CHƯƠNG
BỐN
NHỮNG
GIAI ÐOẠN TRÊN CON ÐƯỜNG TIẾN TRIỂN TÂM LINH
Sự
sai biệt giữa Tiểu thừa và Ðại thừa, như đã được xem,
xoay xung quanh quan điểm đệ nhất nghĩa đế. Theo Tiểu thừa,
đệ nhất nghĩa đế là Pudgala-sùnyatà (Nhân không), còn theo
Ðại thừa, thì cả Pudgalasùnyatà và Dharma-sùnyatà (Pháp không).
Sự sai khác này cũng rất rõ ràng trong những giai đoạn trên
con đường tu hành do hai học phái này vạch ra. Các nhà Tiểu
thừa công nhận có bốn giai đoạn gọi là Sotàpatti (Dự lưu),
Sakadàgàmi (Nhất lai), Anàgàmi (Bất lai) và Arahatta (A-la-hán)
và nêu rõ những quả chứng một người tu hành thành đạt,
khi đi từ giai đoạn này đến giai đoạn khác, và cuối cùng
chứng được toàn tri mà theo các nhà Tiểu thừa giống với
toàn tri của chư Phật. Các nhà Ðại thừa cũng vậy, công
nhận có 10 giai đoạn (theo Bzdohisattvabhùmi, Bồ-tát địa)
trên con đường tiến triển tâm linh, mà một vị Bồ-tát
phải trải qua để giải thoát hoàn toàn và thành Phật.
Vì
các nhà Ðại thừa chủ trương phải quán Dharmasùnyatà mới
giác ngộ hoàn toàn và quán Pudgalasùnyatà sẽ đưa người
tu hành đến những quả chứng cao hơn và cuối cùng chứng
được Pháp không. Vì vậy các nhà Ðại thừa chia những giai
đoạn tu hành của mình thành hai phần. Phần đầu gồm có
sáu địa đưa người tu hành chứng được Nhân không. Phần
thứ hai, gồm bốn địa sau giúp chứng được Bồ đề cứu
cánh tức là Pháp không hay Pháp bình đẳng tánh (Dharmasamatà).
Như vậy, phần đầu thỏa mãn chí nguyện của vị Tiểu thừa
và tương đương với 4 giai đoạn tu hành Tiểu thừa, còn
phần thứ hai vượt ngoài tầm các nhà Tiểu thừa vì các
vị này không chấp nhận Dharmasamatà.
Ðây
là vị trí tương đương giữa Tiểu thừa và Ðại thưa về
những giai đoạn trên con đường tiến triển tâm linh của
hai học phái. Nhưng chúng ta cần thêm vào nhiều đặc tánh
sai biệt khác mà các nhà Ðại thừa nhắc đi nhắc lại nhiều
lần, vì mục đích của các nhà Ðại thừa không phải chỉ
lo hạnh phúc và giải thoát cho mình mà còn phải giúp vô lượng
chúng sanh đau khổ được hạnh phúc và thoát khỏi mọi đau
khổ thế gian dù phải hy sinh thân mạng và công đức tu hành
của mình. Do vậy, khi giải thích chi tiết các quả chứng
cần thiết cho một địa (bhùmi), các tác phẩm nêu rõ những
tiến triển mà một vị Bồ-tát chứng được về Àsaya (khuynh
hướng), Upadesa (Luận nghi), Prayoga (Tạo tác), Upastambha (chỉ
trì), và Kàla (thời gian), cũng như về Àhàra (thực), Linga
(Căn tướng) và Nimitta (tướng) (Bodhisattvabhùmi, tr.2) Nếu
những đặc tướng thêm vào của Ðại thừa về sáu địa
đầu để ra ngoài, thời chúng ta có thể xem sự diễn tả
6 bhùmi đầu chỉ là một hình thức phạm ngữ hóa của những
đoạn văn Pàli nói đến các Thánh quả. Do vậy, Ðại thừa
thiết thực thêm vào chỉ có bốn địa sau, tức là Dùrangamà
(Viễn hành địa), Acalà (Bất động địa), Sàdhumati (Thiện
huệ địa) và Dharmameghà (Pháp vân địa).
Văn
học về vấn đề này
Nói
đến văn học về vấn đề này, văn học Pàli không có tác
phẩm nào đặc biệt nói đến những giai đoạn đưa đến
Thánh quả. Vấn đề được đề cập đến rải rác trong
kinh điển Pàli cũng như trong một vài tác phẩm Sanskrit của
Nhất thế hữu bộ. Ngài Buddhaghosa trình bày những thứ bậc
tu hành trong tập Visuddhimagga. Ngài chia thành ba đoạn, đoạn
thứ nhất nói về Sìla (giới), nhờ giữ giới một cách hoàn
toàn mà chứng được hai giai đoạn Sotàpatti và Sakadàgàmi
(Dự lưu và Nhất lai). Ðoạn thứ hai nói đến Citta (tâm)
hay Samàdhi (Ðịnh), nhờ tu định mà chứng giai đoạn thứ
ba là Ànàgàmi (Bất lai); Ðoạn thứ ba nói đến Pannà (Huệ)
đưa người tu hành chứng được Thánh quả cuối cùng là
A-la-hán quả hay giải thoát hoàn toàn (Vis. M. tr. 6). Vasubandhu
đề cập đến những "giai đoạn" trong tập Abhidharmakosa (VI,
tr.34) và phần lớn như chúng ta sẽ thấy sau, ủng hộ những
đoạn văn của tác phẩm Pàli.
