Cuốn
1
Duyên
Khởi Luận
"Đường
lớn Trí Độ, Phật khéo đến,
Biển
lớn Trí Độ, Phật thấu suốt,
Nghĩa,
tướng Trí Độ, Phật vô ngại
Kính
lễ Phật, Trí Độ vô đẳng.
Hạt
kiến có không, dứt không còn,
Thật
tướng các pháp, Phật đã nói,
Thường
trụ bất hoại, sạch phiền não.
Kính
lễ Pháp, mà Phật tôn trọng.
Biển
cả Thánh chúng làm ruộng phước,
Bậc
học, vô học để trang nghiêm,
Đã
sạch giống ái của đời sau,
Ngã
sở đã dứt, căn đã trừ.
Đã
xả các sự nghiệp thế gian,
Là
trú xứ của các công đức.
Tối
thượng giữa tất cả chúng hội,
Kính
lễ chân tịnh Đại đức Tăng.
Đã
nhất tâm cung kính Tam Bảo,
Các
bậc cứu thế: Ngài Di-lặc (Maitreya)
Trí
tuệ đệ nhất: Xá-lợi-phất (Sàriputta),
Vô
tránh không hạnh: Tu-bồ-đề (Subhùti)
Tôi
nay theo sức muốn diễn nói,
Nghĩa
thật tướng đại trí bờ kia.
Nguyện
các Đại đức, bậc Thánh trí,
Nhất
tâm khéo thuận nghe tôi nói".
Hỏi:
* Vì
nhân duyên gì mà Phật thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật?
Phép tắc của chư Phật không vì vô sự và nhân duyên nhỏ
mà tự giảng pháp; cũng như núi Tu-di (Sumeru) cũng không vì
vô sự và nhân duyên nhỏ màrung động. Vậy, nay có nhân duyên
to lớn gì mà Phật thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật?
Đáp:
* Ở
trong Tam Tạng, Phật dùng đủ loại thí dụ để thuyết pháp
cho hàng Thanh-văn mà không thuyết đến Bồ-tát đạo. Duy trong
kinh Bản-mạt (Pùrvaparàntàka sutra) của Trung-A-hàm (Madhyamà),
Phật tuy có thọ ký cho Bồ-tát Di-lặc rằng: "Đời sau ông
sẽ được thành Phật hiệu là Di-lặc", mà cũng không nói
đến Bồ-tát hạnh. Nay Phật muốn giảng đủ các Bồ-tát
hạnh cho Di-lặc v.v… cho nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật.
* Lại
nữa, có vị Bồ-tát tu Niệm Phật tam muội, Phật muốn khiến
họ đối với Tam muội này được tăng ích, nên thuyết Kinh
Đại Bát-nhã Ba-la-mật. Như Phẩm đầu trong kinh Đại Bát-nhã
Ba-la-mật nói: "Phật hiện thần túc, phóng ra ánh sáng sắc
vàng chiếu khắp mười phương thế giới nhiều như cát sông
Hằng. Thị hiện thân lớn, sáng suốt trong sạch, đủ các
thứ sắc đẹp đầy khắp hư không, Phật ở giữa chúng,
đoan chánh thù diệu không ai sánh kịp; thí như núi chúa Tu-di
nổi giữa biển cả, các Bồ-tát nhờ thấy sự thần biến
của Phật, nên tăng thêm lợi ích đối với Niệm Phật tam
muội. Vì lẽ đó, Phật thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật.
* Lại
nữa, Bồ-tát (Tất-đạt-đa) lúc mới sanh, phóng ra ánh sáng
đầy khắp cả mười phương, đi bảy bước, nhìn khắp bốn
phương, với âm thanh như Sư tử rống, Ngài thuyết bài kệ:
"Phần
thai sanh đã hết,
Đây
là thân cuối cùng
Ta
đã được giải thoát,
Sẽ
lại độ chúng sanh".
Sau
khi phát thệ như vậy, thân Ngài lớn dần, Ngài muốn từ
bỏ thân thuộc, xuất gia tu đạo. Nửa đêm thức dậy, nhìn
thấy các ca nhi, hậu phi, thể nữ, hình trạng như thây thối,
Ngài liền sai Xa-nặc (Chandaka) thắng con Ngựa trắng, nửa
đêm vượt thành, đi được mười hai do tuần, đến trong
cánh rừng có vị tiên nhân tên Bạt-già-bà (Bhàrgavà) đang
ở, lấy dao cắt tóc, cởi y phục quí giá đổi lấy áo Tăng-già-lê
thô xấu, rồi ở bên sông Ni-liên-thuyền (Nairànjana), sáu
năm tu khổ hạnh, ngày ăn một hạt mè hoặc một hạt gạo,
nhưng tự nghĩ: "Đây không phải là Chánh đạo". Bấy giờ
Bồ-tát bỏ chỗ tu khổ hạnh, đến dưới gốc Bồ-đề,
ngồi tòa Kim-cang. Ma vương đem mười tám ức vạn đồ chúng
đến phá hoại Bồ-tát, Bồ-tát dùng sức công đức và trí
tuệ hàng phục bọn Ma mà chứng quả Vô thượng Bồ-đề.
Bấy giờ vị vua trời cõi Phạm-thiên, chúa tể của ba ngàn
đại thiên thế giới, tên là Thi-khí (Sikkin) cùng với chư
thiên ở cõi Sắc, Thích-đề-hoàn-nhơn cùng với chư thiên
ở cõi Dục và Tứ-thiên-vương cùng đến trước Phật, khuyến
thỉnh Thế tôn khởi đầu quay bánh xe Chánh pháp. Lại vì
Bồ-tát nhớ đến sở nguyện đại từ đại bi của mình
nên nhận lời thỉnh cầu mà thuyết pháp. Pháp sâu xa trong
các pháp là Bát-nhã Ba-la-mật vậy. Vì thế Phật thuyết Kinh
Đại Bát-nhã Ba-la-mật.
* Lại
nữa, có kẻ hoài nghi rằng Phật không chứng được Nhất
thiết trí, vì cớ sao? Vì các pháp vô lượng vô số, làm
sao một người mà có thể biết tất cả các pháp? Phật trú
trong pháp Bát-nhã Ba-la-mật thật tướng thanh tịnh như hư
không, vô lượng vô số, mà tự nói lên lời chân thật rằng:
"Ta là bậc Nhất thiết trí, muốn dứt hết thảy nghi ngờ
của chúng sanh"; vì thế Phật thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật.
* Lại
nữa, có những chúng sanh đáng được độ, nhưng vì đại
công đức và trí tuệ của Phật vô lượng, khó biết khó
hiểu, do đó họ bị ác sư mê hoặc, tâm đắm chìm trong tà
pháp, không vào được Chánh đạo. Vì hạng người đó, Phật
khởi tâm đại từ, duỗi tay đại bi cứu vớt, đưa vào Phật
đạo. Do đó mà Phật tự thị hiện ra công đúc tối diệu,
phát ra đại thần lực, như trong Sơ phẩm của Kinh Bát-nhã
Ba-la-mật nói: "Phật nhập vào Chánh định tên là Tam muội
vương. Khi ra khỏi Chánh định, Phật dùng Thiên nhãn quán
khắp mười phương thế giới, khắp các lỗ chân lông của
Ngài đều mỉm cười, và từ dưới bàn chân có tướng nghìn
bánh xe của Ngài phát ra sáu trăm ngàn vạn ức ánh sáng đủ
màu, chiếu khắp mười phương vô lượng vô số thế giới
của chư Phật nhiều như cát sông Hằng, làm cho tất cả đều
chói sáng". Phật muốn tuyên thị thật tướng của hết thảy
các pháp, đoạn trừ nghi kết của hết thảy chúng sanh, nên
thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật.
* Lại
nữa, có người ác tà, ôm lòng tật đố, phỉ báng rằng:
"Trí tuệ của Phật không ra khỏi (trí tuệ của) loài người,
mà chỉ dùng huyễn thuật làm mê hoặc đòi". Vì để dứt
lòng cống cao tà mạn của những người đó, nên Phật hiện
ra vô lượng thần lực, vô lượng trí tuệ lực, từ trong
Bát-nhã Ba-la-mật, tự nói lên rằng" "Ta là đấng có đầy
đủ vô lượng thần thông phước đức, tôn quí nhất trong
ba cõi, che chở cho tất cả. Nếu ai phát một niệm ác thì
mắc phải vô lượng tội, nếu phát một niệm tịnh tín thì
được hưởng phưuớc lạc cõi người, cõi trời, và chắc
sẽ được quả Niết-bàn". Lại vì muốn khiến mọi người
tín thọ Chánh pháp, nên nói: "Ta là Đại sư, có đủ Mười
lực, Bốn vô sở úy, đứng ở hàng Thánh chúa, tâm được
tự tại, với âm thanh như Sư tử hống mà quay bánh xe Chánh
pháp, là tối tôn thượng trong tất cả thế giới". Lại nữa,
Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh hoan hỉ mà nói Kinh Bát-nhã
Ba-la-mật này, rằng: "Các người nên sanh tâm hoan hỉ lớn.
Vì cớ sao? Vì hết thảy chúng sanh đều bị mắc trong lưới
tà kiến, bị bọn ác sư dị học làm mê hoặc; còn Ta thì
từ trong lưới tà kiến ác sư mà ra khỏi, là bậc Đại sư
đủ Mười lực, khó có thể gặp, nay các ngươi đã gặp
được, Ta sẽ theo thời khai mở các Pháp tạng thâm áo như
Bảy mươi bảy phẩm trợ đạo v.v… như vậy các ngươi mặc
tình thu lượm. Lại nữa, hết thảy chúng sanh vì bệnh kiết
sử gây ra phiền não. Từ khi có sanh tử đến bây giờ, không
ai trị được bệnh ấy, lại thường bị ngoại đạo ác
sư mê hoặc. Ta nay ra đời làm Đại y vương, tập hợp các
thứ pháp dược, các ngươi hãy uống đi". Vì thế Phật thuyết
Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật.
* Lại
nữa, có người nghĩ: "Phật cũng như người, cũng có sanh
tử, chịu sự đói khát, lạnh nóng, già bệnh". Phật muốn
trừ ý nghĩ đó nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật này,
khai thị rằng: "Thân Ta là không thễ nghĩ nghì, các Phạm
thiên vương và Tổ phụ chư thiên, dù trải qua kiếp số nhiều
như cát sông Hằng, muốn suy lường thân Ta, tìm xét âm thanh
Ta, còn không thể trắc lường, huống là trí tuệ tam muội
của Ta?", như kệ nói:
"Đối
tật tướng các pháp,
Các
hàng Phạm-thiên-vương,
Hết
thảy chúa trời đất,
Mê
mờ không thể biết.
Pháp
ấy rất thâm diệu,
Không
ai đo lường được.
