Cuốn
2
CHƯƠNG
3
GIẢI
THÍCH: BÀ-GIÀ-BÀ
KINH:
Bà-già-bà (Bhàgavat).
LUẬN:
Sao gọi là Bà-già-bà? Bà-già (Bhàga) là đức; Bà (vat) là
có. Vậy Bà-già-bà là có đức.
Lại
nữa, Bà-già là phân biệt, Bà là xảo. Khéo phân biệt tướng
chung tướng riêng của các pháp, nên gọi là Bà-già-bà.
Lại
nữa, Bà-già là thanh danh, Bà là có. Vậy là có thanh danh.
Thanh danh không ai có như Phật. Chuyển luân Thánh vương, Đế-thích,
Phạm-thiên, Hộ-thế, không có ai bằng Phật, huống những
người phàm khác, vì cớ sao? Vì Chuyển luân Thánh vương còn
dính mắc với kiết sử, mà đức Phật thì đã xa lìa kiết
sử. Chuyển luân Thánh vương còn chìm trong bùn sanh già bệnh
chết; Phật đã qua khỏi. Chuyển luân Thánh vương còn làm
tôi tớ cho ân ái; Phật đã xa lìa vĩnh viễn. Chuyển luân
Thánh vương còn ở trong cánh đồng tai hoạn của thế gian,
Phật đã xa lìa. Chuyển luân Thánh vương còn ở trong chỗ
vô minh tăm tối, Phật thì ở trong chỗ sáng suốt nhất. Chuyển
luân Thánh vương cùng lắm là thống lãnh bốn châu thiên hạ,
Phật thì thống lãnh cả vô lượng thế giới. Chuyển luân
Thánh vương tiền của tự tại, Phật thì tâm tưởng tự
tại. Chuyển luân Thánh vương còn tham cầu cái vui cõi trời,
còn Phật cho đến cái vui của cõi trời Hữu đỉnh cũng không
tham đắm. Chuyển luân Thánh vương theo người khác cầu vui,
Phật trong tâm tự vui. Vì nhân duyên ấy, Phật hơn Chuyển
luân Thánh vương. Các hàng Đế-thích, Phạm-thiên, Hộ-thế
cũng lại như vậy, chỉ hơn Chuyển luân Thánh vương chút
ít.
Lại
nữa, Bà-già là phá, Bà là năng. Vì là người năng phá dâm,
nộ, si nên gọi là Bà-già-bà.
Hỏi:
Như A-la-hán, Bích-chi-Phật cũng phá dâm, nộ, si, với Phật
khác gì?
Đáp:
A-la-hán, Bích-chi-Phật tuy phá ba độc nhưng không sạch hết
khí phần. Ví như hương ở trong đồ đựng hương tuy lấy
đi mà hơi vẫn còn. Lại như lửa đốt cây, cỏ, củi khói
bay mà than vẫn còn, vì sức lửa yếu. Phật dứt hẳn ba độc
không còn thừa. Ví như lúc kiếp tận, lửa đốt núi Tu-di,
tất cả đất đai tiêu hết, khói không, than không. Như Xá-lợi-phất
còn tập khí sân nhuế, Nan-đà còn tập khí dâm dục. Tất-lăng-già-bà-ta
còn tập khí tiêu mạn. Ví như người bị xiềng chân mới
được thả ra đi không vững.
Bấy
giờ Phật từ thiền định dậy đi kinh hành. La-hầu-la đi
theo, Phật hỏi La-hầu-la vì sao gầy ốm? La-hầu-la thưa kệ:
"Nếu
người ăn dầu thì có sức,
Nấu
uống sữa tươi thì sắc tốt,
Nếu
ăn mè, rau không sắc, lực.
Đại
đức Thế Tôn tự nên biết".
Phật
hỏi La-hầu-la: "Trong chúng này ai là Thượng tọa?" La-hầu-la
thưa: "Hòa thượng Xá-lợi-phất". Phật nói: "Xá-lợi-phất
ăn đồ bất tịnh". Bấy giờ Xá-lợi-phất nghe nói lại lời
ấy, tức thì mửa đồ ăn, và tự thề: "Từ nay không còn
nhận lời người thỉnh".
Khi
ấy vua Ba-tư-nặc, Trưởng giả Tu-đạt-đa v.v… đến chỗ
Xá-lợi-phất và nói với Xá-lợi-phất: "Phật không vì vô
sự mà nhận lời thỉnh, Đại đứá-lợi-phất cũng
không nhận lời thỉnh, thời kẻ cư sĩ áo trắng chúng tôi
làm sao có được lòng tin lớn lao thanh tịnh". Xá-lợi-phất
nói: "Phật, Đại sư của tôi nói: Xá-lợi-phất ăn đồ bất
tịnh, nay không được nhận lời người thỉnh".
Lúc
ấy vua Ba-tư-nặc v.v… đi đến chỗ Phật, bạch Phật: "
Phật không thường nhận lời người thỉnh, Tôn giả Xá-lợi-phất
cũng không nhận lời thỉnh, thời chúng con làm sao có được
lòng tin lớn? Mong Phật sắc Tôn giả Xá-lợi-phất trở lại
nhận lời người thỉnh". Phật nói "Thầy ấy tâm cứng cỏi,
không thể lay chuyển".
Bấy
giờ, Phật dẫn Nhân duyên Bản sanh: "Xưa có một Quốc vương
bị Rắn độc cắn, vua sắp muốn chết, gọi các lương y
đến trị độc Rắn. Bấy giờ các lương y nói: "Phải làm
cho rắn hút lại độc khí mới hết được".
Khi
ấy các lương y đều đọc chú thuật, con Rắn đã cắn vua
liền đến chỗ vua, các lương y chất củi và lửa lên, bảo
con Rắn: "Ngươi phải hút lại chất độc của ngươi, nếu
không sẽ phải nhảy vào lửa". Rắn độc suy nghĩ: "Ta đã
nhả chất độc, làm sao hút lại, thà phải chịu chết!" Tư
duy định tâm, liền nhảy vào lửa. Rắn độc lúc ấy chính
là Xá-lợi-phất, đời đời tâm cứng cỏi không thể lay
động".
Lại
nữa, Trưởng lão Tất-lăng Già-bà-ta thường bị đau mắt.
