ĐẠI TRAI ĐÀN TẠI CHÙA NON NƯỚC-SÓC SƠN, HÀ NỘI
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI  CHÙA DIỆU ĐẾ, HUẾ
ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ TẠI CHÙA VĨNH NGHIÊM, TP. HCM
CHIỀU THỞ VÀ CƯỜI VỚI DOANH NHÂN VIỆT NAM:
TU VIỆN BÁT NHÃ LÂM ĐỒNG:
ĐẾN VIỆT NAM:
TIN TỨC VÀ BÌNH LUẬN:
NỘI DUNG MỘT SỐ BÀI PHÁP THOẠI (TEXT VÀ AUDIO)

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

TIN TỨC

& chuyến đi Việt Nam  của Thiền sư Thích Nhất Hạnh Mùa Xuân 2007

TỪ QUÊ HƯƠNG
NGHĨ VỀ NỖ LỰC GIẢI OAN CHẨN TẾ
Minh Mẫn 

Đúng như chương trình đã sắp xếp, ngày 20/2/07, Thiền sư Nhất Hạnh và phái đoàn Tăng Thân Làng Mai, cùng 100 tín đồ Phật giáo quốc tế đã đến Phi Trường Tân Sơn Nhất lúc 15giờ 30. Hàng ngàn người ra đón tiếp phái đoàn một cách trật tự, đặc biệt số tu sĩ trẻ ra đón đoàn rất đông, đông hơn cả chuyến  về của Sư ông  năm 2005.

Tối 22 và 23, hai thời Pháp Thoại tại chùa Pháp Vân và chùa Vĩnh Nghiêm với số lượng thính chúng tham dự ngoài sức dự tính của ban tổ chức. Bãi giữ xe tại Tân Phú của tư nhân, có 6 điểm đều hết chổ. Riêng trường Trần Phú kế Pháp Vân, bên trong sân cũng như ngoài vòng rào, hàng ngàn xe gắn máy san sát nhau, nên đến khi ra về, chủ xe thật vất vả mới tìm và nhận được xe mình, và ra khỏi bãi giữ xe phải mất rất nhiều thời gian! Các điểm giữ xe khác phải tận dụng  cả nhà dân gần đó. Còn xe hơi thì đậu dọc dài hai bên đường. Tân Phú, Pháp Vân rộng hơn Vĩnh nghiêm, trong sân chứa hàng ngàn người, thế mà vẫn thiếu chổ. Người đến sau  phải đứng ngoài vòng rào, trên vỉa hè. Cả Vĩnh Nghiêm và Pháp Vân, các điểm giữ xe đều nâng giá 3.000 đồng mỗi chiếc, trong khi đó thì ngày thường, có nơi chỉ có một ngàn. Các thợ nhiếp ảnh cũng giới thiệu hình ảnh Sư ông nhiều kiểu thật đẹp. 

Mỗi chuyến về và mỗi nơi đến của Sư ông đều đã giúp cho nơi đó, cho một số đông người có thêm thu nhập khấm khá. Trong chuyến về năm 2005 của Làng Mai, một người thợ làm băng dĩa CD, VCD, DVD  chứa đầy đủ  các thời giảng của Sư ông, nhờ vậy, ông ta kiếm được gần 13 triệu đồng. Họ không cần đi đâu xa, chỉ cần ngồi một chổ, ghi lại hình ảnh, lời pháp thoại qua mạng, rồi làm thành bộ và bán sạch trong một tuần. Sau đó, copy tiếp, gửi đến các phòng phát hành tiêu thụ. Các xe đò do Phật tử hợp đồng đi theo đoàn, ghe thuyền tại Huế được mướn cho Làng Mai và người tháp tùng vào chuyến trước cũng trên trăm triệu. Các tiệm ăn chay, ăn mặn cũng trúng mùa khi đoàn đến  sinh hoạt gần đó. Tín đồ Phật giáo quốc tế theo đoàn cũng phải ở khách sạn suốt ba tháng. Phật tử ở các tỉnh thành xa về tham dự các buổi sinh hoạt của Sư ông cũng phải ngụ tại  nhà nghỉ. 

Tóm lại, các ngành nghề liên hệ trong cuộc sống đều được ăn theo, đó là Xuân Đoàn Tụ. Bây giờ, xuân 2007 với chủ đề Bồi đắp ốc rễ, Khai thông Cội nguồn, Thiền sư và 50 vị tăng Thân Làng Mai, một trăm cư sĩ quốc tế đã có mặt tại Việt Nam. Trai đàn Chẩn Tế để siêu bạt vong linh,dĩ nhiên, là để giúp cho kẻ đã mất, còn  người hiện tiền có một tâm lý nhẹ nhàng khi thân nhân quá vãng được chiếu cố, chấp nhận một cách bình đẳng trên phương diện tình người, một cách nhân đạo, phi giai cấp, phi chính kiến ngỏ hầu đoàn kết dân tộc, xoá bỏ mặc cảm thù hằn, cùng đưa đất nước vào kỷ nguyên mới.

Khi chủ trương Làng Mai đưa ra, các “oan hồn uổng tử” (còn sống mà như đã chết !) từng phủ đám mây đen trên quê hương lại trổi dậy chống phá, vì bản thân họ không muốn làm người, tâm họ đang là Atula. Họ không chấp nhận đứng chung với kẻ đối đầu vì tự ái, vì quyền lợi cá nhân và tập thể họ, chứ họ không vì tương lai của một dân tộc đã có nhiều khổ đau,hận thù  dầy xéo. Trên thế giới, biết bao nhiêu quốc gia đang nỗ lực tìm cho mình một thế đứng, kể cả Trung Cộng, bây giờ đã ổn định nhiều mặt, nhất là an ninh và kinh tế, và cũng đang phát triển đòi sống tâm linh và tín ngưỡng.  Việt Nam đang có những lợi thế, thế mà vẫn có nhiều kẻ luôn tìm cách bôi tro trét trấu vào mặt dân tộc, cứ muốn đất nước phải lùi vào kỷ nguyên đồ đá. Có lẽ ngoài hận thù quá khứ, bây giờ họ còn ngờ vực lẫn nhau. Xin hảy nhìn nước Mỹ, sau cuộc nội chiến Bắc Nam, bao nhiêu hận thù nghi kỵ đều đã được dẹp bỏ để cùng nhau xây dựng đất nước phú cường như hôm nay, tuy ho chỉ mới hơn 200 năm lập quốc. Phải chăng,  quyền lợi tổ quốc của họ vẫn trên hết!
 

Hơn tám ngàn người đến nghe pháp thoại của Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại chùa Vĩnh Nghiêm  - TP. Hồ Chí Minh

Những oan hồn vất vưởng, hoặc mất thân xác, hoặc mất địa vị quyền lợi, hoặc oán thù vì không đồng chánh kiến, luôn luôn mang tâm chất quậy phá, cho dù bao nhiêu lời kêu gọi đoàn kết, hoà hợp, cũng không lay chuyển được tâm chất mông muội đó. Họ nghĩ rằng Cọng sản Việt Nam là “cao thủ” về lọc lừa, là xảo trá gian manh, vì quá khứ đã cho họ bài học đó. Nhưng trên đời nầy có gì  không thay đổi. Thánh nhân nào cũng có quá khứ, tội phạm nào cũng có tương lai, tại sao ta không tạo một cơ hội để cùng thay đổi, chuyển hoá? Cái gì dù cá biệt cũng có mẫu số chung, nhìn nhau bằng mẫu số chung thì sẽ có lối thoát cho nhau, sẽ hiểu nhau và chấp nhận nhau.

Một tôn giáo như đạo Phật, thì chỉ hành xử trên cơ sở tình thương, góp tay xoá bỏ mọi thành kiến và đau thương mà quê hương vốn đã rách nát. Sở dĩ đất nước và dân tộc ta luôn đen tối, vì cứ bị bao phủ bởi âm khí hận thù. Tẩy sạch âm khí đó bằng tình thương và sự chú nguyện thì bầu trời Việt Nam sẽ trong sáng hơn. Cô hồn đã chết luôn luôn mong mỏi sự quan tâm của kẻ sống, nhưng “cô hồn sống” lại cứ phủ nhận tình thương đồng loại để biến mình làm những linh hồn vất vưởng tha phương, đau thương bất mãn và hận thù.

Vầng hào quang yêu thương của một Thiền sư vừa móng khởi, thì những bóng ma đen tối đã nổi sóng tỵ hiềm đòi nhận chìm Thiền sư. Họ muốn phá hoại Phật giáo bằng những xuyên tạc kết án vu vơ. Những kẻ ngoại đạo chống phá còn can đảm đứng tên như Tú Gàn Lữ Giang, còn những kẻ nội đạo thiếu can đảm, với nặc danh Quách Thị Song Phu, thì tuy hàm tàng nhiều ý, viết lách thâm thúy đối với kẻ kém hiểu biết, nhưng vô cùng ấu trỉ đối với người quá hiểu về một vị Thiền sư. Những kẻ muốn phá hoại nỗ lực đoàn kết của Phật giáo Việt Nam đã kích động anh em đồng đạo không nhìn mặt nhau trong chuyến về  2005, bây giờ lại tìm cách bêu xấu đời tư Thiền sư trên diễn đàn quốc tế với ý đồ thúc dục người dân, nhất là Phật tử, tẩy chay chuyến về lần nầy.
Chuyện tốt đẹp không ai khởi xướng, khi có người muốn xoa dịu vết thương cho dân tộc thì lại lắm kẻ phá rối. Người Phật tử Việt Nam lấy làm lạ và buồn khi một HT Huyền Tôn lại có thái độ và ngôn ngữ kém đạo hạnh khi từ chối lời mời của Thiền sư tham dự Trai Đàn Chẩn Tế trên ba miền của đất nước Việt Nam. Phật giáo vốn chủ trương Vô Ngã, nhưng cái ngã của một số sư quá lớn khi vì đố kỵ đã chỉ trích việc làm của Thiền Sư hoặc các vị chân tu tại Việt Nam. Đã từng có những thư rơi với lập luận ấu trỉ đã kích thầy Nhật Từ (về bài giảng Bốn Thách Thức đối với Phật giáo Việt Nam), chống đối Hoà thượng Thanh Từ, thì Thiền sư Nhất Hạnh dĩ nhiên cũng không tránh khỏi những phê phán. Tuy nhiên, những điều mà họ phê phán các bậc chân tu thì chính họ lại không hề có khả năng làm được việc đó. Một tu sĩ chân chánh, một tín đồ hiểu đạo, không ai làm chuyện phá hoại nội bộ Phật giáo như vậy. Chỉ có ngoại đạo không muốn Phật giáo Việt Nam đoàn kết, chỉ có những con nội trùng Phật giáo tâm lượng vị kỷ nên không muốn kẻ khác hơn mình.

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh thăm Văn phòng II Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Đành rằng một Thiền Sư Nhất Hạnh, một Hòa thượng Thanh Từ hay bất kỳ một ai đó đều không thể  hoàn hảo như một thánh nhân, nhưng dẫu sao họ vẫn tốt hơn những kẻ vu vạ một cách phàm tục như thế. Ngay cả Đức Phật còn bị dèm xiểm thì  lạ gì những đố kỵ của ma chướng đối với một hành giả đời thường. Điều rất lạ là gần nửa năm trước ngày về của Thiền sư Nhất Hạnh và Tăng thân làng Mai, người ta đã “dàn chào” bằng những công kích hàng  loạt, những bêu xấu bôi lọ, xuyên tạc vu khống, thế mà Sư ông vẫn thản nhiên. Và một phần kết quả của chính những chỉ trích đó là hàng ngàn Tăng tín đồ Phật giáo đã nghinh đón  đoàn tại phi trường với rừng cờ Phật giáo tung bay. Cũng vậy, chính nhờ chướng duyên của ma quân mà hai điểm pháp thoại tại Pháp Vân và Vĩnh Nghiêm đã dày đặc số lượng người ái mộ. Điều đó đã chứng tỏ người dân bình thường, với tâm trong sáng, thì vẫn sáng suốt hơn những kẻ ngậm máu phun người.