Phật
ra đời khai mở,
Sáng
như mặt trời chiếu".
* Lại
như khi Phật Chuyển xe pháp lần đầu tiên, Bồ-tát Ứng-trì
từ tha phương đến muốn trắc lường thân Phật, vượt lên
quá hư không vô lượng cõi Phật, đến thế giới của Phật
Hòa-thượng, mà thấy thân Phật vẫn y như vậy, bèn nói kệ:
"Hư
không không biên tế,
Công
đức Phật vẫn thế,
Dẫu
muốn lường thân Phật,
Uổng
công không lường được.
Vượt
quá cõi hư không,
Vô
lượng các cõi Phật,
Thấy
thân Thích Sư tử,
Vẫn
như cũ không khác.
Thân
Phật như núi vàng,
Diễn
xuất ánh sáng lớn
Tướng
tốt tự trang nghiêm,
Như
hoa nở mùa xuân".
Như
thân Phật vô lượng, ánh sáng và âm hưởng cũng vô lượng.
Các công đức và Giới, Định, Tuệ … của Phật cũng đều
vô lượng, như Tam Mật ở trong kinh Mật Tích, trong đó có
nói rộng.
Lại,
khi Phật mới sanh, chạm đến đất liền đi bảy bước, miệng
tự cất tiếng nói, nói xong lặng im như các trẻ nít, không
đi, không nói, ba năm được mớm sữa, các bà mẹ nuôi nấng,
dần dần lớn khôn; nhưng thân Phật thì vô số trong khắp
các thế gian, vì độ chúng sanh mà hiện làm kẻ phàm phu.
Song kẻ phàm phu khi sanh, thân phần, các căn và ý thức chưa
thành tựu, bốn oai nghi nơi thân là ngồi, nằm, đi, đứng
và nói năng, thinh nín cùng các cách thức của con người đều
chưa hiểu rõ. Trải qua ngày tháng năm dần dần học tập
mới đủ các cách thức của người, chứ sao nay Phật mới
sanh ra liền có thể nói được, đi được, rồi sau mới không
thể nói và đi? Điều này thật là lạ? Nên biết, chỉ vì
Phật dùng phương tiện lực hiện thân làm theo cách thức
của người, đi đứng nằm ngồi như người để khiến chúng
sanh tin theo pháp thâm diệu. Nếu Bồ- tát khi mới sanh mà đã
đi dược, nói được, người đời tất sẽ nghĩ: "Nay mới
thấy người như vậy, thế gian chưa từng có. Đây chắc là
Trời, Rồng, Qủy, Thần. Những điều người ấy học không
phải là điều chúng ta làm được, vì cớ sao? Vì nhục thân
sanh tử của chúng ta do bị nghiệp kiếp sử lôi kéo, không
được tự tại nên những điều sâu như vậy của người
ấy ai mà theo nổi?" Vì nghĩ như thế nên họ tuyệt vọng,
không được thành pháp khí của Thánh hiền. Vì hạng người
đó mà Phật sanh ra trong vườn Lâm-tỳ-ni, tuy có thể đi đến
ngay dưới chân cội Bồ-đề mà thành Phật, song Ngài vẫn
dùng sức phương tiện, thị hiện làm hài đồng, ấu thơ,
thiếu niên rồi thành nhân. Theo từng thời kỳ mà hưởng
thụ sự vui chơi, học tập nghệ thuật, trang phục, hưởng
thọ ngũ dục, đủ cách thức của người thường, dần dần
thấy sự khổ già bệnh chết mà sanh tâm nhàm chán, nửa đêm
vượt thành xuất gia, đi đến chỗ của tiên nhân Uất-đặc-già
(Udraka) và A-la-la (Àlala) thị hiện làm đệ tử, nhưng không
thực hành theo pháp của các vị ấy. Tuy thường dùng thần
thông, tự nhớ đời trước, trì giới hành đạo trong thời
đức Phật Ca-diếp, mà nay vẫn thị hiện tu khổ hạnh sáu
năm cầu đạo. Bồ tát tuy làm chủ ba ngàn Đại thiên thế
giới, mà vẫn thị hiện dẹp phá ma quân, thành Vô thượng
đạo; vì tùy thuận theo pháp thế gian, nên hiện ra các biến
hóa đó. Nay ở trong Bát-nhã Ba-la-mật thị hiện đại thần
thông và trí huệ lực. Các người nên biết thân Phật nhiều
vô số khắp các thế gian.
* Lại
nữa, có người đáng được độ mà hoặc vì rơi vào chấp
kiến nhị biên, hoặc vì vô trí nên chỉ cầu cái khoái lạc
nơi thân; hoặc có người vì đạo mà tu theo khổ hạnh. Những
người như thế, đối với Đệ nhất nghĩa, họ bị mất
phần Niết-bàn chánh đạo. Phật muốn phá hai lối cực đoan
đó, đưa họ vào Trung đạo, nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã
Ba-la-mật.
* Lại
nữa, để phân biệt quả báo cúng dường sanh thân và pháp
thân nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật. Như đã nói trong
phẩm Xá-lợi tháp.
* Lại
nữa, vì muốn giảng thuyết A-bệ-bạt-trí và tướng của
A-bệ-bạt-trí. Lại vì muốn nói rõ Ma huyễn, Ma ngụy, Ma
sự. Lại vì nhân duyên để người ở đời đương lai cúng
dường Bát-nhã Ba-la-mật. Lại vì muốn thọ ký cho hàng Tam
thừa, nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật. Như Phật bảo
A-nan: "Sau hi Ta bát Niết-bàn, Bát-nhã Ba-la-mật này sẽ truyền
đến phương Nam, từ phương Nam truyền đến phương Tây. Sau
đó năm trăm năm (Phật lịch) sẽ truyền đến phương Bắc.
Ở đây có nhiều thiện nam, thiện nữ nhơn tin pháp cúng dường
các thứ hoa hương, anh lạc, tràng phan, kỹ nhạc, đèn sáng,
trân bảo, cùng các tài vật khác; hoặc tự chép, hoặc khuyên
người khác chép, hoặc đọc tụng, hoặc nghe giảng thuyết,
chơn chánh ghi nhớ, tu hành, đúng pháp mà cúng dường. Người
này nhờ nhân duyên đó mà hưởng thụ các thứ cục lạc
của thế gian và đến đời cuối cùng thì chứng Tam thừa
mà vào Vô dư Niết-bàn". Những việc nhân duyên như vậy,
xem trong tác phẩm của kinh. Thế nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã
Ba-la-mật.
* Lại
nữa, vì muốn thuyết tướng Đệ nhất nghĩa Tất-đàn, nên
Phật thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật. Có bốn thứ Tất-đàn:
Một là Thế giới Tất-đàn, hai là Các các vị nhân Tất-đàn,
ba là Đối trị Tất-đàn, bốn là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn.
Trong bốn Tất-đàn đã tổng nhiếp hết thảy mười hai bộ
kinh, tám vạn bốn ngàn Pháp tạng, đều là thật không trái
ngược nhau. Trong Phật pháp tất cả đều thật. Có pháp thật
vì theo Thế giới Tất-đàn, có pháp thật vì theo Các các
vị nhân Tất-đàn, có pháp thật vì theo Đối trị Tất-đàn,
có pháp thật vì theo Đệ nhất nghĩa Tất-đàn.
- Sao
gọi là Thế giới Tất-đàn? (Tất đàn theo nghĩa phổ thông).
Vì có những pháp theo nhân duyên hòa hợp nên có, chứ không
có tính biệt lập. Ví như xe, do có càng, nhịp, trục, bánh
hoà hợp lại nên có, chứ không có chiếc xe riêng. Con người
cũng như thế, do năm uẩn (ngũ chúng) hòa hợp nên có, chứ
không có con người riêng.
Hỏi:
Như Phật nói: "Ta dùng Thiên nhãn thanh tịnh thấy các chúng
sanh chết chỗ này sanh chỗ kia, chịu quả báo tùy theo nghiệp
thiện ác. Người có nghiệp thiện thì sanh trong loài trời,
người; người có nghiệp ác thì bị đọa vào ba đường
ác". Lại nữa, Kinh nói: "Một người ra đời, mà nhiều người
được nhờ phúc lạc lợi ích; đó là Phật Thế Tôn vậy".
Như trong Pháp Cú nói: "Tự mình cứu lấy mình, người khác
làm sao cứu được. Tự mình thực hành thiện trí là tự
cứu hay nhất". Như trong kinh Bình Sa Vương Nghinh Phật nói:
"Người phàm không nghe pháp, ngươì phàm đắm trước nơi
ngã". Lại trong kinh Phật Nhị Dạ nói: "Phật từ đêm Đắc
đạo, đến đêm Bát Niết-bàn, những kinh giáo Phật thuyết
khoảng thời gian giữa hai đêm ấy, tất cả đều thật, không
điên đảo". Nếu thật không có người thì tại sao Phật
lại nói người (trong câu: Ta dùng Thiên nhãn thanh tịnh thấy
các chúng sanh)!
Đáp:
Người v.v… vì theo Thế giới Tất-đàn nên có, vì theo Đệ
nhất nghĩa Tất-đàn nên không. Còn như như, pháp tánh , thật
tế, vì theo Thế giới Tất-đàn nên không, vì theo Đệ nhất
nghĩa Tất-đàn nên có. Người … cũng như thế , vì theo Đệ
nhất nghĩa Tất-đàn nên không, vì theo Thế giới Tất-đàn
nên có; vì có các nhân duyên năm uẩn nên có người. Ví như
sữa do nhân duyên của sắc, hương, vị, xúc cho nên có, nếu
sữa thật không thì nhân duyên của sữa cũng phải là không,
nay nhân duyên của sữa thật có, nên sữa cũng phải là có.
Chẳng phải như cái đầu thứ hai, cánh tay thứ ba của một
người, là không có nhân duyên mà chỉ có giả danh. Các tướng
(hình thức) như thế nên gọi là Thế giới Tất-đàn.
-Sao
gọi là Các các vị nhân Tất-đàn? (Tất đàn trong ý nghĩa
cá biệt với từng người). Quán sát tâm hành của từng người
mà nói pháp cho họ. Đối trong một việc mà hoặc có người
nghe được, có người không nghe được. Như trong Kinh nói:
"Do nghiệp tạp báo mà tạp sanh ra trong thế gian, được tạp
xúc, tạp thọ". Lại trong kinh Phá-quần-na nói: "Không có người
xúc, không có người thọ".
Hỏi:
Giữa hai kinh này, làm sao dung thông được?
Đáp:
Vì có kẻ nghi ngời đời sau, không tin tội phước, làm hạnh
bất thiện, rơi vào kiến chấp đoạn diệt (đoạn kiến).
