
Tập
Pundarika không làm thất vọng các vị Tiểu thừa, vì có đưa
ra hy vọng các vị này có thể thành Phật nếu thực hành
những bổn phận của vị Bồ-tát. Vì các vị Tiểu thừa
đã chứng được thánh quả A-la-hán, các vị này sẽ không
khó khăn gì thực hành hạnh Ba-la-mật, phát Bồ đề tâm,
lễ bái và phụng thờ vô số Như Lai, xây dựng các ngọn
tháp v.v... và cuối cùng chứng đạt Phật quả. Tập này còn
đi xa nữa, tiên đoán thời gian khi các vị Tỷ kheo có danh
tiếng trở thành Phật, với danh hiệu gì và ngự trị nên
thế giới quốc độ nào (49). Tập này cũng tuyên bố rằng
các vị Tỷ kheo già và yếu ớt, không thể và do vậy không
có đại nguyện (Sprhà) để thành Phật hay để chứng những
thần lực thuộc Phật quả. Chính những vị này cũng không
bị bỏ rơi. Các vị này như người nghèo đã xa lìa phụ
thân lâu ngày và không biết rằng cha mình giàu có. Người
nghèo này không thể tin là được thừa tự tài sản này.
Cũng vậy các vị Sràvakas (Thanh văn), dù cho không có ý muốn
hay không đủ sức đ? chứng sự huy hoàng của Phật quả,
cũng có thể chứng quả vị ấy vì đó là quyền trưởng
tử (50) của mình.
Cũng
có nói đến một hạng Tỷ kheo sau này sẽ thành các vị Thanh
văn, tự bằng lòng với Niết bàn của mình và không có Bồ-tát
nguyện, các vị này sẽ tái sanh trong những quốc độ thế
giới mà đức Thích Ca Mâu Ni sẽ xuất hiện dưới những
danh hiệu khác, và tại những thế giới này, các vị trên,
nhờ ảnh hưởng của Ngài, sẽ phát tâm ao ước Như lai trí
(tathàgatajnàna) và cuối cùng sẽ chứng ngộ được trí này
(51).
Ví
dụ tốt đẹp sau đây được dùng trong tập này nêu một
cách rõ rệt mục đích của tập Pundarika, nghĩa là tất cả
vị Tiểu thừa cuối cùng rồi cũng thành Phật dù cho các
vị này không cố gắng đạt tới hay các vị này nghĩ rằng
mình không thể đạt tới: Một người chỉ đường hướng
dẫn một số đông người đến nước Mahàratnadvìpa và phải
đi ngang qua một khu rừng rộng lớn. Sau khi đi một khúc đường,
các người này mệt mỏi, hốt hoảng và đòi trở về. Người
chỉ đường có khả năng rất thiện xảo về phương tiện
(upàya-kusala) dùng thần thông hiện ra một nước khác rồi
bảo các người đi đường tạm nghỉ ở nơi đây. Sau khi
mọi người được nghỉ ngơi và khỏe khoắn trở lại, người
chỉ đường khiến nước ấy biến mất và nói cho các người
ấy biết nước ấy chỉ là một nước được hóa phép giả
tạo của mình và nay phải đi tới nước Mahàratnadvìpa. Cõi
nước được biến hiện là Niết bàn của Tiểu thừa, còn
Mahàratnadvìpa với là mục đích cứu cánh (tức là Phật quả)
(52).
Những
ví dụ này nêu rõ mục đích rõ rệt của tập kinh này. Tập
này không phủ nhận địa vị ưu tiến của Tiểu thừa, nhưng
muốn đặt Tiểu thừa vào một địa vị phụ thuộc Ðại
thừa, với thâm ý muốn chứng tỏ lời dạy chân chính của
đức Phật không phải là Tiểu thừa mà chính là Ðại thừa.
Hai
lời tuyên bố được dùng để chứng minh Ðại thừa là lời
dạy trung thực của đức Phật
Tập
Saddharmapundarika dùng hai lời tuyên bố trong văn học Tiểu
thừa để chứng minh Ðại thừa là chân chính trung thực và
chứa giữ những lời dạy quan trọng của đức Phật.
1/-
Lời tuyên bố đầu tiên là đức Phật, sau khi giác ngộ đã
ngần ngại không biết nên truyền thuyết sự thật hay nhập
Niết bàn.
Trong
kinh Ariyapariyesana (53) có tuyên bố rằng sự thật (Dhamma) là
sâu kín, khó hiểu, tuyệt luân, vượt ngoài ngôn ngữ văn
tự và chỉ người có trí mới hiểu thấu. Loài người bị
đắm say vào dục vọng và rất khó có thể hiểu được Paticca-Samuppàda
(lý Duyên khởi) hay Nirodha (Diệt đế), cho nên truyền thuyết
chánh pháp là vô ích vì sẽ không có ai hiểu Ngài và sự
cố gắng khó nhọc của Ngài sẽ trở thành vô dụng.
Nhận
thấy những tư tưởng ấy đang trải qua trong tâm trí đức
Phật, Phạm Thiên hiện ra và thỉnh đức Phật truyền thuyết
chánh pháp. Phạm Thiên thưa rằng dù cho Magadha đầy rẫy những
tôn giáo không thanh tịnh, tuy vậy vẫn có những chúng sanh
với căn tánh thanh cao, với khả năng nhận thức sâu rộng,
và sự giảng dạy chánh pháp sẽ cứu những vị này khỏi
các thống khổ ở đời và đưa các vị này đến những cảnh
giới tịnh lạc. Ðức Phật nhận thấy giá trị lời nói
của Phạm Thiên và quyết định truyền thuyết chánh pháp.
2/-
Lời tuyên bố thứ hai là đức Phật giảng chánh pháp không
nhất luật như nhau (54).
Sau
khi tìm hiểu tâm tánh và khả năng của những người Ngài
muốn giảng dạy, Ngài lựa chọn những bài kinh thích hợp
với tâm tánh của chúng và như vậy Ngài hướng dẫn chúng
vào chánh pháp. Ðối với người cư sĩ, trước hết Ngài
giảng về Dànakathà, Sìlakathà, Saggakathà, Kàmànam àdìnavam
okàram samkilesam, Nekkhamme ànisamsam (lời dạy về bố thí, về
trì giới, về thiên giới, những nguy hiểm, những tệ hại,
những nhiễm ô củA-dục vọng, và những lợi ích của giải
thoát). Ngài sửa soạn tâm trí người đệ tử Bà-la-môn với
những cuộc đàm thoại về các vấn đề tế tự, giai cấp
v.v... và giới thiệu chánh pháp một cách thích hợp với tâm
trí người Bà-la-môn. Ðối với người nông phu, đức Phật
giảng chánh pháp với những ví dụ hay vấn đề liên hệ
đến cày ruộng v.v... (55). Chỉ sau khi Ngài nhận thấy tâm
trí của những người nghe được sẵn sàng, Ngài mới giảng
dạy những giáo lý cao hơn tức là Dukkha, Samudaya, Nirodha và
Magga (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo), những giáo lý này theo Tiểu
thừa là những giáo lý cao siêu và thâm thúy nhất (Sàmukkamsikà
dhammadesanà) của lời Phật dạy (56).
Lời
tuyên bố thứ nhất về sự phân vân của đức Phật khi Ngài
mới giác ngộ dưới cây Bồ đề, Ngài không hiểu nên sống
thanh tịnh trong một chỗ thanh vắng hay đi ra ngoài giảng chánh
pháp Ngài mới chứng ngộ. Tập Pundarika xem lời tuyên bố
này như là một sự thú nhận của Tiểu thừa về tâm trí
tầm thường của các vị này. Câu chuyện xoay quanh vấn đề
này là đức Sàkyamuni ra đời khi một trong năm Kàsàyas (ngũ
trược) (57) hay khi 62 tà kiến như nityam (thường kiến), astiti
(hữu kiến), nàstìti (đoạn kiến) v.v... được thịnh hành
(58), khi con người bị chi phối bởi trsnà (ái), moha (si), kàma
(dục vọng) và không có những công đức của những vị Bồ-tát
đã chất chứa trong các đời trước (cìrnacaryà purimajàtisu)
khi các ác trược ngự trị trên quốc độ này. Ðức Phật
chấp nhận lời thỉnh cầu của Phạm Thiên, đứng ra để
thuyết dạy chánh pháp. Nhưng Ngài nhận thấy tầm mắt của
thính chúng quá thiển cận để thâm quán được giáo lý sâu
kín của Ngài. Và rất có thể các thính chúng sẽ mắc vào
tội phỉ báng những giáo lý này. Do vậy, Ngài mới nghĩ nên
theo gương các đức Phật tiền bối, tìm một vài phương
tiện để giảng dạy chánh pháp, dưới những hình thức sắc
tướng khác nhau.