Trong
văn học Ðại thừa, rất ít có tác phẩm đặc biệt nói
đến những thứ bậc tu hành, nhưng có rất nhiều đoạn văn
đề cập một cách ngẫu nhiên những giai đoạn tiến triển
tâm linh trong những tác phẩm phần lớn nói đến những Bhùmi
(Ðịa). Tác phẩm quan hệ nhất và rõ ràng nhất là tập Dasabhùmikàsàstra
(Thập địa kinh luận), một trong chín tác phẩm kinh điển
được Phật giáo Nepal công nhận. Các tác phẩm quan trọng
thứ hai là quyển Bodhisattabhùmi và Madhyamakàvatàra, cả hai
đều theo tập Dasabhùmikàsàstra với một vài sai khác nho nhỏ.
Về những tác phẩm đề cập đến các Bhùmi một cách gián
tiếp, chúng ta nói đến các tập Lankàvatàra, Sùtràlankàra
và những tác phẩm tương tự. Tập Prajnàpàramità (Bách thiên
tụng và Nhị vạn ngũ bách thiên tụng) để một chương hoàn
toàn nói đến các bhùmi nhưng cũng không quên tuyên bố về
phương diện Ðệ nhất nghĩa đế, các Ðịa này cũng không
thật có và chỉ thuộc Tục đế. Tập Nhị vạn ngũ bách
thiên tụng có một đặc tánh riêng. Khi nói đến các phương
pháp tu hành mà một vị Bồ-tát phải tu tập theo Prajnàpàramità
(Bát nhã Ba-la-mật), có đề cập đến nhiều quả chứng bằng
cách dùng nhiều danh từ phổ thông giữa các nhà Tiểu thừa
như Kulankula (Hữu thượng phẩm), Ekavìcika (Ðoạn nhất quan),
Sotàpanna (Dự lưu).
Tập
Satasàhasrikà (Bách thiên tụng) nói đến một danh sách mười
Ðịa tiểu thừa, không thấy dùng trong các tác phẩm Pàli.
Các địa ấy như sau: Suklavipasyanà hay vidarsanà bhùmi (Càn
huệ địa), Gotrabhùmi (Tánh địa), Astamakabhùmi (Bát nhân địa),
Darsanabhùmi (Kiến địa), Tanubhùmi (Bạc địa), Vìtaràgabhùmi
(Ly dục địa); Krtàvìbhùmi (Dĩ biện địa). Pratyekabuddhabhùmi
(Chi phật địa), Bodhisattvabhùmi (Bồ-tát địa) và Buddhabhùmi
(Phật địa). Những danh từ nêu rõ những thứ bậc chứng
đạt được. Hai địa đầu nói đến Tiền dự lưu. Ðịa
thứ ba, thứ tư nói đến Dự lưu đạo và Dự lưu quả, nghĩa
là khi người tu hành còn trong Darsanamàrga (Kiến đạo vị).
Ðịa thứ năm nói đến Sakadàgàmi (Nhất lai), trong ấy ràga,
dvesa và moha (tham, sân, si) được giảm thiểu tối đa (tanutva).
Ðịa thứ sáu nói đến Bất lai, khi ba phiền não trên được
trừ diệt hoàn toàn. Ðịa thứ bảy nói đến giai đoạn A-la-hán,
khi người tu hành đã làm những gì phải làm, do vậy một
vị A-la-hán còn được xem là vị đã làm những việc phải
làm (Sở tác dĩ biện: Krta Krtya). Ðịa thứ 8, thứ 9 và thứ
10, nghĩa đã tự rõ không cần phải giải thích.
Chúng
ta cần phải để ý, các địa trong các tập Bát nhã Ba-la-mật
giản dị hơn tập Dasabhùmikasùtra và rất có thể đại diện
cho một giai đoạn trong lịch trình tiến hóa của quan niệm
Bhùmi, đứng giữa tập Mahàvastu và Dasabhùmikasùtra. Ðoạn
văn nói về Bhùmi trong tập Mahàvastu hình như là sớm nhất,
các tên được dùng chưa được mọi người chấp thuận.