Vì ác cảm cá nhân và mâu thuẫn chính trị, việc làm của Sư ông Nhất  Hạnh bị hiểu lầm là tiếp tay cho chế độ, hoá giải hận thù. Nếu là hòa giải và đoàn kết, thì chả lẽ đó là một việc xấu? Kẻ chống đối cứ muốn Việt Nam mải mải là một bãi chiến trường hay sao? Hình như bất cứ việc nào của Phật giáo mà không ồn ào hô hào chống Cộng thì đều bị quy kết là “thân Cộng”. Phật giáo đã bị những thế  lực cuồng tín đẩy vào thế mâu thuẫn lưỡng cực, “bắt” Phật giáo Việt Nam hoặc chống Cộng hoặc thân Cộng mà không biết rằng Phật giáo có một lối hành xử Trung Đạo, một hành xử không thiên vị, miễn đem lại từ hoà cho xã hội. Phật giáo Việt Nam không chống đối để lật đỗ một chế độ, cho dù đó là chế độ có manh tâm tiêu diệt Phật giáo như chế độ độc tài Công giáo trị Ngô Đình Diệm. Phật giáo chỉ góp phần chuyển hóa cho một chế độ đến chổ tốt đẹp, nếu chế độ đó chưa thích hợp lòng dân.

Tuy những lời kích động có làm cho một thiểu số nông nổi chống báng Phật giáo, nhưng thật tế đã cho thấy rằng quần chúng đã sáng suốt khi tỏ lòng tôn kính một thiền sư Việt Nam đã làm rạng danh người Việt trên thế giới. Những bôi lọ chống báng tội nghiệp đó, cuối cùng, cũng chỉ là những viên sạn lót đường để Thiền sư Nhất Hạnh trở về trong vinh quang và ngưỡng mộ của Phật tử Việt Nam. Sự thành công của Thiền sư trong chuyến về quê lần thứ hai nầy đã nhận chìm những chống đối vì rõ ràng là sự có mặt của Thiền sư không những đã mang lại lợi lộc vật chất cho một số người dân lao động mà, quan trọng hơn rất nhiều, còn tạo bầu không khí thâm tình cho những con dân đất Việt, còn khai mở niềm phấn khởi cho giới trẻ và trí thúc muốn trở về xứ sở tâm linh. Là một Phật tử Việt Nam, tại sao ta lại không hãnh diện có một tu sĩ đồng hương có tầm vóc quốc tế như Thiền sư, từng tạo sự ngưỡng mộ cho bao nhà trí thức, lãnh tụ thế giới. Vì thật ra,  chỉ có ngoại đạo và nội trùng mới không hãnh diện và mới manh tâm phá hoại chia rẽ Phật giáo Việt Nam.

Năm 2007 nầy, báo chí Việt Nam và nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đã không còn ngần ngại như lần đầu Thiền sư Nhất Hạnh trở về quê hương hai năm trước, nên họ đã truyền tải trung thực về Thiền sư, thậm chí cả một quá trình hành hoá và lý lịch bản thân của Thiền sư cũng đã được báo Tuổi Trẻ và phần lớn các báo tại Việt Nam rộng rãi loan tải. Chương trình du hoá gần ba tháng của Thiền sư và Tăng thân Làng Mai đang được trong và ngoài nước theo dỏi từng ngày.

 Bồi đắp Gốc rể, Khai thông Cội nguồn là một tiêu chí vừa đạo vừa đời, mang nhiều ý nghĩa xây dựng đất nước và dân tộc trong lãnh vực văn hoá và tâm linh mà Việt Nam, vì đặc biệt đang đứng trước nhiều thách thức và cạm bẩy của thời đại, đã được Thiền sư Nhất Hạnh mang về cống hiến cho quê hương. Hy vọng mọi loại “cô hồn”, vô hình lẫn hữu hình, đều được triêm ân công đức trong cuộc Chẩn Tế nầy. 

MINH MẪN
24/02/07 
 
 

GÓP Ý VỚI CHUYẾN ĐI "ĐÀN TRÀNG GIẢI OAN" 
của H.T Thích Nhất Hạnh
Việt Nguyên
Wednesday, February 21, 2007 

HOUSTON (NN) – Hồi nhỏ, mồng một Tết tôi thường hay theo mẹ lên chùa để lễ Phật và nghe cha tôi “lẩy” mấy câu Kiều “Ngày Xuân con én đưa thoi...”. Lớn lên tôi vẫn giữ thói quen đi chùa ngày mồng một Tết nhưng không còn thích chuyện Kiều của Tiên Điền Nguyễn Du bằng những vần thơ 184 vế trong “Văn tế thập loại chúng sinh. Bài thơ sau của cụ thi sĩ Nghệ An cùng quê với cha tôi, có nhiều điểm trùng hợp với ý và lời với Truyện Kiều như cụ Hoàng Xuân Hãn một người Nghệ An khác nhận xét. Thơ “Văn tế thập loại chúng sinh” khi tôi lớn đọc lại thấy ngắn và thấm thía hơn truyện Kiều. Một bài thơ thấm ngôn ý Phật pháp viết về ngày Vu Lan nhưng lại hợp với những ngày đầu năm đến chùa lễ Phật.

Từ phần một “dựng đàn giải thoát” cho đến phần hai “Thập loại chúng sinh” từ vua chúa, qúi nữ, tể thần, đại tướng cho đến nhà giầu, người nghèo, kẻ ham danh lợi, binh lính, thương gia, kỹ nữ đều được nhà thơ Tiên Điền đề cập đến. Cả một bài thơ là một ngậm ngùi sót xa. Những dòng thơ như những dòng tâm sự của nhà thơ phù Lê ở thời Lê mạt Nguyễn sơ :

Lòng nào lòng chẳng thiết tha
Cõi dương cũng thế, nữa là cõi âm.
. . . . . . 
Thương thay thập loại chúng sinh
Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương khói đà không nơi nương tựa”
. . . . . . . “
Những vua chúa sa cơ thất thế: 

“Nào những kẻ tính đường kiêu hãnh
Chỉ những lăm cướp gánh non sông
Nói chi đang thuở thị hùng
Tưởng khi thế khuấât tận cùng mà đau”.

Cho đến kiếp của mỹ nhân “chim sa cá lặn”, cung phi mỹ nữ:

Nào những kẻ màn lau trướng huệ
Những cậy mình cung Quế Hằng Nga
Một phen thay đổi sơn hà
Tấm thân manh lá biết là làm sao
. . . . . .
Khi sao đông đúc vui cười
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương”.

Phải qua những nỗi khổ, mới thấm hết được cảnh người chết trên biển trong “văn tế” của Nguyễn Du:

Lại có kẻ vào sông ra bể
Cánh buồm dơi chạy xế gió đông.
Gặp cơn giông tố giữa đường
Đem thân vùi rập vào lòng kình nghê”

Toàn bài thơ có cái tâm vô lượng của Phật Quán Thế Âm không cần đến một trong những câu kết khi linh hồn con ngươì phải trải qua cầu Nãi Hà:

Ai ai lấy Phật làm lòng
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi”

Tinh thần của bài thơ “Văn tế thập loại chúng sinh” là tinh thần của kinh Liên Hoa, cuốn kinh ở thế kỷ thứ nhất, viết từ phần đất ở Bắc Ấn Độ, có lẽ là A Phú Hãn bây giờ. Cuốn kinh mang nặng tinh thần từ bi vô lượng của Phật giáo. Tấm lòng yêu người (compassion) khắp cả bốn góc trời, làm giảm được đau khổ, giận dữ của kiếp người, tinh thần của bồ tát Avalokitesvara.

Năm 400 sau Tây lịch, kinh được dịch ra tiếng Trung Hoa, tên Quán Thế Âm “người nghe được tất cả những tiếng thống khổ của nhân loại” được thay cho Avalokitesvara. Phật bà Quán Thế Âm thay cho ông Bồ tát có râu quai nón Avalokitesvara ở Ấn Độ nhưng tinh thần từ bi, tấm lòng nhân ái không thay đổi dù có khác biệt tinh thần, xã hội hay quan điểm chính trị. Tình yêu đã nuôi dưỡng nhân gian, như một thiền sư già đã nói: 

”Chiếc áo cà sa của ta rộng lớn để góm đủ những nỗi khổ trong thế gian”.

C.P. Fizgerald trong cuốn lịch sử văn hóa Trung Hoa năm 1954 đã cho rằng sự thay đổi phái tính từ ông Bồ Tát sang Phật Bà đã xảy ra vào thế kỷ thứ 9 ở Trung Hoa “Quán Thế Âm bồ tát khi thành Phật đã tự ý quay trở về cõi đời để nghe những tiếng khóc đau khổ trên mặt đất, bà tự ý đình trệ không trở thành Phật cho đến khi mọi sinh linh được giải thoát lên đến cùng trình độ của bà”. Phái Đại thừa giải thích, Bồ Tát Avalokitesvara có thể thay đổi bất cứ hình dáng nào, có thể mang nhiều hình dáng trong nhiều kiếp. Nhân gian Trung Hoa lại giải thích khác. Đã là Phật ở trên trời thì không có Phật ông hay Phật bà. Phật không có phái tính nhưng Phật Quán Thế Âm ở Trung Hoa phải là Phật Bà vì mang kiếp đàn bà Phật mới có thể hiểu và nghe hết nỗi khổ của kiếp đàn bà ở xã hội Khổng giáo Trung Hoa; Một xã hội bắt đàn bà mang nặng, đẻ đau, phải chiều chồng, bó chân trong nhà, gánh vác giang sơn nhà chồng, phải chịu cảnh nghèo, đau khổ hơn đàn ông, phải chịu những tàn nhẫn của cuộc đời khi con chết, chồng chết ngoài mặt trận.

Qua nhiều thế kỷ, Bồ Tát Avalokitesvara và Phật Bà Quán Thế Âm, nghe được tiếng khóc của nhân loại, được thể hiện qua nhiều hình dáng ở đền chùa. Có khi là Phật Bà, gương mặt an nhiên trầm lắng, hai cánh tay dang rộng, hai cặp mắt mở lớn, hiện thân tinh thần lĩnh hội. Có khi Phật đứng hay ngồi trên tòa sen, tay cầm bình cam lồ hay cầm nhánh dương liễu. Cành liễu tượng trưng cho khả năng cuốn theo chiều gió hay cơn bão của cuộc đời mà không bị gẫy. Có khi Phật Quán Thế Âm như một dũng sĩ mang nhiều vũ khí cung thương và khiên mộc tượng trưng cho lòng nhân, không nhượng bộ, người quyết chiến đấu chống lại những nguyên nhân gây ra khổ ải trên thế gian.

Đàn tràng giải oan

Gần 200 năm sau Nguyễn Du với “Văn tế thập loại chúng sinh”, Hòa thượng Thích Nhất Hạnh và đoàn tăng lữ Làng Mai về Việt Nam lập “Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan” ở Saigon, Huế và Hà Nội.