Khi
dân chúng theo đuổi những mục đích thiển cận (hinàdhimukta),
man tiện, tánh tình hạ liệt, dân chúng sẽ không tha thiết
cố gắng nếu được dạy là phải hướng đến Phật quả.
Do vậy, đức Thế Tôn đi đến Ba la nại để dạy cho năm
vị Tỷ kheo giáo lý tịnh lạc (dharmam prasàntà bhùmim) (50)
và giáo lý này xem Niết bàn Tiểu thừa là mục đích tối
thượng. Về sau (pascime ca kàle), khi Ngài được một số người
xuất chúng (putràn dvipadottamàm) đã trải nhiều kiếp cố
gắng tu tập để chứng vô thượng Bồ đề, Ngài nghĩ đã
đến lúc giảng dạy giáo pháp tuyệt diệu (Sàmutka rsikì dharmadesanà),
liên hệ đến sự chứng quả Phật trí (Buddhajnàna) (60). Tuy
vậy giáo lý này được giảng dạy với một hình thức ngôn
ngữ mà người chưa được huấn luyện không thể hiểu thấu
(61).
Tập
Pundarika lại nói thêm rằng các hàng Thanh văn và Duyên giác
không thể hiểu thấu (62). Tập Prajnàpàramità đi xa hơn nữa
và tuyên bố rằng tổng số trí tuệ của vô số Màudgalyàyana
(Mục Kiền Liên) và Sàriputra (Xá Lợi Phất) không thể bằng
một phần nhỏ nhiệm nhất về trí tuệ của một vị Bồ-tát
đã thực hành hạnh Bát nhã Ba-la-mật (63).
Lời
tuyên bố thứ hai của hàng Tiểu thừa là đức Phật giảng
dạy giáo lý theo một phương thức thích hợp với khuynh hướng
và khả năng của thính chúng, và lời tuyên bố này là một
cơ hội cho tập Pundarika khoe khoang ưu thế trí thức của các
nhà Ðại thừa hơn các nhàTiểu thừa.
Lời
tuyên bố phê bình rằng đức Phật giảng cho quần chúng giáo
lý của mình bằng cách dùng 100 phương tiện, sau khi quán xét
khuynh hướng tâm tánh (àsaya), lý tưởng tâm linh, những công
đức tôn giáo và sự sai biệt của những hành động của
chúng (citràni karmàni). Muốn cho giáo lý của mình có khả
năng hấp dẫn, đức Phật dùng nhiều danh từ để diễn đạt,
lý luận và thí dụ. Và thật sự, với mục đích này, lời
dạy của Ngài đã được giảng dạy dưới 9 hình thức, ví
dụ: Sùtra (kinh), gàthà (kệ), itivrtaka (bổn sự), jàtaka (bổn
sanh), adbhuta (vị tăng hữu), nidàna(nhân duyên), aupamya (thí
dụ), citra (?) và geyya (ứng tụng) (64). Chính vì những người
có lý tưởng thấp kém, chưa thực hành các bổn phận cần
thiết dưới thời các đức Phật tiền bối, đang còn đam
mê thế giới này với những nổi vui buồn của nó, mà đức
Phật phải giảng dạy làm sao chứng được Niết bàn cho tự
thân mình. Ðây chỉ là một phương tiện đức Phật phải
dùng để hướng tất cả chứng đến Phật trí, nhưng Ngài
không tuyên bố tất cả đều sẽ thành Phật, vì thời gian
tính chưa thuần thục. Nay thời gian đã đến, sự thật về
9 bộ loại kinh chỉ là những xảo phương tiện đưa mọi
người đến giải thoát tối hậu được tuyên bố. Vì chúng
là con trai của đức Phật, thân tâm trong sạch, sáng suốt
và bác học, đã làm trọn những bổn phận dưới thời vô
số các đức Phật quá khứ, các kinh điển Vaipulya được
truyền thuyết cho những vị này (65). Nhận thức được những
lý tưởng cao đẹp của những đệ tử này, đức Phật dạy
cho các vị này biết trong tương lai sẽ thành Phật và những
ân nhân của thế giới này. Nếu hàng Thanh văn chỉ nhờ một
câu kệ của tập Sàsana (Pháp hoa) (66) này thời các vị sẽ
thành Phật.
Ðể
nêu rõ đức Phật chỉ dạy có một giáo lý, được hiểu
sai khác tùy theo tâm tánh và khả năng của chúng, tập Pundarika
dùng một số ví dụ rất đặc biệt, một trong những ví
dụ này là như mây cho nước mưa tưới cây lớn, cây nhỏ,
bụi cỏ v.v, trên vô số thế giới, những cây lớn, cây nhỏ,
bụi cỏ v.v... thâu hút nước mưa khác nhau tùy theo khả năng,
và lớn lên, tùy theo lớn nhỏ và thuộc loại; cũng vậy đức
Phật mưa nước chánh pháp cùng một hương vị (rasa), như
vị giải thoát (vimuktirasa), vị vô tham (viràgarasa), vị diệt
tận (nirodharasa) v.v... (67), đưa đến toàn tri (Sarvajna-jnàna),
nhưng tạo nên kết quả khác nhau tùy theo khả năng của những
đệ tử. Ví dụ mặt trời chiếu một loại ánh sáng trên
mọi loài chúng sanh cũng dùng đến để nêu rõ đức Phật
chỉ dạy một loại chánh pháp.
Những
ví dụ này chưa đủ để làm thỏa mãn một số Thanh văn,
các vị này hỏi vì sao lại chia ra ba hạng Sràvaka (Thanh văn),
Pratyekabuddha (Ðộc giác) và Bodhisattva (Bồ-tát). Hai ví dụ
trên không thể áp dụng triệt để cho đức Phật, vì mặt
trời và mây không có lo nghĩ gì đến những đối tượng
của lòng tốt của mình, trái lại đức Phật luôn luôn phân
biệt các hàng đệ tử tùy theo các vị này thuộc hàng hạ
phẩm, trung phẩm hay thượng phẩm (68), mức độ của các
công đức tôn giáo và khả năng của chúng. Không những vậy,
sự thật đức Phật không nghĩ rằng nên giảng dạy chánh
pháp đưa đến sự toàn tri (sarvajnàjnàna) vì chưa chắc đã
đưa đến hạnh phúc cho các hàng đệ tử khi chưa được
thích ứng chứng được trí này. Tập Pundarika lại dùng một
ẩn dụ để nhấn mạnh điểm này. Một người làm đồ gốm
nặn ra từ một thứ đất sét nhiều loại bình khác nhau,
bình đựng sữa đông, bình đựng sữa tươi v.v... như pháp
của đức Phật, dù có dùng qua ba danh từ cũng vẫn là một
thực chất. Ðây đề cập đến Nhất thừa (ekayàna) được
giải thích theo ba cách, đến Phật trí (Buddhabodhi) giảng giải
dưới ba hình thức (Buddhabodhim tridhà vibhàsye ha prakàsayeyam)
(79). Ẩn dụ này kết luận rằng không thể xem đức Phật
đã nói rằng Ngài dùng Tiểu thừa để hướng dẫn một số
đệ tử, vì nói như vậy là gán cho đức Ðạo sư có tánh
xan lẫn (màtsarya), ganh ghét (ìrsyà), tư ý (chandaràga) và ác
ý (pàpacitta), và như vậy là quá vô lý.
Những
điểm trên cho ta thấy rõ, theo tập Saddharmapundarika, Tiểu
thừa thật sự là một giáo lý thấp kém, nhưng chỉ là một
xảo phương tiện (upàyakausalya) đức Phật dùng vì trí tuệ
thấp kém của những đệ tử đầu tiên của Ngài.
Tập
này lại tiếp tục loại trừ một nghi vấn của đối phương
có thể gây ra đối với sự chánh trực của vị Ðạo sư
khi Ngài dùng các xảo phương tiện. Tập này dùng một ẩn
dụ để loại trừ nghi vấn này. Một lão già triệu phú có
một ngôi nhà lớn có thể chứa 500 người, nhưng nhà chỉ
có một cửa vào và một mái nhà bằng rơm (trna). Thình lình
ngôi nhà bị cháy, ông lão già ra khỏi gian nhà, nhưng 20 người
con trai của mình ở lại trong nhà, không kể gì lửa cháy.
Ông lão tự nghĩ có đủ sức mạnh đưa các người con đến
chỗ an toàn. Người cha cho các người con biết lửa cháy vàkhuyên
ra khỏi nhà, nhưng các người con không tin người cha. Vì người
cha biết các loại đồ chơi mà con mình thích thú, ông dùng
một xảo phương tiện (upàyakausalya) để quyến rũ các người
con ra khỏi nhà bằng cách cho người con các đồ chơi như
xe bò (garatha), xe dê (ajaratha), xe nai (mrgaratha). Ông đặt các
đồ chơi này bên ngoài căn nhà và các người con chạy ra
khỏi nhà để lấy các đồ chơi này. Khi người cha thấy
các người con thoát khỏi chỗ nguy hiểm, ông ấy rất sung
sướng và không cho các con ông những đồ chơi tầm thường
như ông đã để ngoài cửa, nhưng ông cho nhiều đồ chơi
rất có giá trị vì ông ta rất giàu (70).
