Cuốn
4
CHƯƠNG
7
GIẢI
THÍCH: BỔ-TÁT
KINH:
Lại có Bồ-tát Ma-ha-tát
LUẬN:
Hỏi: Nếu kể từ trên kể xuống thì phải Bồ-tát trước
rồi mới đến Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu -bà-tắc, Ưu-bà-di;
vì Bồ-tát kề dưới Phật. Nếu từ dưới kể lên thì
phải kể Ưu-bà-di, rồi mới đến Ưu -bà-tắc, Tỳ-kheo-ni,
Tỳ-kheo, Bồ-tát. Nay cớ sao trước nói Tỳ-kheo, rồi
mới đến ba chúng, sau mới nói Bồ-tát?
Đáp:
Bồ-tát tuy là7873; dưới Phật, nhưng vì các phiền não
chưa sạch hết nên nói đến A-la-hán trước. Các A-la-hán
trí tuệ tuy ít mà đã thành thục, các Bồ-tát trí tuệ tuy
nhiều mà phiền não chưa sạch hết nên nói A-la-hán trước.
Phật
pháp có hai loại: Một là bí mật, hai là hiển thị.
Trong hiển thị, thì Phật, Bích-chi Phật, A-la-hán đều là
phước điền; vì đã sạch hết phiền não không còn thừa.
Trong bí mật thì nói các Bồ-tát được Vô sanh Pháp nhẫn,
phiền não đã dứt, đủ sáu thần thông, làm lợi ích chúng
sanh. Vì theo pháp hiển thị nên trước nói A-la-hán sau
nói Bồ-tát.
Lại
nữa, Bồ-tát dùng phương tiện lực thị hiện vào năm đường,
thọ năm dục lạc, để dẫn đạo chúng sanh. Nếu Bồ-tát
ở trên A-la-hán thì chư thiên, người đời sanh nghi ngờ,
quái lạ nên nói sau.
Hỏi:
Ở sau A-la-hán thì còn được cớ sao lại ở sau cả Ưu -bà-tắc,
Ưu-bà-di?
Đáp:
Bốn chúng tuy chưa sạch hết lậu, nhưng không bao lâu sẽ
hết, nên gọi chung là chúng Thanh-văn. Nếu trong bốn
chúng mà xen nói Bồ-tát vào thì bất tiện. Như Tỳ-kheo-ni
được vô lượng luật nghi đáng nên ở sau Tỳ-kheo và trước
Sa-di, nhưng vì nghi pháp bất tiện nên Phật nói sau Sa-di.
Các Bồ-tát cũng như thế, tuy đáng ở trên ba chúng Hữu học
nhưng mà vì không tiện nói nên nói sau.
Lại
nữa, có người nói: Bồ-tát có công đức và trí tuệ siêu
việt thù thắng hơn A-la-hán, Bích-chi Phật, cho nên nói riêng.
Hỏi:
Trong kinh Thanh-văn chỉ nói bốn chúng, trong đây cớ gì chỉ
nói riêng chúng Bồ-tát?
Đáp:
Có hai đạo: Một là Thanh-văn đạo, hai là Bồ-đề-tát-đỏa
đạo. Nếu nói bốn chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu -bà-tắc,
Ưu-bà-di; nên biết đó là hạng người cầu Thanh-văn đạo.
Nếu nói riêng chúng Bồ-tát Ma-ha-tát nên biết đó là hạng
người cầu Phật đạo. Vì vậy, nên trong pháp Thanh-văn,
ở đầu kinh không nói Phật trú ở chỗ ấy, cùng với bấy
nhiêu Bồ-tát, mà chỉ nói Phật trú ở chỗ ấy cùng với
bao nhiêu Tỳ-kheo, như nói Phật ở Ba-la-nại cùng với năm
Tỳ-kheo. Phật ở tại nước Già-gia cùng với ngàn Tỳ-kheo.
Phật ở nước Xá-bà-đề cùng với năm trăm Tỳ-kheo.
Khởi đầu các kinh như vậy đều không nói cùng với bao nhiêu
Bồ-tát.
Hỏi:
Bồ-tát có hai hạng: Xuất gia và tại gia. Bồ-tát
tại gia nói chung trong chúng Ưu -bà-tắc, Ưu-bà-di. Bồ-tát
xuất gia nói chung trong chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni.
Nay vì sao lại nói riêng?
Đáp:
Tuy ở chung trong bốn chúng mà nên phải nói riêng, vì sao?
Vì Bồ-tát thuộc vào bốn chúng mà bốn chúng không hẳn là
Bồ-tát. Tại sao vậy? Vì có người cầu thành Thanh-văn,
có người cầu thành Bích-chi Phật, có người cầu sanh lên
trời, có người cầu sinh sống an lạc. Bốn hạng
người này không thuộc vào hàng Bồ-tát, vì những người
ấy không phát tâm nói rằng: "Tôi nguyện sẽ làm
Phật".
Lại
nữa, Bồ-tát chứng được Vô sanh Pháp nhẫn, tất cả tướng
danh tự tử sanh đều dứt hết, ra ngoài ba cõi, không rơi
vào trong số chúng sanh, vì sao? Vì Thanh-văn được đạo
quả A-la-hán còn không rơi vào trong số chúng sanh, hà huống
Bồ-tát, như trong Ưu-ba-thi-nạn ở kinh Ba-la-diên có kệ:
"Chỗ
đã diệt vô, tái xuất chăng?
Đã
vĩnh diệt, chẳng tái xuất chăng?
Đã
vào Niết-bàn, thường trú chăng?
Nguyện
đấng Đại trí nói sự thật".