Vì muốn dứt mối nghi của người đó, trừ ác hạnh của
họ, tức là muốn nhổ "đoạn kiến" của người đó nên
nói tạp sanh trong thế gian, được tạp xúc, tạp thọ. Lại
ngoại đạo Phá-quần-na chấp có ngã, có thần, rơi vào chấp
thường (thường kiến), nên khi Phá-quần-na hỏi Phật: "Thưa
Đại đức Thế Tôn, ai thọ?" Nếu Phật trả lời có ai thọ
thì kia bèn rơi vào chấp thường. Ngã kiến của người ấy
tăng gấp bội, bền chắc, khônt thể di chuyển. Cho nên đối
với người này, Phật không nói là có người thọ, người
xúc, Như$ng tướng (hình thức) như thế gọi là các các vị
nhân Tất đàn.
-Sao
gọi là Đối trị Tất-đàn? (Tất đàn trong ý nghĩa đối
trị theo bệnh). Có pháp, về ý nghĩa đối trị thì có, mà
thật tính thì không như các thứ cỏ, thuốc, uống, ăn có
tính chất nặng, nhiệt, béo, chua, mặn, đối với bệnh phong
thì gọi nó là thuốc; còn đối với bệnh khác thì không
phải thuốc. Nếu các thứ cỏ, thuốc, ăn, uống có tính chất
nhẹ, lạnh, ngọt, đắng, rít, đối với bệnh nhiệt thì
gọi nó là thuốc; còn đối với bệnh khác thì không phải
thuốc. . Nếu các thứ cỏ, thuốc, ăn, uống có tính chất
nhẹ, cay, đắng, rít, nóng đối với bệnh hàn thì gọi nó
là thuốc; còn đối với bệnh khác thì không phải thuốc.
Cách trị tâm bệnh trong Phật pháp cũng như thế. Phép tư
duy quán bất tịnh đối với bệnh tham dục thì gọi là pháp
đối trị hay, còn đối với bệnh sân nhuế thì không gọi
là hay, không phải là pháp đối trị, sao vậy? Quán thân xấu
xa ô cấu gọi là quán bất tịnh, nếu ngườilà sân nhuế
mà quán thân xấu xa ô cấu, thì càng làm tăng thêm lửa sân
nhuế. Tư duy về từ tâm đối trị bệnh sân nhuế thì gọi
là pháp đối trị hay; còn đối với bệnh tham dục thì không
gọi làhay, không phải là pháp đối trị, vì sao? Vì từ tâm
đối với chúng sanh thường cầu việc tốt, quán sát công
đức, nếu là người tham dục mà cầu việc tốt, quán sát
công đức thì càng tăng thêm lòng tham dục … Pháp quán nhân
duyên, đối với bệnh ngu si thì gọi là pháp đối trị hay;
còn với bệnh tham dục, sân nhuế thì không gọi làhay, không
phải là pháp đối trị, vì sao vậy? Vì trước có tà quán
mới sinh tà kiến, mà tàkiến tức là ngu si.
Hỏi:
Trong phật pháp có nói Mười hai nhân duyên rất sâu xa, như
nói" "Phật bảo A-nan, pháp Nhân duyên ấy rất sâu xa, thấy
khó biết, khó tỏ ngộ, khó quán sát. Người có tâm vi tế,
tuệ thiện xảo, mới hiểu được, còn người ngu si đối
với pháp thiển cận còn khó hiểu, huống là pháp nhân duyên
rất sâu xa!". Thế tại sao nay lại nói người ngu si nên quán-pháp
Nhân duyên?
Đáp:
Người ngu si đây không phải như trâu dê ngu si, mà là người
này muốn cầu đạo chân thật lại đem tà tâm quán sát nên
sanh ra đủ thứ tà kiến, người ngu si như thế hãy nên quán
sát Nhân duyên, gọi là pháp đối trị hay, nếu với người
có nhiều sân nhuế, tham dục, mong cầu khoái lạc, muốn nhiễu
hại kẻ khác, thì Nhân duyên quán không là hay, không phải
là pháp đối trị, chỉ có tư duy về bất tịnh, về từ
tâm mới là hay, là pháp đối trị với hai hạng người ấy,
vì sao? Vì hai phép quán này có thể nhổ mũi tên độc sân
nhuế và tham dục. Lại nữa, những chúng sanh điên đảo chấp
thường, không biết rõ các pháp chỉ có trong tánh cách tương
tợ tương tục. Những người như thế mà quán Vô thường
là pháp Đối trị Tất đàn, chứ không phải Đệ nhất nghĩa
Tất đàn, vì sao? Vì hết thảy các pháp, tự tánh là không,
như kệ nói:
"Vô
thường thấy là thường,
Ấy
gọi là điên đảo.
Trong
không, không vô thường,
Chỗ
nào thấy có thường?"
Hỏi:
Hết thảy pháp Hữu vi đều tương ưng với vô thường, ấy
là Đệ nhất nghĩa, vì sao? Vì hết thảy pháp Hữu vi đều
có ba tướng: Sanh, trụ, diệt. Vì trước tiên là sanh, tiếp
đến trụ, sau đó diệt; tại sao nay nói vô thường không
phải là thật?
Đáp:
Pháp Hữu vi đúng ra không có ba tướng ấy, vì sao? Vì ba tướng
ấy không thật. Nếu các pháp sanh, trụ, diệt là tướng Hữu
vi thì trong tướng sanh lẽ ra cũng phải có đủ ba tướng;
vì sanh là pháp Hữu vi. Như vậy mỗi một tướng lại đều
có đủ ba tướng, thế thì vô cùng. Trụ và diệt cũng như
thế. Nếu trong mỗi sanh, trụ, diệt lại không có sanh, trụ,
diệt thì sanh, trụ, diệt đó không nên gọi là pháp Hữu
vi, vì sao? Vì tướng của pháp Hữu vi (sanh, trụ, diệt) nơi
đó không có. Do nghĩa đó, các pháp vô thường, là không phải
Đệ nhất nghĩa Tất-đàn.
Lại
nữa, nếu tất cả đều thật sự là bản tánh vô thường,
thời không có hạnh nghiệp và quả báo, vì sao? Vì vô thường
tức là sanh rồi diệt mất. Ví như hat giống mục nát không
thể sanh ra quả, như vậy thời không có hạnh nghiệp, không
có hạnh nghiệp thiện sao có quả báo? Nay theo pháp của các
Hiển thánh đều nói có quả báo, kẻ thiện trí có thể tín
thọ; vậy không nên nói không quả báo. Do đó, các pháp không
phải là vô thường tánh. Vì nói có các nhân duyên vô lượng
như thế, nên không được nói các pháp làvô thường tánh.
Tất cả pháp Hữu vi vô thường, khổ, vô ngã cũng như vậy.
Các tướng như thế gọi là Đối trị Tất-đàn.
-Sao
gọi là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn? (Tất đàn trong ý nghĩa
tuyệt đối) Hết thảy pháp tánh , hết thảy luận nghị,
ngữ ngôn, hết thảy pháp và phi pháp, mỗi mỗi có thể phân
biệt phá tán, còn pháp chơn thật của chư Phật, Bích-chi
Phật, A-la-hán hành trì thì không thể phá, không thể tán.
Những gì không thông suốt ở trong ba thứ Tất-đàn trên thì
ở trong đây thông được. Nhưng thông như thế nào? Thông
là xa lìa mọi lỗi lầm, không thể biến đổi, không thể
vượt hơn, vì sao? Vì trừ Đệ nhất nghĩa Tất-đàn, còn
các nghị luận khác, các Tất-đàn khác, đều có thể bị
phá hoại, như bài kệ trong kinh Chúng-nghĩa nói:
"Mỗi
tự nương kiến chấp,
Hý
luận khởi cạnh tranh,
Biết
thế là biết thật,
Không
biết là báng Pháp.
Không
nhận pháp kẻ khác,
Ấy
là người vô trí,
Những
người có hý luận
Thảy
đều là vô trí.
Hoặc
nương điều mình thấy,
Mà
sanh các hý luận,
Nếu
cho đó tịnh trí,
Thì
ai cũng tịnh trí".
Trong
ba bài kệ này, Phật nói tướng trạng của Đệ nhất nghĩa
Tất-đàn, rằng chúng sanh trong thế gian tự nương kiến chấp,
tự nương pháp, tự nương hý luận của mình mà sanh ra cạnh
tranh. Hý luận chính là gốc cạnh tranh, mà hý luận thì nương
các kiến chấp sanh khởi, như kệ nói:
"Có
lãnh thọ pháp, mới có luận,
Không
lãnh thọ pháp, luận cái gì.
Các
kiến có, không có lãnh thọ,
Điều
ấy, người này đã trừ sạch".
Hành
giả như thật biết được điều ấy, thì đối hết thảy
pháp, hết thảy hý luận, không lãnh thọ, không chấp trước,
không thấy là thật, không cùng cạnh tranh với kẻ khác, và
biết được vị cam lồ của Phật pháp. Nếu không được
thế, tức là hủy báng Pháp. Nếu không lãnh thọ pháp của
kẻ khác, không biết không nhận lấy, ấy là người vô trí.
Như vậy thời những người có hý luận đều là người vô
trí, tại sao vậy? Vì mỗi người không chịu lãnh thọ pháp
của nhau, như có người tự cho pháp của mình là đệ nhất
chơn thật thanh tịnh; còn pháp của người khác là vọng ngữ,
không thanh tịnh. Ví như pháp xử trị của thế gian, nào là
hình phạt giết chém đủ thứ bất tịnh mà người thế gian
tín thọ làm theo cho là thật thanh tịnh, nhưng đối với người
xuất gia thánh thiện thì đó là điều rất bất tịnh. Những
người xuất gia theo ngoại đạo, sống theo pháp tu ngũ nhiệt
đứng một chân, nhổ tóc v.v… hạng Ni-kiền-tử (Nirgranthaputra)
cho đó là diệu huệ; còn các người khác nói đó là pháp
ngu si. Các pháp của hàng xuất gia ngoại đạo và Bà-la-môn
bạch y như thế đó, họ đếu cho là tốt đẹp, ngoài ra là
vọng ngữ.
Trong
Phật pháp đây cũng có Tỳ kheo Độc-tử bảo: "Như bốn đại
hòa hợp có pháp con mắt, năm uẩn (ngũ chúng) hòa hợp có
pháp con người". Trong luận A-tỳ-đàm của Độc-tử nói:
"Năm uẩn không lìa con người, con người không lìa năm uẩn,
không thể nói năm uẩn là con người (ngã) hay lìa năm uẩn
là con người. Con người (nhân ngã) nhiếp thuộc vào pháp
tạng thứ năm là bất khả thuyết pháp-tạng".
Hàng
Đạo-nhân phái Nhất-thiết-hữu (Bộ) thì nói: "Trong hết
mọi thứ, trong hết mọi thời, trong hết mọi pháp môn, không
thể tìm ra được con người, ví như lông Rùa, sừng Thỏ
thường là không có. Lại nữa, mười tám giới, mười hai
nhập, năm uẩn thật có tự tánh mà trong đó không có con
người (ngã)".