Ðức
Phật được ví dụ với người cha giàu có, và ba cỗ xe ví
với ba thừa. Phương tiện để ra khỏi ngôi nhà cháy chỉ
có một và vị Ðạo sư quyến rũ đệ tử mình ra khỏi lửa
chỉ do một cửa ra và cho chúng cỗ xe vô giá, tức là Buddhayàna
(Phật thừa) (71). Ẩn dụ này có thể bị chỉ trích, vì các
nhà Tiểu thừa có thể phê bình đức Phật hứa một điều
mà cho vật khác và như vậy đức Phật có thể bị chỉ trích
là đã nói láo. Tập Pundarika trả lời rằng tuy đức Phật
nói đến ba thừa, nhưng luôn luôn đức Phật chỉ nghĩ đến
Nhất thừa tối thượng. Với những lý luận, ẩn dụ trên,
tập này cố xác nhận đức Phật chỉ có một tôn giáo và
đó là Ðại thừa, nhưng các vị đệ tử đầu tiên không
đủ sức thông minh để nhận thức, và đạo Phật mà các
vị này thông hiểu chỉ là một quan điểm hời hợt thiển
cận về tôn giáo.
Những
lý do phải xem Sràvakayàna (Thanh văn thừa) là Tiểu thừa
Dù
cho thái độ hòa giải của tập Saddharmapundarika, cố gắng
nêu rõ các vị Nirvànagàmim (đã chứng Niết bàn Tiểu thừa)
cuối cùng sẽ thành Nhất thế trí (Sarvajnas) và Tiểu thừa
chỉ là một xảo phương tiện, điều rất rõ ràng là tập
này cũng như các tập Ðại thừa khác đều có một thái độ
kẻ cả và cố gắng xác nhận Ðại thừa cao thượng hơn
Tiểu thừa rất nhiều.
Tập
Sùtràlankàra nói rằng có bảy đặc tính, mà Ðại thừa phải
được xem là lớn: Một là nền tảng (àlambana: duyên) là
lớn vì kinh điển Ðại thừa rất sai biệt và vô số lượng.
Thứ hai quả chứng (pratipatti) của Ðại thừa là lớn vì
Ðại thừa thành tựu hai mục đích: Tự lợi và lợi tha.
Thứ ba, kiến thức do Ðại thừa giảng dạy là sâu kín vì
đi sâu vào Không tánh (nairàtmyabhàva) của cả nhân và pháp
(pudgala và dharma). Thứ tư, Ðại thừa đòi hỏi nhiều khổ
hạnh lớn, vì Ðại thừa đòi hỏi sự tinh tấn tha thiết
trải nhiều đời, nhiều kiếp. Thứ năm Ðại thừa là lớn
trong những vật liệu phương tiện, vì người theo Ðại thừa
không cần phải rời khỏi cuộc đời, miễn rằng các vị
này không bị ràng buộc vì đời. Thứ sáu Thành quả (Samudàgama)
của Ðại thừa là lớn, vì Ðại thừa đưa đến bala (lực),
vaisàradya (vô úy) và 18 àvenikadharmas (bất cộng pháp) (72).
Thứ bảy và cuối cùng, Ðại thừa là lớn trong sự thi hành
những trách nhiệm của đức Phật, nghĩa là trong sự trình
bày về chứng quả Bồ đề (Sambodhi) và Ðại bát niết bàn
(Mahàparinirvàna) (73).
Danh
từ Hìnayàna (Tiểu thừa) cũng đủ nêu rõ địa vị thấp
kém mà các nhà Ðại thừa dành cho Tiểu thừa. Danh từ thường
dùng trong văn học Ðại thừa là Sràvaka (Thanh văn) và Pratyekabuddha
(Ðộc giác). Những danh từ này không có màu sắc gì và những
người Tiểu thừa cũng dùng chữ Sàvaka hay Sràvaka trong những
danh từ Pakatisàvaka (Tự tánh Thanh văn), Aggasàvaka (Ðệ nhất
Thanh văn), Sàvakasangha (Thanh văn tăng già), Sàvika (Nữ thanh
văn) v.v... Danh từ Pratyeka (Pacceka) buddha (Ðộc giác Phật)
cũng được các nhà Tiểu thừa thường dùng. Danh từ Hìnayana
được dùng để chỉ rằng các hàng Thanh văn và Ðộc giác
Phật là Hìnàdhimukta (hạ liệt) (74). Các vị này cũng được
gọi là Pràdesika (tạp thừa) vì tâm trí các vị này chỉ
có một cái nhìn phiến diện (pràdesika) chứ không tổng quát
về sự thật (75).
Àsaya
(khuynh hướng)
Tập
Sùtràlankàra (Ðại trang nghiêm kinh) phân tích nêu rõ rằng
vì hàng Thanh văn là hìnàdhimukta và do vậy sự tinh tấn, giảng
dạy, công đức và thành quả của những vị này thấp kém
nếu so sánh với các vị Ðại thừa (76). Chính do bản nguyện
của mỗi người mà giáo pháp được giảng dạy, và chính
do giáo pháp được giảng dạy mà chúng ta tinh tấn tu trì.
Chúng ta gặt hái công đức tùy theo sự tinh tấn của mình
và quả Bồ đề xứng lượng với công đức của chúng ta,
hoặc Sràvakabodhi (Thanh văn giác), Pratyekabodhi (Ðộc giác) hay
Mahàbodhi (Ðại bồ đề) (77).
Như
vậy sự phân loại dựa lên trên Àsaya (khuynh hướng) của
từng cá nhân. Các hàng Thanh văn hay Ðộc giác bị các nhà
Ðại thừa khinh rẻ vì các vị này chỉ lo phần tự giác
(àtmaparinirvànàsaya) mà không hướng đến sự dắt dẫn người
khác đến Niết bàn, không kể đến tự thân. Vì các vị
này chỉ hướng đến quả vị A-la-hán mà thôi chứ không
hướng đến quả vị Phật cứu độ cho muôn loài, vì các
vị này chỉ ao ước chứng được Dharmacaksu (Pháp nhãn) mà
thôi, nên các vị này là Hìnàdhimukti (nghĩa là khuynh hướng
hạ liệt). Lý tưởng tự giải thoát của các nhà Tiểu thừa
đã bị tất cả học phái Ðại thừa đả kích với những
danh từ hết sức quyết liệt như ích kỷ tâm linh (àdhyàtmika
svàrthaparatva): Các nhà Ðại thừa, không có thiết thực mấy
đi nữa, cũng phải được tán thán bởi tâm nguyện Paràrtha,
nghĩa là hy sinh tự lợi để phục vụ lợi tha hay đặt phần
tự lợi (78) dưới phần lợi tha. Tập Sùtràlankàra (79) dùng
một ví dụ rất quen thuộc để chứng minh mục đích cao đẹp
của Ðại thừa.
Yàtha
punyam prasavate paresàm bhojanam dadat.
Na
tu svayam sa bhunjànas tathà punyamathodayah
(Như
công đức tôn giáo được tác thành nhờ cho kẻ khác đồ
ăn chớ không phải nhờ ăn đồ ăn ấy, cũng vậy các nhà
Ðại thừa hưởng nhiều công đức hơn nhờ giúp ngư?i khác
chứng Niết bàn, chớ không phải chỉ lo Niết bàn cho chính
mình như các nhà Tiểu thừa).
Lý
tưởng này của Ðại thừa được tập Bhàgavata (80) đề
cập đến khi Prahlàda nói rằng:
Pràyena
devamunayah svavimuktikàmà
Maunam
caranti vijane na paràrthanisthàt,
Naitàn
vihàya krpanàn vimumuksa eko
Nànyam
tvadasya saranam bhramato nupasye.
(Bạch
Thế Tôn, nhiều khi các vị ẩn sĩ muốn lo tự giác, theo hạnh
im lặng trong rừng sâu, không dấn thân lo đến lợi tha. Tôi
không muốn chỉ lo phần tự giác mà bỏ quên những người
khác. Tôi không tìm thấy cho tự ngã khắc khoải của tôi
một chỗ quy y nào khác nơi Ngài).
Lý
tưởng của các nhàÐại thừa chắc chắn rất cao thượng
và có sức hấp dẫn mọi người rất mạnh mẽ, nhưng con
đường thực hành để được giải thoát phải trải qua vô
lượng vô số kiếp, con đường ấy không thể hấp dẫn tất
cả mọi người.
Các
nhà Tiểu thừa không phủ nhận sự phát nguyện thành Phật
thật rất cao thượng, nhưng các vị này nghĩ rằng đối với
những người có công đức và khả năng kém xa các vị Bồ-tát
thời khuyên họ cố gắng tinh tấn để thành Phật thật là
vô ích và không thiết thực. Lời buộc tội các vị Thanh
văn không có những hành động lợi tha thật không chính xác.