Từ những danh từ được trong tập Bodhisattavabhùmi, hình như
các tác giả viết về Bhùmi xem tập này như là một biệt
tài văn chương đã tạo ra những danh từ nêu rõ những đặc
tánh một vị Bồ-tát đã chứng được trong một giai đoạn
đặc biệt. Ðoạn văn diễn tả các địa trong tập Mahàvastu
rất sơ lược và không chứa những chi tiết quan hệ và cần
thiết theo quan điểm Ðại thừa. Trái lại, tập này có đề
cập đến những giới cấm luật tạng mà một vị Bồ-tát
cần phải gìn giữ, nếu không thì không thể tiến bộ và
đưa đến sa đọa vào giai đoạn thấp kém hơn. Trong những
đoạn nói đến ba địa đầu có tìm thấy một vài dấu tích
diễn tả trong tập Dasabhùmikasùtra, nhưng trong bảy địa kế
tiếp, nhất là trong bốn địa sau, thật không có gì đặc
biệt trừ những tên các đức Phật và các vị Bồ-tát đã
chứng ngộ các thứ bậc ấy. Như vậy rõ ràng tác giả Mahàvastu
còn có một quan niệm rất mơ hồ về bhùmi, vị này muốn
điền vào các khoảng trống những đời sống ly kỳ của
các vị Bồ-tát và những tên tưởng tượng của các đức
Phật.
Ðể
tiện so sánh giữa các giai đoạn Tiểu thừa và Ðại thừa,
chúng ta sẽ theo tập Dasabhùmikasùtra, và nêu rõ trong nhiều
chỗ, những đoạn dị đồng với tập Bokhisattvàbhùmi và
Madhymakàvatàra, và chú thích thêm những đoạn văn ở tập
Mahàvastu và Prajnàpàramità. Trong những giai đoạn Tiểu thừa,
chúng ta dựa vào những danh từ Pàli và bổ túc vào nếu cần
thiết với những đoạn trong tập Kosa.
NHỮNG
GIAI ÐOẠN TIỀN BHÙMI
Tiền
Bồ-tát hay tiền Dự lưu vị
(Prthagjana
đến Àrya = Phàm phu vị đến Thánh vị)
Bổn
phận khó khăn nhất của một người tu hành Tiểu thừa và
Ðại thừa là sự thành tựu những điều kiện để đi từ
địa vị Prthagjana (phàm phu) đến địa vị một Àrya (bậc
Thánh). Các vị Ðại thừa đòi hỏi phải phát Bodhicitta (Bồ
đề tâm), trước khi được phép bắt đầu thực hành các
Bhùmi, còn các nhà Tiểu thừa chủ trương phải hiểu Tứ
đế và tin tưởng vào giáo lý đức Phật. Nói một cách khác,
cần phải thành tựu 15 Sát-na của Darsanamàrga (Kiến đạo)
để có thể nhập theo giòng suối hướng đến Thánh quả
tức là Bát chánh đạo.
Về
giai đoạn tiền Bồ-tát vị, chúng ta không gặp trong tập
Bát nhã Ba-la-mật hay các tác phẩm Ðại thừa khác, một ý
kiến tổng quát nói rằng một chúng sanh đã làm nhiều thiện
nghiệp (avaropitakusalamùla), hầu hạ nhiều đức Phật quá
khứ (pùrvajinakrtàdhikàra), và có nhiều kalyànamitras (Thiện
hữu tri thức) thời thế nào cũng chứng Bồ đề. Hơi sai
khác một chút, tập Sùtràlankàra nói rằng một chúng sanh
phát Adhimukti (tín, nguyện) trải qua nhiều kiếp, làm rất
nhiều công đức tràn đầy như nước biển đại dương, đã
được thanh tịnh nhờ giữ Bồ-tát giới, trở thanh đa văn
nhờ học các Sàstra (luận), khiến cho tâm nhu nhuyến và uyển
chuyển, một chúng sanh như vậy có quyền tinh tấn tu bhàvana
(thiền quán) và thọ hưởng lợi ích những lời dạy của
đức Phật.
Adhimukticaryàbhùmi:
Niệm hành địa
Chính
trong tập Madhyamakavatàra mà chúng ta tìm thấy một giai đoạn
tiền Bồ-tát gọi là Adhimukticaryàbhùmi được đề cập đến.
Tập Madhyamakàvatàra trích dẫn kinh Ratnameghasùtra nói rằng
địa của một vị Bồ-tát tương lai được đặt trước
Bhùmi thứ nhất và gồm rất nhiều adhimukti (phát nguyện).
Vị ấy là Bồ-tát tương lai vì chưa phát Bồ đề tâm. Cho
nên vị này đuợc xem là ở trong Adhimukticaryàbhùmi (Niệm
hành địa), nghĩa là nguyện thành Phật nhờ theo giáo lý Ðại
thừa. Sau khi nghe thuyết pháp hay những lời tán thán và diễn
tả những uy lục của một đức Phật, vị này thoáng qua
phát nguyện thành Phật. Trừ phi và khi nào lời nguyện này
an trú vĩnh viễn trong nội tâm, vị này chưa có thể xem là
có Bồ đề tâm và trở thành một vị Thánh, một vị Bồ-tát.