Ông ấy khi đi khất thực thường đi ngang qua sông Hằng. Khi
đến bên dòng sông, ông gảy móng tay mà nói: "Tiểu tỳ, dừng
lại đừng cho nước chảy". Nước liền rẽ làm hai, ông ấy
qua được, rồi đi khất thực. Thần sông Hằng đến chỗ
Phật, bạch Phật: "Đệ tử của Phật là Tất-lăng Già-bà-ta
thường mắng tôi: "Tiểu tỳ, dừng lại đừng cho nước chảy".
Phật bảo Tất-lăng Già-bà-ta sám hối thần sông Hằng. Tất-lăng
Già-bà-ta tức thì chấp tay mà nói với thần sông Hằng: "Tiểu
tỳ chớ giận, nay ta tạ lỗi nhà ngươi". Khi ấy đại chúng
cười nói: "Tại sao tạ lỗi mà lại mắng nữa?" Phật nói
với thần sông Hằng: "Ông có thấy Tất-lăng Già-bà-ta chấp
tay tạ lỗi chăng? Tạ lỗi là không có lòng kiêu mạn mà
nói lời ấy, nên biết không phải là ác. Chẳng qua ông ấy
năm trăm đời lại đây, thường sanh trong nhà Bà-la-môn, thường
tự kiêu, cho mình là cao qúy, khinh rẻ ngươiác, tập
khí xưa nay như vậy, nên miệng nói mà tâm không kiêu mạn".
Như
vậy, các A-la-hán tuy dứt kiết sử mà còn có tập khí tàn
dư, còn như chư Phật Thế Tôn, hoặc có người lấy dao cắt
một cánh tay, cũng như con mắt bên phải và con mắt bên trái,
tâm Ngài không thương ghét; vì Ngài vĩnh viễn không còn tập
khí tàn dư.
Con
gái Bà-la-môn tên là Chiên-xà (Cinca) độn cái bát giả mang
bầu đến mắng Phật ngay ở giữa đại chúng rằng: "Ông
làm cho tôi có thai sao không chịu lo cơm áo cho tôi. Ông là
người không biết xấu, mê hoặc thiên hạ".
Bấy
giờ năm trăm thầy Bà-la-môn giáo giơ tay mà xướng lên: "Phải,
phải, chúng ta biết việc ấy". Lúc ấy Phật không đổi sắc,
cũng không thẹn thùng. Việc ấy tức thời bị lột trần
ra, đất liền động mạnh, chư thiên cúng dường, rải các
danh hoa, tán thán đức của Phật, Phật cũng không có sắc
mừng.
Lại
nữa, Phật phải ăn thóc của ngựa mà cũng không buồn bực.
Thiên vương dâng đồ ăn đủ cả trăm vị, Phật cũng không
lấy làm mừng, nhất tâm không hai.
Như
thế đó, đủ các thứ ẩm thực, y phục, ngọa cụ, khen,
chê, khinh bỉ, cung kính, tâm Ngài vẫn không đổi khác. Cũng
như vàng thật dù đốt, rèn, đập, mài vẫn không thêm bớt.
Vì vậy, cho nên, A-la-hán tuy đoạn kiết sử, đắc đạo nhưng
vẫn còn tàn khí, không được gọi là Bà-già-bà.
Hỏi:
Bà-già-bà chỉ có một danh hiệu ấy hay còn có danh hiệu
khác?
Đáp:
Công đức của Phật vô lượng, danh hiệu cũng vô lượng.
Danh hiệu ấy (Bà-già-bà) được dùng hơn cả là do nhiều
người biết đến.
* Lại
có danh hiệu khác như Đa-đà A-già-đà (Tathàgata). Sao gọi
là Đa-đà A-già-đà (Tathàgata - Như Lai)? Như pháp tướng mà
hiểu, như pháp tướng mà giảng thuyết, như chư Phật theo
con đường an ổn mà đi đến, Phật cũng như vậy đi đến,
lại không còn đi đến trong đời sau nên gọi là Đa-đà A-già-đà.
*
Lại có danh hiệu A-la-ha (Arhat). Sao gọi là A-la-ha? A-la là
giặc; Ha là giết. A-la-ha gọi là giết giặc, như kệ nói:
"Phật
lấy nhẫn làm áo đồng,
Lấy
tinh tấn làm giáp sắt,
Lấy
trì giới làm ngựa hay,
Lấy
thiền định làm cung tốt.
Lấy
trí tuệ làm tên nhọn.
Ngoài
thì phá quân Ma vương,
Trong
thì diệt giặc phiền não,
Ấy
gọi là A-la-ha".
Lại
nữa, A là chẳng, La-ha là sanh. A-la-ha là chẳng sanh. Haϴ giống
Phật tâm không sanh trong thửa ruộng đời sau, vì vỏ trấu
vô minh đã lột rồi.
Lại
nữa, A-la-ha là ứng thọ cúng dường. Phật đã trừ hết
kiết sử, được nhất thiết trí tuệ, xứng đáng lãnh thọ
sự cúng dường của hết thảy trời đất chúng sanh, vì thế
Phật cũng gọi là A-la-ha.
* Lại
có danh hiệu Tam-miệu Tam-Phật-đà (Samyaksam-Buddha). Tại sao
gọi là Tam-miệu Tam-Phật-đà? Tam-miệu là chánh, Tam là biến
, Phật-đà là tri. Tam-miệu Tam-Phật-đà là Chánh biến tri
đối với hết thảy pháp.
Hỏi:
Thế nào là Chánh biến tri?
Đáp:
"Biết
Khổ đúng như khổ tướng.
Biết
Tập đúng như tập tướng.
Biết
Diệt đúng như diệt tướng.
Biết
Đạo đúng như đạo tướng".
Đó
là Tam-miệu Tam-Phật-đà.
Lại
nữa, biết tướng chơn thật của tất cả các pháp là bất
hoại, bất tăng bất giảm.
Tại
sao gọi là tướng bất hoại? Con đường tâm tưởng nói năng
đều đoạn diệt, quá hơn các pháp, như tướng Niết-bàn
bất động. Vì vậy gọi là Tam-miệu Tam-Phật-đà.