Lại
trong Phật pháp, có hàng Phương quảng (Vaipulya) Đạo nhân
nói: "Hết thảy pháp không sanh không diệt, không, không có
gì cả, ví như lông Rùa, sừng Thỏ thường là không có".
Hất
thảy các hàng luận nghị như thế, tự giữ lấp pháp của
mình, không nạp thọ pháp của người khác, rằng: "Đây mới
là thật, ngoài ra đều là vọng ngữ". Nếu tự thọ lãnh
lấy pháp của mình, tự cúng dường lấy pháp của mình, tự
tu hành theo pháp của mình, các pháp người khác thì không
thọ, không cúng dường, cho là sai quấy. Và nếu cho như vậy
là thanh tịnh, được nghĩa lợi đệ nhất, thời tất cả
không có gì không phải thanh tịnh, sao vậy? Vì tất cả những
người kia đều thọ lạnh pháp của mình.
Hỏi:
Nếu các kiến chấp là sai, thì Đệ nhất nghĩa Tất-đàn
sao lại đúng?
Đáp:
Hết hảy đường ngôn ngữ dứt, chỗ tâm hành diệt, khắp
nơi đều không chỗ dựa, khôn g hiển thị các pháp, thật
tướng các pháp không đầu, không giữa, không cuối, không
tận, không phá hoại, ấy là Đệ nhất nghĩa Tất-đàn, như
bài kệ ở trong Ma-ha Diễn nghĩa nói:
"Ngôn
ngữ không còn,
Tâm
hành cũng hết,
Không
sanh không diệt
Pháp
như Niết-bàn.
Nói
các hành xứ,
Gọi
thế gian pháp,
Nói
không hành xứ,
Là
Đệ nhất nghĩa.
Hết
thảy thật, hết thảy phi thật
Và
hết thảy thật, cùng phi thật.
Hết
thảy chẳng thật, chẳng không thật,
Ấy
gọi thật tướng của các pháp".
Đệ
nhất nghĩa Tất-đàn được nói đến trong các Kinh như vậy,
nghĩa ấy rất sâu, khó thấy khó biết. Vì muốn nói nghĩa
ấy, nên Phật thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật.
* Lại
nữa, vì muốn cho các nhà đại luận nghị như ông Phạm-chí
Trường Trão v.v… sanh lòng tin đối với Phât pháp nên Phật
thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật.
Có
vị Phạm-chí tên Trường Trão, lại có vị tên là Tiên-ni
Bà-tha-cù đa-la, lại có vị tên là Tát-giá Ca-ma-kiện-đề,
là những vị đại luận nghị của cõi Diêm-phù-đề, nói:
"Hết thảy luận đều có thể phá, hết thảy lời nói đều
có thể hoại, hết thảy lối chấp đều có thể lay chuyển,
không có pháp chơn thật nào đáng tin đánh cung kính". Như
trong Kinh Xa-lợi-phất Bản-mạt nói: "Cậu của Xá-lợi-phất
tên là Đại Câu-hy-la cùng chị là Xá-lợi, luận nghị mà
không bằng. Đại Câu-hy-la suy nghĩ: "Đây không phải sức
của chị ta, chắc là bậc Trí giả trong bào thai gởi lời
nơi miệng mẹ. Người này chưa sanh mà đã vậy, lớn lên
sẽ ra sao?" Suy nghĩ xong, ông sanh tâm kiêu mạn; vì muốn học
rộng các thứ luận nghị nên xuất gia làm Phạm-chí, đi vào
nước Nam Thiên Trúc, bắt đầu đọc kinh thơ. Mọi người
hỏi: "Chí ông muốn cầu gì, học tập kinh gì?" Trường Trão
đáp: "Cả mười tám thứ kinh lớn đều muốn đọc hết".
Mọi người nói: "Trọn cả đời ông còn không hiểu một
thứ, huống chi hiểu hết?" Trường Trão tự nghĩ: "Trước
kia vì kiêu mạn nên thua chị, nay lại bị các người này
khinh nhục". Vì hai chuyện này nên tự thề rằng: "Ta không
cắt móng tay, cần phải đọc hết mười tám thứ đại kinh".
Mọi người nhân thấy móng tay dài mà gọi ông là Phạm-chí
Trường Trão. Ông dùng trí tuệ của đủ thứ kinh sách, đủ
thứ lời châm chích rằng: "Đây làpháp, đây làphi pháp, đây
là phải, đây là không phải, đây là thật, đây là không
thật, đây là có, đây là không để phá luận nghị của
người khác. Ví như voi cuồng, sức lớn đường đột dày
xéo, không ai chế ngự được.
Sau
khi Phạm-chí Trường Trão dùng sức luận nghị như vậy dẹp
phá các luận sư xong, trở về nơi sinh quán là thôn Na-la trong
thành Vương-xá nước Ma-già-đà, hỏi người ta rằng: "Đứa
con của chị tôi sanh ra nay nó ở đâu?" Có người trả lời:
"Con của chị ông sinh ra, vừa mới 8 tuổi đã học hết các
thứ kinh sách, đến 16 tuổi thì luận nghị hơn cả mọi người.
Có đạo nhân Thích-chủng họ Cù-đàm, con của chị ông theo
làm đệ tử của vị ấy". Trường Trão nghe thế liền khởi
kiêu mạn, sanh lòng không tin, nói rằng: "Đứa con của chị
ta thông mminh như thế, ông kia dùng thuật gì mà có thể dối
hoặc để nó cạo tóc làm đệ tử được?!" Nói thế rối,
đi ngay đến chỗ Phật.
Bấy
giờ Tôn-giả Xá-lợi-phất vừa thọ giới được nửa tháng,
đang đứng hầu bên Phật, cầm quạt quạt Phật. Trường
Trão Phạm-chí gặp Phật hỏi han xong, ngồi xuống một bên
suy nghĩ rằng: "Mọi thứ luận nghị đều có thể bị phá,
mọi lời nói đều có thể bị hoại, mọi thứ chấp thủ
đều có thể bị lay chuyển. Vậy trong đó cái gì là thật
tướng của các pháp? Cái gì là đệ nhất nghĩa? Cái gì làtánh?
Cái gì là tướng? Không điên đảo?" Suy nghĩ như vầy: "Như
nước biển lớn, mà muốn đến tận đáy nó, tìm cầu đã
lâu mà chẳng được một pháp nào thật để có thể nhập
tâm. Vậy ông ấy dùng luận nghị gì mà có thể lôi được
con của chị ta?" Suy nghĩ xong, Trường Trão liền nói với
Phật rằng: "Này ông Cù Đàm! Hết thảy các pháp ta đều
không thọ nhận". Phật hỏi Trường Trão: " Hết thảy các
pháp ông đều không thọ nhận, vậy cái kiến chấp (hết
thảy đều không thọ nhận) ấy, ông có thọ nhận không?"
Phật gạn hỏi câu đó có nghĩa: "Ông đã uống vào độc
tà kiến, nay tuôn ra độc khí, nói rằng: Hết thảy pháp ta
đều không thọ nhận, vậy cái kiến chấp (quan điểm) đó,
ông có thọ nhận không?"
Bấy
giờ Trường Trão Phạm-chí như ngựa hay vừa thấy bóng roi
là biết sợ và chạy theo đường chánh. Trường Trão Phạm-chí
cũng thế, nghe lời nói của Phật như bóng roi đi vào tâm,
liền vứt bỏ cống cao, hổ thẹn cúi đầu, suy nghĩ như vầy:
"Phật đặt ta vào hai cửa thua. Nếu ta nói là thọ nhận,
thì đây là cửa thua rõ rệt, nên nhiều người biết, họ
sẽ nói: Tại sao tự nói hết thảy pháp ta đều không thọ
nhận, nay lại nói kiến chấp đó ta thọ nhận? Rõ ràng là
nói dối, đó là cửa thua rõ rệt bị nhiều người biết.
Cửa thua thứ hai tế nhị hơn, vì nói ta đều không thọ nhận
thì không mấy người biết". Trường Trão suy nghĩ vậy rồi
đáp lại Phật: "Cù Đàm! Hết thảy pháp ta không thọ nhận,
kiến chấp này cũng không thọ nhận". Phật bảo: "Phạm-chí,
ông không thọ nhận hết thảy pháp, kiến chấp ấy cũng không
thọ nhận. Không thọ nhận gì cả thì có gì khác với mọi
người đâu, cần gì cống cao mà sanh kiêu mạn?" Hỏi như
vậy, Trường Trão Phạm-chí không thể đáp được, tự biết
mình đã rơi vào chỗ thua, liền sanh khởi tín tâm, cung kính
nói với Nhất thiết trí của Phật, tự nghĩ rằng: "Ta bị
thua mà Thế Tôn không nêu bày chỗ thua của ta, không nói phải
quấy, không để ý. Tâm Phật nhu nhuyến thanh tịnh bậc nhất.
Tất cả ngôn ngữ luận nghị đã dứt, được đại pháp
thậm thâm. Ngài là bậc đáng cung kính, tâm thanh tịnh bậc
nhất, không ai hơn Phật". Vì Phật thuyết pháp dứt tà kiến
của ông, ông liền ngay tại chỗ ngồi xa lìa trần cấu, đối
với các pháp được con mắt thanh tịnh.
Bấy
giờ Xá-lợi-phất nghe những lời ấy, chứng được A-la-hán.
Trường Trão Phạm-chí bèn xuất gia làm Sa-môn, chứng được
A-la-hán có đại oai lực. Nếu Trường Trão Phạm-chí không
nghe hơi hám của Bát-nhã Ba-la-mật là pháp tương ưng đệ
nhất nghĩa lìa bốn câu, thì chút lòng tin còn không có huống
gì chứng được đạo quả của bậc xuất gia? Phật vì muốn
dắt dẫn hạng người đại luận nghị sư lợi căn như thế,
nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa này.
* Lại
nữa, các đức Phật có hai cách thuyết pháp: Một là Quán
tâm người nghe rồi tùy căn cơ có thể hóa độ, hai là quán
tướng các pháp. Nay Phật muốn nói thật tướng của các
pháp nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật. Như trong phẩm
thuyết về "Tướng bất tướng", các vị Thiên tử hỏi Phật:
" Bát-nhã Ba-la-mật này sâu xa, làm sao mà tác thành tướng?"
Phật dạy các Thiên tử: "Không tức là tướng, vô tướng,
vô tác tướng, vô sanh diệt tướng, vô hành tướng, thường
bất sanh tướng, như tánh tướng, tịch diệt tướng v.v…"
*
Lại nữa, có hai cách thuyết pháp: Một là có chỗ tranh cãi,
hai là không chỗ tranh cãi. Có chỗ tranh cãi như trong các Kinh
khác đã nói, nay muốn nói chỗ không tranh cãi, cho nên thuyết
Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật. Có tướng, không tướng, có vật,
không vật, có y cứ, không y cứ, có đối, không đối, có
trên, không trên; thế giới, phi thế giới; những pháp môn
hai phần cũng thế.