Phật
đáp:
"Tịch
diệt, tức là không thể lường,
Phá
hoại nhân duyên và danh tướng,
Hết
thảy ngôn ngữ đều đã qua,
Tất
cả đều hết như lửa tắt".
Như
A-la-hán mà hết thảy danh tự còn dứt huống là Bồ-tát có
thể phá tất cả các pháp, biết thật tướng, được pháp
thân mà không dứt được ư? Vì thế nên trong hàng tứ
chúng của Đại thừa, nói riêng Bồ-tát.
Hỏi:
Cớ sao mở đầu kinh Đại thừa, nói cả chúng Bồ-tát, chúng
Thanh-văn, mà mở đầu kinh Thanh-văn chỉ nói đến chúng Tỳ-kheo,
không nói đến chúng Bồ-tát?
Đáp:
Vì muốn biện thuyết hai thừa: Phật thừa và Thanh-văn
thừa. Thanh-văn thừa nhỏ hẹp, Phật thừa rộng lớn;
Thanh-văn thừa tự làm tự lợi, Phật thừa lợi ích tất
cả.
Lại
nữa, Thanh-văn thừa phần nhiều thuyết "chúng sanh không",
Phật thừa thuyết cả "chúng sanh không" và "pháp không".
Như vậy v.v… đủ cả các thứ phân biệt ba thừa. Vì
phân biệt thuyết về hai đạo ấy (Thanh-văn đạo và Bồ-tát
đạo) nên trong kinh Đại thừa nói cả chúng Thanh-văn và chúng
Bồ-tát , như bài kệ tán Đại thừa nói:
"Người
được pháp Đại-thừa,
Đem
an lạc khắp cả,
Lợi
ibằng thật pháp,
Khiến
được đạo Vô thượng.
Người
được pháp Đại-thừa,
Từ
bi với tất cả,
Đem
đầu, mắt bố thí,
Bỏ
đi như cỏ cây.
Người
được pháp Đại-thừa,
Hộ
trì giới thanh tịnh,
Như
trâu đen quý đuôi,
Không
tiếc đến thân mạng.
Người
được pháp Đại-thừa,
Thì
được nhẫn vô thượng,
Nếu
có cắt xẻo thân,
Xem
đó như cắt cỏ.
Người
được pháp Đại-thừa,
Tinh
tấn không nhàm mỏi,
Gắng
làm không ngừng nghỉ,
Như
người tát biển cả.
Người
được pháp Đại-thừa,
Rộng
tu vô lượng định,
Sức
thần thông, Thánh đạo,
Được
thanh tịnh tự tại.
Người
được pháp Đại-thừa,
Phân
biệt các pháp tướng,
Thật
trí tuệ bất hoại,
Trong
ấy đã đầy đủ.
Trí
bất khả tư nghì,
Sức
bi tâm vô lượng,
Không
vào trong nhị pháp,
Đặng
quán hết thảy pháp.
Xe
lừa, ngựa, đà, voi,
Tuy
đồng, không sánh nhau.
Bồ-tát
và Thanh-văn,
Lớn
nhỏ cũng như thế.
Đại
từ bi làm trục,
Trí
tuệ làm hai bánh,
Tinh
tấn làm ngựa hay,
Khớp
miệng bằng giới định.
Nhẫn
nhục làm áo giáp,
Tổng
trì làm cương Ngựa,
Người
đi xe Đại-thừa,
Qua
khỏi được tất cả".
Hỏi:
Như kinh Thanh-văn, mở đầu chỉ kể chúng Tỳ-kheo, còn kinh
Ma-ha Diễn, mở đầu kể luôn chúng Bồ-tát. Tại sao
vậy?
Đáp:
Ma-ha Diễn rộng lớn, các thừa các đạo đều vào trong Ma-ha
Diễn. Chúng Thanh-văn nhỏ hẹp, không dung thọ được
Ma-ha Diễn, ví như sông Hằng không dung thọ được biển cả,
vì nó nhỏ hẹp. Nhưng biển cả có thể dung thọ được
các dòng sông, vì nó rộng lớn; Pháp Ma-ha Diễn cũng
như thế, như kệ nói:
"Ma-ha
Diễn như biển cả,
Tiểu
thừa như nước lỗ chăn Trâu,
Nhỏ
không dung được to,
Thí
dụ kia cũng thế".
Vì
vậy, chúng Tiểu thừa không dung thọ được Bồ-tát.
Hỏi:
Sao gọi là Bồ-đề? Sao gọi là Tát-đỏa?
Đáp:
Bồ-đề gọi là đạo chư Phật, Tát-đỏa gọi là chúng sanh,
hoặc gọi là đại tâm. Người ấy muốn được trọn
cả công đức của Phật đạo, tâm kia không thể dứt, không
thể phá; như núi Kim-cang, nên gọi là đại tâm, như kệ nói:
"Hết
thảy các Phật pháp,
Trí
tuệ và giới định,
Làm
lợi ích tất cả,
Ấy
gọi là Bồ-đề.
Tâm
kia không lay động,
Hay
nhẫn, thành việc đạo,
Không
dứt cũng không phá,
Tâm
ấy gọi Tát-đỏa".
Lại
nữa, xưng tán hảo pháp là "tát", thể tướng của hảo pháp
gọi là "đỏa". Vì tâm Bồ-tát tự lợi lợi tha, vì
độ hết thảy chúng sanh, vì biết thật tánh hết thảy pháp,
vì hành đạo Vô thượng Chánh đẳng Bồ-đề, vì được
hết thảy Hiền thánh tán thán; ấy gọi là Bồ-đề Tát-đỏa,
vì cớ sao? Vì trong hết thảy pháp, Phật pháp là bậc
nhất. Bồ-tát muốn đạt được pháp ấy, nên được
Hiền thánh tán thán.