Lại
nữa, hết thảy danh tự của mười phương thế giới, của
chúng sanh trong lục đạo nhân duyên đời trước và chỗ thác
sanh trong vị lai của chúng sanh, hết thảy tâm tưởng của
mười phương chúng sanh, các kiết sử, các thiện căn, các
đạo xuất ly, hết thảy các pháp như vậy đều biết. Ấy
gọi là Tam-miệu Tam-Phật-đà.
* Lại
có danh hiệu Bệ-đa Giá-la-na Tam-ban-na (Vidya-Caranasampana). Tiếng
Tàu dịch là Minh hạnh túc. Sao gọi là Minh hạnh túc? Túc
mạng, thiên nhãn và lậu tận gọi là tam minh.
Hỏi:
Thần thông và minh khác nhau như thế nào?
Đáp:
Biết thẳng việc Túc mạng trong quá khứ gọi làthông, biết
hạnh nghiệp nhân duyên trong quá khứ gọi là minh; biết thẳng
chết chỗ này sanh chỗ kia gọi là thông; biết hạnh nghiệp
nhân duyên tập hợp không mất gọi là minh. Dứt thẳng hết
kiết sử mà không biết còn sanh lại hay không sanh lại gọi
là thông. Nếu biết lậu hoặc dứt hết không còn sanh lại,
gọi là minh. Ba minh này là sở chứng của đại A-la-hán, đại
Bích-chi Phật.
Hỏi:
Nếu như vậy, A-la-hán và Bích-chi có gì khác với Phật.
Đáp:
Các vị ấy tuy được Tam minh, mà minh không đầy đủ, còn
Phật đầy đủ hết thảy nên khác.
Hỏi:
Sao là không đầy đủ, và sao là đầy đủ?
Đáp:
Tri túc mạng của A-la-hán và Bích-chi Phật biết thân mình
và thân người khác cũng không thể đủ. Có vị A-la-hán biết
một đời, hoặc hai đời, ba đời, mười, trăm ngàn, vạn
kiếp, cho đến tám vạn kiếp, xa hơn thì không còn biết được
nữa, thế nên không đầy đủ; Thiên nhãn minh biết về đời
vị lai cũng như vậy. Phậⴠngay trong một niệm khi sanh, trụ,
diệt, các phần kiết sử, khi sanh như vậy, khi trụ như vậy,
khi diệt như vậy. Các kiết sử do khổ pháp nhẫn và khổ
pháp trí đoạn diệ đều biết rõ các kiết sử đã được
giải thoát như vậy, được giải thoát về bao nhiêu pháp
hữu vi, được giải thoát về bao nhiêu pháp vô vi. Như vậy
cho đến đạo tỷ nhẫn (đạo loại nhẫn) trong mười lăm
tâm thuộc kiến đế đạo (kiến đạo vị) thì hàng Thanh
văn và Bích-chi Phật không thể giác tri, vì thì gian quá mau
đối với họ; biết nhân duyên, lậu tận của chúng sanh quá
khứ cũng như thế, biết vị lai, hiện tại cũng thế.
Hành
là thân nghiệp, khẩu nghiệp. Nhưng chỉ có thân nghiệp, khẩu
nghiệp của Phật là hoàn toàn; còn người khác đều có sai
quấy, như thế gọi là Minh hạnh túc.
* Lại
có danh hiệu Tu-già-đa (Sugata - Thiện thệ). Tu (Su) Tàu là
dịch khéo; Già-đa (gata) hoặc nói là đi, hoặc là thuyết.
Ấy là khéo đi, khéo thuyết. Khéo đi qua là đi trong các Tam-ma-đề
sâu xa và vô lượng đại trí tuệ, như kệ nói:
"Phật
lấy Nhất thiết trí làm xe,
Đi
đường Bát chánh vào Niết-bàn.
Vì
vậy gọi là khéo đi (Tu-già-đa).
Khéo
thuyết là như thật tướng các pháp mà thuyết, không vì ưa
đắm pháp mà thuyết, quán sát trí tuệ lực của đệ tử.
Người ấy dù đem tất cả phương tiện thần thông trí lực
mà hóa cũng không độ được; còn người ấy độ được,
người ấy mau, người ấy chậm, người ấy nên ở chỗ ấy
độ, người ấy nên thuyết về bố thí, hoặc thuyết về
trì giới, hoặc thuyết về Niết-bàn, người ấy nên thuyết
về năm uẩn (ngũ chúng), mười hai Nhân duyên, các pháp Tứ
đế thời có thể đưa họ vào đạo. Biết các loại trí
lực của đệ tử như vậy mà vì họ thuyết pháp; ấy là
khéo thuyết.
*
Lại có danh hiệu Lô-ca-bị (Lokavid - Thế gian giải). Lô-ca
(Loka) Tàu dịch là thế gian, Bị (vid) dịch là tri. Lô-ca-bị
là Tri thế gian.
Hỏi:
Thế nào là Tri thế gian?
Đáp:
Biết hai thứ thế gian: Một là chúng sanh, hai là phi chúng
sanh. Và đúng như thật tướng biết thế gian, nhân của thế
gian, sự diệt tận của thế gian, đạo xuất ly thế gian.
Lại
nữa, biết thế gian không phải như thế tục biết, cũng không
phải như ngoại đạo biết. Biết thế gian vì vô thường
nên khổ, vì khổ nên vô ngã.
Lại
nữa, biết thế gian phi hữu thường, phi vô thường, phi hữu
biên, phi vô biên, phi khứ, phi bất khứ, cũng không đắm trước
những tướng như vậy, tướng thanh tịnh, thường bất hoại,
như hư không, ấy gọi là Biết thế gian.
*
Lại có danh hiệu là A-nậu-đa-la (Anutara). Tàu dịch là Vô
thượng.
Hỏi:
Thế nào là Vô thượng?
Đáp:
Pháp Niết-bàn là Vô thượng. Phật tự biết Niết-bàn ấy,
không phải nghe từ người khác, cũng dắt dẫn chúng sanh khiến
đi đến Niết-bàn. Như trong các pháp, Niết-bàn là vô thượng,
thời trong chúng sanh, Phật cũng Vô thượng.
Lại
nữa, công đức trì giới, thiền định, trí tuệ, giáo hoá
chúng sanh, hết thảy không có ai bằng, huống là hơn được,
cho nên gọi là Vô thượng.