Gần 200 trước, thi sĩ Nguyễn Du đã viết văn tế với một tự do tuyệt đối còn Hòa thuợng Thích Nhất Hạnh phải xin phép. Trong thơ gửi chủ tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết, Hòa thượng giải thích mục đích “cầu siêu cho tất cả những ai đã chết oan ức trong cuộc chiến không phân biệt chính kiến, Nam Bắc, trai gái, ý thức hệ, già trẻ.” Đúng tinh thần của kinh Liên Hoa, của Phật Quán Thế Âm, cầu siêu cho những người đã “chết oan ức trong rừng sâu, ngoài bể cả”, trong trại tù, ngoài Côn Đảo, dưới hố chôn tập thể.”

Tôi đọc lại “Văn tế thập loại chúng sinh” ở cái thời Lê mạt Nguyễn sơ, không thấy ai phản đối bài thơ của cụ Nguyễn Du, bài thơ thuần túy tôn giáo với cái tâm bồ tát còn các chuyến đi của thầy Nhất Hạnh lại đem đến nhiều phê bình giận dữ từ cả hai phía, cả trong lẫn ngoài nước. Có lẽ vì chiến tranh Việt Nam vừa qua kéo dài quá lâu, vũ khí quá tàn nhẫn, lòng người phân hóa lâu dài, chiến tranh chấm dứt rồi thì kẻ chiến thắng kiêu căng, không giữ lời hứa xóa bỏ hận thù lừa người bại trận vào trong những trại tù cải tạo vĩ đại ra đi không biết ngày về, những tiếng khóc trong tù, những giọt nước mắt lặng lẽ của cô nhi quả phụ, những tiếng kêu của thuyền nhân trên biển cả... Khác hẳn những thời đại xa xưa sau khi nước nhà chia cắt trong lịch sử như thời Trịnh Nguyễn phân tranh, thời Lê Nguyễn hay thời Trung cổ với nước nhà bị nhà Minh đô hộ rồi Lê Lợi toàn thắng quân Minh “lấy nhân nghĩa thắng cường bạo” xong chiến tranh xóa bỏ hẳn hận thù để “trong thôn cùng, xóm vắng không còn một tiếng oán hận”. 

Chuyến về Việt Nam lần đầu của Hòa thượng Thích Nhất Hạnh đã bị lu mờ vì quá khứ phản chiến của thầy. Mọi người kêu gọi quên quá khứ nhưng quá khứ vẫn còn. Những con số tổn thất, người và nhà, sai lạc ở Bến Tre năm nào được nhắc lại lần cầu siêu cho những nạn nhân hai tòa nhà thương mại ở Nữu Ước ngày 11/9/ 2 001, lại được nhắc lại một lần nữa trước chuyến về VN ngày 13/1/2005 đến 11/4/2005. Tôi nghĩ, giá mà Hòa thượng có thể cải chánh hay nhận những lỗi lầm như bà ca sĩ Joan Baez thì chắc mọi người VN sẽ kính trọng Hòa thượng Nhất Hạnh hơn và chuyến đi sẽ thành công và có ý nghĩa hơn. Khi lòng lắng nguội lại, tôi nghĩ cần có một sự công bằng hơn cho nhà sư “Đường xưa mây trắng”, thầy Nhất Hạnh được xem là một trong những nhà sư nổi tiếng nhất trên thế giới hiện nay, với số sách Phật giáo xuất bản và số đệ tử, thầy đã được sắp hằng thứ hai sau Đạt Lai Lạt Mai nhưng “Bụt nhà vẫn không thiêng”. Có lẽ chiến tranh Việt Nam mới chấm dứt 30 năm, thời gian ngắn hơn so với thời gian cần thiết để giáo hội Công Giáo La Mã nhận lỗi với dân Do Thái về thảm họa Holocaust (hơn nửa thế kỷ). Chuyến đi lần đầu của nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo đứng hàng thứ hai sau Đạt Lai Lạt Ma đã bị chê trách về tính cách trình diễn “sư có tàn có tán, sư có lọng...” (thơ Tú Xương) nhưng tổ chức tôn giáo có khác với tu hành “từ bỏ cuộc đời” người ta đã khắt khe với Hòa Thượng, Đạt Lai Lạt Ma đi đâu cũng có tàn có lọng, yết kiến Lạt Ma ở Ấn Độ phải qua nhiều cửa ải bảo vệ và Giáo Hoàng được nhiều người yêu mến nhất John Paul Đệ Nhị đi thăm dân luôn ngồi trong xe chắn đạn.

Chuyến đi của Hòa thượng Nhất Hạnh về Việt Nam ngày Tết năm nay khởi hành ngày 19/2//2007 được một tăng lữ Làng Mai mô tả như là một chuyến đi cô đơn bị đã kích từ hai phía cả trong và ngoài nuớc. Chuyến đi còn bị hiểu lầm như là một đáp ứng với lời kêu gọi của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt vào năm 2006 khi ông làm lễ trồng cây Bồ Đề ngày Vu Lan xá tội vong nhân, “cầu nguyện cho mọi sinh linh đã ngã gục trên quê hương và những chặng đường tha hương lưu lạc trong tinh thần đoàn kết hòa hợp”. Nhưng tinh thần của ông Võ Văn Kiệt khác hẳn tinh thần của nhà sư Nhất Hạnh. Tiếng nói của cụ Võ Văn Kiệt (90 tuổi) vẫn là tiếng nói của một người “bên trong vòng cương tỏa” tiếng nói có tha thiết nhưng là tiếng nói hối hận của những người chiến thắng quên giữ lời hứa thiếu một tâm vô lượng.

Chúng ta đã chỉ trích nhiều chi tiết trong lần về Việt Nam đầu tiên của Hòa thượng Nhất Hạnh nhưng chúng ta đã bỏ quên một chi tiết, thiền sư và tăng lữ Làng Mai nhất định từ chối không đi thăm lăng Hồ Chí Minh. Những người đã về VN và đã từng phải đối đầu với công an không thể không nhận thấy đây là một hành động can đảm. Cái Phật tánh trong tâm những người công an đã thắng ác tâm của họ nhờ vậy chuyến đi của Hòa thượng được tiếp tục. 

Giá mà trong “phổ cáo quốc dân và đồng bào Phật tử về các Đại trai đàn chẩn tế giải oan” của Đạo tràng Mai Thôn lần nay vắng bớt đi những danh từ chính trị thì chuyến đi sẽ có một ý nghĩa tôn giáo hoàn chỉnh. Những chi tiết 13 triệu tấn bom, 72 triệu lít chất độc khai quang không cần thiết. Chữ “giải oan” với ý nghĩa Phật giáo trở thành ý nghĩa chính trị dưới cặp mắt của nhà cầm quyền Việt Nam. Bản phổ cáo tôn giáo lại còn có tính cách văn nghệ hoang mang khi đưa nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào để: “Khóc cho tất cả đồng bào như Trịnh Công Sơn đã khóc qua bản tình ca Người Mất Trí: Tôi có người yêu chết trận Pleime, tôi có người yêu ở chiến khu D, chết trận Đồng Xoài, chết ngoài Hà Nội...” (người tu đạt đạo, giải thoát, thương chúng sinh lầm than không khóc vì họ hiểu được lẽ trời) 

200 năm sau Nguyễn Du, Hòa thượng Nhất Hạnh đi cùng một con đường từ bi đã bị chỉ trích cũng chỉ vì chính trị. Hai lần về Việt Nam, ông cô đơn như một dũng sĩ đi giữa hai lằn thương chỉ trích của Phật giáo trong và ngoài nước. Tôi chỉ mong ông sẽ như cành dương trên tay Phật Quán Âm oằn nhưng không gẫy và tôi lại nhớ đến một truyện ngắn của nhà văn Nhất Hạnh. Truyện “Cửa tùng đôi cánh gài” một truyện tôi yêu thích từ hồi còn trẻ. Câu chuyện viết về một chàng dũng sĩ xuống núi giúp đời, được sư phụ dặn dò dùng thanh bảo kiếm để trừ ma chướng, lưỡi gươm trí tuệ hàng phục mê chướng và si vọng. Sau bẩy năm hành hiệp chàng dũng sĩ trở về nhưng đôi cánh cửa tùng vào động khép chặt. Hóa ra, dưới kính, bóng chàng dũng sĩ sau bẩy năm hành hiệp đã trở thành yêu quái. Những ngày tháng mê ngộ đã làm chàng dũng sĩ lạc đường.

Tôi nghĩ rằng, với tâm vô lượng, chuyến đi giải oan sẽ có tính cách thuần túy tôn giáo cao đẹp, với những con người chánh trị đứng hẳn bên ngoài, cửa tùng đôi cánh vẫn mở cho tăng đoàn Làng Mai trở về.

Việt Nguyên
6/2/07
(http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=55994&z=100)
 


ĐÀN TRÀNG CHẨN TẾ:
SIÊU ĐỘ NGƯỜI CHẾT VÀ CẢM HÓA NGƯỜI SỐNG
Huỳnh Kim Quang

Trong truyền thống Phật Giáo Đại Thừa nói chung và Phật Giáo Việt Nam nói riêng, Đàn tràng Chẩn tế là pháp thức để siêu độ vong linh của những người đã chết mà vì oan nghiệp chưa siêu thoát hay chưa tái sinh được.  Những người bị oan nghiệp đó có rất nhiều nguyên do, rất nhiều thành phần, mà đại để đã được tổng hợp trong mười loại gọi là Thập loại Chúng sinh (như Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du đã đề cập) hay Thập loại Cô hồn.  Theo bộ Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi do ngài Tam Tạng Bất Không Kim Cang (Amoghavajra) dịch từ Phạn sang Hán vào đời Đường, thì Thập loại cô hồn [1] gồm:

1.  Thủ hộ quốc giới:  Loại oan hồn vị quốc vong thân;
2. Phụ tài khiếm mạng:  Loại oan hồn chết vì trái chủ oan gia, trụy thai, sẩy thai;
3.  Khinh bạc Tam Bảo:  Loại oan hồn vì tạo nghiệp bất hiếu, phụ nghịch, vô đạo;
4.  Giang hà thủy nịch:  Loại oan hồn chết sông, chết biển;
5.  Biên địa tà kiến:  Loại oan hồn ở nơi biên ải hẻo lánh xa xăm;
6.  Ly hương khách địa:  Loại oan hồn phiêu bạc tha hương, chết đường, chết bụi;
7.  Phó hỏa đầu nhai:  Loại oan hồn chết vì tự tử, trầm mình xuống sông, núi, chết đâm, chết chém;
8.  Ngục tù trí mạng:  Loại oan hồn chết vì bị tra tấn, khổ nhục trong lao tù;
9.  Nô tì kết sử:  Loại oan hồn chết vì bị nô lệ, hành hạ, đày đọa;
10.  Manh mung ám á:  Loại oan hồn lúc sống bị đui, què, câm, điếc, cô quả không ai chăm sóc.

Đàn tràng là một trong các nghiã của  Mạn đà la (Mandala), tức là dùng đất (Thổ đàn), gỗ (Mộc đàn) hay nước (Thủy đàn) lập lên một cái đàn trong đó tôn trí những biểu tượng, hình tượng và pháp khí của chư Bổn Tôn để hành lễ theo thể thức Mật giáo.  Đàn tràng còn gọi là Đạo tràng vì là nơi thực hiện Đạo, thực hiện Phật sự, thực hiện sự tự giác và giác tha, như trong Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Bồ Tát thứ tư, đoạn Bồ Tát Duy Ma Cật giải thích cho Quang Nghiêm Đồng Tử về ý nghiã của Đạo tràng. 