Câu kệ trong kinh Dhammapada (Pháp cú) (81):
Dhammadànam
sabbadànam jinàti
(Bố
thí pháp thắng hơn tất cả loại bố thí),
và
lời dạy trong tập Dìgha Nikàya và trong Vinaya: (82)
"Caratha,
bhikkahve, càrikam bahujanahitàya bahujanasukhàya lokànukampàya atthàya
hitàya sukhàya devamanussànam"
(Hãy
đi, này các Tỷ kheo, và truyền thuyết chánh pháp, vì lợi
ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chư thiên và
loài người).
Hai
câu trên nêu rõ ràng các nhà Tiểu thừa không phải ích kỷ
như các nhà văn Ðại thừa miêu tả. Ðiều mà các nhà Ðại
thừa xem các vị Tiểu thừa là ích kỷ là vì các nhà Tiểu
thừa trước khi nghĩ mình có khả năng giải thoát cho các
người khác, chỉ sống trong phòng tu của mình mà lo phần
tự độ. Chỉ sau khi chứng được chánh tri kiến, các vị
này mới tự xem là đủ khả năng để giúp đỡ người khác
chứng được trí tuệ tương tự. Nhưng trong khi các vị này
đang còn trong thời tu tập, nghĩa là trước khi chứng quả
A-la-hán, các vị này cũng đến thăm các nhà cư sĩ và giảng
cho chúng những nguyên tắc cơ bản của đạo Phật; và những
vị trưởng thượng cũng thâu nhận và dạy cho đệ tử tu
tập những nguyên tắc cao siêu hơn về tôn giáo. Ðời sống
của các Ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Chiên Diên,
Ðại Ca Diếp và các vị khác đã nêu rõ hành động vị tha
(paràrthava) sau khi những vị này chứng quả A-la-hán. Trong
kinh Lohicca có nói rằng chánh pháp cần phải được truyền
bá, nếu không thì như vị vua tự thọ hưởng bao nhiêu bổng
lộc của quốc gia riêng cho mình (83).
Kinh
Sùtràlankàra không bỏ lỡ cơ hội này để chứng minh sự
ích kỷ của các nhà Tiểu thừa. Tập này nói rằng các hàng
Thanh văn (Sràvaka) không dạy tín đồ phải phục vụ kẻ khác
(paràrtha) mà chỉ dạy làm thế nào cho tự thân chứng được
nirvid (nhàm chán thế tục), viràga (vô tham) và vimukti (giải
thoát). Tập này kết luận rằng một giáo lý dạy ích kỷ
không thể trở thành lợi tha vì được dạy cho kẻ khác,
vì giáo lý ấy khuyến khích tự lợi, tự giải thoát. Do vậy,
giáo lý ấy là một yàna (thừa) ích kỷ (84).
Upadesa
(giảng dạy) và Prayoga (tinh tấn)
Như
vậy tự nhiên Upadesa và Prayoga tùy thuộc với Àsaya (khuynh
hướng) (85). Một nhà Tiểu thừa không cần phải phát triển
Bodhicitta (Bồ đề tâm) và cố gắng tu các hạnh Ba-la-mật.
Các nhà Tiểu thừa không cần như các vị Bồ-tát phát nguyện
đương chịu sự đau khổ vô lượng kiếp ở địa ngục hay
ở Yamaloka, làm con vật hay con trùng để đưa tất cả chúng
sanh đ?n nirupadhisesanirvànadhàtu (vô dư y Niết bàn) (86). Sự
điều hòa đời sống theo giới luật Pràtimoksa (giới bổn),
sự thực hành các bổn phận trong Bát chánh đạo và sự giác
ngộ lý Tứ đế và lý Duyên khởi là vừa đủ với các vị
này. Sự nhận thức thế giới không có tự ngã hay không có
gì thuộc tự ngã là vừa đủ và các vị này không cần phải
tìm hiểu thực hành tánh của Sùnyatà (chơn không), chân lý
tối hậu.
Upastambha
(huân tập công đức)
Muốn
trở thành một vị Bồ-tát, cần phải có đủ công đức
trong những đời trước. Trừ phi và cho đến khi những công
đức ấy đạt đến mức độ cần thiết do các nhà Ðại
thừa đòi hỏi, một chúng sanh không thể trở thành một vị
Bồ-tát hay thu hoạch được những lợi ích thiết thực của
giáo lý Ðại thừa. Các nhà Tiểu thừa có một quan điểm
hoàn toàn khác hẳn. Theo tập Puggala Pannatti, người nào phạm
ngũ nghịch (ànantarika) thời không thể nào giải thoát được
(87), ngoài ra mọi người khác đều có thể giác ngộ, thời
gian dài ngắn tùy theo từng người. Do vậy nên không có đòi
hỏi upastambha chất chứa công đức trong phương trình giải
thoát của Tiểu thừa. Tất cả mọi loại, trừ năm loại
ngũ nghịch trên, đều có thể giải thoát. Các nhà Tiểu thừa
đạt mục đích của mình bằng cách xa lánh các hoạt động
thế tục, còn các nhà Ðại thừa đạt mục đích trên bằng
những hoạt động thế tục, nhưng tâm trí luôn luôn không
tham đắm thế sự.
Kàla
(thời gian)
Vì
các nhà Tiểu thừa không cần đến upastambha và vì àsaya của
những vị này chỉ là giải thoát chứ không phải là thần
lực đặc biệt của một đức Phật, nên thời gian (kàla)
đòi hỏi bởi một nhà Tiểu thừa để đạt mục đích tương
đối ngắn hơn thời gian của một vị Bồ-tát (88). Tập Sùtràlankàra
gợi ý rằng một nhà Tiểu thừa có thể đạt được mục
đích trong ba đời. Ðây nói đến sự tin tưởng của Tiểu
thừa cho rằng trải qua bảy đời, có thể đạt được mục
tiêu, năm trong bảy đời này phải trải qua trong thánh quảDự
lưu (Srotàpanna) (89). Tập Sùtràlankàra trong khi tính đến số
tái sinh để ra ngoài bốn lần tái sinh dự bị cho giai đoạn
Dự lưu cuối cùng. Cách tính này đôi khi cũng được một
số Tiểu thừa chấp nhận (90).
Sự
sai khác giữa Pratyekabuddha (Ðộc giác) với Sràvaka (Thanh văn)
và Samyaksambuddha (Chánh đẳng giác)
Dẫu
cho các nhà Pratyekabuddha luôn luôn được phân loại với các
nhà Thanh văn là Hìnàdhimukta (hạ liệt), các vị này được
xem là trung phẩm (91). Các nhà Ðại thừa là thượng phẩm,
Uttama hay Srestha. Tập Pundarika nêu rõ địa vị tương đối
của những vị này như sau: "Các vị Thanh văn là những vị
nghe theo lời dạy của các người khác (paraghosàsravànugama),
tự cố gắng để hiểu bốn sự thật và chứng Niết bàn
cho mình. Các vị Ðộc giác là những vị muốn tự kiềm chế,
muốn được an tịnh và trí tuệ nhưng không được sự giúp
đỡ của một vị tôn sư (anàcàryakam) và tự tìm Niết bàn
cho mình sau khi hiểu hetu (nhân) và pratyaya (duyên) nghĩa là
lý nhân duyên. Các vị Ðại thừa là những vị cố gắng
đạt được Phật trí mà không cần đến một vị tôn sư,
tìm kiếm Phật lực để cứu tất cả chúng sanh, được giải
thoát an vui (92).
Tập
Dasabhùmikasùtra đi sâu vào chi tiết hơn và phân biệt ba hạng
trên như sau: "Các vị Thanh văn là những vị đã thành tựu
viên mãn (paribhàvyamàna) mười thiện hạnh (Kusalakarmapatha)
nhờ trí tuệ của mình (prajnà), có một cìtta (tâm) chỉ có
thể hiểu được một phần sự thật, rất sợ hãi phải
sinh trưởng trong ba giới (dhàtu), tùy thuộc sự giáo huấn
của người khác và không thể có lòng đại bi (Mahàkarunà).
Các vị Ðộc giác là những vị thanh tịnh hơn, thể nhập
sự thật không cần sự giúp đỡ của người khác, có thể
hiểu triệt để lý nhân duyên, nhưng các vị này cũng không
có lòng đại bi. Các vị Ðại thừa hay Bồ-tát là những
vị thanh tịnh hơn nữa, đã thuần thục phương tiện thiện
xảo (Upàyakausalya), phát đại nguyện (mahàpranidhàna), diệt
trừ mọi phiền não, dùng Buddhajnàna (Phật trí) làm àlambana
(y chỉ), tự mình hoàn thiện trong các bhùmi (địa) và các
hạnh Pàramita (Ba-la-mật), đã chứng được tất cả 10 bala
(Thập lực) và mọi quyền lực thuộc Phật quả, và tâm Ðại
bi được phát huy triệt để (93)".