Tập
Bodhisattvabhùmi laị càng nói rõ hơn về tiền Bồ-tát địa
này; danh từ chuyên môn được dùng là Prakrticaryà (Bổn tánh
hành), giai đoạn này được chia làm hai, Gotravihàra (Tánh trú)
và Adhimukticaryàvihàra (Niệm hành trú). Hai giai đoạn này không
thể gọi là Bhùmi (Ðịa). Vì vậy tập Dasabhùmi kasùtra và
các tập khác bàn về địa không nói đến hai giai đoạn này
trong danh sách Bhùmi của chúng. Chúng nói đến các đặc tánh
cần thiết trong giai đoạn tiền Bồ-tát nhưng không gọi hai
giai đoạn này là tiền Bhùmi như tập Bodhisatvtabhùmi.
Sotravihàra
(Tánh trú) được tả như sau trong tập Bodhisativabhùmi: một
người được gọi là gotra stha, nghĩa là tự tánh thuộc về
một quý tộc chúng sanh, đầy đủ đức tánh mục đích cao
đẹp và thiện phát của một vị Bồ-tát. Các đức tánh
được biểu hiện ngay qua cử chỉ hồn nhiên của vị này.
Vị này bắt đầu làm những hạnh lành một cách tự nhiên,
không cần ai khuyên nhủ, một cách khá sáng suốt và với
lòng từ ái. Vị này đầy đủ chủng tử về Buddhadharma (Phật
pháp) và không thể làm điều ác, chứ không nói đến các
vô gián tội (ànantanya). Sotravihàra làm căn nhân (hetumàtra)
cho 11 vihàra khác, giúp người tu hành tinh tấn để đạt các
bhùmi khác nhưng không thể đưa xa hơn nữa.
Adhimukticaryàvihàra
là tên ghi cho những sự cố gắng đầu tiên của một vị
Bồ-tát để phát Bồ đề tâm. Tại địa này, vị Bồ-tát
mới thật sự bắt đầu đi trên con đường tới Tathàgatavihàra
(Như lai trú), còn trong gotravihàra thì chỉ mới sơ phát tâm
mà thôi. Khi làm xong bổn phận của Adhimukticaryà, vị này
được xem là đã làm xong những bổn phận chuẩn bị cho Ðịa
thứ nhất là Pramudità (Hoan kỷ địa). Trong Adhimukticaryàvihàra,
một Bồ-tát thực hành Bhàvanà (Tu chỉ quán) một cách có
giới hạn và không thể gìn giữ những gì tu chứng được.
Vị này chỉ cố gắng để tu Nirnimitta-bhàvanà (Vô tướng
quán tưởng). Vị này chứng được Pratisankhyànabala (Trạch
lực) và cố gắng làm bổn phận một vị Bồ-tát với Pratisam-khyàna-prajnà
(Trạch huệ), chứ không phải với Tanmàyatà (thể nhập).
Chưa có Bodhisattvabhàvanà (Bồ-tát quán tưởng), khiến cho
an trú và bất thối, chưa vượt khỏi năm sự sợ hãi về
mạng sống, phỉ báng, chết, ác thú và đại chúng chỉ trích.
Với Pratisamkhyà (Trạch lực), vị này cố gắng làm thiện
sự cho các loài hữu tình, chứ không phải do lòng từ bi hồn
nhiên. Ðôi khi, vị này giải thích một cách sai lạc, làm
những hạnh không được thích nghi và quá chú tâm về các
món cúng dường. Vị này có thể có lòng tin (sraddhà) nhưng
không có trí huệ nội tâm, có srutamayì và cintàmyì prajnà
(Văn huệ và Tư huệ) một cách có giới hạn, nhưng nhiều
khi cũng lệch lạc. Vị này theo Bồ-tát đạo hết sức khó
khăn, với độn huệ (dhandha-abhijnà) và không phát tâm Bồ
đề một cách mạnh mẽ. Ðôi khi, vị này quên những chánh
phương tiện để tu hành và quên cả lời Phật dạy. Nhiều
lúc, vị này thuyết pháp một cách cẩu thả và không được
kết quả như ý muốn. Nhiều khi, vị này quên hướng tâm
về Bồ đề và mất hết tinh tấn giữ Bồ-tát giới và phụng
sự chúng sanh. Thỉnh thoảng, chỉ biết tìm hạnh phúc cho
mình, dù cho sau khi suy tư, cũng lại tìm hạnh phúc cho kẻ
khác. Nhiều lần tự nhận thấy khuyết điểm của mình nhưng
thiếu nghị lực để cải tiến. Vị này ưa giảng dạy Bồ-tát
pháp nhưng nhiều khi phát sợ hãi trước trách nhiệm vô lượng
vô biên của chúng. Vị này không đầy đủ tất cả Bodhipaksika-dharma
(Pháp trợ đạo). Ðó là những đặc tánh khiến chúng ta có
thể phân biệt những ai đã vào được trong Adhimukticaryàbhùmi
(Niệm hành địa).