Tâm chính trực là đạo tràng, vì không giả dối… Tâm bồ đề là đạo tràng, vì không thể sai lầm.  Bố thí là đạo tràng, vì không cầu đáp trả.  Trì giới là đạo tràng, vì giúp hoàn thành tâm nguyện.  Nhẫn nhục là đạo tràng, vì tâm vô ngại đối với hết thảy chúng sinh.  Tinh tấn là đạo tràng, vì lìa xa biếng nhác.  Thiền định là đạo tràng, vì là tâm điều thuận nhu hòa.  Trí tuệ là đạo tràng, vì trực kiến các pháp.

“Từ là đạo tràng, vì đối xử bình đẳng với tất cả chúng sinh.  Bi là đạo tràng, vì nhẫn nại các khổ nhọc.  Hỷ là đạo tràng, vì là pháp an vui khoái lạc.  Xả là đạo tràng, vì dứt bỏ yêu hay ghét.”[2] 

Đàn tràng chẩn tế cũng gọi là Trai đàn vì lấy sự trang nghiêm thanh tịnh làm gốc để nhất tâm hồi hướng cho cô hồn, ngạ quỷ được ân triêm công đức.  Mạn đà la còn có nghĩa là Luân viên tức là tròn đầy, được tựơng trưng bằng hình hoa sen nở tròn.   Đàn tràng chẩn tế cô hồn là nơi tổ chức các khoá lễ thực hiện theo khoa nghi Mật Giáo để cứu tế các loại cô hồn hay vong linh vì oan nghiệp chưa siêu thoát vẫn còn sống trong thế giới đói khổ, điêu linh, thống hận.  Đàn tràng chẩn tế thông thường được thiết lập theo hình thức và pháp thức của Mạn Đà La (Mandala).  Theo Mật giáo có hai loại đàn tràng:

1. Kim Cang Giới Mạn Đà La (Vajradhàtu-mandala):  Đây là tượng trưng cho Trí tuệ chứng đắc của Phật, thuộc trí môn.  Trí tuệ liễu ngộ bản thể chơn không diệu hữu của vạn pháp.  Trí tuệ không gì phá hoại được như kim cương bất hoại.  Trí tuệ có khả tính tiêu trừ tận gốc vô minh và phiền não.  Trí tuệ thấu đạt từng căn cơ sai biệt của hữu tình để cứu độ. 

Kim Cang Giới Mạn Đà La vì là trí môn cho nên lấy Ngũ Trí Như Lai làm gốc.  Đàn tràng được thiết trí trong vòng tròn Nguyệt Luân giống như mặt trăng tròn đầy ngày Rằm.  Ở trung tâm tôn trí biểu tượng, hình tượng của đức Đại Nhật Như Lai (MahaVajrocana-Tathàgata).  Phía Đông là đức Bất Động Như Lai (Aksobhya-Tathàgata).  Phía Nam là đức Bảo Sinh Như Lai (RatnaSambhava-Tathàgata).  Phía Tây là đức A Di Đà Như Lai (Amitabhà-Tathàgata).  Phía Bắc là đức Bất Không Thành Tựu Như Lai (AmoghaSiddhi-Tathàgata).

2. Thai Tạng Giới Mạn Đà La (Garbhadhàtu-mandala):  Biểu thị cho phương tiện độ sinh của Phật, thuộc lý môn.  Từ lý tánh nhất thể hàm tàng bồ đề tâm để thi thiết đại nguyện từ bi cứu khổ chúng sinh.  Nhờ sức phương tiện của từ bi dẫn dắt chúng sinh quay về với chân tánh bất sinh bất diệt của nhất tâm pháp giới. 

Thai Tạng Giới Mạn Đà La là lý môn, từ lý tánh uyên nguyên hàm tàng đầy đủ các đức tánh viên mãn của Như Lai trong tất cả vạn hữu giống như đóa sen từ bùn vươn lên nở hoa thanh khiết, cho nên được thiết trí theo hình đóa sen tám cánh.  Ở phần Trung Đài Bát Diệp Viện, tôn trí biểu tượng, hình tượng và pháp khí của đức Đại Nhật Như Lai ở giữa, bên phía Đông là đức Bảo Tràng Như Lai (Ratnaketu-Tathàgata), phía Nam là đức Khai Phu Hoa Vương Như Lai (KusumitaRàja-Tathàgata), phiá Tây là đức Vô Lượng Thọ Như Lai (Amitayus-Tathàgata), phía Bắc là đức Thiên Cổ Lôi Âm Như Lai (Divyadundubhi-Tathàgata).  Ở bốn góc có bốn Đại Bồ Tát:  Đông Nam là đức Phổ Hiền Bồ Tát (Samantabhadra-Bodhisattva), Đông Bắc là đức Quán Tự Tại Bồ Tát (Avalokitesvara-Bodhisattva), Tây Nam là đức Diệu Cát Tường Đồng Tử (Manjusri-Kumara), Tây Bắc là đức Từ Thị Bồ Tát (Maitreya-Bodhisattva).

Qua cách thiết lập đàn tràng Kim Cang Giới Mạn Đà La và Thai Tạng Giới Mạn Đà La như đã trình bày ở trên cho thấy đàn tràng chẩn tế cô hồn mang ý nghiã triết lý Đại thừa Phật Giáo thâm sâu.  Kim Cang Giới Mạn Đà La và Thai Tạng Giới Mạn Đà La đều là hình thức thu nhỏ của pháp giới vô biên về thời gian và không gian vào trong một phạm vi thời-không hiện thực và cụ thể trước mắt mà phàm nhân đều có thể chứng kiến được.  Kim Cang Giới biểu thị cho trí tuệ giác ngộ siêu việt của chư Phật.  Trí tuệ ấy sắc bén và rắn chắc như kim cương không gì có thể phá hoại được và không gì mà nó không thể tiêu trừ được kể cả vô minh và phiền não huân nhiễm qua vô thỉ kiếp.  Trí tuệ ấy thể nhập vào tận cùng bản thể của các pháp, quán triệt được rằng chư pháp do duyên sinh, không có tự tánh, cho nên là tánh không; rằng chư pháp cũng do duyên sinh, vô tánh mà hiện hữu,  vì vậy mà giả hữu; như thế, các pháp vốn không thật có, vốn không thật không, chư pháp cũng không phải vừa có vừa không, không phải không vừa có không vừa không;  chư pháp vốn lìa tứ cú, thường vắng lặng ở trung đạo đệ nhất nghiã, đó chính là chơn không diệu hữu.  Như vậy, các pháp: nào khổ, nào vui, nào tham, nào si, nào oan ức, nào thù hận, nào phân biệt bỉ thử nhân ngã xưa nay đều chỉ là vọng động chấp trước của tâm sinh diệt điên đảo vì vô minh tập khởi.  Khi được khai thị bởi trí tuệ ấy thì tức khắc có thể buông bỏ mọi vọng trần, viễn ly mọi điên đảo tưởng để giải thoát tự tại. 

Thai Tạng Giới là nơi hàm tàng, chứa giữ đầy đủ mọi phẩm đức vi diệu vốn có của Như Lai.  Nó giống như bào thai nuôi dưỡng một sinh mạng đang bắt đầu có mặt để một ngày nào đó khai hoa nở nhụy thì là một hữu tình với đầy đủ căn tính ra đời. Tất cả các pháp đều được dung dưỡng trong Thai Tạng Giới, đều từ Thai Tạng Giới mà xuất sinh.  Như Lai là phẩm đức cực diệu, là quả vị tối thắng nhất của Thai Tạng Giới.  Cho nên, trong mọi pháp có phẩm đức của Như Lai và trong Như Lai có chất liệu từ bi ban phát xuống cho vạn hữu.  Nguồn suối từ bi của Như Lai không do gắng gượng dụng tâm mà tuôn chảy, nhưng đó là đức tính nhiệm mầu trong một phẩm cách đặc hữu như nước từ nguồn chảy xuống một cách tự nhiên, không chút dụng tâm.  Đức từ bi ấy trang trải đến tất cả muôn loài một cách bình đẳng như mưa đổ xuống không phân biệt thào mộc lớn hay nhỏ, tùy theo căn cơ mà cảm ứng[3]  .  Đại nguyện từ bi là dưỡng chất nuôi lớn tình thương yêu chân thật nơi tất cả chúng sinh.  Đại nguyện từ bi thấm nhuận đến đâu thì nơi ấy tình thương yêu được phát triển, lòng khoan dung độ lượng được mở bày, và vì vậy thù hận, oan trái được giải kết. 

Trong pháp thức thực hiện khoa nghi chẩn tế, vị Chủ Gia Trì và ban Kinh Sư Hộ Đàn đảnh lễ Phật, Bồ Tát, tán, tụng chân ngôn và thủ ấn để thanh tịnh đàn tràng, nhiếp phục ma quân, thỉnh Phật, Bồ Tát quang lâm đàn tràng để hộ niệm, vị Chủ Gia Trì gia trì ba nghiệp:  Thân bắt thủ ấn, miệng tụng chân ngôn, tâm quán niệm hình tướng Phật để nhất tâm thể nhập vào Tam Mật Du Già.  Từ đây, vị Chủ Gia Trì sẽ được chư Phật trực tiếp hộ niệm để đại diện cho quý Ngài mà ban phát tài và pháp thí Ba la mật cho chúng cô hồn, ngạ quỷ.  Bấy giờ vị Chủ Gia Trì là hóa thân Phật có đầy đủ diệu lực mầu nhiệm để khai mở địa ngục và những cõi tối tăm khổ nhục của cô hồn, ngạ quỷ, triệu họ vân tập về đàn tràng để nhận lãnh sự bố thí tài và pháp, làm cho họ không những hưởng dụng tài thí mà còn thâm nhập Phật pháp, giải thoát mọi trói buộc của nghiệp lực bấy lâu để có thể siêu sinh. 

Trong phần kinh văn của khoa nghi, chứa đựng nội dung thâm áo của Phật pháp hầu khai mở trí tuệ, hưng phát từ bi tâm; đặc biệt diễn bày những nỗi u uất, thống hận, khổ lụy mà cô hồn, ngạ quỷ phải gánh chịu vì nghiệp lực của họ, cũng như những lời giải bày thực trạng giả tạm của cuộc đời, tính chất hư huyễn của mọi hiện tượng sinh diệt trong thế giới hữu vi.  Chẳng hạn:

Hội khởi Mông Sơn tối thắng duyên
Giác hoàng thùy phạm lợi nhân thiên
Kinh tuyên bí điển siêu đồ thán
Giáo diễn chân thừa cứu đảo huyền

(Lời dịch của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ:  Do nhân duyên đặc biệt mà lễ hội Mông Sơn được tổ chức.  Đức Giác Hoàng đã chỉ dạy một nghi thức làm lợi ích cho cả chư thiên và loài người.  Lời kinh nêu rõ pháp điển bí mật có khả năng siêu hóa từ chốn lầm than.  Giáo thuyết diễn rộng ba thừa để cứu vớt khổ đau bị treo ngược)[4] 

Trong phần mở đầu của Mông Sơn Thí Thực có đoạn:

Mãnh hỏa diệm diệm chiếu thiết thành
Thiết thành lý diệm nhiệt cô hồn
Cô hồn nhược yếu sinh Tịnh độ
Thích tụng Hoa Nghiêm bán kệ Kinh:
Nhược nhơn dục liễu tri
Tam thế nhất thiết Phật
Ứng quán pháp giới tánh
Nhất thiết duy tâm tạo

(Lửa dữ thiêu đốt thành địa ngục, khi thành địa ngục bị thiêu đốt thì sẽ nung cháy cô hồn trong đó.  Cô hồn nếu muốn thoát khỏi điạ ngục để cầu sinh về cõi Tịnh độ thì hãy trì tụng bài kệ trong Kinh Hoa Nghiêm:  Người nào muốn liễu tri được tất cả chư Phật trong ba đời thì nên quán chiếu rằng trong pháp giới tánh tất cả vạn hữu đều từ tâm mà sinh).