Lại
nữa, người như thế vì giải thoát sanh già bệnh chết cho
hết thảy chúng sanh, nên cầu Phật đạo, ấy gọi là Bồ-đề
Tát-đỏa.
Lại
nữa, ba thứ đạo đều là Bồ-đề. Một là Phật đạo,
hai là Thanh-văn đạo, ba là Bích-chi Phật đạo. Bích-chi
Phật đạo, Thanh-văn đạo tuy được Bồ-đề mà không xưng
là Bồ-đề, Bồ-đề ở trong công đức thuộc Phật đạo
mới là Bồ-đề, ấy gọi là Bồ-đề Tát-đỏa.
Hỏi:
Ngang đâu trở lại gọi là Bồ-đề Tát-đỏa?
Đáp:
Có thệ nguyện lớn, tâm không thể lay động, tinh tiến không
lùi, do ba việc ấy gọi là Bồ-đề Tát-đỏa.
Lại
nữa, có người nói: "Khi bắt đầu phát tâm, nguyện
rằng: Ta sẽ làm Phật độ hết thảy chúng sanh".
Từ đó trở đi gọi là Bồ-đề Tát-đỏa, như kệ nói:
"Nếu
khi mới phát tâm,
Thế
nguyện sẽ làm Phật,
Đã
qua khỏi thế gian,
Đáng
nhận đời cúng dường".
Từ
khi mới phát tâm cho đến đệ Cửu địa vô ngại, vào Kim-cang
tam muội, giữa khoảng trung gian đó gọi là Bồ-đề Tát-đỏa.
Bồ-đề
Tát-đỏa ấy có hai hạng: Thoái chuyển và bất thoái chuyển.
Như hai hạng A-la-hán thối pháp và bất thối pháp.
Bồ-tát
bất thoái chuyển gọi là thật Bồ-tát, vì có Bồ-tát thật,
cho nên các Bồ-tát thoái chuyển đều gọi là Bồ-tát, ví
như người chứng được bốn đạo quả gọi là thật Tăng,
vì có Tăng thật, cho nên các người chưa đắc đạo đều
gọi là Tăng.
Hỏi:
Sao biết Bồ-tát ấy là thoái chuyển và bất thoái chuyển?
Đáp:
Phẩm A-bệ-bạt-trí trong Kinh Bát-nhã Ba-la-mật, Phật tự
thuyết tướng bất thoái chuyển. Tướng như vậy là
thoái chuyển, tướng như vậy là bất thoái chuyển.
Lại
nữa, nếu Bồ-tát chỉ với một pháp mà khéo tu khéo niệm,
ấy gọi là A-bệ-bạt-trí Bồ-tát. Một pháp gì?
Đó là thường nhất tâm, nhóm các thiện pháp. Như nói
các đức Phật do thường nhất tâm nhóm các thiện pháp mà
chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại
nữa, có Bồ-tát chỉ được một pháp, là tướng bất thoái
chuyển. Một pháp gì? Đó là chánh trực tinh tiến.
Như Phật hỏi A-nan: "A-nan! Thầy tinh tiến chăng?"
_ Đúng
vậy, bạch Thế Tôn!
_ A-Nan!
Thầy tán thán tinh tiến chăng?
_ Đúng
vậy, đấng Thiện tuệ!
_ A-Nan!
thường hành, thường tu, thường niệm tinh tiến cho đến
khiến cho người đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Như trong đó nói rộng vậy.
Lại
nữa, nếu được hai pháp, khi ấy là tướng bất thoái chuyển.
Hai pháp gì? Thật biết hết thảy pháp là không và cũng niệm
nghĩ, không bỏ tất cả chúng sanh. Người như vậy gọi
là Bồ-tát bất thoái chuyển.
Lại
nữa, được ba pháp: Một là nhất tâm nguyện muốn thành
Phật đạo, như Kim-cương không thể lay động , không thể
phá hoại. Hai là đối với hết thảy chúng sanh, có tâm
từ bi, khắc vào xương tủy. Ba là được Bát-nhã tam
muội thấy được chư Phật hiện tại. Lúc ấy gọi
là Bồ-tát bất thoái chuyển.
Lại
nữa, trong A-tỳ-đàm, chúng đệ tử của Ca-chiên Diễn-ni
tử (Katya-niputra) nói: "Sao gọi là Bồ-tát? Tự giác
lại có thể giác tha, ấy gọi là Bồ-tát. Chắc chắn
sẽ làm Phật, ấy gọi là Bồ-tát. Bồ-đề là
trí tuệ của người lậu tận; người ấy từ trí tuệ mà
sanh ra, được người trí tuệ hộ niệm, được người trí
tuệ cúng dường, ấy gọi là Bồ-tát.
Lại
nói: "Phát tâm bất thoái chuyển, từ đó về sau gọi
là Bồ-tát".
Lại
nói: "Nếu xa lìa năm pháp, được năm pháp, ấy gọi
là Bồ-tát". Năm pháp là gì? Lìa ba đường
ác, thường sanh vào loài trời và loài người. Lìa nghèo
cùng hạ tiện, thường được tôn quý. Lìa khỏi tướng
phi nam, thường được thân nam tử. Lìa khỏi thân hình
tàn khuyết thô lậu, các căn đầy đủ. Lìa bỏ tánh
hay quên, thường nhớ Túc mạng. Được trí tuệ Túc
mạng ấy, thường lìa hết thảy các pháp ác, xa bỏ người
ác, thường cầu đạo pháp, nhiếp thủ đệ tử, như vậy
gọi là Bồ-tát.
Lại
nữa, từ khi gieo nghiệp cho ba mươi hai tướng trở đi, ấy
gọi là Bồ-tát.