Ý
chính trong giai đoạn chuẩn bị này là sự hiện diện của
những chúng sanh có đầy đủ những Kusalamùlas (thiện căn)
để có thể thành Phật. Những chúng sanh này được gọi
là gotrasthà. Cũng như những người con vua khác người con
thường dân vì những đặc tánh, cử chỉ và sở nguyện của
mình, cũng vậy những chúng sanh nào có Phật chủng sẽ được
biết nhờ những bản tánh cao thượng đặc biệt của mình.
Tập
Dasbhùmikasùtra (tr.11) cho chúng ta nhiều chi tiết về giai đoạn
tiền Bồ-tát có khác nhiều với tập Bodhisattvabhùmi. Một
vài chi tiết ấy như sau: Các vị ấy phát Bồ đề tâm; sau
khi chất chứa nhiều công đức, thực hành những hạnh đã
được quy định, kính lễ nhiều đức Phật, đầy đủ những
đại nguyện thanh tịnh và cao thượng, và luôn luôn duy trì
tâm niệm từ bi. Các vị này luôn luôn chứng được Phật
trí, mười lực, bốn vô số úy (Vàisàradyas), chứng được
bình đẳng tánh của mọi pháp, cứu tất cả chúng sanh thoát
khỏi khổ đau, chứng đạt mọi loại trí tuệ và làm cho
trong sạch các Buddhaksetra(Phật sát).
Những
đoạn trích dẫn này diễn tả tâm niệm phân vân của một
người muốn phát Bồ đề tâm. Chính do sự phát Bồ đề
tâm mà một người thoát khỏi phàm phu tánh và trở thành
bậc Thánh trên giòng sông hướng đến giải thoát. Bodhicitta
(Bồ đề tâm) tóm lại là lời tâm nguyện của một chúng
sanh muốn trở thành Phật và chứng được mọi đức tánh
và nguyện lực của một đức Phật. Tập Bodhicaryàvatàra
chia Bồ đề tâm thành hai phần, Bodhipranidhicitta (Bồ đề
nguyện tâm) và Bodhiprasthànacitta (Bồ đề trú tâm) (?). Tâm
đầu chỉ là một tâm nguyện muốn thành Phật cứu khổ chúng
sanh, nhưng không nghĩ đến một cách chín chắn những hy sinh
cao cả và những đức tánh cần thiết khác. Tâm thứ hai thuộc
về đại nguyện gìn giữ Bồ-tát giới và cố gắng tạo
nhiều thiện quả. Tâm đầu có thể so sánh với một bộ
hành nghĩ đến việc đi sang một nước khác, còn tâm thứ
hai ví như một bộ hành đã bắt đầu lên đường để đi
đến mục tiêu của mình. Khi nào một ai phát Bồ đề tâm,
người ấy có quyền làm những bổn phận thuộc về Bhùmi
(Ðịa) thứ nhất.
Quan
niệm Tiểu thừa về giai đoạn tiền Dự lưu
Chúng
ta tìm thấy trong những tác phẩm Tiểu thừa một sự diễn
tả tỉ mỉ về những đức tánh cần thiết để chuyển từ
phàm phu vị qua Thánh vị. Như những lời tuyên bố đại cương
trong tập Prajnàpàramità về những thiện căn quá khứ củ
các vị Bồ-tát, chúng ta tìm thấy trong các tác phẩm Pàli
nhiều đoạn về công đức quá khứ của một người muốn
xuất gia hay tinh tấn tu hành. Phần nhiều, những đoạn này
được đề cập đến trong những đoạn khi đức Phật giáo
hóa chúng sanh, khi Ngài tìm hiểu thiện căn của những vị
nào mà Ngài muốn hóa độ. Ðoạn thường nói đến như sau:
"Satthàpaccusakàle lokam volokento imassa kulaputtassa upabissayam addasa
(đức Thế Tôn, buổi sáng sớm, nhìn xung quanh thế giới và
thấy thiện căn của người ấy). Câu này nghìa là sự ích
lợi thiết thực của bài thuyết pháp không phải ai cũng thọ
hưởng được. Chỉ có những ai mà thiện nghiệp đưa họ
lên một giai tầng khá cao mới có thể hưởng được những
lợi ích của các bài thuyết pháp. Có rất nhiều trường
hợp trong các tác phẩm Pàli, nói đến những thiện căn cần
phải có trước mới khiến một người chứng được Dự
lưu sau khi chỉ nghe một bài thuyết pháp. Cũng có những chúng
sanh trở thành Nhất lai, Bất lai, A-la-hán hay Ðộc giác vì
những thiện nghiệp chất chứa đời trước. Hàm ý trong những
trường hợp này là những vị này trong đời quá khứ đã
từ trần, sau khi chứng được quả Thánh hay những đức tánh
tương đương, đã xảy ra trước những quả chứng được
trong đời này. Các nhà Tiểu thừa chủ trương rằng một
Puthujjana (phàm phu) phải có một số thiện căn trước khi
mong được thành một bậc Thánh (àrya), ví dụ như Srotà-panna
(Dự lưu).