Và:

Trước thỉnh kẻ hoàng vương đế bá
Triều đại xưa trải quá biết bao
Đền đài chín lớp ở cao
Non sông muôn dặm chén vào một tay
(Hòa Thượng Bích Liên diễn Nôm)

Hoặc là:

Đỗ quyên kêu suốt tàn canh
Máu hờn nhuộm mãi trên cành đào hoa
(Hòa Thượng Bích Liên)

Hay là:

Kinh song trăng thảm lạnh lùng
Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài
(Hòa Thượng Bích Liên)

Lại như:

Thương thay thập loại chúng sinh
Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người
Hương khói đã không nơi nương tựa
Phận mồ côi lần lữa đêm đêm
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu
(Nguyễn Du, Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh) [5]

Những kinh văn như vậy được tuyên xướng trong một hoàn cảnh trang nghiêm thanh tịnh của đàn tràng, thì không phải chỉ giải thoát được kết nghiệp của vong linh kẻ chết mà còn cảm hóa được tâm thức của người sống đang chứng kiến và lắng nghe.  Người sống qua đó nhận thức được rằng những hành động bất thiện mà mình gây ra trong đời này, hoặc trong những đời sống khác sẽ là sợi dây nghiệp lực trói chặt họ vào trong thế giới oan khiên, khổ đau chập chùng.  Người sống cũng nhân đó mà ý thức sâu sắc rằng trên thế gian này chỉ có từ bi mới chuyển hóa được mọi hận thù, vì tham si, thù hận do mình gây ra hay do người khác gây ra sẽ là những bức tường thành kiên cố vây hãm kiếp nhân sinh trong vòng khốn đốn, lầm than, khổ não! 

Hiệu lực giải nghiệp và chuyển hóa của đàn tràng chẩn tế sẽ tùy thuộc vào hai yếu tố căn bản:  Một là cách thức tổ chức đàn tràng, hai là tâm thức của cộng đồng xã hội nơi mà đàn tràng được cử hành.  Cách thức tổ chức đàn tràng gồm hai điều quan trọng:  Một là việc tổ chức đàn tràng phải thật sự đúng pháp thức của khoa nghi Mật Giáo, từ hình thức thiết lập đàn tràng, các phẩm vật hiến cúng, đến việc hành lễ chẩn tế của các vị Chủ Gia Trì và ban Kinh Sư Hộ Đàn.  Hai là  việc vận động trong phạm vi rộng lớn của nhân gian để mọi thành phần xã hội có thể tham gia vào đàn tràng chẩn tế qua hai bình diện trực tiếp và gián tiếp.  Đàn tràng càng được sự tham dự rộng rãi của mọi giới chừng nào thì càng vận động được sức mạnh hộ trì về cả tinh thần lẫn vật chất của tập thể. 

Ở đây yếu tố tâm thức của người tổ chức đàn tràng và của cộng đồng xã hội tham dự vào đàn tràng đóng một vai trò rất trọng yếu.  Các pháp lấy tâm làm đầu mà cũng lấy tâm làm chung quyết. Điều này có nghiã là từ tâm mà khởi niệm làm điều thiện hay điều ác, từ tâm mà quá trình thực hiện các phương tiện để dẫn đến thành tựu được quyết định, từ tâm mà kết quả được thẩm định là tốt hay xấu. Với thiện tâm thiện ý thì mọi việc đều đưa đến thành tựu thắng phước. Với cơ tâm ác ý thì dù là nhân danh việc thiện cũng chỉ dẫn đến kết quả khổ đau.  Yếu tố tâm thức không những đóng vai trò chủ yếu trong đời sống cá nhân mà còn là thành tố quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng xã hội.

Trong đàn tràng chẩn tế,  thì yếu tố tâm thức này sẽ là thuận hay nghịch duyên để mang lại lợi lạc hay phiền lụy thêm cho các vong linh, cô hồn, ngạ quỷ và người sống.  Trong đàn tràng chẩn tế từ người đứng ra tổ chức, những vị Gia Trì Sư và người tham dự cầu nguyện đều cần phải phát khởi tâm thức như Chánh pháp, nghiã là nhất tâm thành ý hồi hướng thắng duyên cho những cô hồn, ngạ quỷ để họ có thể nhờ “thính pháp văn kinh thọ tài hưởng thực” mà trút bỏ những oan khiên, giải thoát những trói buộc của phiền não. Từ tâm thức thuần tịnh của mỗi cá nhân đến cả cộng đồng xã hội sẽ tạo thành chánh báo trang nghiêm để chuyển vận y báo chung quanh.  Nhờ  y báo trang nghiêm thanh tịnh của cộng đồng xã hội  này sẽ chuyển hóa được nghiệp lực của cô hồn, ngạ quỷ, hay ít ra có thể cảm hóa được tâm thức của những vong linh, oan hồn, uổng tử.  Không những thế, ngay đối với người sống trong cộng đồng xã hội, nơi mà đàn tràng chẩn tế được tổ chức đúng pháp, vận khởi được tâm thức thuần tịnh trang nghiêm, cũng là một cơ duyên qúy giá để được cảm hóa.  Khi toàn bộ cộng đồng xã hội đang hướng về điều thiện, đang vận dụng tâm thức từ bi, thanh tịnh để cứu khổ vong linh, cộng với nội dung được biểu thị của đàn tràng, sẽ là chất liệu có sức mạnh không nhỏ để cảm hóa các thành viên đang sống trong cộng đồng xã hội ấy.  Đây chính là ý nghiã tại sao, khi Tôn Giả Đại Mục Kiền Liên thỉnh cầu đức Phật chỉ dạy pháp thức cứu độ cho mẹ ngài đang thọ khổ ở địa ngục, đức Thế Tôn đã dạy Tôn Giả Mục Liên phải nương nhờ oai lực thanh tịnh của mười phương Chúng Tăng mới có đủ sức mạnh vi diệu mà giải thoát cho mẹ ngài.

Sức mạnh cảm hóa đó thấm sâu đến đâu thì còn tùy thuộc vào đàn tràng được thực hiện tinh mật đến mức nào, và nội lực tâm thức của cộng đồng xã hội, nơi đàn tràng được tổ chức, phát khởi dũng mãnh, đồng nhất và thanh tịnh đến chừng nào. 

[1] Xin đọc bài viết “Lễ Tháng Bảy” của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ đăng trong tạp chí Phương Trời Cao Rộng, số 3, tháng 8, 2006, hoặc trang nhà:  www.phatviet.com.
[2] Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, bản dịch Việt của Tuệ Sỹ, Ban Tu Thư Phật Học, 2002, trang 116, 117.
[3] Xin đọc Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Dược Thảo Dụ thứ 5.
[4] Trích từ bài “Lễ Tháng Bảy” của Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ, xem chú thích ở trên.
[5] Mấy bài diễn Nôm này cũng trích từ bài “Lễ Tháng Bảy” của Thượng Tọa Tuệ Sỹ, xem chú thích ở trên

Huỳnh Kim Quang
Tạp chí Phương Trời Cao Rộng số 9 tháng 2, 2007
 

.

ĐẠI TRAI ĐÀN CHẨN TẾ GIẢI OAN
MỤC ĐÍCH VÀ Ý NGHĨA
Tôi được nghe nói vào đầu năm 2007 Hoà thượng Thích Nhất Hạnh sẽ về Việt Nam tổ chức ba  trai đàn chẩn tế thật lớn tại ba miền Việt Nam gọi là Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan.  Vậy xin quý ban biên tập hoan hỷ cho tôi biết mục đích và ý nghĩa về lễ trai đàn chẩn tế này và lễ này có phải là một lễ lớn truyền thống của Phật giáo không? (Nguyễn Văn An, Hải Phòng Việt Nam)

TRẢ LỜI

Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan hay còn gọi là Trai Đàn Thủy Lục là một pháp hội cúng chay và cầu siêu cho những vong hồn người chết không có ai thờ tự, không có nơi nương tựa, đang sống vất vưởng ở dưới nước và ở trên cạn. 

Duyên khởi pháp hội này như sau:
 


“... Về tập tục tụng kinh siêu độ cho người chết, theo hòa thượng Ðạo An [01], “vốn không phải là một tập tục truyền thống của Phật giáo”. Tập tục này chỉ bắt đầu có ở Trung Quốc từ đời nhà Ðường. Ðiều này có thể đúng vì theo sử chép, thì năm 738, vua Ðường Huyền Tông đã ban sắc lệnh cho toàn quốc, ở mỗi quận đều xây một ngôi chùa, đều đặt tên là chùa Khai Nguyên (Khai Nguyên là niên hiệu thứ nhì của vua Huyền Tông). Ðó là chùa công, do các quan lại địa phương trông coi, dùng làm nơi tổ chức các lễ tiết quốc gia, cầu quốc thái dân an. Việc làm này vừa có ý nghĩa đem ân huệ của Phật ban đến quốc dân, cũng vừa để biểu thị quyền uy của chính quyền trung ương. Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn, kéo binh về chiếm kinh thành, khiến vua Huyền Tông phải chạy vào Tứ Xuyên lánh nạn. Một năm sau thì quân triều đình dẹp yên giặc loạn. Trong một năm chiến tranh này, số người chết - chiến sĩ của cả hai bên và thường dân -, nhiều vô số kể. Triều đình bèn ra chỉ dụ cho tất cả các chùa Khai Nguyên trong toàn quốc, thỉnh chư vị cao tăng đại đức, thiết lễ tụng kinh cầu siêu độ cho chiến sĩ và thường dân đã chết trong cuộc chiến, đồng thời an ủi các gia đình nạn nhân.  Dân chúng thấy triều đình làm như thế, bèn bắt chước làm theo, cứ mỗi khi trong nhà có người chết, liền thỉnh chư tăng tụng kinh cầu siêu độ. Từ đó mà lễ cầu siêu độ cho người chết trở thành một tập tục trong dân gian.”[02]

Tập tục cầu siêu độ này được truyền qua Việt Nam không rõ vào thời nào nhưng có thể bắt đầu từ thời đại nhà Lý.  Ðó là việc tổ chức các trai đàn chẩn tế, gọi là “diệm khẩu phổ thí pháp hội” có nghĩa là những đại hội về Phật Pháp để bố thí thức ăn cho loài quỷ đói. Pháp này được thực hành trên căn bản một tác phẩm mang tên là “Thí Chư Ngạ Quỷ Ẩm Thực Cập Thủy Pháp” do Ngài Bất Không (Amogha) dịch vào thế kỷ thứ tám, đời Ðường.  Và hiện nay, trong thời khóa tụng niệm buổi chiều, các chùa ở Việt Nam thường có một nghi thức thí thực cô hồn ngắn, gọi là Mông Sơn Thí Thực Văn.  Nghi thức này bắt đầu từ đời nhà Tống tại Mông Sơn, tỉnh Tứ Xuyên bên Trung Quốc, vì thế mới có danh xưng là "Mông Sơn Thí Thực".