Hỏi:
Lúc nào gieo trồng nghiệp làm nhân duyên cho ba mươi hai tướng?
Đáp:
Qua khỏi ba A-tăng-kỳ kiếp, vậy sau mới trồng nghiệp nhân
duyên cho ba mươi hai tướng.
Hỏi:
Thời gian bao lâu gọi là A-tăng-kỳ vô số kiếp?
Đáp:
Cực số mà những kẻ biết toán số trong hàng nhân thiên
không thể biết được, ấy gọi là một A-tăng-kỳ.
Như một với một gọi là hai, hai với hai là bốn, ba lần
ba là chín, mười lần mười là trăm, mười lần trăm là
nghìn, mười lần nghìn là vạn, ngàn lần vạn là ức, ngàn
vạn ức gọi là Na-do-tha, ngàn vạn Na-do-tha là Tần-bà (Bimbara),
ngàn vạn Tần-bà gọi là Ca-tha (Gata), quá Ca-tha gọi là A-tăng-kỳ.
Như vậy, trong số ba A-tăng-kỳ, nếu tu hành hết một A-tăng-kỳ,
thì tu A-tăng-kỳ thứ hai; tu hết A-tăng-kỳ thứ hai, thì tu
A-tăng-kỳ thứ ba. Ví như phép toán số, đếm từ một
đến trăm, đếm trăm xong trở lại từ một. Như
vậy Bồ-tát qua một A-tăng-kỳ, rồi trở lại kể từ một
khởi đi. Trong A-tăng-kỳ đầu, tâm không tự biết ta
sẽ thành Phật hay không thành Phật. Trong A-tăng-kỳ hai,
tâm tuy biết được ta chắc chắn thành Phật, nhưng miệng
không nói ta sẽ thành Phật. Trong A-tăng-kỳ ba, tâm tự
biết rõ ràng sẽ thành Phật, miệng tự pháp ngôn không chút
sợ: "Ta trong đời sau sẽ thành Phật".
Phật
Thích-ca Văn, kể từ Phật Thích-ca Văn quá khứ đến
Phật Lặc-na thi-khí (Ratnasíkhin) là A-tăng-kỳ đầu.
Trong khoảng ấy Bồ-tát vĩnh viễn xa lìa thân mỹ nhân.
Từ Phật Lặc-na thi-khí đến Phật Nhiên-đăng (Dipsạmkara)
là A-tăng-kỳ thứ hai. Trong khoảng ấy, Bồ-tát cúng
dường Phật Nhiên-đăng bảy cành Hoa sen, trải áo da nai, trải
tóc lên đống bùn để lót đường cho Phật đi qua; Phật
Nhiên-đăng liền thọ ký cho Bồ-tát: "Ông tương lai sẽ
thành Phật hiệu Thích-ca Mâu-ni".
Từ
Phật Nhiên-đăng đến Phật Tỳ-bà-thi, là A-tăng-kỳ thứ
ba. Nếu qua khỏi ba A-tăng-kỳ kiếp, lúc ấy là lúc Bồ-tát
gieo trồng nghiệp làm nhân duyên cho ba mươi hai tướng.
Hỏi:
Nghiệp cho ba mươi hai tướng có thể gieo trồng ở tại đâu?
Đáp:
Ở tại cõi Dục chứ không phải tại cõi Sắc, cõi Vô sắc.
Trong năm đạo của cõi Dục, ở tại nhân đạo gieo trồng.
Trong bốn châu thiên hạ, tại châu Diêm-phù-đề gieo trồng,
chứ không phải châu Câu-gia-ni, Uất-đát-la-việt, Phất-bà-đề.
Ở tại Diêm-phù-đề thì từ thân nam tử gieo trồng chứ
không phải nữ nhân. Lúc có Phật xuất thế gieo trồng.
Phật không xuất thế không thể gieo được. Vì duyên
thân Phật mà được gieo, duyên thân khác không được gieo.
Hỏi:
Nghiệp của ba mươi hai tướng, là ở nơi thân nghiệp, khẩu
nghiệp, ý nghiệp, nghiệp nào được gieo?
Đáp:
Ý nghiệp gieo, không phải thân nghiệp, khẩu nghiệp, vì sao?
Vì ý nghiệp lanh lợi.
Hỏi:
Ý nghiệp có sáu thức, nghiệp của ba mươi hai tướng ấy,
là ý thức gieo hay là ngũ thức gieo?
Đáp:
Là ý thức, không phải ngũ thức, vì sao? Vì ngũ thức
không thể phân biệt, vì thế nên ý thức gieo.
Hỏi:
Tướng nào gieo trước tiên?
Đáp:
Có người nói: Tướng bàn chân bằng phẳng gieo trước
tiên, vì sao? Vì trước phải đứng vững rồi sau mới
có thể gieo các tướng khác.
Có
người nói: Gieo tướng mắt xanh biếc trước. Được
tướng mắt này là mắt đại từ xem chúng sanh.
Tuy
có lời ấy nhưng không hẳn như vậy. Nếu nhân duyên
của tướng nào hòa hiệp là bắt đầu gieo.
Hỏi:
Một ý tứ gieo hay nhiều ý tứ gieo?
Đáp:
Ba mươi hai ý tứ gieo ba mươi hai tướng. Mỗi một ý
tứ gieo mỗi một tướng. Mỗi một tướng có trăm phước
đức trang nghiêm.
Hỏi:
Bao nhiêu gọi là một phước đức?
Đáp:
Có người nói: Có được nghiệp báo làm Chuyển luân Thánh
vương, ở trong bốn châu thiên hạ hưởng thọ phước
lạc được tự tại, ấy gọi là một phước đức.