Một
Puthujjana được định nghĩa trong tập Majjhima Nikàya như một
vị còn bị mê lầm chi phối, tưởng rằng có "Ngã" và "Ngã
sở", và nghĩ rằng mình có rùpa (sắc), vedanà (thọ) v.v...
Vì không biết chánh pháp, người này khỏi tham ái đối với
sự vật cần phải xa tránh và do vậy tạo ra vàtăng trưởng
các àsavas (lậu hoặc) về Kàma (Dục), Bhava (Hữu) và Avijjà
(Vô minh) (tr.7, 239). Tập Puggala pannatti (tr.12) chỉ nói một
phàm phu là một người chưa trừ được ba samyojana (kiết
sử) hay không cố gắng trừ chúng. Tập Patisambhidàmagga (I,
tr.63, 64, 94) nói rằng các puthujjana đang cố gắng trở thành
bậc Thánh, muốn thản nhiên đối với các Sankhàrà (Hành)
bằng cách xem chúng là vô thường, khổ và vô ngã, nhưng sự
thản nhiên này không được lâu dài trong tâm trí và nhiều
khi trở thành khó chịu cho các vị ấy.
Giai
đoạn thứ hai của Puthujjana là Gotrabhù (chuyển tánh), nhiều
khi tương đương với gotravihàra của tập Bodhisattvabhùmi.
Gotrabhù đaiï diện cho giai đoạn cuối cùng của một puthujjana,
vì một người trở thành gotrabhù khi vị này xứng đáng bắt
đầu làm những bổn phận để trở thành vị Thánh. Tập
Patisambhidàmagga (K, tr.66-8) xem Gotrabhù không những là một
giai đoạn tiền Dự lưu mà còn chỉ cho một hạng người
đang hướng đến A-la-hán quả và có thể đã chứng được
một trong tám Magga và Phala (Ðạo và quả). Cũng vậy tập
Abhidhamatthasangaha (Comp. of Phi, tr.67-71) đặt giai đoạn Gotrabhù
sau Patipadànànadassanavisuddhi (hành tri kiến thanh tịnh) và Vutthànagà-
minivipassanànànam (khởi xuất chỉ quán trí) và xem Gotrabhù
thành một bậc Thánh nghĩa là một Sotàpattimaggattha. Trong hai
tác phẩm kể sau cùng, Gotrabhù chỉ cho những người trên
con đường chứng được A-la-hán quả và như vậy là chứng
được một trong ba vị Dự lưu, Nhất lai, Bất lai. Tuy vậy
tập Anguttara Nikàya (IV, 378) và Puggalapannatti (tr.14) không xem
Gotrabhù là bậc Thánh và như vậy xem Gotrabhù là một giai
đoạn tiền Dự lưu.
Những
vị ở giữa Gotrabhù và Sotàpanna (nghĩa là Sotà-pattiphalapatipanna:
Dự lưu quả hướng) được chia làm hai hạng gọi là Saddhànusàrì
(Tùy tín hành) và Dhammànusàrì (Tùy pháp hành). Cả hai vẫn
còn thực hành Darsanamàrga (kiến đạo). Theo tập Kosa, hạng
đầu thuộc về độn căn, hạng thứ hai thuộc về lợi căn.
Tùy tín hành là những vị theo chánh pháp, do lòng tin vị đạo
sư hướng dẫn hay nói một cách khác, các vị này tu các niệm
xứ v.v, và cố gắng chứng Tuệ, nhờ có người khác dắt
dẫn, khuyên bảo. Còn các vị Tùy pháp hành là những vị
tự tu các pháp Trợ đạo nhờ học hỏi kinh điển (dvàdasàngà
= 12 bộ kinh). Tập Pugglapannatti chỉ nói trong những vị tu
hành để chứng quả Dự lưu, những vị nào có Tín căn thù
thắng thì gọi là Tùy tín hành; những vị nào có Tuệ căn
thù thắng thì gọi là Tùy pháp hành. Hạng thứ nhất, khi
chứng được quả Dự lưu, được gọi là Saddhàvimutta (Tín
giải thoát) và hạng thứ hai được gọi Ditthippatta (Kiến
đắc nhân). Sự sai khác độc nhất giữa hai hạng này là
hạng đầu trừ diệt được một vài àsava (lậu hoặc) nhưng
không nhiều bằng hạng thứ hai. Vì rằng, trên con đường
tiến tới Niết bàn, có:
I)
hai Dhuras (hành, trách nhiệm): - Saddhà (Tín) và Pannà (Huệ),
II)
hai Abhinivesa (Chấp trì): - Samatha (chỉ) và Vipassannà (Quán),
và
III)
hai Sìsas (đầu): - Ubhatobhàgavimutta (Câu phần giải thoát)
và Pannàvimutta (Huệ giải thoát).