Trong “Thiền uyển tập anh”: Tăng thống Huệ Sinh (-1064) đời vua Lý Thánh tông, có để lại tác phẩm “Pháp Sự Trai Nghi” nói đến nghi thức chẩn tế. 

Vào năm 1789 sau khi đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu Vua Quang Trung đã ban sắc lệnh làm lễ tưởng niệm các chiến sĩ hữu công và tiến cúng cô hồn tử sĩ, kể cả mấy vạn quân Thanh đã tử trận. 

Vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà cũng thiết đàn siêu độ cho quan quân tử sĩ và những oan hồn uổng tử vì chiến cuộc do Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành chủ tế với bài văn tế viết bằng quốc âm Tướng Sĩ Trận Vong và Cô Hồn Thập Loại (1802). 

Vào năm Giáp ngọ, Chúa Nguyễn Phúc Chu cho tổ chức trai đàn tại chùa Linh mụ cầu cho quốc thái dân an, cho các quân linh tử trận được siêu thoát. 

Và vào những năm đầu thập niên 70, do chiến tranh gây ra nhiều cảnh chết chóc hãi hùng, khoa nghi chẩn tế được thực hiện rất nhiều, nhất là tại Huế.  Hầu như tháng nào ở đây cũng có ít nhất một đàn. 

******

Theo niềm tin của người dân, nghi thức Trai đàn nhằm cầu siêu cho người chết được siêu thoát và qua đó cũng cầu an cho người sống được an lạc. Trong tín ngưỡng dân gian này không thể thiếu vai trò của Phật giáo vì người dân quan niệm đạo Phật là đạo từ bi cứu khổ.

Theo giáo lý nhà Phật, Đạo Phật là đạo từ bi và trí tuệ, sự từ bi này không chỉ đối với người sống mà còn với người chết, không chỉ từ bi với con người mà còn từ bi với các loài chúng sinh không phải con người, từ bi bình đẳng đến cả các vong linh khổ não, các oan hồn uổng tử vất vưởng, không nơi nương tựa, lang thang khắp mọi nơi, mọi cõi, lang thang ở bụi dậm, bờ ao.  Chính vì lòng từ bi đó mà người ta lập ra Trai đàn để cầu siêu cho các vong hồn được siêu thoát, hoá giải mọi tai ương hận thù mà người dân tin là có thể xảy đến, để cuộc sống được ấm no, yên ổn.  Đó cũng là “điểm nổi bật của vai trò Phật giáo trong tập tục phong hóa dân gian chính là khuynh hướng “dân tộc hóa” nghi lễ tập tục Phật giáo, có nghĩa là hòa quyện hình thức nghi lễ giữa đạo và đời…” [03] 

Theo Phật giáo, trong thế giới hiện tượng tương đối này, hết thảy vạn sự vạn vật đều chịu tác động bởi quy luật Nhân Quả. Tất cả đều có những tương quan tác động qua lại với nhau, duyên vào nhau mà sinh diệt, tồn tại. Do đó, các nghi lễ cầu an, cầu siêu và trai đàn phổ độ có thể được xem là những trợ duyên cho sự sống và sự chết của con người về mặt tinh thần. Đứng về phương diện đạo lý thường tình sống trong thế giới hiện tượng tương đối mà xét thì "lễ" là sự thể hiện cho cái "nghĩa" sống của con người, song để thể hiện cái "lễ" ấy thì cần phải dựa vào "nghi thức" để thực hiện cho phải lẽ. 

Trong Phật giáo Nguyên Thuỷ không có kinh cầu siêu, kinh cầu an mà chỉ về sau các nhà sư Phật giáo Bắc tông, do nhu cầu phát triển nên uyển chuyển áp dụng các loại kinh khác nhau cho hai mục đích vừa nêu, ví dụ như dùng kinh A Di Đàkinh Địa Tạng để cầu siêu cho người quá vãng, dùng phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa kinh Dược Sư để cầu an cho người lâm bệnh, v.v… Phải chăng, ý nghĩa căn bản của cầu siêu và trai đàn chẩn tế phổ độ là để biểu tỏ tấm lòng chân tình thương mến người thân quá vãng, thương xót đồng bào tử nạn, thương xót những cô hồn đói lạnh và nhất là để an tâm cho người sống? 

******

Trong pháp hội “Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan” được hoà thượng Nhất Hạnh dự trù tổ chức tại ba miền Việt Nam vào đầu năm 2007 có mục đích, theo lời hoà thượng: “để cầu nguyện và giải trừ oan khổ cho tất cả những ai đã từng gánh chịu hậu quả khắc nghiệt của cuộc chiến tranh, dù đã qua đời hay còn tại thế…, để cầu nguyện cho tất cả những người thân đã từng chết đi một cách oan ức, trong rừng sâu, ngoài biển cả, trong trại tù, ngoài côn đảo và dưới những hố chôn tập thể, để cùng cầu nguyện cho nhau, cho những người đã khuất và những người còn đang tiếp tục gánh chịu oan nghiệt, và để tất cả cùng có cơ hội chữa lành những vết thương rướm máu lâu ngày chưa lành, để nối kết lại tình đồng bào ruột thịt, và làm vơi đi những oan khổ uất ức đã được chứa chất lâu nay”. [04]

Như vậy Trai đàn mang hai ý nghĩa cho cả người sống và người chết.  Người chết, được thân nhân tin tưởng là sẽ được siêu thoát và người sống được bớt khổ đau, “chữa lành những vết thương rướm máu lâu ngày chưa lành và để nối kết lại tình đồng bào ruột thịt, và làm vơi đi những oan khổ uất ức đã được chứa chất lâu nay”.

Để hiểu thêm về ý nghĩa pháp hội Trai đàn chẩn tế Thuỷ Lục, ban biên tập chúng tôi mời quý độc giả đọc lại bài pháp ngắn của Đại lão Hòa thượng Hư Vân thuyết giảng trong dịp kiến lập pháp hội Thủy Lục để truy điệu các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn tại Quảng Châu Trung Quốc vào ngày 18-8-1946:
 


“Hôm nay, các giới chức đồng phát tâm kiến lập pháp hội Thủy Lục để truy điệu các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn. Vì vậy, tôi sẽ giảng thuyết sơ về duyên khởi của sự kiến lập đàn tràng Thủy Lục. 

Sao gọi là Thủy Lục ? Thủy tức là nước tại sông biển ao hồ. Lục tức là đất đai tại núi non, cao nguyên, đồng bằng. Thủy Lục (đất nước) bao hàm cả hư không. Nếu là vật có hình tướng thì không vượt ngoài ba vật này (đất, nước, hư không). 

Đấng Như Lai của chúng ta khởi tâm đại từ bi, cứu tế khắp loài hữu tình, nên mới lập ra pháp môn này. Duyên khởi của pháp hội Thủy Lục là khi tôn giả A Nan tu tập thiền định trong rừng, có một con quỶ chúa đến cầu xin cứu độ. Tôn giả A Nan liền trở về núi Linh Thứu, cầu Phật dạy bảo. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhân đó mà thuyết pháp Thủy Lục. Con qủy chúa vốn là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì thương xót chúng sanh trên đất liền đang chịu bao thống khổ, và muốn giúp cho âm hồn trong cõi địa ngục U Minh được vãng sanh lên cõi Cực Lạc, nên thiết pháp siêu độ. 

Pháp hội này khởi đầu từ đời vua Lương Võ Đế ở nước Tàu. Nhà vua phát tâm Bồ Đề rất mực chân thành mà cung thỉnh hòa thượng Chí Công, định chế nghi thức lập đàn tràng "Thủy Lục" để làm lợi ích cho các oan hồn uổng tử. Sắp đặt đèn cầy xong, vua Lương Võ Đế lễ một lạy; kế đến thắp đèn "Tận Minh", rồi lễ thêm một lạy. Khi đó, cung điện chấn động. Vua lễ lần thứ ba thì trời mưa hoa báu. Công đức đàn tràng "Thủy Lục" như thế. 

Đời Đường, tại chùa Pháp Hải, thiền sư Anh Công lại kiến lập đàn tràng Thủy Lục để cầu siêu độ cho vua Tần Trang Nhượng, Phạm Tuy, Bá Khởi, Vương Long Vũ, Trương Nghị, Chẩn Muội, v.v... đã bị trầm luân cả ngàn năm, khiến họ siêu thăng cõi trời. Cư sĩ Tô Đông Pha đời Tống, đại sư Liên Trì đời Minh, v.v..., cùng chư thánh hiền bao đời bổ sung thêm vào, khiến cho nghi thức lập đàn tràng Thủy Lục ngày một hoàn bị. Muôn pháp do tâm tạo. Mọi người đều thành tâm, tất sẽ có cảm ứng. 

Hư Vân tôi thể theo lời khẩn thỉnh của các vị đại hộ pháp mà làm pháp chủ cho đàn tràng này, thật khó từ chối được. 

Các chiến sĩ trận vong trong thời kỳ kháng chiến, xả thân báo quốc, nhưng hồn họ vất vưỡng, không nơi nương tựa. Vì tôn sùng ân đức này, chúng ta kiến lập đàn tràng để cầu siêu độ cho họ. Nghĩa dân bất khuất, lưu lạc đường hoang, nhà tan người mất, không hàng phục quân địch, trung thành vì nước. Cô hồn vô chủ, lang thang khắp nơi. Lại có những vong hồn uổng tử, chết vì bị trúng đạn, xe cán, bịnh dịch, chết đuối, chết oan v.v... Chúng ta phải đều cầu siêu độ hết để an ủi chúng sanh ở cõi u linh. Kẻ chết được an, người sống được ích lợi, tức là làm lợi ích khắp cõi dương và cõi âm. 

Đây là lý nhân quả tuần hoàn. Xoay lại đạo lý nhân tâm, không ngoài các việc ác chớ làm mà phải hành theo những việc lành. Bao việc khổ sở trên thế gian đều do đã trồng nhân xấu đời trước. Nếu tán tận lương tâm, bỏ quên hiếu để, trung tín, lễ nghĩa, khiêm, sĩ, cứ làm càn làm bậy, thì khiến lụy đến người hiền, và thế giới mãi mãi vẫn còn loạn lạc. Đất nước vừa được trùng quang độc lập, phải cực lực hưng thiện dẹp trừ việc xấu, cải ác theo lành, thì mới không bị nước ngoài xâm lăng. Nếu không lo chuyện đại cuộc mà vẫn cứ khởi nội loạn, thì nhân dân không biết sẽ chết nơi nào. Lúc này, nếu người có lương tâm phải sớm giác ngộ, biết đoàn kết, giải trừ kiếp vận cho đất nước. Nước Tàu từ lúc Hoàng Đế khởi binh đánh vua nước Cửu Lệ cho đến ngày nay, chiến tranh mãi không dừng. 