Tập
Madhyamakàvatàra và các tác phẩm Ðại thừa khác cũng phân
biệt giữa Thanh văn, Ðộc giác và Bồ-tát với những đặc
điểm như trên (94). Theo giáo sư Vallée Poussin, sự sai khác
về vấn đề hiểu biết lý nhân duyên giữa Thanh văn và Ðộc
giác có tính cách lý thuyết hơn là thực sự vì vấn đề
này thuộc một phần của sự thật thứ hai (Tập đế). Tập
Abhidharmakosavyàkhyà (Câu xá luận thích) giới thiệu sự sai
khác một cách mới mẻ hơn. Giáo sư Poussin tóm tắt như sau:
"Vị A-la-hán, sau khi diệt trừ lòng vị ngã khỏi những tâm
sở tác thành bản ngã vị kỷ của mình, bắt đầu chú tâm
đến công việc của các người khác, sự chú tâm này phát
sinh từ lòng từ bi và diệt tận mọi khổ đau, người bậc
trung (madhya), nghĩa là các vị Ðộc giác, chỉ mong sự giải
thoát, nghĩa là tận diệt mọi khổ đau, không phải hạnh
phúc trong đời sống luân hồi hiện tại, vì sự hạnh phúc
tạm bợ này là cội gốc của đau khổ. Vị thượng phẩm
(Sretha), nghĩa là vị Bồ-tát muốn đem hạnh phúc tạm bợ
(àbhyudayika) cho người khác và cả sự diệt tận đau khổ
nghĩa là hạnh phúc tối thượng (nihsreyasa-svabhàva); hay vị
này mong cầu người khác được hạnh phúc tối thượng và
hạnh phúc tạm bợ (sukham àbhyudayika-naihsreyasikam) và cho mình
sự diệt tận đau khổ nghĩa là Phật quả như là một phương
tiện để thực hiện hạnh lợi tha (95).
Tập
Abhidharma-Kosa (Câu xá) nói về tha tâm thông (para cittajnàna),
tuyên bố rằng một vị Thanh văn thường chỉ chứng được
tha tâm thông khi các vị này ở trong hai sát-na của darsanamarga
(Kiến đạo), nghĩa là duhkhe dharmajnànaksànti (khổ pháp trí
nhẫn) và duhkhe dharmajnàna (khổ pháp trí), còn hàng Ðộc giác
có thể biết thêm sát-na thứ tám tức là Samudaye anvayajnàna
(tri tùy sát tập hay tập loại trí) (96). Hàng Ðộc giác có
thể có một hay hai trí lực tương tự hơn một vị Thanh văn
nhưng quả vị (summun bonum) của cả hai đều giống nhau, đó
là lý do vì sao các nhà Ðại thừa xếp cả hai vị này vào
trong một loại tức là Tiểu thừa, các hàng Ðộc giác cũng
là hàng Tiểu thừa nhưng thuộc hạng trung phẩm.
Giáo
sư Poussin, trong bài về Ðộc giác (97) có nói lý do vì sao
các hàng Ðộc giác có mặt trong văn học Phật giáo. Theo giáo
sư, đức Phật không ưa gì lắm đời sống ẩn dật của
những vị ẩn sĩ, những vị này sống đầy dẫy trong thời
đại của Ngài. Nhưng Ngài nhận thấy rằng những vị ẩn
sĩ này có tất cả những đức tánh của một vị A-la-hán,
nếu không phải là nhiều hơn. Ðể thâu nhận những vị này
vào trong giáo hội Phật giáo, để đặt cho những vị này
một vị trí trong thế giới tâm linh của Phật giáo, quan niệm
các vị Ðộc giác được chấp nhận vào trong văn học Phật
giáo. Những vị này được xem là những Phật tử tân tòng
nhưng không thể chứng quả A-la-hán khi tôn giáo còn hoạt
động; do vậy các vị này tiếp tục tiến bước trong đời
sống tu hành trí đức và kết quả là các vị này do tự
lực đã chứng được sự thật như đức Phật Thích Ca Mâu
Ni đã chứng (98). Vì đời sống cô độc của mình, vì không
bao giờ có vị tôn sư hay vị hướng dẫn (kalyànamitra), và
rất chán ghét sự tiếp xúc với người đời, các vị này
không thể phát triển năng lực diễn giảng, năng lực này
các vị A-la-hán có thể chứng được đôi phần.
Quan
niệm các vị Ðộc giác được nói đến nhiều trong văn học
Pàli về sau hơn là trong các tập Nikàya. Tập Milindapanha (99)
so sánh những năng lực của vị Ðộc giác với đức Phật
và nêu rõ địa vị trung dung của vị Ðộc giác giữa đức
Phật và vị A-la-hán. Tập Majjhima Nikàya và tập Lalitavistara
nói đến các vị Ðộc giác như những vị ẩn sĩ sống ngoài
giáo hội Phật giáo, không phải trong địa vị trung dung giữa
vị A-la-hán và đức Phật (100). Tập Puggalapannatti (101) nêu
rõ rằng cả đức Phật và các vị Ðộc giác chứng được
sự thật, không nhờ một ai chỉ giáo nhưng các vị Ðộc
giác không chứng được toàn tri và không nhiếp phục các
quả vị (phalas) (102). Các nhà Tiểu thừa không phủ nhận
địa vị tối thượng của đức Phật trên các vị A-la-hán
và Ðộc giác (103) về quyền lực khả năng, nhưng một đức
Phật chỉ ra đời sau rất nhiều kiếp (104), nên các vị này
không mấy chú tâm về năng lực của một đức Phật và vấn
đề chứng ngộ Phật quả. Tuy vậy, tập Milindapanha tả uy
lực đặc biệt của một đức Phật, với những danh từ
tương tự của các nhà Ðại thừa, nhưng tập này chỉ đề
cập đến đức Phật Thích Ca Mâu Ni và một số đức Phật
khác được các nhà Tiểu thừa nói đến chớ không phải
vô lượng vô số chư Phật của các nhà Ðại thừa.
Sai
biệt chủng tánh (Gotrabheda): Nguyên nhân chính về chí nguyện
sai khác giữa mọi người
Tập
Sùtralankàra (105) trả lời câu hỏi vì sao giữa những đệ
tử của đức Phật lại có những người có chí nguyện thượng,
trung, hạ sai khác nhau. Câu hỏi này đưa đến sự bàn luận
về vấn đề gotrabheda, sự sai khác về thứ hạng và sự
nghiên cứu lời tuyên bố trong tập Aksaràsisùtra. Tập này
nói rằng vì những phần tử tác thành một cá nhân sai khác
nhau nên có vô lượng dhàtu (giới) sai khác. Tập này chia chúng
sanh thành ba loại: Niyatagotra (định tánh), aniyatagotra (bất
định tánh) và agotra (vô tánh).
Hạng
đầu gồm những vị, nhờ công đức đời trước hay vì xu
hướng nội tâm, sau này sẽ trở thành Sràvakayànàbhisamayagotra
(Thanh văn thừa loại tánh), Pratyekabuddhayànà-bhisamayatotra (Ðộc
giác thừa loại tánh) hay Tathàgatayànà-bhisamayagotra (Như lai
thừa loại tánh). Hạng thứ hai gồm những vị còn ở lưng
chừng và có thể trở thành Tiểu thừa hay Ðại thừa. Hạng
thứ ba gồm tất cả chúng sanh còn lại, và hạng này lại
còn chia thành hai loại (I) những vị không thể nào chứng
được Niết bàn (atyantam), và (II) những vị hiện tại (tatkàla)
chưa có thể chứng Niết bàn. Trong những vị Nigatagotrasthas
(định tánh), chính những dhàtu (giới) quyết định về adhimukti
(phát nguyện), còn adhimukti quyết định pratipatti (quả chứng),
và chính tùy thuộc các bìja (chủng tử) mà kết quả trở
thành hìna (hạ), madhya (trung) và visista (thượng). Các hàng
Thanh văn thấp thua hàng Bồ-tát vì hàng Thanh văn không có
những công đức xuất chúng, cũng không có một loại công
đức nào, vì các hàng thanh văn thiếu năm sức mạnh (bala)
và sáu vaisàradyas (vô úy) (107). Tuy vậy các công đức của
các vị này không được vĩnh viễn trường tồn vì các vị
này chỉ mong cầu chứng được anupàdisega-nirvàna (vô dư y
Niết bàn). Các công đức lại không đưa đến những kết
quả to lớn vì các hàng Thanh văn không có phục vụ hoàn toàn
cho lợi ích của người khác (aparàrtnatvàt).