Những
vị thực hành theo Pannàdhura và Samathàbhinivesa được gọi
là Dhammanusàr trong giai đoạn Dự lưu đạo (Sotàpattimagga),
Kàyasakkhì (Thân chứng nhân) trong sáu giai đoạn kế tiếp
và Ubhatobhàgavimutta trong giai đoạn A-la-hán; những vị thực
hành theo Pannadhura nhưng trừ Vipassanàbhinivesa được gọi là
Dhammànusàri trong giai đoạn Dự lưu đạo, Ditthippatta trong
6 giai đoạn kế tiếp và Pannàvimutta trong giai đoạn A-la-hán;
những vị thực hành theo Saddhàdhura và Samathàbhinivesa được
gọi là Saddhànusàrì trong giai đoạn Dự lưu đạo; Kàyasakkhì
trong sáu giai đoạn kế tiếp, và Ubhatobhàgavimutta trong giai
đoạn A-la-hán; những vị thực hành theo Saddhàdhura, trừ Vipassanàbhinivesa,
được gọi là Saddhànusàrì trong giai đoạn Dự lưu đạo,
Saddhàvimutta trong sáu giai đoạn kế tiếp và Pannàvimutta trong
giai đoạn A-la-hán.
Những
vị được gọi là Tùy tín hành hay Tùy pháp hành đạt giai
đoạn thứ hai của Thánh đạo được gọi là Sotàpattiphala
(Dự lưu quả), và cũng gọi là Sattakkhattuparama (Cực thất
phản sanh). Cũng được nói đến những đặc tánh cần phải
có để trở thành một vị Dự lưu. Trong tập Samyuttanikàya,
Ngài Xá Lợi Phất hỏi Ngài A Nan: "Bao nhiêu pháp cần phải
bỏ đi và bao nhiêu pháp cần phải chứng đạt để trở thành
một Sotàpanno avinipàtadhammo viyato sambodhiparàyano (một vị
Dự lưu không còn thối đọa và nhất định chứng được
Thắng tuệ)". Ngài A Nan trả lời cần phải vững tin Tam bảo,
đầy đủ các giới luật được các bậc có trí tán thán
và ưa thích. Những đặc tánh ấy gọi là Sotàpatiyangas (Dự
lưu chi). Một người có được bốn Dự lưu chi (Sappurisasamsavà=Thiện
sĩ thân cận, Saddhammasavanam=Chánh pháp thính văn, Yoniso manasikàro=Như
lý tác ý, Dhammànudhammapatipatti=Pháp tùy pháp hành) sẽ thoát
khỏi năm ác nghiệp là sát sanh, thâu đạo, tà dâm, nói láo
và uống rượu. Tập Samyutta Nikàya cũng nói khi một Ariyasàvaka
(Thánh đệ tử) biết được vị ngọt, sự nguy hiểm và con
đường thoát khỏi các căn (indriya), nghĩa là lạc, khổ, hỷ,
ưu và xả, vị ấy thành một Dự lưu. Trong một bài kinh liên
hệ đến Anàthapindika (Cấp cô độc) bị đau bệnh, có nói
rằng một phàm phu cũng phải cố gắng thực hành Bát chánh
đạo cộng thêm Sammànàna (Chánh trí) và Sammàvimutti (Chánh
giải thoát), kể cả 4 Dự lưu chi.
Sự
thật, các Dự lưu chi chỉ là giai đoạn chuẩn bị dù rất
cần thiết, để thật sự bắt đầu những hạnh đưa đến
Dự lưu quả. Các bổn phận phải làm sau các Dự lưu chi là
cần tăng trưởng pìti (hỷ), pàmojja (hoan duyệt), passaddhi
(khinh an), samàdhi (định) và sự thực hành sáu vijjà (hay nibbedha)
- bhàgiyadhammà (minh phần pháp), tức là quán niệm (anupassanà)
về:
I)
tánh vô thường của pháp hữu vi,
II)
khổ vì tánh vô thường,
III)
vô ngã của sự vật,
IV)
đoạn,
V)
vô tham, và
VI)
diệt (nirodha).