Hỏi:
Phật tâm đại từ bi thì chỉ nên nói pháp không tranh cãi,
cớ sao lại nói pháp có tranh cãi?
Đáp:
Pháp không tranh cãi đều là vô tướng, thường tịch diệt,
bất khả thuyết. Nay nói bố thí và các pháp vô thường,
khổ, không v.v… đều là vì tịch diệt, không vì hý luận
mà thuyết. Những người lợi căn biết ý Phật không khởi
lên sự tranh cãi; còn kẻ độn căn không biết ý Phật, chấp
lấy tướng, trước lấy tâm, nên khởi lên sự tranh cãi,
nên gọi là có tranh cãi. Bát-nhã Ba-la-mật này là "tính tốt
ráo không" của các pháp, nên không có chỗ để tranh cãi.
Nếu rốt ráo không mà có thể nắm, có thể tranh cãi thời
không gọi là rốt ráo không. Vì rốt ráo không thì có và
không hai sự đều dứt, thế nên Bát-nhã Ba-la-mật gọi là
chỗ không tranh cãi.
* Lại
nữa, trong các kinh khác thường dùng ba lối để nói các pháp,
đó là thiện, bất thiện và vô ký. Nay muốn nói các tướng
các pháp chẳng phải thiện, chẳng phải bất thiện, chẳng
phải vô ký, cho nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật-đa.
Pháp
học, pháp vô học, pháp phi học phi vô học; pháp do kiến
đế đoạn (kiến sở đoạn), pháp do tư duy đoạn (tu sở
đoạn), pháp không đoạn (phi sở đoạn); pháp có thể thấy
có đối ngại, pháp không thể thấy có đối ngại, pháp không
thể thấy không đối ngại; pháp thượng trung hạ; pháp tiểu,
đại, vô lượng. Như vậy pháp môn có ba phần cũng thế.
* Lại
nữa, trong các kinh khác tùy theo căn cơ hàng Thanh-văn, Phật
nói pháp Tứ niệm xứ, nơi đây Tỳ-kheo quán trong thân ba
mươi sáu vật để trừ bệnh tham dục, quán ngoài thân, trong
ngoài thân cũng như vậy. Nay vì muốn dùng lối khác để nói
pháp Tứ niệm xứ, nên Phật thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật,
như nói: "Bồ-tát quán trong thân, với thân không sanh giác
quán, không thấy có thân, vì là vô sở đắc. Như vậy quán
ngoài thân, quán trong ngoài thân, với thân không sanh giác tưởng,
là một việc rất khó. Ba niệm xứ Thọ, Tâm, Pháp cũng vậy.
Như vậy những pháp môn có bốn phần như: Bốn Chánh cần,
bốn Như ý túc, bốn Thiền, bốn Đế v.v… cũng đều như
thế".
* Lại
nữa, trong các kinh khác Phật nói năm uẩn (ngũ chúng) là vô
thường, khổ, không, vô ngã. Nay vì muốn dùng lối nói khác
về năm uẩn, nên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật. Như
Phật bảo Ngài Tu-bồ-đề: "Bồ-Tát quán sắc là thường
hành thì không hành Bát-nhã Ba-la-mật; quán thọ, tưởng, hành,
thức là thường hành, thì không hành Bát-nhã Ba-la-mật; quán
sắc là vô thường hành thì không hành Bát-nhã Ba-la-mật;
quán thọ, tưởng, hành, thức là vô thường hành, thì không
hành Bát-nhã Ba-la-mật. Như vậy các thứ năm pháp như: Năm
thọ ấm, năm đạo v.v… cũng đều như thế.
Ngoài
ra các pháp môn sáu, bảy, tám cho đến vô lượng v.v… cũng
đều như thế. Như Đại Bát-nhã Ba-la-mật vô lượng vô biên,
nên nhân duyên thuyết Bát-nhã Ba-la-mật cũng vô lượng vô
biên; việc này rất rộng.
Nay
đã lược nêu các nhân duyên thuyết Kinh Đại Bát-nhã Ba-la-mật
xong.
PHẨM
TỰA ĐẦU
[Phẩm
Tựa Đầu của kinh chia thành 46 chương để giải thích. Từ
Chương I giải thích Như Thị Ngã Văn Nhất Thời đến Chương
46 giải thích Tin Trì]
CHƯƠNG
1
GIẢI
THÍCH: NHƯ THỊ, NGÃ VĂN, NHẤT THỜI
KINH:
Như Thị, Ngã Văn, Nhất Thời
LUẬN:
Hỏi: Phật Kinh vì sao bắt đầu bằng lời: "Như vậy" (Như
thị?)
Đáp:
Phật pháp như biển cả, có tin thì vào được, có trí thì
qua được. Nghĩa của chữ "Như vậy" chính là tin.
Nếu
người mà trong tâm có đức tin thanh tịnh, thì người ấy
có thể vào được Phật pháp. Nếu không có tin thì người
ấy không thể vào được Phật pháp. Không có tin thì nói
việc ấy không "như vậy", ấy là tướng của bất tin. Người
có tin thì nói việc ấy "như vậy". Ví như da Trâu chưa mềm
thì không thể gấp xếp, người không có tin cũng vậy; ví
như da Trâu đãmềm, có thể tùy chỗ mà dùng mà làm, người
có tin cũng vậy.
Lại
nữa trong Kinh nói tin là cánh tay. Cũng như người có cánh
tay đi vào trong núi báu, tự tại lấy báu, nếu người không
có cánh tay thì không lấy được gì. Người có tin cũng như
vậy, vào trong núi báu Phật pháp có đủ thứ Vô lậu căn,
Vô lậu lực, Thất giác chỉ, Bát chánh đạo, Tứ thiền,
Tứ định, tự tại thu lấy. Người không có tin cũng như
không có cánh tay. Người không có cánh tay vào trong núi báu
không thể thu lấy được gì. Người không có tin cũng vậy,
vào trong núi báu Phật pháp không thu lấy được gì. Phật
tự nghĩ: "Nếu người có tin, người ấy có thể vào trong
biển pháp rộng lớn của Ta, có thể chứng được bốn quả
Sa-môn, không uổng công cạo đầu mặc áo Ca-sa. Nếu không
tin, thì người ấy không thể vào trong biển pháp của Ta,
cũng như cây khô không thể sanh hoa quả. Không chứng được
quả Sa-môn, tuy có cạo đầu mặc áo Ca-sa, tụng nhiều thứ
kinh, giỏi cấn nạn, khéo giải đáp đi nữa thì ở trong Phật
pháp chỉ uổng công chẳng có được gì". Cho nên nghĩa "Như
vậy" là bước đầu đi vào Phật pháp, vì là tướng của
thiện tin vậy.
Lại
nữa, Phật pháp sâu xa, chỉ có Phật mới biết được. Người
có tin, tuy chưa làm Phật mà do tin lực có thể vào được
Phật pháp, như Phạm-thiên vương khi thỉnh Phật bắt đầu
quay bánh xe Chánh pháp, đọc bài kệ thỉnh Phật:
"Diêm-Phù-đề
đã sanh.
Nhiều
thứ pháp bất tịnh.
Xin
mở cửa cam lồ.
Mà
chỉ đường thanh tịnh!"
Phật
đáp:
"Pháp
ta rất khó hiểu
Dứt
được các kiết sử.
Tâm
ưa dăm ba cõi.
Kẻ
ấy không tỏ được"
Phạm-thiên
vương bạch Phật: "Bạch đại đức Thế Tôn! Trong thế giới,
tâm trí có thượng, trung, hạ. Kẻ khéo trực tâm nhu nhuyến,
dễ được độ thoát, hạng người ấy nếu không được
nghe Chánh pháp, họ sẽ rớt lại trong các ác nạn. Ví như
hoa sen trong nước, có thứ mới sanh, có thứ già, có thứ
chưa lên khỏi mặt nước, nếu không gặp được ánh sáng
mặt trời thời không nở được. Phật cũng như ánh sáng
mặt trời, vì tâm đại Từ-bi thương xót chúng sanh, nên Phật
hãy vì họ mà thuyết pháp". Phật nghĩ: "Phép của chư Phật
trong ba đời: Quá khứ, vị lai và hiện tại là đều vì độ
chúng sanh mà thuyết pháp. Ta cũng nên như thế". Tư duy như
vậy rồi, Phật nhận lời của chư thiên Phạm-thiên vương
mà thuyết pháp, dùng kệ đáp:
"Ta
nay mở cửa cam lồ vị.
Nếu
người có tin hãy vui mừng
Ở
trong loài người nói Diệu pháp
Chẳng
phải não loạn ai mà thuyết".
Trong
bài kệ này, Phật không nói người bố thí được vui mừng,
cũng không nói người đa văn, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí tuệ được vui mừng, mà chỉ nói người
tin (được vui mừng) . Ý Phật: Như vậy pháp của Ta thậm
thâm vi diệu bậc nhất, là pháp vô sở đắc, không thể lường,
không thể đếm, không thể nghĩ bàn, không động, không tựa;
không vướng mắc, không là bậc Nhất thiết trí thì không
thể hiểu. Cho nên, trong Phật pháp lấy tin lực làm bước
đầu. Do sức tin được vào, không phải do bố thí, trì giới
v.v… mà có thể bắt đầu vào được Phật pháp, như kệ
nói:
"Người
thế gian, tâm động,
Ưa
đắm quả phước báo,
Mà
không ưa nhận phước,
Cầu
có, không cầu diệt,
Trước
nghe pháp tà kiến
Tâm
đắm mà thâm nhập
Pháp
sâu xa của Ta,
Không
tin làm sao hiểu!"
Như
đại đệ tử của Đề-bà-đạt tên Câu-ca-ly, vì không tin
pháp nên đọa trong đường ác. Người ấy không tin, đối
với Phật pháp tự đem trí tuệ để mong cầu, không thể
được, vì cớ sao? Vì Phật pháp rất sâu vậy. Như Phạm-thiên
vương dạy Câu-ca-ly với kệ:
"Muốn
lường pháp vô lượng,
Kẻ
trí há lường sao?
Muốn
lường pháp vô lượng,
Kẻ
ấy tự che lấp".
Lại
nữa, nghĩa của "Như vậy" là, nếu người có tâm khéo trực
tin, người ấy có thể nghe pháp, nếu không có tướng như
thế thì không hiểu được, như nói:
"Chăm
chú nghe pháp như khát uống.
Nhất
tâm đi vào trong ngữ, nghĩa.