Tập
Lankàvatàra (108) cũng nói đến các gotra (tánh) và chia thành
năm hạng người (abhisamayagotra) (phân loại hạng người tùy
theo kết quả giác ngộ), nghĩa là Sràvakayànà- bhisamayatotra,
Pratyekabuddhàyànà-bhisamayatotra, Tathàgatayànà-bhisamayagotra (109),
Aniyatagotra (bất định tánh) và Agotra (vô tánh). Các hàng Sràvakayànà-bhisamayagotra
là những người mê say bởi lời dạy về tính cách linh động
của những phần tử tác thành thân thể (skandhadhàtuyàyatanasvasàmànya-laksana)
uẩn giới xứ tự đồng tướng và cũng nhận thức được
đặc tánh của sự vật liên hệ đến lý Duyên khởi (pratityasamutpàda-vinirbhàga-laksanaparicaye).
Trong khi ở trong bhùmi (địa) thứ năm hoặc thứ sáu, những
vị này giải thoát khỏi những đau ốm về tương lai, nhưng
không khỏi các vàsanà-klesa (phiền não tập khí) (110). Các
vị này đạt đến một địa vị không còn thối chuyển và
do đó, tuyên bố mình đã sống đời một vị thánh, chứng
được tánh vô ngã của cá nhân, đạt đến Niết bàn và
không còn phải luân hồi sanh tử.
Vị
tác giả tập Lankàvatàra ở đây nói thêm rằng có hạng Thanh
văn tự cho đã đạt đến Niết bàn nhờ chứng được tánh
vô ngã của cá nhân, và một vài vị cho rằng nhờ hiểu được
lý nhân duyên chi phối sự vật, nhưng sự thật không thể
nào có Niết bàn nếu không chứng được tánh vô ngã của
sự vật (dharmanairàtmya). Các vị này xem đó là cửa giải
thoát (nìryàna) nhưng sự thật không phải vậy và do đó còn
nắm giữ một phần trong nhiều tà kiến. Các vị Pratyekabuddhayànàbhisamayagotras
là những vị đã mê say khi nghe đến các kinh nói đến sự
giác ngộ đặc biệt của từng cá nhân, không ưa thân cận
với người khác, và rất thích thú các thần thông. Các vị
Tathàgatayànàbhisamayatora, theo tập Lankàvatàra, có ba hạng:
(I) những vị đã chứng ngộ tánh vô ngã của những loại
gọi là hữu tình, (II) những vị cho rằng sự giác ngộ sự
thật chỉ xảy ra trong tự thân, và (III) những vị đã chứng
được sự vĩ đại của Phật sát (Buddhaksetra).
Các
vị Aniyatagotra (bất định tánh) là những vị theo một trong
ba tánh kể trên khi được nghe giải thích. Các vị này thật
sự ở trong giai đoạn dự bị. Khi Àlayavijnàna (A lại da thức)
của những vị này được gội sạch mọi klesa (phiền não)
và Vàsanà (tập khí); các vị này trở thành Thanh văn hay Bồ-tát
sau khi thọ hưởng hạnh phúc tu thiền nhờ chứng được tánh
vô ngã của sự vật. Các nhà Tiểu thừa cũng chấp nhận
sự phân loại này nhưng với một ý nghĩa sai biệt. Tập Puggalapannatti
và tập Kosa nói đến niyata và aniyatapuggala (Ðịnh tánh và
bất định tánh hữu tình), những theo hai tập này, các hạng
Niyata (định tánh) là hạng người vì phạm năm tội ngũ nghịch
nhất định phải có tà kiến hoặc những bậc đã chứng
một trong tám quả Thánh và nhất định sẽ đạt đến Niết
bàn, còn các loài hữu tình còn lại thuộc bất định tánh,
nghĩa là đời sống của các hạng này chưa được quyết
định (111).
Danh
từ Gotrabhù (Chuyển tánh) chiếm một địa vị trọng yếu
trong phương thức giải thoát của Tiểu thừa. Danh từ này
chỉ cho một người lần đầu tiên bước vào con đường
dẫn đến Niết bàn sau khi ra khỏi hàng ngũ phàm phu (puthujjana)
(112). Sau khi tu trì phần tâm linh, một người mới trở thành
Gotrabhù, sau một sát-na bước vào thánh đạo, nhận thức
được khổ đế thứ nhất trừ diệt các nghi vấn và sai
lầm, thể nhận đư?c Niết bàn và bắt đầu thi hành những
bổn phận trong Bát chánh đạo. Vị này trở thành một vị
Arya (Thánh) và đủ điều kiện để chứng được quả vị
cao nhất trong các bậc Thánh. Chính trong ý nghĩa này mà tập
Satasàhasrikà (thiên bách tụng) (113) cũng dùng danh từ Gotrabhùrastamaka
trong khi nói đến các thứ bậc tu hành, trong ấy các loài
hữu tình muốn đạt đến hạnh phúc hoàn toàn cần phải
an trú.
Tiểu
thừa bị Ðại thừa công kích
Nay
rõ ràng các nhà Ðại thừa xem các nhàTiểu thừa như các
tôn giáo và triết gia ngoại đ?o của các vị Brahmavàda (tin
theo Phạm thiên) và các vị Sàsvatavàda (thường kiến). Kinh
Brahmajàlasutta (Phạm võng kinh) tuyên bố một số người trở
thành Brahmavàda hay Sàsvatavàda, không phải vì tà kiến riêng
nhưng bởi vì chúng không có thể nghĩ gì cao hơn Phạm thiên
hay xa hơn vài ngàn đời. Chính đức Phật đã vượt qua giới
hạn ấy và đã tìm ra những khuyết điểm của chúng (114).
Do vậy chúng ta thấy có một sự phát triển tiếp tục về
tư tưởng và những tân tư tưởng gia, những nhà Ðại thừa
đã xem tất cả những lời tuyên bố gán cho đức Phật dưới
một ánh sáng hoàn toàn mới lạ. Một khi một tư tưởng giới
cao hơn đã đạt được, thời mọi lời tuyên bố tự nhiên
được giải thích từ tư tưởng giới cao ấy. Các nhà Ðại
thừa thương hại các nhà Tiểu thừa vì những hiểu lầm
của họ cũng như các nhà Tiểu thừa thương hại các nhà
Brahmavàda hay Sàsvatavàda.
Theo
các nhà Tiểu thừa, Niết bàn đánh dấu một địa vị cao
hơn địa vị của Phạm thiên (115). Còn theo các nhà Ðại
thừa thời Niết bà chỉ là một sự thử thách tạm thời,
còn Niết bàn chân thật thời cao thượng hơn trạng thái Niết
bàn do các nhà Tiểu thừa nhận thức, cho nên các nhà Tiểu
thừa được các nhà Ðại thừa thương hại vì quan niệm
và lý tưởng thấp kém của họ. Theo quan niệm của các nhà
Ðại thừa, các vị Tiểu thừa giống như những đứa trẻ
chơi với các đồ chơi nhưng không có thể nhận thức được
sự thật. Tập Kàsyaparivarta (116) nói rằng giống như những
người con trai của bà hoàng hậu với một người nghèo không
được xem là hoàng tử. Còn những người con trai của một
vị vua với bà hoàng hậu hay với một thị tỳ nào cũng được
xem là hoàng tử. Cũng vậy các nhà Tiểu thừa có thể là
kết quả cùng một pháp giới (117) như các nhà Ðại thừa
nhưng không có thể được xem là trưởng tử của đức Phật,
giống như con trai của hoàng hậu với một người nghèo không
được xem là hoàng tử.
Tập
Prajnàpàramità cũng lặp lại vấn đề này và nói rằng trí
tuệ của một vị đã hoàn thành Bát nhã Ba-la-mật không thể
so sánh với trí tuệ của một nhà Thanh văn đệ nhất. Tập
Lalitavistara (118), tập Kàsyapa parivarta (119) và các tập khác
đều nhấn mạnh về điểm một vị Bồ-tát phải phát triển
Asprhà (không ham muốn) đối với Tiểu thừa. Tập Bodhicaryàvatàra
(120) nghĩ rằng: tất cả công đức của các vị Thanh văn
không có thể sánh bằng những công đức của một vị Bồ-tát
đã phát Phật tâm. Còn tập Siksàsamuccaya (121) xem là một
mùlàpatti (tội căn bản) nếu một vị Bồ-tát hoặc giao thiệp
với một vị Thanh văn, vì như vậy sẽ làm trí tuệ của
vị này trở thành muội lược, hay giảng Ðại thừa cho một
người mà căn bản thiện pháp (kusalamùla) không đủ để
vị này có thể theo được giáo lý Ðại thừa (123) và vị
Bồ-tát này sẽ phạm một trọng tội nếu phát tâm hướng
đến Thanh văn địa hay Ðộc giác địa (123). Tập Gandvyùha
(124) kể một danh sách rất dài những khuyết điểm của một
vị Thanh văn so sánh với một vị Bồ-tát và nêu rõ rằng
các nhà Thanh văn không hiểu rõ được những hành động của
đức Phật ở tại Jetavana (Kỳ viên). Những nguyên nhân đề
cập đến là vì trí tuệ của một đức Phật vượt ngoài
tầm hiểu biết của các nhà Thanh văn. Jnanacaksu (tuệ nhãn)
của những vị này yếu ớt không thể thấy được những
hành động của đức Phật. Tập Prajnàpàramità (125) và tập
Siksàsamuccaya (126) xem các nhà Thanh văn như là ác hữu khác
với thiện hữu của những vị Bồ-tát vì các nhà Thanh văn
khuyên các vị Bồ-tát nên bỏ con đường Ðại thừa, một
con đường giải thoát rất khổ cực và không tưởng, đòi
hỏi một thời gian quá dài và khuyên theo con đường giải
thoát Tiểu thừa là một một con đường thiết thực tốt
đẹp hơn và đòi hỏi một thời gian ngắn hơn nhiều. Tập
Pundarika (Pháp hoa) (127) gọi các nhà Tiểu thừa là Abhimànika
(tự phụ) vì các vị này không tin các lời tuyên bố của
tập này.