Các
tập Nikàyas không đi sâu vào chi tiết về sự cố gắng của
người tu hành trong giai đoạn Dự lưu để hiểu tánh vô thường,
khổ và vô ngã hay bốn Thánh đế. Trong tập Dìghanikàya, chỉ
nói một cách sơ lược có bốn trí về Khổ, Tập, Diệt và
Ðạo. Tập Patisambhidàmagga có giải thích bốn Trí này và
nói một người: "biết tìm tòi, nghiên cứu, hiểu rõ, phân
tích v.v... cả bốn sự thật này mới được xem là hiểu
hết bốn sự thật. Vấn đề này được tập Kosa đặc biệt
nghiên cứu và có thể tóm tắt ở đây. Có hai Màrgas (Ðạo
), Darsana (Kiến) và Bhàvanà (Tu). Tu đạo bắt đầu với giai
đoạn cuối cùng của kiến đạo. Kiến đạo có đến 16 Ksana
(sát-na) biết sự thật, phân ra như sau:
1)
Duhkhe dharmajnànaksànti (Khổ pháp trí nhẫn)
2)
Samudaye (Tập pháp trí nhẫn)
3)
Nirodhe (Diệt pháp trí nhẫn)
4)
Màrge (Ðạo pháp trí nhẫn)
(Do
tín mới biết sự vật ở Dục giới là đầy Dukkha, bị Samudaya
và Nirodha chi phối, và cũng có con đường Màrga đưa đến
sanh và diệt của sự vật).
5)
Duhkhe dharmajnàna (Khổ pháp trí)
6)
Samudaye (Tập pháp trí)
7)
Nirodhe (Diệt pháp trí)
8)
Màrge (Ðạo pháp trí)
(Thật
sự đã chứng được sự vật ở Dục giới là đầy Dukkha,
bị Samudaya và Nirodha chi phối, và cũng có con đường Màrga
đưa đến sanh và diệt của sự vật).
9)
Duh khe anvayajnàna ksànti (Khổ loại trí nhẫn)
10)
Samudaye (Tập loại trí nhẫn)
11)
Nirodhe (Diệt loại trí nhẫn)
12)
Màrge (Ðạo loại trí nhẫn)
(Do
trí mới biết sự vật ở Sắc giới và Vô sắc giới là
đầy Dukkha, bị Samudaya và Nirodha chi phối, và có con đường
Màrga đưa đến sanh và diệt của sự vật).
13)
Duhkhe anvayajnàna (Khổ loại trí)
14)
Samudaye (Diệt loại trí)
15)
Nirodhe (Diệt loại trí)
16)
Màrge (Ðạo loại trí)
(Thật
sự đã chứng được sự vật ở Sắc giới và Vô sắc giới
là đầy Dukkha, bị Samudaya và Nirodha chi phối, và cũng có
con đường Màrga đưa đến sanh và diệt của sự vật).
Tập
Kathàvatthu nêu rõ những giai đoạn tiến triển tương tự
của một Srotàpattiphala-pratipannaka trong khi vị này đang ở
trong Darsanamàrga (Kiến đạo):
Nhờ
Dukkhadassana, vị này bỏ một phần nào, chưa được hoàn toàn,
thân kiến, nghi và giới cấm thủ và những phiền não liên
hệ.
Nhờ
Samudayadassana, vị này hoàn toàn bỏ thân kiến, nhưng nghi và
giới cấm thủ và các phiền não liên hệ chưa được bỏ
hoàn toàn.
Nhờ
Nirodhadassana, vị này hoàn toàn bỏ nghi nhưng chưa bỏ hoàn
toàn giới cấm thủ và các phiền não liên hệ.
Cả
ba giai đoạn trên, vị này chưa thật là một vị Dự lưu
hay Sattakhattuparama (Cực thất phản sanh) hay Kolankula (Gia gia)
hay Ekabìgi (Nhất chủng).
Nhờ
Maggadassana, vị này hoàn toàn bỏ giới cấm thủ và một phần
nào các phiền não.
(Nay
vị ấy là Dự lưu).
Tập
Kosa cho chúng ta biết, một vị tu hành, trên con đường tiến
triển theo các Ksana này được gọi là Sraddhànusàrì (Tùy
tín hành), Dharmànusàri (Tùy pháp hành) hay Srotàpattiphalapratipannaka
(Nhập Dự lưu quả hướng) cho đến Sát-na thứ 15. Trong Sát-na
thứ 16, vị này được xem là đã an trú vào (sthita) trong Dự
lưu quả và như vậy được xem là đã chứng được Catuhsatyàbhisamaya
(Tứ đế hiện quán). Sự chứng quả này, hay một cách khác,
sự thành tựu Darsanamàrga (Kiến đạo) khiến người tu hành
thoát khỏi phiền não Avastuka (tức là Thân kiến v.v...) và
trở thành một vị Thánh (Àrya), nghĩa là một người có khả
năng trôi theo giòng Thánh vị Bát chánh đạo. Vị ấy không
còn gọi là Tùy tín hành hay Tùy pháp hành, và được gọi
là một vị Dự lưu.
Tiền
Thánh vị, sự thật, định đoạt con đường tu hành về sau.
Nếu chỉ mong moksa (giải thoát) và Niết bàn và chất chứa
các thiện căn không cao thượng lắm như các nhà Tiểu thừa
đã làm, người tu hành là một Sravaka (Thanh văn). Nếu tha
thiết chứng được Phật quả để cứu độ thế giới, nghĩa
là phát Bồ đề tâm và chất chứa thiện căn của một vị
xuất chúng, người tu hành ấy được gọi là một Bodhisattva
(Bồ-tát).