Lại
nữa, A là không; Nậu-đa-la là trả lời. Hết thảy pháp ngoại
đạo có thể trả lời, có thể phá hủy; vì nókhông phải
là thật, không phải thanh tịnh. Còn Phật pháp không thể
trả lời, không có thể phá hủy; vì nó ra ngoài con đường
nói năng, cũng là thật, là thanh tịnh. Do đó nên gọi là
không trả lời.
*
Lại có danh hiệu là Phú-lâu-sa Đàm-miệu Bà-la-đề (Purasadamysàrathi).
Phú-lâu-sa, Tàu dịch là Trượng phu. Đàm-miệu dịch là có
thể giáo hóa. Bà-la-đề dịch là Điều ngự sư. Ấy gọi
là đấng Thầy điều ngự của những người có thể giáo
hoá (Điều ngự trượng phu). Phật đem đại từ đại trí,
có khi nói lời êm dịu, có khi nói lời khắc khổ, có khi
nói lời chi li, lấy đó điều phục chế ngự khiến không
mất Chánh đạo, như kệ nói:
"Phật
pháp là xe, đệ tử là Ngựa,
Bảo
chủ điều ngự thật pháp là Phật,
Nếu
Ngựa vượt ra ngoài lối chánh,
Thì
sẽ tự sửa khiến điều phục.
Nếu
căn nhỏ không điều, thì dùng pháp nhẹ trị,
Khéo
léo thành lập cho vào thượng đạo,
Nếu
không trị được thì vứt bỏ.
Do
vậy là đấng Điều ngự vô thượng".
Lại
nữa, Điều ngự sư có năm thứ: 1- Trước hết là pháp sửa
trị của cha mẹ, anh chị, thân lý. 2- Thứ đến là phép của
quan. 3 - Dưới hết là phép của thầy. Đó là ba thứ sửa
trị trong đời hiện tại. 4- Đời sau thì có Diêm-la vương
trị. 5- Phật thì dạy sự lợi ích an lạc cho đời này, đời
sau và Niết-bàn. Thế nên gọi là Điều ngự sư.
Bốn
pháp sửa trị người trên kia không bao lâu tất hủy hoại,
không thể thường có kết quả thật sự. Phật thành đạt
cho người với ba thứ đạo, thường theo đạo, không bỏ.
Như lửa không bỏ tự tướng của nó cho đến khi tắt. Phật
làm cho người được thiện pháp cũng vậy, đến chết không
bỏ; vì vậy cho nên Phật có hiệu là Điều ngự trượng
phu.
Hỏi:
Đối với nữ nhân Phật cũng giáo hoá cho được đạo, sao
chỉ nói trượng phu (nam giới)?
Đáp:
Vì người nam là tôn quý, người nữ thì thấp hèn; vì người
nữ thì theo người nam. Và vì người nam là chủ sự nghiệp.
Lại
nữa, người nữ có điều chướng ngại là không được làm
Chuyển luân vương, Đế thích Thiên vương, Ma thiên vương,
Phạm-thiên vương và Phật pháp vương; vì vậy nên Phật không
nói.
Lại
nữa, nếu nói Phật là đấng Điều ngự sư của nữ nhân
thì không tôn trọng, nếu nói của trượng phu thì gồm hết
tất cả. Cũng như vua đến thì không đến một mình, chắc
chắn còn có người tùy tùng. Như vậy, nói trượng phu là
gồm hết cả người hai căn, không căn và nữ nhân trong đó;
vì vậy, nên nói là trượng phu.
Bởi
nhân duyên ấy, Phật là Điều ngự trượng phu.
* Lại
có danh hiệu Xá-đa Đề-bà Ma-nậu-xá-nẫm (Sàstà-devamanusyànàm).
Xá-đa (Sàstà) là Giáo sư, Đề-bà là Thiên (trời), Ma-nậu-xá-nẫm
(manusyànàm) là Nhân (người). Ấy là Thiên nhân sư.
Sao
gọi là Thiên nhân sư? Phật dạy việc ấy nên làm, việc
ấy không nên làm, việc ấy thiện, việc ấy bất thiện,
và chúng sanh theo lời dạy mà làm, không bỏ đạo pháp, được
quả báo là giải thoát phiền não, ấy gọi là Thiên nhân
sư.
Hỏi:
Phật có thể hóa độ Rồng, Quỷ, thần và các chúng sanh
trong các đạo khác, sao chỉ nói là Thiên nhân sư?
Đáp:
Độ các loài khác thì ít, độ hàng thiên nhân thì nhiều.
Ví như người da trắng, có chấm ruồi đen mà không gọi người
da đen, vì đen ít.
Lại
nữa, trong loài người kiết sử mỏng, tâm nhàm chán dễ sanh,
trong loài trời trí tuệ lanh lợi, vì vậy hai nơi này dễ
đắc đạo; còn trong các loài khác không được như thế.
Lại
nữa, nói thiên là gồm luôn các loài ở trên trời, nói nhân
là gồm luôn các loài sanh sống ở quả đất, vì cớ sao?
Vì trên trời thì trời lớn hơn cả, trên quả đất thì người
lớn hơn cả. Do đó, nói thiên là gồm hết loài trên trời,
nói nhân là gồm hết loài trên đất.
Lại
nữa, trong loài người có được sự thọ giới luật nghi,
kiến đế đạo (kiến đạo), tư duy đạo (tu đạo) và các
đạo quả. Hoặc có người nói: "Trong các loài khác không
có được, hoặc có người nói nhiều ít có được; còn trong
hàng thiên nhân thì dễ được, nhiều người được". Do vậy
Phật gọi là Thiên nhân sư.
Lại
nữa, ở trong loài người tạo nhân vui nhiều, ở trong loài
trời hưởng quả báo vui nhiều. Thiện pháp là nhân vui, vui
là quả báo của thiện pháp. Trong các loài khác, nhân và báo
vui đều ít. Do vậy Phật là Thiên nhân sư.
* Lại
có danh hiệu Phật-đà (Buddha). Tàu dịch là Tri giả. Biết
những pháp gì? Biết quá khứ, vị lai, hiện tại, chúng sanh
số, phi chúng sanh số, hữu thường, vô thường. Hết thảy
các pháp, tại dưới cội bồ-đề, giác tri rõ ràng, cho nên
gọi là Phật-đà.