Nhảy
nhót nghe pháp tâm bi, hỷ,
Người
như vậy nên vì họ nói".
Lại
nữa, trong nghĩa của "Như vậy" là, bước đầu đi vào Phật
pháp, lợi trong đời này, lợi trong đời sau, lợi về Niết-bàn,
các điều lợi đều lấy tin làm căn bản và sức mạnh.
Lại
nữa, các hàng ngoại đạo xuất gia, tâm cứ nghĩ cho pháp
của mình là vinh diệu, thanh tịnh bậc nhất. Những người
như thế, tự khen pháp hành của mình mà chê bai pháp của
người khác. Thế nên đời này đấu tranh lẫn nhau, đời
sau bị đọa địa ngục, thọ đủ thứ khổ vô lượng, như
kệ nói:
"Vì
ai nhiễm pháp mình,
Chê
bai pháp người khác
Tuy
là người trì giới,
Không
khỏi khổ địa ngục".
Trong
Phật pháp đây, vứt bỏ hết thảy ái, hết thảy kiến chấp,
hết thảy tâm kiêu mạn, tự ngã; hết thảy đều dứt bỏ,
không vướng mắc. Như trong kinh Phiệt Dụ nói: "Các ngươi
nên hiểu pháp Ta như là chiếc bè, thì bấy giờ thiện pháp
còn nên bỏ huống là bất thiện pháp? Với Bát-nhã Ba-la-mật
mà Phật còn không niệm tới, không tựa vào , huống là với
pháp khác mà có niệm tới, có tựa vào sao? Vì vậy, nên bước
đầu của Phật pháp gọi là "Như vậy". Ý Phật như vầy:
Đệ tử của Ta không ái trước vào pháp, không nhiễm trước
vào pháp, không bạn đảng với pháp, mà chỉ cầu lìa khổ,
được giải thoát, không hý luận vào các pháp tướng", như
trong kinh A-bà-đà-kỳ (Arthavargìya sutra), Ma-kiền-đề (Makandika)
nói kệ hỏi:
"Với
các pháp cố định.
Thì
sanh lắm vọng tưởng.
Dứt
bỏ hết trong ngoài,
Thì
làm sao đắc đạo?"
Phật
đáp:
"Chẳng
kiến, văn, giác, tri,
Cũng
chẳng do trì giới,
Chẳng
không phải kiến văn,
Chẳng
không do trì giới.
Luận
như thế bỏ hết.
Cũng
bỏ ngã, ngã sở.
Không
thủ các pháp tướng
Như
thế mới đắc đạo".
Ma-kiền-đề
lại hỏi:
" Nếu
không do kiến văn,
Chẳng
phải do trì giới.
Chẳng
phải không kiến văn,
Chẳng
phải không trì giới.
Như
tâm tôi quán sát.
Giữ
câm lặng, đắc đạo?"
Phật
đáp:
"Ông
theo nẻo tà kiến,
Ta
biết ông dốt đạo,
Ông
không thấy vọng tưởng,
Ông
bấy giờ tự câm!".
Lại
nữa, tự cho pháp ta chơn thật, còn pháp người khác là nói
dối, pháp của ta bậc nhất, còn pháp của người khác không
thật; đó là gốc của đấu tranh. Nay nghĩa "Như vậy" là
dạy người khác không tranh. Nghe những gì người khác nói,
người nói thì không lỗi. Vì vậy, các kinh Phật đều mở
đầu bằng lời "Như vậy".
Lược
nói chữ nghĩa"Như vậy" xong.
Nay
sẽ nói đến nghĩa chữ "Tôi".
Hỏi:
Nếu trong Phật pháp nói hết thảy pháp đều không, hết thảy
không có tự ngã, thế tại sao kinh Phật lại bắt đầu bằng
lời: "Như vậy tôi nghe"?
Đáp:
Đệ tử của Phật tuy hiểu là vô ngã, song tùy theo pháp thế
tục mà nói ngã, chẳng phải thật ngã. Ví như lấy tiền
vàng mà mua tiền đồng, không ai cười vậy, vì cớ sao? Vì
phép bán mua là vậy. Đây nói" "Tôi" cũng như thế, trong pháp
vô ngã mà nói ngã, là thuận tùy theo thế tục mà không nên
nạn vấn, như trong kinh Thiên Vấn có kệ:
"Có
Tỳ-kheo La-hán.
Các
lậu đã dứt sạch.
Với
thân cuối cùng ấy,
Nói
"Tôi đây" được chăng?"
Phật
đáp:
"Có
Tỳ-kheo La-hán,
Các
lậu đã dứt sạch,
Với
thân cuối cùng ấy,
Có
thể nói "Tôi đây"".
Trong
Thế giới Pháp (Thế giới Tất-đàn) mà nói là ngã, chẳng
phải là trong pháp Đệ nhất nghĩa (Đệ nhất nghĩa Tất-đàn).
Vì vậy, đối với các pháp không, vô ngã mà nói ngã, không
có lỗi.
Lại
nữa, ngữ ngôn của thế giới có ba thứ căn bản: Một là
tà kiến, hai là kiêu mạn, ba là danh tự. Trong đó hai thứ
bất tịnh và một thứ tịnh. Hết thảy người phàm đều
có ba thứ gốc ngôn ngữ: Làtà kiến, kiêu mạn và danh tự.
Người tu hành thấy đạo thì có hai thứ gốc ngôn ngữ: Là
kiêu mạn, danh tự; còn các bậc đã dứt hết lậu hoặc thì
chỉ một thứ gốc ngữ ngôn, là danh tự. Trong tâm họ tuy
không trái với thật pháp, nhưn g tùy thuận người trong thế
giới mà truyền đạt chung gốc ngôn ngữ ấy, để trừ tà
kiến cho đời, nên thuận theo thế tục mà không tranh cãi.
Vì vậy, cho nên trừ hai gốc ngôn ngữ bất tịnh và theo thế
tục mà chỉ chung một thứ ngôn ngữ. Đệ tử Phật tùy theo
thế tục mà nói ngã nên không có lỗi.
Lại
nữa, nếu người đắm vào tướng vô ngã mà nói đây là
thật, ngoài ra đều vọng ngữ, thì với người ấy nên nạn
rằng: "Ông nói hết thảy pháp thật tướng là vô ngã, sao
còn nói "Như vậy tôi nghe"? Còn nay các đệ tử Phật đối
với hết thảy pháp không, vô sở đắc, trong tâm họ không
đắm trước, cũng không đắm trước thật tướng của các
pháp, huống gì trong vô ngã mà tâm còn đắm trước sao? Vì
vậy không nên nạn rằng tại sao đệ tử Phật còn nói "Tôi",
như bài kệ trong Trung luận nói:
"Nếu
có cái bất không.
Tất
phải có cái không.
Bất
không còn không có,
Hà
huống là có không?
Phàm
người thấy bất không.
Mà
cũng lại thấy không.
Không
thấy: Thấy, không thấy,
Ấy
thật là Niết-bàn.
Của
bất nhị an ổn.
Phá
trừ các tà kiến.
Chỗ
chư Phật đi qua,
Ấy
là pháp vô ngã".
Lược
nói nghĩa chữ "Tôi" xong.
Nay
sẽ nói nghĩa chữ "Nghe".
Hỏi:
"Nghe" như thế nào? Dùng nhĩ căn? dùng nhĩ thức? hay dùng ý
thức nghe? Nếu nhĩ căn nghe, thì nhĩ căn không có giác tri
không thể nghe? Nếu nhĩ thức nghe, thì nhĩ thức trong thoáng
chốc, không thể phân biệt cũng không thể nghe? Nếu ý thức
nghe, thì ý thức cũng không thể nghe, vì cớ sao? Vì trước
do năm thức nhận biết năm trần, rồi sau ý thức mới nhận
biết, ý thức không thể biết năm trần trong hiện tại mà
chỉ nhận biết năm trần trong quá khứ và vị lai. Nếu ý
thức nhận biết năm trần trong hiện tại thì người mù cũng
có thể thấy sắc và người điếc cũng có thể nghe tiếng,
vì sao? Vì ý thức không bị hư?
Đáp:
Chẳng phải nhĩ căn nghe tiếng, cũng chẳng phải nhĩ thức,
cũng chẳng phải ý thức. Việc nghe tiếng đây là do nhiều
nhân duyên hòa hiệp mới nghe được tiếng, không thể bảo
một pháp có thể nghe tiếng, vì sao? Vì nhĩ căn không tri giác,
không thể nghe tiếng, nhĩ thức là vô sắc, vô đối, vô xứ
nên cũng không thể nghe tiếng, còn tiếng thì không có thức
tri giác cũng không có căn cũng không thể biết được tiếng.
Bấy giờ nhĩ căn không bị hư, tiếng ở chỗ có thể nghe
và ý muốn nghe. Căn, trần và ý hòa hợp nên nhĩ thức phát
sanh, tùy nhĩ thức liền sanh ý thức; có thể phân biệt các
thứ nhân duyên mà được nghe tiếng. Vì thế không nên vấn
nạn: "Nghe" như thế nào và ai nghe? Tuy nghe tiếng, mà trong
Phật pháp không một pháp năng tác, năng kiến, năng tri, như
kệ nói:
"Có
nghiệp cũng có quả.
Không
kẻ làm nghiệp quả.
Nghĩa
ấy sâu bậc nhất,
Pháp
này do Phật nói.
Tuy
không, chẳng phải đoạn.
Tương
tục, cũng chẳng thường.
Tội
phước vốn không mất,
Pháp
như vậy, Phật nói".
Lược
nói nghĩa chữ "Nghe" xong.
Nay
sẽ nói về chữ "Một".
Hỏi:
Trong Phật pháp không thật có những pháp số lượng, thời
gian vì nó không thuộc vào ấm, nhập, giới sao lại nói là
"Một" thời?
Đáp:
Tùy theo thế tục mà nói có "Một" thời, không có lỗi. Như
vẽ trên đất, cây làm thành tượng trời, vì niệm tưởng
trời mà lễ bái nên không lỗi. Nói "Một" thời cũng như
vậy. Tuy thật không có "Một" thời, mà tùy thế tục nói
có "Một" thời nên không lỗi.
Hỏi:
Không nên nói không có "Một" thời, như Phật tự nói: "Một
người xuất hiện trên thế gian, nhiều người được lợi
lạc. Người đó là ai? Chính là Phật Thế Tôn vậy", như
kệ nói:
"Ta
hành đạo không thấy bảo hộ.
Chí
hành đạo một mình không bè bạn.
Tích
chứa một hạnh mà thành Phật,
Tự
nhiên thấu suốt nẻo Thánh đạo"
Ở
nhiều chỗ Phật đã nói Một như thế, vậy tất phải có
cái "Một".
Lại
nữa, vì có pháp Một hòa hợp, nên vật ấy gọi là Một.
