LỜI DỊCH
GIẢ
Tôi
dịch tập "Aspects of Mahàyana Buddhism and its relation to Hìnayàna
Buddhism" với mục đích rất khiêm tốn là giúp tài liệu học
tập cho sinh viên Phật khoa Vạn Hạnh. Vừa dạy, vừa dịch,
kéo dài trong một thời gian hơn một năm. Vừa dịch vừa in,
nhiều khi bị chức vụ đa đoan của Viện Trưởng làm gián
đoạn, đến khi gần xong, xem lại, tôi muốn bản dịch và
bản in đó phải dịch lại và in lại cho hoàn hảo hơn. Nhưng
vì Viện nghèo, tiếc tiền tiếc công nên tôi phải cho in cho
xong và cho xuất bản với một vài lời cáo lỗi.
Tôi
cáo lỗi vì dịch không được trọn vẹn. Phần bị chú rất
quan hệ trong tập sách này, tôi chỉ dịch một phần nhỏ,
vì sinh viên Phật khoa chưa cần đến, và nếu có dịch cũng
in không được vì quá nhiều chữ Sanskrit và Pàli. Các vị
nào có cần khảo cứu đầy đủ, xin mời đến thư viện
Vạn Hạnh xem. Tôi bỏ chương chót về giới luật Ðại thừa,
không dịch, vì nghĩ ở Việt Nam giới luật Ðại thừa khá
phổ thông và cũng dễ tìm hiểu.
Lời
cáo lỗi thứ hai là không cho in bị chú dưới mỗi trang sách
mà cho in sau mỗi chương, và in không dùng chữ xiên lại in
một thứ chữ với các trang chính. Do vậy các độc giả khó
phân biệt phần nào là bị chú, phần nào là trang chính. Lỗi
lớn vì tại nhà in thiếu chữ, nhất là chữ Sanskrit và Pàli.
Mong các độc giả chịu khó phân biệt.
Lời
cáo lỗi thứ ba là cáo lỗi với tác giả mà tôi quen biết
rất nhiều khi ở Ấn Ðộ, vì bản dịch này không phản ảnh
trung thực giá trị của tác phẩm. Tác giả không những uyên
thâm về Sanskrit và Pàli, lại được hướng dẫn bởi những
nhà học giả trứ danh Pháp, nên trình bày tập sách rất khoa
học và khúc chiết, và tài liệu vừa dồi dào vừa chính
xác, thật là một công trình khảo cứu hy hữu.
Giá
trị của tập sách này là diễn đạt được tiến trình lịch
sử tư tưởng Phật giáo qua ba giai đoạn: Phật giáo nguyên
thủy, Phật giáo các bộ phái, và Phật giáo Ðại thừa. Tiến
trình này của tư tưởng Phật giáo là một tiến trình liên
tục, không có gián đoạn, tuần tự nhi tiến chứ không có
đột ngột. Tác giả đã thật sự thành công khi trình bày
tiến trình các qua điểm về các vấn đề Ba thân, Niết bàn,
Tứ đế, các vị trí tu chứng, ngang qua các phái Thượng tọa
bộ, Nhất thế hữu bộ, Ðại thừa giáo khi mới hưng khởi,
các nhà Duy thức và các vị Hậu Ðại thừa. Ðoạn truy nguyên
các tác phẩm Bát nhã Ba-la-mật, truy nguyên nguồn gốc và
địa điểm phát khởi Ðại thừa giáo đáng được chúng
ta đặc biệt chú ý, vì tài liệu thật chính xác và khá phong
phú. Tác giả đã nối liền lại hai giòng tư tưởng Tiểu
thừa và Ðại thừa, và giúp chúng ta tìm được sự liên
tục giữa hai giòng tư tưởng nhiều khi mâu thuẫn và chống
đối.
Ðọc
kỹ tiến trình tư tưởng Phật giáo, chúng ta sẽ thấy các
luận sư không vị nào là không muốn diễn đạt cho thật
sự trung thành giáo nghĩa nguyên thủy của đức Từ Phụ.
Dầu cho sự diễn đạt đặt dưới nhiều quan điểm và khía
cạnh sai khác, lồng vào những bối cảnh có thể nói là mâu
thuẫn, nhưng chúng ta vẫn nhận thấy những sóng ngầm đồng
nhất, thật sự nguyên thủy trong sự cố gắng trung thành
của các nhà luận sư. Cho nên quan điểm của một số học
giả Pàli cho rằng những gì ngoài ba Tạng Pàli là ngụy tạo,
vừa nguy hiểm, vừa nông nổi nếu không phải là lạc hậu.