Hỏi:
Người khác cũng biết được hết thảy các pháp, như trời
Ma-hê-thủ-la (Mahésvara), Tàu dịch là Đại tự tại, có tám
tay, ba mắt, cỡi Bò trắng, Như trời Vĩ-nữu (Visnu), Tàu dịch
là Biến văn, có bốn tay, cầm Tù-và (Sankha), nắm bánh xe
(cakra), cỡi chim Kim-sí. Như trời Cưu-ma-la (Kumara), Tàu dịch
là Đồng tử, tay đưa cao con Gà, cầm linh, nắm phan đỏ,
cỡi chim Khổng tước, đều là đại tướng của chư thiên.
Các vị như vậy đều gọi là "Đại", đều xưng là Nhất
thiết trí. Có người theo làm đệ tử, học kinh sách và lãnh
thọ giáo pháp của họ, nói đó là Nhất thiết trí?
Đáp:
Đó không đáng gọi là Nhất thiết trí, vì cớ sao? Vì tâm
còn dính vào sân nhuế, kiêu mạn, như kệ nói:
"Hoặc
thấy hình vẽ, hoặc tượng đất,
Hoặc
nghe trong kinh, hoặc nghe khen.
Bốn
loại chư thiên như thế ấy,
Mỗi
mỗi tay cầm các binh khí,
Ai
sức không bằng phải sợ hãi,
Ai
tâm bất thiện phải sợ hãi,
Trời
ấy chắc chắn làm người sợ,
Nếu
vì sức kém thì sợ người,
Đối
trời ấy, hết thảy thường sợ,
Không
thể trừ khử các khổ nạn.
Người
nào phụng sự hoặc cung kính
Đời
nay không khỏi chìm biển khổ.
Hoặc
người không cung kính cúng dường.
Đời
nay chẳng ngại hưởng giàu vui.
Nên
biết đó là giả dối, không thật.
Thế
nên kẻ trí không theo trời.
Bởi
các chúng sanh trong thế gian.
Theo
nghiệp nhân duyên mà luân hồi,
Nhờ
duyên phước đức sanh thiên thượng,
Tạo
nghiệp nhân duyên sanh loài người,
Thế
gian hành nghiệp thuộc nhân duyên,
Thế
nên kẻ trí không theo trời".
Lại
nữa ba vị trời ấy, thương ai thời muốn cho mãn nguyện
tất cả, ghét ai thời muốn cho bảy đời tiêu diệt. Lúc
làm Bồ-tát, nếu gặp oan gia, giặc đến muốn giết, còn
tự đem thân, thịt, đầu, mắt, tủy não mà cho, hà huống
là khi đã thành Phật. Nên chỉ có Phật mới có danh hiệu
Phật-đà, vậy phải nên quy y Phật, lấy Phật làm thầy,
không nên thờ Trời.
Lại
nữa, Phật có hai sự: Một là sức đại công đức thần
thông, hai là tâm thanh tịnh bậc nhất, các kiết sử dứt
bặt. Chư thiên tuy có thần lực phước đức, mà vì kiết
sử chẳng dứt nên tâm không thanh tịnh, tâm không thanh tịnh
nên thần lực cũng ít. Thanh-văn, Bích-chi Phật tuy kiết sử
đã dứt, tâm khéo thanh tịnh nhưng vì phước đức mỏng nên
lực thể ít. Phật đầy đủ cả hai thứ nên hơn hết mọi
người, các người khác không được như vậy nên gọi là
Vô thượng sĩ (Sarvanaritama).
Bà-già-bà
(Bhagavat) là có đức (Hữu đức) như trước đã nói.
Lại
có danh hiệu A-ta-ma (Atamà), Tàu dịch Vô đẳng.
Lại
có danh hiệu A-ta-ma-ta-ma (Atamàtamà), Tàu dịch là Vô đẳng
đẳng.
Lại
có danh hiệu Lô-ca-na-tha (Lokanàtha), Tàu dịch là Thế Tôn.
Lại
có danh hiệu Bà-la-già (Panaga), Tàu dịch là Độ bỉ ngạn.
Lại
có danh hiệu Bà-đàn-đà (Bhadamta), Tàu dịch là Đại đức.
Lại
có danh hiệu Thi-lê-già-na (Sriguna), Tàu dịch là Hậu đức
(Đức dày).
Như
vậy … có vô lượng danh hiệu.
Tên
cha mẹ đặt là Tất-đạt-đa (Siddharta), Tàu dịch là Thành
lợi. Khi đắc đạo, biết hết thảy các pháp, nên gọi là
Phật, bậc xứng đáng lãnh thọ sự cúng dường của chư
thiên và người đời, như vậy được gọi là Đại đức,
Hậu đức.
Như
vậy, tùy theo mỗi đức mà lập danh hiệu.
Hỏi:
Vì ông ưa thích Tất-đạt-đa con vua Tịnh-phạn (Suddhodana)
dòng Sát-đế-lợi (Ksatriya) nên hết lời xưng tán là Nhất
thiết trí, chứ thật không có ai là đấng Nhất thiết trí,
đúng không?
Đáp:
Không phải vậy, người nói lời ấy là tà tâm ganh ghét Phật
nên vọng ngữ như vậy. Thật sự có đấng Nhất thiết trí,
vì sao? Đối với hết thảy chúng sanh, Phật có thân sắc,
nhan mạo đoan chánh, không thể bì được. Tướng (laksana),
Đức (guna) và Minh (alaka) đầy đủ hơn hết thảy mọi người.
Tiểu nhân thấy thân tướng Phật cũng biết đó là đấng
Nhất thiết trí, hà huống đại nhân? Như trong kinh Phóng Ngưu
thí dụ nói: "Quốc vương xứ Ma-già-đà (Magadha) là Tần-bà-ta-la
(Bimbisàra) thỉnh Phật và năm trăm đệ tử trong ba tháng.
Vua cần sữa tươi để cúng dường Phật và Tỳ-kheo Tăng
nên mới gọi những người chăn trâu đến ở nơi đó, ngày
ngày mang sữa tươi đến. Sau ba tháng, Vua cảm thương những
người chăn trâu ấy nên bảo: "Các ngươi đi đến hầu Phật
rồi trở về chăn trâu".