Đủ một trăm phước như vậy thành một tướng.
Lại
có người nói: Làm Thích-đề-hoàn-nhơn, ở trong hai cõi
trời, được tự tại, ấy gọi là một phước.
Lại
có người nói: Làm vị Thiên vương Tha-hóa-tự-tại,
ở trong cõi Dục được tự tại, ấy gọi là một phước.
Lại
có người nói: Trừ Bồ-tát bổ xứ, phước báo của
hết thảy chúng sanh có được, ấy gọi là một phước.
Lại
có người nói: Sau khi kiếp của trời đất chấm hết,
do hết thảy phước đức của hết thảy chúng sanh cộng lại,
mà quả báo của Tam thiên đại thiên thế giới được thành
lập, ấy gọi là một phước.
Lại
có người nói: Phước ấy không thể lường, không thể
thí dụ mà biết được. Như hết thảy chúng sanh trong
Tam thiên đại thiên thế giới đều mù mắt, có một người
chữa khỏi, ấy gọi là một phước. Tất cả người
đều bị trúng độc, một người trị khỏi; tất cả
người sắp chết, một người cứu thoát khỏi; tất cả người
phá giới, phá chánh kiến, một người dạy cho được tịnh
giới và chánh kiến. Mỗi việc như vậy đều là một phước.
Lại
có người nói: Phước ấy không thể lường, không thể
thí dụ. Bồ-tát ấy ở vào A-tăng-kỳ thứ ba thì tâm
tư duy về hạnh lớn, gieo trồng nhân duyên về ba mươi hai
tướng, vì vậy phước ấy không thể lường, chỉ có Phật
mới biết được.
Hỏi:
Bồ-tát trong bao lâu thì gieo trồng được một phước?
Đáp:
Chậm lắm là một trăm kiếp, nhanh lắm là chín mươi mốt
kiếp. Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni trong chín mươi mốt đại
kiếp tu hành xong ba mươi hai tướng. Như vậy trong
kinh nói: "Kiếp quá khứ lâu xa, có đức Phật hiệu Phất-sa
(Rusya). Bấy giờ có hai Bồ-tát, một là Thích-ca Mâu-ni
và một là Di-lặc. Phật Phất-sa muốn quán xem tâm Bồ-tát
Thích-ca Mâu-ni đã thuần thục chưa, tức quán thấy biết
tâm Ngài chưa thuần thục mà tâm các đệ tử Ngài đều đã
thuần thục. Còn tâm Bồ-tát Di-lặc thì đã thuần thục
mà đệ tử Ngài thì chưa thuần thục. Bấy giờ Phật
Phất-sa nghĩ như vầy: "Tâm của một người dễ giáo
hoá được mau, tâm của nhiều người khó thể đối trị
mau". Suy nghĩ như vậy rồi, Phật Phất-sa muốn khiến
Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni được mau thành Phật, nên lên trên
núi Tuyết, nhập Hỏa định ở trong hang báu. Lúc ấy
Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni đang là ngoại đạo tiên nhân lên núi
hái thuốc, trông thấy Phật Phất-sa đang ngồi trong hang báu,
nhập Hỏa định, phóng hào quang. Thấy vậy rồi, tâm
hoan hỷ tín kính, đứng co một chân, chấp tay hướng Phật,
một lòng chiêm ngưỡng, qua bảy ngày đêm không thấy chớp
mắt, liền nói một bài kệ tán Phật:
"Thiện
thuợng thiên hạ, không ai bằng Phật,
Mười
phương thế giới, cũng không thể sánh,
Những
gì ở thế gian tôi thấy hết,
Tất
cả không có ai sánh ngang Phật".
Qua
bảy ngày đêm nhìn kỹ Thế Tôn, mắt chưa từng chớp, mà
vượt qua được chín kiếp, còn ở trong chín mươi mốt kiếp
được thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Hỏi:
Nếu Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni thông minh biết nhiều, có thể
làm nhiều bài kệ hay; cớ sao qua bảy ngày đêm mà chỉ có
một bài kệ tán Phật?
Đáp:
Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni quí ở tâm tư mình chứ không quí ở
nhiều lời. Nếu còn lấy các kệ khác tán Phật, thì tâm
bị náo loạn, thế nên qua bảy ngày đêm chỉ lấy một bài
kệ tán Phật.
Hỏi:
Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni vì sao tâm chưa thuần thục mà tâm
đệ tử lại thuần thục? Còn tâm Bồ-tát Di-lặc thuần
thục mà tâm đệ tử lại chưa thuần thục.?
Đáp:
Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni, tâm vì lợi ích chúng sanh nhiều mà
tự vì mình ít; còn Bồ-tát Di-lặc tâm vì kỷ thân nhiều
mà vì chúng sanh ít. Từ Phật Bệ-bà-thi đến Phật Ca-diếp,
trong khoảng chín mươi mốt kiếp ấy, gieo trồng nghiệp nhân
duyên cho ba mươi hai tướng xong, thì đầy đủ sáu Ba-la-mật.
Những gì là sáu? Đàn Ba-la-mật, Thi-la Ba-la-mật, Sằn-đề
Ba-la-mật, Tỳ-lê-gia Ba-la-mật, Thiền Ba-la-mật, Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Đàn Ba-la-mật được đầy đủ như thế nào?
Đáp:
Có thể bố thí tất cả, không ngăn ngại gì, cho đến khi
đem thân mạng mà cho, tâm vẫn không tiếc. Thí như vua
Thi-tỳ (Sibi) đem thân mà thí cho chim Bồ câu. Bản
thân của Bồ-tát Thích-ca Mâu-ni bấy giờ là vua Thi-tỳ.