Nguy hiểm vì tự mình phủ nhận những cố gắng trung thành
với đạo Phật nguyên thủy của các nhà luận sư, như chúng
ta đã thấy quá rõ ràng trong tập sách này. Nguy hiểm hơn
nữa là chúng ta phủ nhận luôn những tinh hoa đạo Phật nguyên
thủy do chính các nhà luận sư khai thác và diễn đạt. Nông
nổi và lạc hậu, vì ngày nay các nhà học giả Phật giáo
phần lớn đều chấp nhận một số tư tưởng Ðại thừa
là những tư tưởng của đạo Phật nguyên thủy và xác nhận
chính trong tam tạng Pàli, được kiết tập trong một thời
gian một vài thế kỷ, lẽ dĩ nhiên phải có những đoạn
phi nguyên thủy xen kẽ vào. Nếu có nhà học giả nào chịu
khó so sánh bốn tập A Hàm (Trung Hoa) với các tập Pàli Nikàya
tương đương, các vị ấy sẽ thấy có nhiều đoạn văn A
Hàm Trung Hoa lại nguyên thủy hơn các đoạn văn Pàli.
Thái
độ của một số Phật tử Ðại thừa ngược lại xem những
gì Tiểu thừa là thiển cận, nhỏ hẹp, không đáng học hỏi
cũng là một thái độ nguy hiểm, nông nổi, nếu không phải
là ngây thơ, phản trí thức. Nguy hiểm vì tự nhiên phủ nhận
ba tạng Pàli, bốn bộ A Hàm và các luật tạng, những tinh
hoa tốt đẹp nhất và nguyên thủy nhất của lời Phật dạy.
Và làm vậy chúng ta mắc mưu các nhà Bà-la-môn giáo đã khôn
khéo loại bỏ ra ngoài Phật giáo những tinh ba của lời Phật
dạy, bằng cách gán cho danh từ "Tiểu thừa". Nông nổi và
ngây thơ, vì thật sự danh từ Tiểu thừa và Ðại thừa không
được tìm trong ba tạng Pàli và bốn bộ A Hàm và chỉ là
những danh từ được tạo ra về sau. Hơn nữa, tìm hiểu quá
trình lịch sử tư tưởng Phật giáo, chúng ta chỉ có thể
hiểu được tư tưởng Ðại thừa sau khi chúng ta tìm hiểu
được tư tưởng nguyên thủy. Loại bỏ tư tưởng nguyên
thủy để tìm hiểu tư tưởng Ðại thừa cũng như thả mồi
bắt bóng, và bắt bóng ở đây là bắt bóng tà ma ngoại đạo,
mới thật sự nguy hiểm hơn. Các nhà gọi là Ðại thừa cần
phải xác nhận một sự thật lịch sử, là các nước Tiểu
thừa chống giữ sự xâm nhập của ngoại đạo tà giáo kiên
trì và hữu hiệu hơn các nước Ðại thừa. Lý do chính là
tư tưởng Ðại thừa và tà giáo ngoại đạo nhiều khi cách
xa chỉ có gang tấc, và nhiều nhà tự cho là Ðại thừa lại
sẵn sàng bước qua biên giới ấy.
Ngày
nay, với sự tiến triển của khoa Phật học và ngôn ngữ
học, các sinh viên Phật khoa cũng như những ai muốn thật
sự tìm hiểu thế nào là nguyên thủy Phật giáo, cần phải
có một căn bản Phật học toàn diện các học phái, kể cả
Nguyên thủy, Tiểu thừa và Ðại thừa, cũng như cần phải
hiểu biết các cổ ngữ Sanskrit, Pàli, Tây Tạng ngữ, Hán
ngữ, nếu không muốn nói đến các sinh ngữ Anh, Pháp, Ðức,
Nhật, v.v...
Cho
dịch tập sách này, tôi chỉ mong các sinh viên Phật khoa Ðại
học Vạn Hạnh cũng như những nhà học giả đạo Phật ý
thức được sự quan trọng của một cái nhìn toàn diện lịch
sử tư tưởng Phật giáo, một thái độ nghiên cứu đạo
Phật, vô tư và khách quan, đánh giá đúng giá trị các tài
liệu tham khảo cũng như ý thức được sự cần thiết trang
bị cho chính mình những dụng cụ ngôn ngữ để tìm hiểu
đạo Phật.
Vạn
Hạnh, ngày mùng 3 tháng 2 năm 1971
Tỳ-Kheo
Thích Minh Châu dịch
Viện
Trưởng Viện Ðại học Vạn Hạnh, Sài Gòn