Nếu muốn hòa bình mãi mãi thì mọi người phải nên phát tâm Bồ Đề, và tâm đại từ đại bi. Bồ Đề là chữ Phạn, nghĩa tức là giác. Giác tức là đất tâm sáng chiếu. Sự khác biệt giữa chư Phật và chúng sanh là việc giác ngộ hay chưa giác ngộ. Những vị đã giác ngộ tất cả các pháp trên thế gian đều do duyên sanh như mộng như huyễn, và thể tánh vốn không, chẳng bị nhiễm ô, được gọi là thánh hiền. Bất giác tức là vô minh. Một khi vô minh khởi lên thì mê mờ sự lý. Từ tự tâm của chúng ta, sanh ra mười pháp giới. Mười pháp giới đều do tâm tạo. Mười pháp giới gồm có bốn pháp giới thánh hiền và sáu pháp giới phàm phu. Bốn pháp giới thánh hiền là pháp giới của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật. Gọi là cảnh giới thánh hiền vì nơi đó các ngài đã vượt ngoài ba cõi, không còn thọ luân hồi. Nếu phân biệt thì giữa bốn pháp giới thánh hiền có phân chia cao thấp. Pháp giới tối thượng tức là pháp giới của chư Phật. Kế tiếp là pháp giới của Bồ Tát, rồi đến pháp giới của Duyên Giác, và cuối cùng là pháp giới của Thanh Văn. Sáu pháp giới phàm phu vẫn còn nằm trong biển khổ luân hồi là pháp giới của trời, người, A Tu La, súc sanh, địa ngục, ngạ quỶ. Pháp giới của cõi trời có ba mươi hai tầng trời. Sau khi thọ hết phước báu, chư thiên vẫn bị luân hồi như thường. Con người từ đế vương, tể tướng cho đến nông dân, công thương, sĩ thứ, đều thọ hết tất cả khổ của sanh già bịnh chết. Loài A Tu La có phước nhưng không có đức như chư Thiên nên cuối cùng vẫn phải bị hoại diệt. 

Trong loài súc sanh, cũng có sự khác nhau về việc hưởng lạc và thọ khổ, như loài rồng phượng, sư tử, lân giác thì thường hưởng lạc, và ít thọ khổ hơn loài trùng kiến thấp sanh, hóa sanh. Khổ nhọc hay an lạc trong loài quỶ cũng không đồng. Các quỶ vương như Diêm Vương và Thành Hoàng đều hưởng lạc nhiều mà thọ khổ ít hơn những loài quỶ cô hồn vô chủ. Khổ nhất là loài ngạ quỶ. Chúng sanh trong địa ngục thường thọ vô biên khổ cực, chẳng hề được sung sướng.

Mười pháp giới không ngoài một tâm. Giác ngộ hay chưa giác ngộ cũng từ tâm này ra. Đức Phật của chúng ta thật rất đại từ đại bi. Ngài giảng kinh thuyết pháp để khiến cho mọi người phát tâm Bồ Đề. Phát tâm Bồ Đề cũng sai khác. Bậc lớn thì phát tâm tu hành thành Phật. Bậc trung thì phát tâm tu hành thành Bồ Tát. Bậc nhỏ thì phát tâm tu hành thành Thanh Văn Duyên Giác. Chư thiên cũng có vị phát tâm Bồ Đề. Do sự phát tâm rộng hẹp, lớn nhỏ, nên việc thành tựu đạo quả mau chậm không đồng. Chúng ta đang sống trong cõi người, phải nên phát tâm Bồ Đề rộng lớn, cứu độ chúng sanh, thay họ chịu khổ. Lại nữa, nên nguyện rằng sẽ dẹp trừ khổ lụy và khiến chúng sanh được siêu thăng. Nếu người người đều phát tâm như thế thì cõi nhân gian sẽ không còn khổ đau. 

Có người hỏi tôi về thần thông biến hóa, thế giới chừng nào hòa bình, vận nước tốt xấu như thế nào ? Tuy nhiên, tôi vốn là phàm phu, không biết việc chi, lại chỉ là cây gỗ già nua khô mục, không thể chạm khắc. Bất quá, so với quý vị thì ăn cơm hơn nhiều năm, ngu si hơn nhiều năm, nghe các ngôn ngữ lời nói nhiều hơn, xem nhiều quyển kinh hơn. Nhận biết làm người là khổ đau, nên tôi mới nói ra những lời này. Quý vị chớ nên hỏi việc quốc gia có hòa bình an lạc hay không, mà chỉ nên tự hỏi ngay tâm địa của mình. Ngày đêm sáng tối, chớ nên phân biệt quan dân, nam nữ. Tự khắc phục tâm tánh, chớ để tự tâm mê mờ. Phải thật hành hiếu để trung tín, và cùng mọi người hỗ tương khích lệ. Phải nên trung thành với quốc gia, giáo dục con cái đàng hoàng, hòa thuận vợ chồng, lễ kính thân bằng quyến thuộc bà con láng giềng, có tín nghĩa khi giao hảo với bạn bè. Nếu người người làm được như thế thì thế gian tự nhiên thái bình. Ngược lại, nếu biết sai mà không sửa đổi thì khổ não tất sẽ chạy theo, không thể tránh được. Dầu nhân tâm có phức tạp như thế nào, vẫn tự giữ bổn phận của mình, không chìm đắm trong muôn ngàn mong cầu.” [05]
 

Ban Biên Tập TVHS

Chú Thích:
[01] Giáo Khoa Phật Học cấp 2, do Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam ấn hành
[02] Ngài Ðạo An (312-385), một danh tăng lỗi lạc thời Ðông Tấn, Trung Quốc. Ngài là đại đệ tử của ngài Trúc Phật Ðồ Trừng, một vị đại tăng người Ấn Ðộ vào Trung Quốc truyền giáo.  Do tình trạng chiến tranh Ngài đã phải rời bỏ quê hương Hà Bắc (nhà Hậu Triệu) dẫn đồ chúng khoảng 500 người chạy về thành Tương Dương lánh nạn và tu tập tại đâỵ Vào thời điểm này thì PG đã phát triển khá mạnh mẽ tại Trung Quốc, các vua chúa Trung Quốc nói chung đều rất sùng mộ đạo Phật, đặc biệt là vua Phù Kiên (nhà Tiền Tần) hùng mạnh nhất trong số 16 tiểu quốc thời đó vì hâm mộ danh tiếng của Ngài, đã đích thân mang nhiều ngàn quân đánh chiếm thành Tương Dương để cung thỉnh Ngài về làm quốc sự.  Suốt đời Ngài chỉ lo hoằng dương chánh pháp, đệ tử theo học có đến hàng ngàn người. Ngài đã đào tạo nên những môn đệ rất lừng danh, trong đó có Ngài Huệ Viễn (hay còn gọi là Tuệ Viễn), được xem như là sơ tổ của pháp môn Tịnh Ðộ Tông tại Trung Quốc. 
[03] TT. Thích Đồng Bổn, 
[04] Thích Nhất Hạnh, Phổ cáo quốc dân và đồng bào Phật tử Về các Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan http://www.langmai.org/TNH/Dac%20Biet/Thong%20Bach/HTML/traidoangiaoan.htm
[05] Hư Vân Thiền Sư, Pháp Ngữ, Thích Hằng Đạt Việt dịch - Nhà Xuất Bản Tôn Giáo 2004 http://www.thuvienhoasen.org/u-huvanluc2.htm#8)

ĐÀN TRÀNG GIẢI OAN
Nhìn dưới khía cạnh Tâm Lý Dân Tộc và Tâm Lý Trị Liệu
Trần Kiêm Đoàn
 
Oan và giải oan

Sự phán xét công bằng và hợp lý về một sự việc đã xảy ra, một hành động đã làm là công lý hay bất công, thông suốt hay vướng mắc, oan hay không oan thường không đơn giản, rõ ràng và cụ thể như trắng với đen, sáng với tối. Do đó, sự phân định và quyết đoán rạch ròi những hành động hay sự cố xảy ra, đã vi phạm đến mạng sống, tài sản và tinh thần... là oan hay không oan thường bị vướng mắc do vị thế, quan điểm, văn hóa và cả một chuỗi hệ lụy theo sau. 

Với một dòng lịch sử triền miên trong chiến tranh, với bao nhiêu tai trời ách nước, người Việt Nam thường xuyên đối mặt với những nỗi oan ức truyền đời. Có thể nói rằng, oan là một khái niệm gắn liền với tâm lý dân tộc Việt Nam. Trong khung cảnh văn hóa làng xã, sự oan ức đồng nghĩa với bất công, áp bức, mất mặt, hận thù, xa lánh... có khi là tội lỗi giữa đối tượng bị oan và tập thể xã hội đang tồn tại. Oan, trước mắt đại chúng, có nỗi oan thể lý và nỗi oan tâm lý. Về mặt thể lý, oan là khi bị những sự tác động từ bên ngoài như biến cố, tai ách, bạo lực làm mất mát, thương tật, chết chóc đột ngột ngoài tầm dự liệu của nạn nhân bị chịu oan ức. Về mặt tinh thần, oan là bị hiểu lầm, bị nhìn sai, bị đánh giá không đúng, bị phê phán bất công, bị nhận định thiên lệnh... và cuối cùng mang chịu kết luận, phán quyết không hợp với công lý. 

Nỗi oan ức có mẫu số chung trong cả hai nền văn hóa Đông và Tây. Nhưng cách giải quyết nỗi oan thường mang nặng yếu tính của truyền thống, xã hội và đức tin. 

Trước khi đạo Phật và đạo Chúa ra đời và du nhập vào Việt Nam, những nỗi oan Việt Nam được xem như đã có "Đèn Trời soi xét”. Đèn Trời là một thứ công lý tự nhiên trong tâm thức dân tộc Việt. 

Đạo Phật truyền thừa vào Việt Nam bằng con đường tâm linh xã hội (socio-spiritual). Đấy là một sự kết hợp hài hòa giữa tín lý giác ngộ, giải thoát, độ sanh của giáo lý Đại Thừa và đức tin truyền thống "Đèn Trời soi xét" của tâm lý dân gian Việt Nam. Trong bối cảnh văn hóa phương Đông, nhất là Việt Nam, thì giải oan là một sự cứu độ siêu hình thông qua hình thức cúng tế và cầu nguyện mang đậm nét tâm lý dân tộc và tâm linh Phật giáo. 

Với khái niệm giải oan đời thường mang tính đại chúng trên đây, đạo Phật đi vào cuộc đời và đóng vai một tôn giáo điển hình về những lễ nghi và kinh văn sử dụng trong việc giải oan thông qua những Đại Trai đàn Bạt độ Giải oan. Đạo Phật không dựa vào một quyền năng tuyệt đối hay tin vào một đấng sáng tạo có toàn năng quyết định số phận của con người như thế; mà xem mọi chuyện lớn nhỏ xảy ra là một chuỗi sự kiện tác động qua lại với nhau theo nguyên lý nhân quả dưới tác động của trùng trùng Duyên Nghiệp. Hình thái sự sống hiện tiền và khuynh hướng tâm linh thay đổi thường xuyên, được tạm gọi là "số phận" của một người, luôn luôn biến đổi theo tác động khách quan và có thể thay đổi, cải thiện theo tác động chủ quan. Vì vậy, Đàn tràng Giải oan chỉ là một trong muôn vàn hình thức làm phương tiện góp phần cho quá trình thay đổi và cải thiện đó. Thế nhưng, thật ra, khái niệm “oan” và “giải oan” không có trong kinh điển của đạo Phật nguyên thủy. Hiện trạng của một sự dính mắc vào hành động hay hệ quả bất thường được gọi là “oan” không hiện diện trong đạo Phật vì rằng: Sự việc xảy ra trong giây phút hiện tiền là do tác động của Nghiệp. Nghiệp là sự tích lũy mọi hành động và sự việc thiện ác, lớn bé, cao thấp... từ vô số kiếp trước cho đến nay. Mọi sinh vật và sự vật (pháp) đều chết đi và sinh ra trong từng nháy mắt hay trong từng đơn vị vi tế nhất của thời gian được gọi là Sát-na. Một thực thể hiện tiền chỉ là một hình ảnh mang một tên gọi giả tạm do Nghiệp tạo ra; rồi lập tức bị biến đổi do một lực tác động khác gọi là Duyên. Sự sống chết nầy là nguyên nhân và thực thể của quá trình thành, trụ, hoại, diệt; sinh, già, bệnh, chết mang tính khách quan mà không một sinh vật hay sự vật nào tránh khỏi. Trong chuỗi dài Nghiệp và Duyên tương tác, biến hiện trùng trùng đó, nguyên lý nhân quả chi phối sự vận hành theo một tiến trình chặt chẽ. Tiến trình nầy vừa chi li vừa rộng khắp; vừa hữu hình, vừa vô hình; vừa tâm linh vừa vật lý mà với nhãn thức giới hạn của con người thì sự diễn tiến như vừa hợp lý, vừa phi lý nên người ta chỉ còn biết dùng những nhãn hiệu đã có sẵn như thiện và ác, oan và không oan, cao cả và hèn mọn... để tạm dán vào mà phân định. 