Vua đã được "Quy mạng cứu hộ Đà-la-ni", rất tinh tấn,
có tâm từ bi, xem tất cả chúng sanh như mẹ thương con.
Gặp
lúc ấy không có Phật, Thích-đề-hoàn-nhơn thọ mạng gần
dứt, tự nghĩ: "Nơi nào có Phật, bậc Nhất thiết trí?",
rồi đi hỏi khắp nơi mà không ai đoạn nghi được nên biết
hết thảy đều không phải là Phật, liền trở lại trên
trời, ngồi mà ưu sầu. Bấy giờ có vị trời tên là
Tỳ-thủ-kiết-ma giỏi biến hóa, hỏi: "Thiên chủ vì
sao mà ưu sầu?" Đáp: "Ta tìm bậc Nhất thiết trí
mà không gập được nên ưu sầu". Tỳ-thủ-kiết-ma nói:
"Có vị đại Bồ-tát, bố thí, trì giới, thiền định, trí
tuệ đầy đủ, không lâu sẽ thành Phật". Đế-thích
dùng kệ đáp:
"Bồ-tát
phát đại tâm,
Như
trứng cá, bông xoài,
Ba
việc lúc nhân nhiều,
Lúc
thành quả rất ít".
Tỳ-thủ-kiết-ma
đáp: "Vua Thi-tỳ giòng Ưu-thi-na ấy, đầy đủ trì giới,
tinh tấn, đại từ, đại bi, thiền định, trí tuệ, không
lâu sẽ thành Phật". Thích-đề-hoàn-nhơn nói với Tỳ-thủ-kiết-ma:
"Hãy đến thử xem rồi biết có tướng Bồ-tát hay không.
Ngươi làm chim Bồ câu, ta làm chim Ó. Ngươi giả làm
bộ sợ hãi chui vào nách vua, ta đuổi theo ngươi". Tỳ-thủ-kiết-ma
nói: "Sao lại lấy việc này xúc não vị đại Bồ-tát
ấy". Thích-đề-hoàn-nhơn nói kệ:
"Ta
chẳng phải ác tâm,
Như
chân kim, nên thử,
Thử
Bồ-tát như vậy,
Để
biết tâm định chăng?"
Nói
kệ xong, Tỳ-thủ-kiết-ma liền tự biến thân thành chim Bồ
câu, mắt đỏ, chân đỏ. Thích-đề-hoàn-nhơn tự biến
thân thành chim Ó, bay theo đuổi gấp. Bồ câu bay
thẳng vào nách vua, thân run sợ, mắt nháo nhác, tiếng kêu
khẩn thiết.
"Lúc
ấy có nhiều người,
Cùng
nói với nhau rằng,
Vua
ấy đại nhân từ,
Nên
bảo hộ tất cả.
Chim
Bồ câu nhỏ ấy,
Bay
đến như về nhà.
Như
vậy tướng Bồ-tát,
Thành
Phật chắc không lâu".
Lúc
ấy chim Ó đậu trên cây gần đó, nói với vua Thi-tỳ rằng:
"Trả Bồ-câu lại cho tôi, vì của tôi bắt được".
Vua nói với chim Ó: "Ta bắt được nó chứ không phải
ngươi. Khi ta vừa phát ý Bồ-tát thì bắt được nó.
Tất cả chúng sanh ta đều muốn độ thoát". Chim
Ó nói: "Vua muốn độ hết thảy chúng sanh, tôi không
phải ở trong số hết thảy đó ư? Cớ sao riêng tôi
không được vua thương mà nay lại cướp mất bữa ăn của
tôi?" Vua nói: "Ngươi cần ăn thứ gì? Ta có
thệ nguyện hễ có chúng sanh nào đi đến với ta, ta tất
cứu hộ. Ngươi cần ăn thứ gì, ta sẽ cấp cho".
Chim Ó nói: "Tôi cần thứ thịt nóng vừa mới giết".
Vua nghĩ: "Việc này thật khó, không tự sát sanh, làm
sao có được" Sao ta lại giết một con mà đem cho một
con?" Tư duy tâm định, rồi tự thuyết kệ:
"Xác
thịt của ta đây,
Hằng
thuộc già, bệnh, chết,
Không
lâu sẽ thối rã,
Kia
cần, ta sẽ cho".
Suy
nghĩ như thế rồi, vua gọi người cầm dao đến, tự xẻo
thịt bắp vế cho chim Ó. Ó nói với vua: "Vua tuy
lấy thịt nóng mà cho tôi, nhưng phải làm theo đạo lý, để
cho thịt nặng nhẹ bằng với Bồ câu mới được, chớ dối!".
Vua
sai mang cân đến, lấy thịt vua cân với Bồ câu. Bồ câu
cứ nặng mãi, thịt vua cứ nhẹ dần. Vua sai người lóc
thịt cả hai vế của mình, vẫn nhẹ, không đủ, Thứ
đến hai bắp chân, hai vai, hai vú, cổ, lưng v.v… cho đến
hết cả thịt ở thân mình mà Bồ câu vẫn còn nặng, thịt
vua vẫn còn nhẹ. Lúc ấy cận thần, nội thích, giăng
che màn sáo, không cho mọi người xem: "Vua đã như vậy,
không thể xem được nữa". Vua Thi-tỳ nói: "Chớ
ngăn cản mọi người, cứ để họ vào xem", rồi thuyết kệ
rằng:
"Trời,
Người, A-tu-la,
Tất
cả đến xem ta,
Đại
tâm, vô thượng chí,
Vì
cầu thành Phật đạo.
Nếu
có cầu Phật đạo,
Hãy
nhẫn đại khổ này,
Tâm
không thể kiên cố,
Thì
hãy dừng ý lại".