Các
người chăn trâu đi đến chỗ Phật, ở giữa đường, cùng
nhau bàn rằng: "Chúng ta nghe nói Phật là đấng Nhất thiết
trí, bọn ta là hạng tiểu nhân hạ liệt, là sao biết được
Ngài là đấng Nhất thiết trí hay không?"
Các
người Bà-la-môn ưa uống sữa, thường qua lại chỗ các người
chăn trâu mà làm thân thiện. Những người chăn trâu do đó
được nghe danh hiệu về các kinh sách của Bà-la-môn, nên
nói với nhau: "Phương pháp trị bệnh, phương pháp chiến đấu,
phương pháp xem tinh tú, phương pháp tế trời, ca múa, phương
pháp luận nghị, nạn vấn v.v… sáu mươi bốn thứ kỷ nghệ
thế gian ấy, con vua Tịnh-phạn học rộng nghe nhiều, thì
biết những việc ấy không khó, nhưng mà từ khi sanh đến
nay không hề chăn Trâu. Vậy chúng ta hãy lấy bí pháp chăn
trâu để hỏi, nếu giải đáp được thì mới thật là bậc
Nhất thiết trí".
Bàn
như vậy xong, họ cùng nhau bước vào vườn Trúc (Venuvana),
thấy ánh sáng của Phật chiếu khắp rừng, tiến tới trước
tìm Phật; thấy Phật ngồi dưới cây, trạng tợ núi vàng,
như sữa tươi rót vào lửa, cháy rực sáng ngời, hoặc tợ
như vàng ròng rải màu Tử kim trên khắp rừng Trúc, trông
không biết chán, tâm rất hoan hỷ, cùng nhau nói:
"Nay,
Thích Sư tử này,
Có
Nhất thiết trí không?
Trông
thấy đều vui mừng,
Việc
ấy cũng đủ rồi.
Quang
minh sáng bậc nhất,
Nhan
mạo rất quí trọng.
Thân
tướng uy đức đủ,
Tương
xứng danh hiệu Phật.
Tướng,
tướng đều phân minh
Uy
thần cũng đầy đủ,
Phúc
đức tự rạng rỡ,
Ai
thấy cũng ái kính.
Thân
ở trong vòng sáng,
Người
xem không hề chán.
Nếu
có Nhất thiết trí,
Tất
có công đức ấy.
Hết
thảy các màu vẻ,
Tượng
châu báu trang nghiêm.
Muốn
sánh diệu thân này,
Không
thể nào sánh được.
Làm
thỏa mãn người xem,
Khiến
được vui bậc nhất,
Thấy
rồi sanh tịnh tín,
Tức
là Nhất thiết trí".
Suy
nghĩ như vậy xong, họ lễ Phật rồi ngồi xuống, hỏi Phật:
"Người chăn trâu có mấy điều thành tựu để cho bầy trâu
nhiều thêm và an ổn? Có mấy điều không thành tựu, khiến
bầy trâu không thêm, không an ổn?" Phật đáp: "Có mười một
điều để người chăn trâu làm cho bầy trâu nhiều thêm và
an ổn. Những gì là mười một? Đó là biết sắc, biết tướng,
biết mổ xẻ, biết che vết thương, biết hun khói, biết đường
đi tốt, biết chỗ trâu thích hợp, biết khéo đưa qua sông,
biết chỗ an ổn, biết giữ sữa, biết nuôi trâu chúa. Nếu
người chăn trâu biết mười một điều này thì có thể làm
cho bầy trâu thêm nhiều và an ổn. Tỳ-kheo cũng như thế,
nếu biết mười một pháp thì có thể làm cho thiện pháp
tăng trưởng.
- Sao
lại gọi là biết sắc? Là biết sắc đen, sắc trắng, tạp
sắc. Tỳ-kheo cũng thế, biết tất cả sắc đều là tứ đại
và tứ đại sở tạo.
- Sao
lại gọi là biết tướng? Là biết trâu có tướng tốt hay
không có tướng tốt, khi hợp với bầy trâu khác nhân tướng
mà biết. Tỳ-kheo cũng như vậy, thấy tướng thiện nghiệp
biết là người trí, thấy tướng ác nghiệp biết là người
ngu.
- Sao
lại gọi là biết mổ xtrâu bị các loại trùng hút máu thì
vết thương lở ra, mổ xẻ thời trừ hại, thời vui tươi.
Tỳ-kheo cũng như vậy, bị trùng giác quán ác tà hút máu thiện
căn, tăng trưởng vết thương lòng, trừ bỏ thời được
an ổn.
- Sao
lại gọi là biết che vết thương? Là biết lấy vải, cỏ,
lá để ngăn ngừa chỗ muỗi mòng chích đốt. Tỳ-kheo cũng
như vậy, lấy pháp chánh quán để che vết thương sáu căn
không để bị các ác trùng phiền não tham dục, sân nhuế
châm chích, làm tổn thương.
- Sao
lại gọi là biết hun khói? Hun khói là để trừ muỗi mòng,
trâu ở xa thấy khói thì nhắm theo mà về nhà. Tỳ-kheo cũng
như vậy, đúng như điều được nghe mà thuyết để trừ
các muỗi mòng kiết sử. Dùng khói thuyết pháp để dắt dẫn
chúng sanh đi vào nhà thật tướng không, vô nhã.
- Sao
lại gọi là biết đường đi? Biết con đường trâu đi về
tốt hay xấu. Tỳ-kheo cũng như vậy, biết Tám thánh đạo
có thể đưa đến Niết-bàn, lìa con đường ác đoạn và
thường.
- Sao
lại gọi là biết chỗ trâu thích hợp? Là biết làm cho trâu
sinh sôi, an ổn, ít bệnh. Tỳ-kheo cũng như vậy, lúc thuyết
Phật pháp, được pháp hỷ thanh tịnh, các thiện căn tăng
thịnh.