Nếu thật không có pháp Một thì cớ sao trong Một vật chỉ
Một tâm sanh, không phải hai, không phải ba? Trong hai vật là
hai tâm sanh, không phải Một, không phải ba? Trong ba vật là
ba tâm sanh, không phải hai, không phải Một? Nếu thật không
có các con số thì trong Một vật nên có hai tâm sanh, trong
hai vật chỉ nên một tâm sanh. Số ba, bốn, năm, sáu … cũng
như thế. Do đó, biết chắc rằng trong Một vật có pháp Một,
vì pháp ấy hòa hợp nên trong Một vật chỉ Một tâm sanh?
Đáp:
Nếu Một với vật là Một, hay Một với vật làkhác, cả
hai đều sai lầm.
Hỏi:
Nếu là "Một" thì có sai lầm gì?
Đáp:
Nếu Một với cái bình là "Một", như Nhân-đề-lê (Thích-đề-hoà-nhơn
- Indra) với Thích-ca (Saka) là Một. Nếu vậy thì ở đâu có
Một tức ở đó đều có bình; cũng như ở đâu có Nhân-đề-lê
là ở đó có Thích-ca. Nay các vật như áo v.v… đều phải
là bình, vì Một với bình là "Một". Như vậy ở đâu có
Một ở đó đều là bình. Giống như bình, áo v.v… đều
làMột vật, không có phân biệt.
Lại
nữa, Một thuộc về "số", bình cũng ưng thuộc về "số".
Thể của bình có năm pháp. Bình là vật có sắc chất có
đối ngại, vậy Một cũng ưng có sắc chất, có đối ngại.
Nếu ở đâu có Một mà không gọi là bình, thì nay không nên
cho bình với Một là "Một". Hoặc nói Một không thu nhiếp
bình, hoặc nói bình cũng ưng không thu nhiếp một, vì bình
với Một không khác. Lại muốn nói Một phải nói bình, muốn
nói bình phải nói Một, như thế thì lộn xộn.
Hỏi:
"Một" bị sai lầm như vậy, còn trong phương diện khác có
lỗi gì?
Đáp:
Nếu Một khác với cái bình thì bình chẳng phải là Một,
nếu bình khác với một thời Một chẳng phải bình. Nếu
bình hợp với Một, mà bình được gọi làm Một, nay Một
hợp với bình, sao không gọi Một là bình? Vì vậy không thể
gọi bình và Một khác nhau.
Hỏi:
Tuy bình hợp với "Một" nên bình là Một (Một cái bình),
nhưng số Một không phải là bình, thì sao?
Đáp:
Các số bắt đầu bằng số Một, Một với bình là khác nên
bình không làm Một. Một không, nên nhiều cũng không, vì sao?
Trước Một rồi sau mới nhiều. Như vậy, trong phương diện
khác với bình, thì pháp "Một" cũng không thể có riêng được.
Vì sao? Vì trong cảhai phương diện tìm pháp "Một" không thể
được. Vì không thể được thì làm sao nói có pháp "Một"
nhiếp thuộc vào năm ấm, mười tám giới, sáu nhập được?
Nhưng
đệ tử Phật tùy theo ngôn ngữ thế tục mà gọi là "Một",
mà trong tâm thực không hề chấp trước, trái lại biết các
con số chỉ có trên danh tự. Vì thế trong Phật pháp nói đến
chữ "Một thời, Một người, Một thày" mà không rơi vào
lỗi tà kiến.
Lược
nói về "Một" xong.
Nay
sẽ nói về "Thời".
Hỏi:
Xứ Thiên Trúc có hai thứ tiếng chỉ cho "Thời" là Ca-la (Kà-là)
và Tam-ma-gia (Samya). Sao Phật không nói Ca-la mà nói Tam-ma-gia?
Đáp:
Nếu nói Ca-la thì có điều gì nghi ngờ?
Hỏi:
Nói cho nhẹ nhàng thì nên nói Ca-la vì Ca-la có hai chữ, Tam-ma-gia
có ba chữ nặng lời khó đọc hơn?
Đáp:
Vì để trừ tà kiến nên nói Tam-ma-gia không nói Ca-la. Có
người nói: "Hết thảy trời đất hay việc tốt xấu đều
lấy "Thời" (Ca-la) làm nhân", như trong Thời kinh có bài kệ
nói:
"Thời
đến, chúng sanh thành thục.
Thời
tới thì bị thôi thúc.
Thời,
có thể giác ngộ người,
Cho
nên chính "Thời" làm nhân.
Thế
giới như bánh xe,
Thời
biến như xe quay,
Người
cũng như bánh xe,
Đi
lên hoặc đi xuống".
Hỏi:
Lại có người nói: "Trong trời đất hay việc tốt xấu hết
thảy mọi vật không phải do "Thời" làm ra, song "Thời" là
cái nguyên nhân không thay đổi, là thật hữu. Pháp "Thời"
rất vi tế, không thể thấy, không thể biết, do kết quả
của hoa trái v.v… mà biết là có "Thời". Năm qua, năm nay,
lâu xa, gần, chậm, mau mà thấy các tướng đó, tuy không thấy
"Thời" mà biết là có "Thời", vì sao? Vì thấy quả mà biết
có nhân". Do đó nên biết có pháp "Thời". Pháp "Thời" không
biến hoại, nên thường?
Đáp:
Như hòn đất là "Thời" hiện tại, đất bụi là "Thời" quá
khứ, cái bình là "Thời" vị lai. Tướng của "Thời" là thường
nên "Thời" quá khứ không làm "Thời" vị lai. Kinh sách các
ông cho "Thời" là một vật, vì thế "Thời" quá khứ không
làm "Thời" vị lai, cũng không làm "Thời" hiện tại; vì như
vậy thì lộn xộn. Trong "Thời" quá khứ cũng không có "Thời"
vị lai, vì thế nên không có "Thời" vị lai. "Thời" hiện
tại cũng như thế.
Hỏi:
Ông đã nhận đất bụi là "Thời" quá khứ, nếu có "Thời"
quá khứ thì chắc chắn có "Thời" vị lai; vì thế thật có
pháp "Thời"?
Đáp:
Ngươi không nghe tôi vừa nói, cái bình ở "Thời" vị lai,
đất bụi ở "Thời" quá khứ. "Thời" vị lai không làm "Thời"
quá khứ, trong tướng "Thời" vị lai là "Thời" vị lai, sao
lại gọi là "Thời" quá khứ. Thế nên "Thời" quá khứ cũng
không.
Hỏi:
Sao lại không có "Thời", chắc chắn phải có "Thời", hiện
tại có tướng hiện tại, quá khứ có tướng quá khứ, vị
lai có tướng vị lai?
Đáp:
Nếu như hết thảy ba "Thời" đều có tướng riêng (tự tướng),
như vậy thì hết thảy là "Thời" hiện tại, không có "Thời"
quá khứ và "Thời" vị lai. Nếu có vị lai thì đó không gọi
là vị lai mà nên gọi là hiện tại (dĩ lai: đã đến); vì
thế lời hỏi ấy không đúng.
Hỏi:
"Thời" quá khứ, "Thời" vị lai không phải là tướng hiện
tại, hiện hành. "Thời" quá khứ có tướng quá khứ hiện
hành. "Thời" vị lai có tướng vị lai hiện hành, thế nên
mỗi pháp tướng đều có "Thời"?
Đáp:
Nếu quá khứ là qua đi, Thời phá mất tướng quá khứ; nếu
quá khứ mà không qua đi. Thời không có tướng quá khứ; "Thời"
vị lai cũng như thế. Vì thế, pháp thời đã không thật có
thì làm sao có thể sanh trời đất, việc tốt xấu và các
vật hoa quả, v. v…; vì để trừ các thứ tà kiến như vậy
nên không nói thời theo tiếng "Ca-la" mà nói thời theo tiếng
"Tam-ma-gia".
Thấy
sự sanh diệt của năm ấm, mười tám giới, sáu nhập mà
giả danh là "Thời" chứ không có "Thời" riêng (ngoài sự sanh
diệt). Như nói các danh tự: Phương, thời, ly, hợp, nhất,
dị, trường, đoản v. v… đều là vượt ra ngoài tâm kẻ
phàm phu chấp trước cho là pháp thật có; vì thế nên trừ
bỏ được pháp ngữ ngôn danh tự của thế giới (thế gian).
Hỏi:
Nếu không có "Thời", tại sao lại có học giới cho phép ăn
đúng Thời, cấm ăn phi Thời?
Đáp:
Trước đây tôi đã nói; theo pháp danh tự thế gian có "Thời",
mà không phải thật pháp, ông không nên vấn nạn. Cũng như
phép kiết giới ở trong Tỳ-ni chỉ là thật theo thế gian
mà không phải là pháp tướng đệ nhất thật. Vì tướng
pháp tự ngã không có thật thể, cũng vì chúng nhân mà quở
trách, cũng vì muốn hộ trì Phật pháp được tồn tại lâu
dài, mà chế định lễ pháp cho đệ tử, cho nên chư Phật
thế Tôn kiết giới, ở trong đó không nên tìm xem có gì thật?
Có danh tự gì? Cái nào tương ưng? Cái nào không tương ưng?
Cái nào là pháp có tướng như vậy? Cái nào là pháp không
có tướng như vậy? Vì thế, việc ấy không nên vấn nạn.
Hỏi:
Nếu ăn phi Thời, thuốc phải Thời, y phải Thời, "Thời"
ở đây sao không nói là Tam-ma-gia mà nói là Ca-la?
Đáp:
Những điều dạy trong Tỳ-ni, hàng cư sĩ áo trắng không được
nghe, thì hàng ngoại đạo làm sao được nghe để mà sanh tà
kiến (nên không nói Tam-ma-gia mà nói Ca-la)? Còn kinh khác đều
được phép nghe, nên trong đây dùng tiếng Tam-ma-gia. Tam-ma-gia
là giả danh, khiến người nghe không sanh tà kiến. Lại trong
Phật pháp phần nhiều nói Tam-ma-gia mà ít nói Ca-la; vì ít
nên không nên cật nạn.
Lược
nói nghĩa riêng của năm chữ "Như Thị, Nga, Văn, Nhất, Thời"
xong.
(Hết
cuốn 1 theo bản Hán)
CHƯƠNG
2
GIẢI
THÍCH: TỒNG THUYẾT NHƯ THỊ NGÃ VĂN
Nay
sẽ nói tổng quát về "Như vậy tôi nghe"
Hỏi:
Nếu chư Phật là đấng Nhất thiết trí, tự nhiên, không
Thầy, không theo lời dạy của người khác, không thọ đạo
của người khác, không dùng đạo của người khác, không
theo người khác nghe để mà thuyết pháp, tại sao lại nói
"Như vậy tôi nghe"?
Đáp:
Đúng như ông nói: " Phật là đấng Nhất thiết trí, tự nhiên,
không Thầy, không theo người khác nghe pháp để mà thuyết".