Bước chủ động và tích cực tiếp theo là sự cố gắng tìm cách hóa giải, biến đổi cái "thân phận hiện tiền" thành một thể trạng khác theo ước muốn cải thiện và vươn lên của người bị oan hay người giúp giải oan trong một thời điểm, một cơ hội thuận lợi nào đó mà chữ nhà Phật gọi là "duyên". Giải oan, do đó, là những phương tiện trung gian và tạm thời giúp “sửa sai” một trạng huống vô minh trong quá khứ thành sáng tỏ và công chính trong hiện tại và tương lai. Nhờ đấy – ít nhất cũng là qua sự tin tưởng của những người ở thế tự nguyện làm kẻ cầu nguyện, biện minh -- nỗi oan ức sẽ được hóa giải và sự đày ải của nạn nhân chịu oan sẽ được chấm dứt. Nghi thức giải oan, tự bản chất, là một ý hướng hành thiện, lợi tha mang tinh thần từ bi (cứu người bị chìm đắm), hỷ xả (hóa giải) và trí tuệ (phá vô minh) của Phật giáo. Nó hoàn toàn khác xa với những hình thức "cải đạo linh hồn tập thể" của những tôn giáo bạn xây dựng đức tin trên căn bản mỗi người có một linh hồn bất tử đời đời không thay đổi. Khi không còn ai theo đạo Phật, không còn ai đau khổ giữa trần gian nầy là khi đạo Phật ca khúc khải hoàn viên thành Phật sự. 

Đạo Phật, với triết lý cơ bản cho rằng mọi vật đều không có tự tánh, không một vật hay sự vật chi ly hay to lớn nào đứng riêng lẻ tự nó mà thành (Tính Không); và cũng chẳng có hiện tượng hay biến cố nào không có sự kết hợp với yếu tố khác mà vận động, biến hiện (Duyên Khởi), nên rõ ràng quan niệm là chẳng có sự việc nào hay bất cứ hiện trạng nào mang bản chất “oan” hay “không oan” cả. Ngay như khi một đại đệ tử của đức Phật Thích Ca có thần thông đệ nhất, hiếu hạnh song toàn là ngài Mục Kiền Liên bị bọn cướp giết chết thì cũng chẳng có gì là oan trái nếu nhìn dưới nhãn quan và trí tuệ Phật đà. Trái lại, trong chuỗi duyên nghiệp trùng trùng thì bồ tát Mục Kiền Liên cũng không thể nào thoát khỏi lưới nghiệp. Ngài phải trả nghiệp tiền kiếp đã bỏ đói cha mẹ giữa rừng sâu trước khi rũ sạch tất cả nghiệp báo để đạt sự giải thoát trọn vẹn. 

Nhưng kể từ khi “thiền sư xuống núi” để thõng tay vào chợ, mang đạo Phật từ một phương trời cao viễn, từ cỗ xe dê, xe hươu tiểu thừa, nghiêng vai vào gánh thế sự bằng cỗ xe bò đại thừa [1] thì đạo Phật đã đi vào cuộc đời hiện thực. Đạo vào Đời để cứu đời và giúp đời như cỗ xe bò chuyên chở nỗi khổ trần gian. Mà trần gian nầy thì đầy dẫy chuyện được gọi là oan khiên và thống khổ nên giải oan và hóa giải cũng là một phần cứu khổ để góp phần băng bó những vết thương tâm lý còn tươi; những nỗi đau đời chưa lành lặn; và những oan trái còn đè nặng tâm linh mà thời gian chưa đủ chữa lành. 

Không đợi đến khi ngài Huyền Trang trở về sau chuyến Tây du mới có lễ siêu độ cô hồn thường được coi như đã tổ chức lần đầu tiên dưới thời nhà Đường bên Trung Quốc. Thật ra, khái niệm giải oan, mở trói, vớt sinh linh ra khỏi địa ngục trong dòng sinh hoạt tâm linh của Phật giáo đã có từ khi Mục Kiền Liên vận dụng sức mạnh tổng hợp từ sự chú nguyện của các bậc tu hành tôn túc để cứu người mẹ độc ác ra khỏi địa ngục A Tỳ. Và với dân tộc Việt Nam, từ thời bình minh của lịch sử Phật giáo khi du nhập vào đất Việt đã có hình ảnh "oan Thị Kính" và vai trò "rửa oan" của cửa nhà chùa rộng mở. 
 

Tinh thần giải oan là tâm lý dân tộc 

Giải oan - trong tín lý đạo Phật hay trong bất cứ ý hướng cứu rỗi của tôn giáo nào - vừa là triết lý sống vừa là đạo lý của dân tộc Việt Nam. Là một đất nước nhỏ bên cạnh nước Trung Hoa đồ sộ ở phương Bắc, với Chiêm Thành Chân Lạp đầy hiếu động ở phương Nam; cộng với thế chiến lược và kinh tế thuận lợi cho nhiều thế lực viễn chinh từ phương Tây, dân Việt muốn tự tồn phải biết tự hóa giải. Sự hóa giải cao nhất vẫn là sự hóa giải khởi nguồn từ trong chính mình. Với dân tộc Việt Nam, đấy là tinh thần tha thứ, cảm thông và bình đẳng. Lịch sử đã ghi lại hầu như sau mỗi cuộc chiến tranh, mỗi thời chinh chiến, dẫu thắng hay bại, người dân Việt vẫn coi trọng giá trị làm người dài lâu hơn là thế tranh thắng tạm thời. Tinh thần hóa giải của dân Việt được thể hiện qua những Đại Giới Đàn Giải oan cầu siêu độ cho những linh hồn đã chết không phân biệt ta và người. 

Lịch sử cận đại đã ghi lại rằng, sau khi đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung đã hạ chiếu truyền làm lễ tưởng niệm các tướng sĩ hữu công và tiến cúng cô hồn, giải oan cho các oan hồn uổng tử của mấy vạn quân Thanh đã nằm xuống trên đất nước ta. Vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà cũng đã cho thiết đàn tràng siêu độ cho quan quân tử sĩ và những oan hồn đã nằm xuống trong cuộc chiến không phân biệt bên nào (1802). 

Nhiều danh nhân văn học Việt Nam đã góp phần trong việc soạn thảo ra những bài văn tế bất hủ để truy điệu những oan hồn và tử sĩ. Tổng trấn Nguyễn Văn Thành soạn bài “Văn tế tướng sĩ trận vong” và “Cô hồn thập loại” bằng quốc âm. Thi hào Nguyễn Du soạn “Văn tế thập loại chúng sanh”. Cụ Nguyễn Đình Chiểu soạn “Văn tế sĩ dân lục tỉnh” và “Văn tế vong hồn mộ nghĩa”. Gần đây nhất, sau biến cố thất thủ kinh đô (5-7-1885), người dân Thừa Thiên Huế trong hơn một thế kỷ qua đã sử dụng không biết bao nhiêu phương tiện nghi lễ để cúng tế và mở đàn giải oan cho các cô hồn tử sĩ đã bỏ mình trong cuộc nổi dậy chống Pháp của vua Hàm Nghi bị thất bại. 

Niềm tin nhất quán trong tất cả các cuộc Trai đàn bạt độ Giải oan là cầu nguyện cho "âm siêu dương thái". Đối với các vong hồn đã chết, dù chết bởi nhiều biến cố và tình huống khác nhau, nội dung vẫn bao gồm 3 mục tiêu giải oan chính: 
 
Người đã chết cần được người còn sống ghi nhận: Vinh danh, thương tiếc, cảm thông, chia sẻ và tha thứ; 
  
Giải oan: Giải tỏa những oan ức, dằn vặt, hiểu lầm, nghi kỵ, đọa đày và động lực đã gây ra sự chết chóc oan khiên; 
  

Siêu thoát: Cầu nguyện cho các oan hồn uổng tử được siêu thoát. 

Đối với người còn sống, Đàn tràng Giải oan mang đến một nguồn tâm lý trị liệu (psychotherapy) tập thể rất cần cho sự an hòa trong cuộc sống. Nội dung cũng gồm 3 điểm chính: 

Ghi nhận "nghĩa tử là nghĩa tận". Chết là bình đẳng và trút bỏ mọi hận thù, xung đột, ân cũng như oán, lại đằng sau. Chết là hóa giải và tự hóa giải giữa người ân và kẻ thù; 
  
Yên tâm rằng, vong hồn của người thân cũng như kẻ thù đều được siêu thoát, không còn đi theo quấy phá hoặc nuôi mối hận cừu chờ ngày báo oán; 
  
Giảm thiểu hay xóa được gánh nặng tinh thần về sự ám ảnh của quá khứ trong chính mình, để cho tâm hồn nhẹ nhàng đối diện với đời sống trước mắt và giúp ích cho thế hệ mai sau. 

Trong lĩnh vực tâm bệnh học (Psychopathology) đương đại, chứng bệnh tâm thần mới nhất được chính thức đưa vào Cẩm nang chẩn trị bệnh tâm thần (DSM: Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder) lần đầu tiên vào năm 1980 là chứng bệnh "PTSD" mới được phát hiện từ các cựu chiến binh Hoa Kỳ đã tham gia vào cuộc chiến Việt Nam. PTSD là chữ viết tắt của Post Traumatic Stress Disorder. Xin tạm dịch là "Hội chứng hậu chấn thương". Đây là căn bệnh tâm thần do sự ám ảnh của một biến cố kinh hoàng nào đó đã xảy ra trong quá khứ, đeo đẳng mãi trong tâm thức -- hữu thức và vô thức -- làm cho bệnh nhân thường xuyên sống trong một trạng thái tâm thần bất ổn và nếu không chữa trị sẽ thành rối loạn, điên khùng. Người bệnh thường xuyên hay thỉnh thoảng ở trong một trạng thái tâm lý đề phòng, hồi hộp, lo sợ vu vơ, nóng giận bất thường, vui buồn lẫn lộn mà không biết vì đâu. Trong nhiều trường hợp nghiêm trọng, bệnh nhân có thể trở nên điên tiết, bạo động, tự tử, giết người, chống lại xã hội, bất chấp pháp luật, chà đạp đạo lý... mà không có ý thức về hành