Dù
cho có sự cố gắng để chỉ trích Tiểu thừa trong hầu hết
các tác phẩm Ðại thừa, các tập này không thể phủ nhận
công trình của các nhà Tiểu thừa trên con đường tu hành,
nhất là sự tiến triển đạo đức. Theo tập Pundarika (128)
trong một Buddhaksetra (Phật sát) có vô lượng vô số Thanh
văn và những vị này rất tinh tấn và giống như những hòn
ngọc không tì vết trong sự hộ trì giới luật. Sự khinh
miệt dharma của các nhà Thanh văn và các nhà Ðộc giác được
xem như là một tội căn bản (mùlàpatti) đối với một vị
Bồ-tát (129). Tập Siksàsamuccaya (130) và tập Bodhicaryàvatara
(131) khuyên các vị Bồ-tát phải kính trọng Thanh văn thừa
và Ðại thừa ngang nhau.
Tập
Bodhisattvabhùmi (132) xem là một tội phạm nếu một vị Bồ-tát
nghĩ rằng vị này không nên nghe, không nên học, không nên
thực hành những pháp liên hệ đến Thanh văn thừa. Chúng
ta thường thấy những vị Bồ-tát đến các vị Thanh văn
(133) để nghe thuyết pháp. Và điều rất kỳ dị là Subhùti
(Tu Bồ Ðề) lãnh trách nhiệm thuyết giảng triết lý Sùnyatà
(chân không) trong những tập Prajnàpà ramità. Như vậy rõ ràng
rằng trong những giai đoạn đầu tiên của Ðại thừa, các
nhà Thanh văn rất được kính trọng. Ðiểm này cũng rất
rõ ràng trong công thức đảnh lễ mở đầu cho những tác
phẩm
Ðại thừa đầu tiên. Công thức này nói đến đảnh lễ
chư Phật, chư Bồ-tát và các vị Thanh văn nữa. Trong một
vài tác phẩm Ðại thừa về sau, công thức này được rút
ngắn đi. Các tập Satasàhasrikà, Saddharmapundarika và Lalitavistara
có công thức như sau: "Namah sarvatathàgata- pratyekabuddhàryasràvakebhyo
v.v...." Công thức này được rút ngắn trong tập Siksàsamuccaya,
Sùtràlankàra và tập Mahàvyutpatti như sau: "Namah sarvabuddhabodhisattvebhyah".
Như
vậy các tác phẩm Ðại thừa đều công nhận sự tiến bộ
của các nhà Thanh văn trên con đường tu hành và đời sống
đạo đức của những vị này cũng được tán thán. Chỉ
có lý tưởng của vị Thanh văn và quan niệm kém siêu hình
của những vị này đối với sự vật không được các nhà
Ðại thừa tán đồng và do vậy những qui luật đao đức
và quan điểm triết lý của những vị này được các nhà
Ðại thừa xem là thiếu sót và nông cạn.
CHÚ
THÍCH CHƯƠNG HAI
1-
Xem Vinaya, Mv; i.5. 17; Mtu; III, tr.331, 345
2-
Sogen trong quyển Systems of Buddhistic thought (trang 7 v.v...), xem
Sarvam anitiyam, Sarvam anàtmam và Nirvànam sàntam như là ba nền
tảng mà cả Tiểu thừa và Ðại thừa dựa lên. Sự thật
vô thường và vô ngã không được quan điểm chân không và
chân như của Ðại thừa chấp nhận là sự thật tuyệt đối.
Thật ra Sarvam tathàtvam đã thay thế cả hai trong Ðại thừa.
3-
M. Vr. Tr.521; Burnouf, Intro, tr. 519.
4-
Itiv, tr.37; Ud, tr.80.
5-
Sata; tr. 120: Nàmamàtram idam yaduta Buddha iti.
6-
Lankà tr.19: Alabdhàtmaka dharmàh katame yaduta Sasakharostra - vàjisana-
vandhyàputra prabhrtayo dharmàh.
7-
Sata; trl118: rùpam được xem ở đây nghĩa là dùng chữ nào
thay cũng được. Trong tập pàncavimsati. "Màyà" được dùng
thế cho Sùnyatà trong công thức giống như trên.
8-
M. Vr, tr.248.
9-
Sùtra. tr.76. Trong tập Vijnaptimàtratà Sùnyatà cũng là bhùta-tathatà.
10-
Xem, Dìgha I, tr.118; Anesaki dùng chữ Tathàgato thay vì chữ "Buddha"
thật có ý nghĩa.
11-
Lankà, tr.96:Catustaya-vinirmuktà tathàgatànàm dharmadesanà yadutaikatvànyatvobhayànubhayapaksa-vivarjità
nàstyasti-samàropàpavàdavinirumktà.
12-
M. Vr; tr.446-447: 14 vấn đề bất khả thuyết được chú giải.
13-
Xem Lankà; tr.96.
14-
M. Vr; chương I và XXIV; xem infra. Chương III (d).
15-
Xem chi tiết Chương III (d).
16-
Nàgàrjnuna cũng xem Pratìtyasamutpàda như là Sùnyatà; xem M. Vr;
tr.503, 542:yah pratìtyasamutpàdah sùnyatàm pracaksmahe.
17-
Majjhima, I, tr.191; Samyutta, III. tr.120; Itiv; tr.92; Sad, San (J.P.T.S),
1890, tr.69; Mil; tr.71; Dìgha, II, tr.154: Bodhic; tr.386; M Vr; tr.6,
160; Sàlistambasùtra, tr.70.
18-
Asta; tr.3; Panca; tr.1; Bodhic; tr.430.
19-
Xem Panca; tr.167a; Bodhic; tr.431. Cần để ý rằng sự hoàn toàn
trong Prajnàpàramità có nghĩa là sự chứng ngộ được tuyệt
đối qua sự thấu hiểu tánh không của mọi vật.
20-
Sad.P; tr.46.
21-
Ibid. tr.143.
22-
Sad. P; tr.41 và xem Siksà; tr.95-96: "Ta chưa bao giờ thuyết chánh
pháp trong những hình thức phân biệt, một cho Thanh văn, một
cho Ðộc giác và một cho Bồ-tát".
23-
Vallée Poussin trong bản dịch Pháp ngữ tập Le Musé, VIII (N.S),
tr.271: "Ce point est enseigné par (Nàgàrjuna) notre maitre, quand il
dit: "Le Granđ Véhicule la destruction; c’est la même vacuité dans
la sens de destruction et de non-naissance".
24-
Sùtrà; tr.68-70.
25-
Cf. Kàs . P. tr.116, 80; Kàrikà (A.S.B. ms), tờ 2a Dharmadhàtor asambhedàt
gotrabhedo nayujate. Àdheyadharmabhedàt tu tad bhedah parigìyate.39.
26-
Sùtrà; tr.69, v.54
27-
Giáo sư Lévi sửa lại bản chính "Anàtmanibaddhàsaya" thành
"àtmani bhddhàsaya". Xem bản dịch của Giáo sư, tr. 125 v.v...
28-
Sùtrà; tr.70; tam avasthàtrayastham samdhàyoktam Bhagavatà Srìmàlàsùøtre,
sràvako bhùtvà pratyekabuddho bhavati punas ca Buddha iti.
29-
Lankà; tr.65, 243.
30-
Lankà; tr.133: Ekàyanamàrgàdhigamàvabodhah katamo yaduta gràhyagràhakavikalpa-
yathabhùtàvàsthànàd spravrtter vikalpasyaikayànàvabodhah. Cũng
xem trang 155.
31-
Xem bài của ông về Ðại thừa trong tập Eastern Buddhist, I,II,
tr.1 -2.
32-
Quan điểm của các nhà học giả Nhật Bản lấy từ bài của
ông Amstrong: "Biện luận về nguồn gốc của Ðại thừa Phật
giáo" trong tập The Eastern Buddhist, IV, I.