- Sao
lại gọi là biết khéo đưa qua sông? Biết chỗ dễ vào, dễ
qua, không sóng dữ, trùng độc. Tỳ-kheo cũng như vậy, hay
đến chỗ Tỳ-kheo đa văn hỏi pháp, người thuyết pháp biết
rõ người nghe lợi căn hay độn căn, phiền não nhẹ hay nặng,
khiến họ khéo léo sang bờ, qua được an ổn.
- Sao
lại gọi là biết chỗ an ổn? Biết chỗ ở không có cọp
beo, sư tử, ác trùng, độc thú. Tỳ-kheo cũng như vậy, biết
Bốn niệm xứ là an ổn không có ác Ma, độc thú phiền não.
Tỳ-kheo vào đó thời không hoạn nạn.
- Sao
lại gọi là biết giữ sữa? Trâu mẹ ái niệm trâu con nên
cho sữa. Vì sữa giữ lại một phần nên trâu mẹ vui mừng,
thời tiếp nối không khô kiệt, chủ trâu và người chăn
trâu ngày ngày có ích. Tỳ-kheo cũng như vậy, hàng cư sĩ áo
trắng cấp thí áo mặc, thức ăn, nên biết tiết lượng,
không khiến khánh kiệt, thời Đàn việt hoan hỷ, tín tâm
không dứt, người thọ nhận được đầy đủ, không thiếu.
- Sao
lại gọi là biết nuôi trâu chúa? Bảo hộ trâu đực lớn,
vì nó giữ gìn đàn trâu, nên phải nuôi nấng không để ốm
gầy, cho uống dầu mè, trang sức bằng anh lạc, ra dấu hiệu
với cái Tù-và sắt, biết cọ xát, khen ngợi v.v… Tỳ-kheo
cũng như vậy. Trong chúng Tăng có bậc đại nhân uy đức,
hộ trì ích lợi Phật pháp, hàng phục ngoại đạo, hay khiến
tám chúng gieo trồng các thiện căn, thì nên tùy chỗ sở nghi
của bậc ấy mà cung kính cúng dường".
Các
người chăn trâu nghe nói như thế rồi, suy nghĩ: "Bọn người
chăn trâu chúng ta biết được không quá ba, bốn việc, các
ông thầy của chăn trâu biết nhiều hơn nữa cũng không quá
năm, sáu việc". Nay nghe như vậy tán thán là chưa từng có:
"Nếu biết được việc này, thì việc khác cũng thế. Thật
là bậc Nhất thiết trí, không còn nghi ngờ gì nữa!"
Như
trong kinh ấy nói rộng, vì thế nên biết có bậc Nhất thiết
trí.
Hỏi:
Thế gian đúng ra không có bậc Nhất thiết trí, vì sao? Vì
không ai thấy bậc Nhất thiết trí?
Đáp:
Không phải vậy. Không thấy có hai cách, không thể vì không
thấy mà nói không có: Một là, việc thật có, vì nhân duyên
che lấp mà không thấy. Cũng như giòng họ ban sơ của người,
cân nặng của núi Tuyết, hay vô số cát bên bờ sông Hằng,
thật có mà không thể biết. Hai là thật không có nên không
thấy, như cái đầu thứ hai, cánh tay thứ ba của một người,
không có nhân duyên che lấp mà vẫn không thể thấy. Cũng
thế, bậc Nhất thiết trí ấy vì nhân duyên che lấp mà ngươi
không thấy, chứ chẳng phải không có bậc Nhất thiết trí.
Nhân duyên che lấp ấy là những gì? Là chưa có được bốn
tín tâm, đắm trước tà ác. Người vì nhân duyên ấy che
lấp nên không thấy bậc Nhất thiết trí.
Hỏi:
Vì những điều để biết thì vô lượng, nên không có bậc
Nhất thiết trí. Các pháp vô lưọng vô biên, nhiều người
hợp lại còn không biết nổi, huống chi một người; vì vậy
không có bậc Nhất thiết trí?
Đáp:
Như các pháp vô lượng, trí tuệ cũng vô lượng vô số vô
biên. Như cái hộp to thì cái nắp cũng to, hộp nhỏ thì cái
nắp cũng nhỏ.
Hỏi:
Phật chỉ tự thuyết Phật pháp, không thuyết các kinh khác
như phương thuốc, tinh tú, toán số, sách vở thế gian, những
pháp như thế, nếu là bậc Nhất thiết trí, tại sao không
thuyết? Vì thế nên biết là chẳng phải bậc Nhất thiết
trí?
Đáp:
Tuy Phật biết hết thảy các pháp, nhưng có cần dùng mới
nói, không cần dùng không nói. Có người hỏi mới nói, không
hỏi không nói.
Lại
nữa, hết thảy pháp lược có ba thứ: Một là pháp hữu vi,
hai là pháp vô vi, ba là pháp không thể nói. Ba thứ đó gồm
hết thảy pháp.
Hỏi:
Có mười bốn nạn vấn mà Phật không đáp, nên biết không
phải là bậc Nhất thiết trí. Mười bốn nạn vấn là những
gì? Là: (1-4) Thế giới và ngã là thường, hay vô thường?
hay cũng thường cũng vô thường? hay chẳng phải thường chẳng
phải vô thường? (5-8) Thế giới và ngã có biên, hay không
biên? Vừa cũng có biên cũng không biên?; vừa chẳng phải
có biên chẳng phải không biên? (9-12) Sau khi chết có linh hồn
đi đến đời sau hay không có linh hồn đi đến đời sau?
hay cũng có linh hồn cũng không linh hồn đi đến đời sau?
hay cũng chẳng phải có linh hồn chẳng phải không linh hồn
đi đến đời sau? (13-14) Thân là linh hồn? hay thân khác linh
hồn? Nếu Phật là bậc Nhất thiết trí, vì sao không đáp
mười bốn nạn vấn này?
Đáp:
Việc ấy không thật nên không đáp. Các pháp là thường,
không có lẽ đó. Các pháp là đoạn diệt, cũng không có lẽ
đó; vì vậy nên Phật không đáp. Ví như có người hỏi vắt
sừng trâu được mấy đấu sữa. Đó không phải câu hỏi
không cần đáp.
Lại
nữa, thế giới vô cùng như bánh xe, không đầu, không cuối.