Phật pháp không chỉ từ miệng Phật thuyết, mà hết thảy
lời nói tốt lành, chân thật, vi diệu của thế gian đều
xuất từ Phật pháp. Như trong Tỳ-ni, Phật nói: "Thế nào
là Phật pháp?" Phật pháp có năm hạng người nói: Một là
Phật tự miệng nói, hai là đệ tử Phật nói, ba là tiên
nhân nói, bốn là chư thiên nói, năm là hóa nhân nói.
Lại
như trong Kinh Thích-đề-hoàn-nhơn Đắc đạo, Phật nói với
Kiều-thi-ca: "Thiện ngữ chân thật, hảo ngữ vi diệu của
thế gian đều xuất từ pháp của Ta", như trong bài kệ tán
Phật rằng:
"Thiện
ngữ của thế gian.
Đều
xuất từ Phật pháp.
Thiện
ngữ không sai lầm,
Không
gì hơn Phật ngữ.
Những
nơi khác tuy có.
Thiện
ngữ không sai lầm.
Nó
hết thảy đều là,
Một
phần của Phật pháp.
Trong
các ngoại đạo,
Dù
có lời hay,
Như
sâu ăn cây,
Ngẫu
nhiên thành chữ.
Pháp
đầu, giữa, cuối,
Tự
phá lẫn nhau,
Như
sắt sanh vàng,
Ai
mà tin được?
Như
ở trong cây Y-lan,
Sanh
hương Ngưu đầu Chiên-đàn.
Như
trong giống cây đắng,
Sanh
ra quả ngon ngọt.
Nếu
tin được điều đó,
Người
ấy sẽ tin rằng:
Trong
kinh sách ngoại đạo,
Tự
xuất lời hay đẹp.
Những
lời hay chân thật,
Đều
xuất từ đức Phật,
Như
thứ hương Chiên-đàn,
Mọc
ở núi Ma-lê.
Ngoài
núi Ma-lê-ra,
Không
đâu có Chiên-đàn,
Như
vậy, ngoại trừ Phật,
Không
có đâu lời thật".
Lại
nữa, câu "Như vậy tôi nghe" là lời của các đại đệ tử
Phật, như A-nan v.v… nói; vì vào trong tướng của Phật pháp
nên gọi là Phật pháp. Như khi Phật nhập Niết-bàn, Ngài
ở tại xứ Câu-thi-na-kiệt, giữa rừng cây Sa-la long thọ,
nằm quay đầu về hướng Bắc mà sắp nhập Niết-bàn. Bấy
giờ, A-nan tình luyến ái thân thuộc chưa trừ, vì chưa ly
dục, tâm chìm trong biển ái, không thể tự ra được. Trưởng
lão A-nê-lô đậu (Anuruda) nói với A-nan : "Thầy là người
giữ Phật pháp tạng, không nên giống như người phàm tự
chìm trong biển ái! Hết thảy pháp hữu vi đều là tướng
vô thường, Thày chớ ưu sầu. Lại nữa, tự tay Phật đã
trao pháp cho Thày, Thày nay ưu sầu thì sẽ làm mất việc đã
thọ nhận. Thầy nên thưa Phật: Sau khi Phật Niết-bàn, chúng
con hành đạo như thế nào? Ai sẽ là Thầy? Bọn Xa-nặc ác
khẩu làm sao cùng ở chung? Kinh Phật nên để lời gì? Những
việc vị lai như thế, Thầy nên hỏi Phật".
A-nan
nghe việc ấy, tâm sầu muộn hơi tỉnh, được sức ghi nhớ
đạo hỗ trợ, đến bên cuối giường Phật nằm, đem các
việc ấy hỏi Phật. Phật dạy A-nan: "Hoặc bây giờ, hoặc
sau khi Ta diệt độ, nên tự y chỉ và y chỉ Pháp, không y
chỉ nơi nào khác! Thế nào là Tỳ-kheo tự y chỉ và y chỉ
Pháp, không y chỉ nơi nào khác? Là, Tỳ-kheo quán ở trong thân,
thường niệm nhất tâm trí tuệ, siêng tu tinh tấn, trừ tâm
tham ưu thế gian: quán ngoài thân, quán trong ngoài thân cũng
như thế; quán, thọ, tâm, pháp niệm xứ cũng lại như thế.
Đó gọi là Tỳ-kheo tự y chỉ và y chỉ Pháp, không y chỉ
nơi nào khác. Từ nay, giới kinh giải thoát là đại sư của
các Thầy. Như kinh Giải Thoát Giới dạy: "Thân nghiệp, khẩu
nghiệp, nên như thế mà làm. Tỳ-kheo Xa-nặc, sau khi Ta Niết-bàn
thì như pháp Mạn-đàn (mặc tẩn) mà trị. Nếu người có
tâm nhu thuận thì dạy họ Kinh San-đà Ca-chiên-diên, tức có
thể đắc đạo. Ta trải qua ba A-tăng-kỳ tiếp, chứa nhóm
tạng Pháp bảo; tạng ấy bắt đầu nên để lời: "Như vậy,
tôi nghe, một thời, Phật ở tại địa phương ấy, quốc
độ ấy, trong rừng cây xứ ấy", vì sao? Vì các kinh Phật
đời quá khứ bắt đầu đều xưng lời ấy, các kinh Phật
đời vị lai bắt đầu cũng xưng lời ấy; các Phật đời
hiện tại, cuối cùng khi Bát-niết-bàn cũng dạy xưng lời
ấy. Nay Ta, sau khi Niết-bàn, bắt đầu kinh cũng nên xưng:
"Như vậy, tôi nghe, một thời".
Vậy
nên biết làlời Phật dạy, chứ không phải Phật tự nói
"Như vậy tôi nghe"; vì Phật là bậc Nhất thiết trí, tự
nhiên, không Thầy, thì không nên nói "Tôi nghe". Nếu Phật
tự nói "Như vậy tôi nghe", có người không biết, thì có
thể hỏi như thế, còn đây là A-nam bạch Phật, Phật dạy
lời ấy, ấy là đệ tử nói "Như vậy tôi nghe", xưng "tôi"
không có lỗi.
Lại
nữa, vì muốn cho Phật pháp trụ lâu ở thế gian, nên các
vị A-la-hán, như trưởng lão Đại Ca-Diếp v.v… hỏi A-nan:
"Phật thuyết pháp ở chỗ nào trước hết? Ngài dạy những
pháp gì?"
A-nan
đáp: "Như vậy tôi nghe, một thời Phật ở tại nước Ba-la-nại
trong rừng Nai của tiên nhân, Ngài vì năm Tỳ-kheo nói về
Khổ thánh đế. Tôi vốn không nghe từ ai nói lại, mà ở
trong Pháp chính tôi nhớ rõ, được nhãn, trí, minh, giác".
Việc kinh ấy trong đó cần nói rộng.
Như
trong Kinh Tập Pháp (Dharama-samyrahàsutra) nói: "Lúc Phật vào
Niết-bàn, quả đất sáu cách rung động, các dòng sông chảy
ngược, gió mạnh bộc phát, bốn phía nổi mây đen, sấm sét
dữ dội, mưa đá đổ xuống, sao băng khắp nơi; Sư tử, ác
thú gào thét kêu rống; Chư Thiên, Người đời đều cất
tiếng la hét. Chư Thiên, Người đời đều phát ra lời rằng:
" Phật vào Niết-bàn sao mà mau quá. Con mắt của thế gian
đã mất!"
Ngay
lúc bấy giờ tất cả cỏ cây, cây thuốc, hoa lá cùng lúc
rã tan; núi chúa Tu-di đều lay động, nước biển dạy sóng,
đất rung động mạnh, núi non băng vỡ sụp, cây cối gãy
đổ, bốn phía khói ùn rất là dễ sợ; vũng, ao, sông, ngòi
đều quấy nhớp, sao chổi mọc ban ngày. Loài người đều
kêu khóc, chư thiên ưu sầu, thiên nữ nghẹn ngào khóc than,
nước mắt đầm đìa. Các hàng Hữu học lặng lẽ không vui,
các hàng Vô học nghĩ tới pháp Hữu vi hết thảy vô thường.
Như vậy Trời, Người, Dạ-xoa, La-sát, Càn-thát-bà, Chân-đà-la,
Ma-hầu-la-già và loài Rồng đều rất buồn rầu; còn các
vị A-la-hán đã đắc quả, khỏi biển lão bệnh tử, tâm
niệm rằng:
"Đã
qua sông ái của phàm nhân,
Đã
xé giấy hợp đồng già chết,
Thấy
bốn Rắn lớn trong hòm thân,
Nạp
vào Niết-bàn diệt Vô-dư".
Các
vị Đại A-la-hán, ai nấy tùy ý ở trong núi rừng, khe suối,
hang động xảthân mà nhập Niết-bàn. Lại có các A-la-hán
đi giữa hư không, ví như Nhạn chúa hiện các thứ thần lực,
khiến mọi người khởi lòng tin thanh tịnh, vậy sau mới vào
Niết-bàn. Trời Lục dục cho đến trời Biến tịnh v.v…
thấy các A-la-hán đều vào diệt độ, ai nấy nghĩ: "Mặt
trời Phật đã lặn, các đệ tử đầy đủ Thiền định,
trí tuệ, giải thoát trước đó cũng đã diệt độ. Các chúng
sanh nay đủ các bệnh dâm, nộ, si mà các vị Thầy pháp dược
gấp diệt độ, thì ai sẽ chữa trị cho? Các đệ tử như
hoa sen nở trong biển vô lượng trí tuệ, nay đã khô héo,
cây Pháp đã gẫy đổ, mây Pháp tan diệt, Bậc đại trí như
Voi chúa đã mất đàn, đàn Voi con cũng đi theo, người gieo
Chánh pháp đã mất rồi, Pháp bảo sẽ tìm cầu ở nơi đâu?",
như kệ nói:
"Phật
đã vĩnh tịch vào Niết-bàn,
Chúng
diệt kiết sử cũng qua đi,
Thế
giới trống không, không bậc trí,
Ngu
tối thêm lên, đèn trí tắt".
Bấy
giờ chư thiên lễ dưới chân Đại Ca-diếp và nói kệ:
"Bậc
kỳ lão, ba độc đã trừ,
Thân
Ngài như cây trụ tử kim,
Đoan
nghiêm vi diệu không thể sánh,
Mắt
sáng trong sạch như Hoa sen".
Tán
thán như vậy rồi, thưa Ca-diếp: "Đại đức Ca-diếp! Nhân
giả biết không? Con thuyền Phật pháp như muốn vỡ, thành
Phật pháp như muốn đổ, biển Phật pháp như muốn khô, cờ
Phật pháp như muốn ngả, đèn Phật pháp như muốn tắt, người
thuyết pháp như muốn hết, người hành đ