33-
Sùtrà; tr. 3, 4. Ðoạn này được bản sớ giải Trung Hoa của
tập Thành Duy Thức để chứng tỏ sự chính xác của Ðại
thừa.
34-
Về bị chú vấn đề Anàgatabhayas, xem bản dịch Pháp văn
của ông Lévi, tập Sùtrà; tr. 6, 7 v.v....
35-
Bodhic; tr. 431: Yac ca sùtré ‘ vatarati, vinaye ca samdrsyate, dharmatàm
ca ca na vilomayati, tad Buddhavacanam nànyad.
36-
Xem quyển Early History, tr. 207, về một thảo luận đầy đủ
chi tiết của sự phân loại các Tỷ kheo thuộc một học phái.
37-
Suzuki, Outlines of Buddhism, tr. 16.
38-
Hiển nhiên ông Kimura đã đề cập đến Chân đế và Tục
đế.
39-
Asta; tr.33.
40-
Học phái thứ hai này không được đề cập riêng biệt trong
phân loại của Thiên thai tôn, T. Richard, New Testament of Higher
Buddhism, tr.41.
41-
Xem T. Richard, tr.4; ở đây chữ "Giáo lý" hay "Pháp" được
dùng thay cho danh từ "Phật giáo".
42-
As. Res; XX, tr.399, 400.
43-
Xem Tự phần Panca. Về thời gian của tập Prajnàpàramità sớm
nhất.
44-
Sogen, Systems of Buddhistic Thought, tr.l173.
45-
Xem Eastern Buddhist, IV.
46-
So sánh Hardy, Manual of Buddhism, tr.312.
Ngài
Xá Lợi Phất hỏi đức Phật rằng các hàng Thanh văn như
mình có thể thành Phật không, đức Phật trả lời không,
nói rằng các hàng Thanh văn phải thành tựu các hạnh Ba-la-mật.
47-
Sad. P, tr.64-5.
48-
Sad. P, tr.36, 38, 60, 61; Sata; tr.502.
49-
Sad. P, tr.65, 144, 148, 150, 152, 201.
Ngài
Xá Lợi Phất, sau khi theo chánh pháp của vô lượng Phật,
đảnh lễ các vị này và thực hành hạnh Bồ-tát, sẽ thành
đức Phật Padmaprabhà, và ngự trị trên Phật sát tên là
Viraja...
50-
Sad. P, tr.100, 101.
51-
Sad. P, tr.186 v.v...
52-
Ibid, tr.188.
53-
Majjhima, I, tr.160 - 175; Dìgha II, tr.36.v.v...
54-
Xem chương III (d) về Tục đế và Chân đế.
55-
Majjhima, Àsayànusayam viditvàdhammam deseti v.v...
56-
Dìgha, I, tr.148; Vinaya I, tr.15 .v.v...
57-
Kalpakasàya, Sattvakasàya, Klesakasàya, Drstikasàya Àyukasàya. Sad.
P; tr.31, 43.v.v...
58-
Sad. P; tr.48; Dìgha, Brahmajàlasutta.
59-
Theo Tiểu thừa: khổ, tập, diệt, đạo là Sàmukkamsikà dhammadesanà
(Xem Majjhima I, tr.350), nhưng theo tập Sad. P; (tr.60) Buddhajnàna
chính là Sàmutkarsikì dharmadesanà.
60-
Sad. P; tr.55 - 57, 60.
61-
Ibid, tr.59: Bahùni samdhàvacanchi coktam durbodhyam etam hi asiksitehi.
62-
Ibid; tr.19, 31, 70.
63-
Sata; tr.121 - 2.
64-
Sad, tr.71.
65-
Nên để ý sự tương phản trong nguyên bản. Tập này nay công
nhận các hàng Thanh văn đầy đủ những đức tánh, chính
những đức tánh này mà các tác phẩm khác đã chỉ trích
các hàng Thanh văn là thiếu sót thua các vị Bồ-tát và không
thể hiểu giáo lý Ðại thừa.
66-
Sad. P; tr.46.
67-
Ibid; tr.124.
68-
Ibid; tr.140.
69-
Ibid; tr.55.
70-
Thí dụ này cũng được nói đến trong tập Lankà, tr.88.
71-
Sad. P; tr.71 - 76.
72-
Liệt kê xem Mvyut.7 - 9.
73-
Sùtra; tr.171.
74-
Trong tập Pug. P; tr.26, danh từ Hìnàdhimutta chỉ cho một người
bất thiện làm các hành vi ác độc và phụng sự cho những
hạng người tương tự. Danh từ trái lại là Panìtadhimutta,
nghĩa là một người có đạo đức làm các thiện sự và
phụng sự cho những người tương tự.
75-
Xem Mvyut; tr.52; Dasa; tr.25.
76-
Sùtra; tr.4.
77-
Cf. Lal. Vis; P.34: àsayao dharmàlokamukham Hìnayàna-sprhanatà-yai
samvartate. Adhyàsayo dharmàlokamukham udàrabuddhadharmà-dyàlambanatàyaisamvartate.
78-
Siksà; tr.17.
79-
Sùtra; tr.52.
80-
Bhàgavata VII, IX, 44
81-
Dh. P; tr.354.
82-
Dìgha, II tr.45.
83-
Dìgha, I tr. 229
84-
Sùtra; tr.4.
85-
Siksa; tr.4: những ai có Adhyàsaya thanh tịnh thực hành các hạnh
Ba-la-mật; những ai thực hành các hạnh Ba-la-mật được an
trú trong Ðại thừa.
86-
Panca; tr.81b.
87-
Tuy vậy có một vài trường hợp rải rác nói rằng các vị
phạm ngũ nghịch vẫn có thể giải thoát. So sánh tập Divyà;
tr.261: kẻ giết cha sẽ không được một vị Tiểu thừa cho
thọ giới nhưng được một vị Tỳ kheo thọ giới Bồ-tát
cho phép thọ giới. Siksa; tr.17-18 nói rằng không một ai phạm
tội ngũ nghịch có thể phát tâm hướng đến Thanh văn giác
hay Ðộc giác.
88-
Xem Kosa, III, d - 94a;
89-
Về các chi tiết xem chương IV.
90-
Sùtra, tr.4.
91-
Sùtra; tr.4 và 168. Sách Sad. P; tr.140.
92-
Sad. P; tr.80.
93-
Dasa; tr.25-26
94-
M. Ava trong tập Le Muséum (N.S) VIII, tr. 252.v.v...
95-
E.R.E. II tr.740
96-
Kosa Vii, 6.
97-
E.R.E. X, tr.152-154.
98-
E.R.E. X, tr.152
99-
Mil; tr.160.
100-
Majjhima III; tr.86.
101-
Pul. P; tr.14 và 73.
102-
So sánh Pug. P; tr.70. Ðoạn này nói rằng Ngài Xá Lợi Phất,
Mục kiền Liên và các vị khác được xem là đã chứng sự
thật từ trước, chưa từng được nghe vàdiệt tận mọi
khổ đau nhờ chứng ngộ chánh pháp.
103-
Xem Samuyutta III; tr.65-66.
104-
Dìgha II; tr.136 và tr.2.
105-
Sùtra; Chương III
106-
Ibid trang 10 v.v...
107-
Xem chú thích của giáo sư Lévy về những chữ này trong bản
dịch Sùtra, tr.26-27 của ông.
108-
Lanka; tr.63-65.
109-
Ba loại này được gọi là Niyata-gotra.
110-
Vàsanà: những dấu vết để lại trong tâm trí bởi các hành
vị thiện hay ác, những hành vi này tạo ra khổ hay lạc.
111-
Pug. P; tr.13; Kosa, III. 44c, tr.137-138.
112-
Majjhima III; tr. 256.
113-
Sata; tr.1263.
114-
Dìgha I, tr.12 v.v... II, tr.251.
115-
Dìgha I, tr.223.
116-
Kàs. P; tr.116 (80).
117-
Cf. Sutra; tr.68.
118-
Lal, Vis; tr.34.
119-
Kàs. P; tr.50 và 115.
120-
Boddhic, tr.18 và 48.
121-
Siksa; tr.54 và 59.
122-
Boddhic; tr.146 -147.
123-
Siksa; tr.17 và 50
124-
Gandavyùha; tr.9d.
125-
Sata; tr.1185 v.v... Kàs. P; tr.50.
126-
Siksa; tr.54.
127-
Sad. P; tr.43.
128-
Ibid; tr.24, 282, 285, 320.
129-
Siksa; tr.54 và 59. Boddhic; tr.146 -147.
130-
Siksa; tr.92. Boddhic; tr.146.
131-
Boddhic; tr.146.
132-
Xem Revue de L’histoire des Religions; 1909; tr.3.
133-
Trong tập Gandavyùba có nói đến Ngài Sudhanu đến yết kiến
rất nhiều vị Thanh văn để học những bổn phận của một
vị Bồ-tát.