Bấy
giờ Bồ-tát, hai tay vấy máu, vịn vào cân, muốn leo lên,
định tâm đem cả thân mình để cân cho bằng Bồ câu.
Ó nói: "Đại vương, việc ấy khó thành, đâu cần như
thế, trả Bồ câu lại tôi!". Vua nói: "Bồ câu đến
với ta, ta nhất định không giao lại ngươi. Nay ta muốn
đem thân này để cầu đổi lấy Phật đạo". Vua lấy
tay vịn cân, bấy giờ Bồ-tát thịt đã hết, gân đã đứt,
không tự chế được, muốn leo lên mà cứ ngã xuống, tự
trách tâm rằng: "Ngươi hãy tự kiên cường lên,
không được mê muội!. Tất cả chúng sanh bị đọa vào
biển lớn ưu khổ, một mình ngươi lập thệ nguyện muốn
cứu độ tất cả, sao lại giải đãi mê muội?
Khổ này rất ít, khổ ở địa ngục rất nhiều, đem hai việc
ấy so sánh, vẫn không bằng một phần mười sáu. Ta
nay có trí tuệ, tinh tấn, trì giới, thiền định, còn lo sợ
khổ này, huống những người trong địa ngục, không có trí
tuệ, thì làm sao?" Lúc ấy Bồ-tát quyết tâm muốn leo
lên cân, bảo người đỡ lên. Tâm Bồ-tát lúc ấy tuyệt
không có chút hối hận.
Chư
thiên, Long vương, A-tu-la, Quỷ, Thần, nhân dân đều tán thán
rằng: "Vì chim nhỏ mà thế, việc ấy thậ䴠hy hữu".
Ngay
khi ấy, đại địa chấn động sáu sách, biển lớn nổi sóng,
cây khô sanh hoa, trời mưa hưong thơm và rải hoa quý, Thiên
nữ ca ngợi chắc chắn được thành Phật. Cùng khi ấy
thần tiên khắp bốn phương đều đến ca ngợi: "Ấy
là Bồ-tát chơn thật, ắt sớm thành Phật!". Ó nói với
Bồ câu: "Các thử thách như thế, không tiếc thân mạng,
ấy chơn thật là Bồ-tát", liền nói kệ rằng:
"Trong
đất từ bi sanh
Mầm
cây Nhất thiết trí,
Bọn
ta nên cúng dường,
Không
nên làm ưu não".
Tỳ-thủ-kiết-ma
nói với Thích-đề-hoàn-nhơn: "Thiên chủ có thần lực,
nên làm cho thân của vua ấy bình phục".
Thích-đề-hoàn-nhơn
nói: "Không cần đến ta. Vị vua ấy tự lập thệ
nguyện, đại tâm hoan hỷ, không tiếc thân mạng, cảm đến
tất cả để khiến phát tâm cầu Phật đạo". Đế thích
liền nói với vua: "Ông cắt thịt đau đớn, mà tâm có
buồn hận không?" Vua nói: "Tâm ta hoan hỷ, không
có sầu muộn thối thất". Đế thích nói: "Ai
tin được tâm ông không thối thất?" Bấy giờ Bồ-tát
phát lời thệ nguyện chắc thật rằng: "Tôi lóc thịt,
máu chảy mà không hận không buồn, nhất tâm không hối tiếc
để cầu phật đạo. Nếu đúng như vậy, thân tôi sẽ
tức khắc bình phục như cũ".
Ngay
khi nói ra lời nguyện ấy, thân liền bình phục như cũ.
Trời, người trông thấy đều rất hoan hỷ, tán thán việc
chưa từng có: "Đại Bồ-tát ấy chắc sẽ thành Phật,
bọn ta hãy nên tận tâm cúng dường, cầu mong Ngài sớm thành
Phật đạo, hãy nhớ đến chúng ta!". Bấy giờ, Thích-đề-hoàn-nhơn,
Tỳ-thủ-kiết-ma đều trở về trời. Đủ các tướng
như thế, ấy là Đàn Ba-la-mật được đầy đủ.
Hỏi:
Thi-la Ba-la-mật được đầy đủ như thế nào?
Đáp:
Không tiếc thân mạng, hộ trì tịnh giới. Như vua Tu-đà-tu-ma
(Sutasoma) từ kiếp làm Ma-sa-ba-đà đại vương (Kalmàsapàda),
chí đến bỏ thân mạng cũng không phạm cấm giới.
Xưa
có vua Tu-đà-tu-ma tinh tấn trì giới, thường giữ lời chân
thật. Một sáng sớm cỡi xe, cùng các thể nữ đi vào
vườn dạo chơi. Khi ra đến cửa thành, có một Bà-la-môn
đến xin, nói với vua: "Vua là người đại phúc đức,
thân tôi bần cùng, xin dũ lòng thương cho tôi ít nhiều".
Vua nói: "Được! Kính lời dạy Như Lai, ta sẽ bố
thí, nhưng hãy đợi ta trở về". Nói xong, vua đi vào
vườn, tắm rửa, vui chơi.
Lúc
ấy, có con chim chúa có hai cánh rất lớn tên là Chân-nai (Kalmạsa-pàda),
từ trên không bay đến giữa đám thể nữ, cắp vua bay đi,
giống như chim Kim-sí vào giữa biển bắt Rồng.