Lại
nữa, đáp vấn nạn ấy, không có lợi mà có hại, là rơi
vào tà ác. Phật biết mười bốn nạn vấn ấy che lấp Tứ
đế, che lấp Thật tướng các pháp. Như chỗ đi qua có ác
thú, không nên dẫn người đi qua, chỗ an ổn không hoạn nạn,
có thể chỉ cho người đi qua.
Lại
nữa, có người nói việc ấy không phải là bậc Nhất thiết
trí thời không thể hiểu. Vì người không thể hiểu nên
Phật không đáp.
Lại
nữa, nếu người, việc không nói có, việc có nói không,
ấy gọi không phải là bậc Nhất thiết trí. Bậc Nhất thiết
trí thì việc có nói có, việc không nói không. Đức Phật,
việc có chẳng nói không, việc không chẳng nói có, chỉ nói:
"Thật tướng các pháp, sao lại không gọi là bậc Nhất thiết
trí? Ví như mặt trời, bình đẳng chiếu khắp, không tạo
nên chỗ cao thấp, cũng không tạo nên bình địa. Phật cũng
như thế, không khiến cho có làm thành không, không làm thành
có, mà thường nói về trí tuệ chơn thật chiếu soi các pháp.
Như có một đạo nhân hỏi Phật: "Mười hai nhân duyên do
Phật làm hay do người khác làm." Phật nói: "Ta không làm Mười
hai nhân duyên, người khác cũng không làm". Dù có Phật hay
không có Phật, thì sanh vẫn làm nhân duyên cho già chết, pháp
ấy quyết định thường trú. Phật thưòng nói sanh làm nhân
duyên cho già chết, cho đến Vô minh làm nhân duyên cho các
Hành.
Lại
nữa, trong mười bốn nạn vấn, nếu trả lời thì sai lầm.
Như có người hỏi đứa con của người lại cái, của con
gái đá là cao hay thấp, đẹp hay xấu? Điều ấy không nên
trả lời vì không có đứa con ấy.
Lại
nữa, mười bốn nạn vấn ấy là tà kiến không chân thật.
Phật chỉ nói những gì chân thật, nên bỏ qua không đáp.
Lại
nữa, bỏ qua không đáp tức là đáp. Có bốn cách đáp: Một
là quyết định đáp, như nói Phật là an ổn nhất trong Niết-bàn.
Hai là giải nghĩa đáp. Ba là đáp bằng cách hỏi trở lại.
Bốn là bỏ qua không đáp. Ông nói: "không có bậc Nhất thiết
trí", có lời ấy nhưng vô nghĩa, ấy là đại vọng ngữ.
Thật có bậc Nhất thiết trí, vì sao? Vì đã chứng được
Mười lực như: Vì biết đấy là xứ hay phi xứ, vì biết
nhân duyên quả báo, vì biết các Thiền định giải thoát,
vì biết căn thiện ác của chúng sanh, vì biết các thứ lạc
dục, trí giải, vì biết đủ thứ vô lượng tánh của thế
gian, vì biết hết thảy trú xứ của đạo, vì biết nhớ
rõ hành xứ của đời trước, vì được thiên nhãn phân minh,
vì biết hết thảy lậu tận, vì biết phân tịnh và bất
tịnh, vì thuyết thượng pháp trong hết thảy thế giới, vì
được vị cam lồ, vì được trung đạo, vì biết thật tướng
của hết thảy pháp hữu vi, vô vi, vì vĩnh viễn xa lìa tham
dục của ba cõi. Do các nhân duyên như thế nên Phật là bậc
Nhất thiết trí.
Hỏi:
Có bậc Nhất thiết trí, ai là người ấy?
Đáp:
Đó là bậc đệ nhất đại nhân (Mahapurasa), là đấng Tam
giới tôn (Trailoky-yajyestha) hiệu là Phật, như kệ tán Phật:
"Chuyển
luân vương đản sanh,
Như
mặt trời, trăng, đèn
Dòng
quý tộc Thích-ca,
Thái
tử vua Tịnh-phạn.
Khi
sanh động ba ngàn,
Tu-di
và nước biển,
Vì
phá già, bệnh, chết,
Thương
xót nên ra đời.
Sanh
ra đi bảy bước,
Ánh
sáng khắp mười phương,
Nhìn
bốn phương nói lớn:
Ta
sanh, thai phần hết.
Thành
Phật thuyết diệu pháp,
Tiếng
lớn gióng trống pháp,
Để
giác tĩnh chúng sanh,
Đời
ngủ say vô minh.
Việc
hy hữu xuất hiện,
Đủ
các thứ như vậy,
Chư
thiên và người đời,
Thấy
rồi đều hoan hỷ.
Tướng
thân Phật trang nghiêm,
Mặt
như trăng rằm sáng,
Hết
thảy nam hoặc nữ,
Nhìn
thấy không biết chán.
Sanh
thân nhờ nhũ bộ.
Mạnh
hơn vạn Voi chúa,
Sức
thần túc vô thượng,
Sức
trí tuệ vô lượng.
Thân
Phật tỏa sáng lớn,
Soi
sáng quanh thân Phật,
Phật
ở giữa ánh sáng,
Như
trăng giữa ánh sáng.
Các
thứ ác hủy Phật,
Phật
cũng không ác tưởng.
Các
thứ xưng tán Phật,
Phật
cũng không hỷ tưởng.
Đại
từ, xem chúng sanh,
Oán
thân đều như nhau,
Hết
thảy loài hữu thức,
Đếu
biết rõ việc này.
Sức
nhẫn nhục từ bi,
Nên
thắng hết tất cả,
Vì
độ thoát chúng sanh,
Đời
đời chịu cần khổ.
Mà
tâm thường nhất định,
Vì
chúng làm lợi ích,
Trí
tuệ lực có mười,
Vô
úy lực có bốn.
Bất
cọng có mười tám,
Kho
công đức vô lượng,
Có
vô số như vậy,
Công
đức lực hy hữu.
Như
Sư tử vô úy,
Phá
pháp của ngoại đạo,
Chuyển
pháp luân vô thượng,
Độ
thoát hết ba cõi".
Ấy
gọi là Bà-già-bà. Nghĩa của Bà-già-bà là vô lượng, nếu
nói rộng nữa thì sẽ bỏ việc khác, cho nên nói lược.
(Hết
cuốn 2 theo bản Hán)