Các thể nữ kêu gào khóc la kinh hãi cả khu vườn, cho đến
trong ngoài thành đều lo sợ hoảng hốt. Chân-nai
mang vua bay giữa hư không, đến chỗ núi nó ở, để vua vào
giữa chín mươi chín vị vua biắt. Vua Tu-đà-tu-ma khóc
ròng như mưa. Chân-nai nói: "Này vua Đại-sát-lợi,
tại sao ông khóc như trẻ con vậy? Người có sanh thì
có chết, có hội họp thì có chia lìa!". Vua Tu-đà-tu-ma
đáp: "Ta không phải sợ chết, chỉ tự hận là thất
tín. Ta từ khi sanh đến nay, không hề nói dối.
Sáng nay khi ra cửa thành, có một Bà-la-môn đến theo ta xin,
ta hứa khi trở về sẽ cho. Không ngờ bị vô thường
phải cô phụ lòng người ấy, tự chuốc lấy tội dối trá,
chỉ vì thế mà ta khóc thôi". Chân-nai nói với vua:
"Ý ông muốn vậy, sợ dối nói lời ấy, tin lời ông, tôi
cho ông trở về trong bảy ngày để bố thí cho Bà-la-môn xong
thì trở lại ngay. Nếu quá bảy ngày mà ông không trở
lại, tôi có đôi cánh to mạnh, bắt ông trở lại cũng không
khó".
Vua
Tu-đà-tu-ma được trở lại bản quốc, mặc ý mà bố thí.
Chỉ định thái tử lên ngôi kế vị và hội cả nhân dân
lại mà sám hối từ tạ rằng: "Trí của ta không khắp
đến các loài vật, sửa trị phần nhiều không đúng pháp,
xin hãy trung thành tha thứ cho. Như thân ta ngày nay không
còn là của mình, nên phải ra đi không trở lại". Nhân
dân cả nước và các thân thích, dập đầu xin vua ở lại:
"Nguyện vua hãy ở lại, thương xót nước này; chớ vì chuyện
vua Chân-nai mà lo sợ, nên thiết lập nhà sắt, tinh binh, Chân-nai
tuy là thần cũng không sợ nó". Vua nói: "Không thể
được", rồi thuyết kệ:
"Thật
ngữ là đệ nhất giới,
Thật
ngữ là thang lên trời
Thật
ngữ là bậc đại nhân,
Vọng
ngữ là vào địa ngục,
Ta
nay giữ thật ngữ,
Dù
vứt bỏ thân mạng,
Tâm
không chút hối hận".
Thuyết
kệ xong, vua liền khởi hành, đi đến chỗ Chân-nai. Chân-nai
từ xa trông thấy, hoan hỷ nói rằng: "Ông là người
nói thật, không mất lời hứa. Mọi người đều tiếc nhân
mạng, còn ông từ chỗ chết được thoát ra, rồi trở lại
với lời hứa. Ông thật là bậc đại nhân". Bấy
giờ vua Tu-đà-tu-ma tán thán thật ngữ rằng: "Thật ngữ
ấy là người, phi thật ngữ ấy chẳng phải là người".
Đủ các lời như vậy, tán thán thật ngữ , chê trách vọng
ngữ. Chân-nai nghe vậy, tín tâm thanh tịnh, nói với vua
Tu-đà-tu-ma rằng: "Ông khéo nói những lời như vậy,
nay tôi thả ông về. Ông được giải thoát, chín mươi
chín vua kia cũng được tha theo ông luôn, tùy ý ai trở về
bản quốc nấy". Nói như vậy rồi, trăm vua đều
được tha trở về.
Đủ
các tướng như vậy, ấy là Thi-la Ba-la-mật đầy đủ.
Hỏi:
Sằn-đề Ba-la-mật được đầy đủ như thế nào?
Đáp:
Nếu có người đến mắng, đánh đập, cắt xẻo từng
mảnh, cướp mất mạng, tâm không khởi sân hận. Như
Tỳ-kheo Sằn-đề bị vua Ca-lê cắt tay, chân, tai, mũi mà tâm
vẫn kiên cố bất động.
Hỏi:
Tì-lê-gia Ba-la-mật đầy đủ như thế nào?
Đáp:
Nếu có người đại tâm siêng năng, như Bồ-tát Đại-thi
(Mahatyàgavat) vì tất cả mà đem thân này thề tát biển cả,
khiến khô cạn, nhất định tâm không giải đãi, cũng như
tán thán Phật Đề-sa mà suốt bảy ngày đêm đứng co một
chân, mắt không chớp.
Hỏi:
Thiền Ba-la-mật đầy đủ như thế nào?
Đáp:
Như được tự tại giữa tất cả thiền định ngoại đạo.
Lại như tiên nhân Thượng-xà-lê, lúc tọa thiền không hơi
thở ra vào, chim làm tổ sanh con trên búi tóc mà không lay không
động, cho đến khi chim con bay đi.
Hỏi:
Bát-nhã Ba-la-mật đầy đủ như thế nào?
Đáp:
Bồ-tát đại tâm suy nghĩ phân biệt, như đại thần Cù-tân-đà
Bà-la-môn, chia đại địa Diêm-phù-đề làm bảy phần.
Bao nhiêu thành lớn, bao nhiêu thành nhỏ, xóm làng, thôn dân
đều chia làm bảy phần. Bát-nhã Ba-la-mật là như thế.
Ấy gọi là sáu pháp Ba-la-mật của Bồ-tát được đầy đủ.
Khi ở nơi Phật Ca-diếp, Bồ-tát làm đệ tử, trì tịnh giới,
hành công đức, sanh lên trời Đâu-suất.
Hỏi:
Bồ-tát sao chỉ sanh ở trời Đâu-suất mà không sanh ở các
cõi cao hơn hay cõi thấp hơn? Đã là vị có phúc đức
lớn, thì có thể tự tại sanh?
Đáp:
Có người nói: Vì nghiệp nhân duyên thành thục nên sanh
ở đó.
Lại
nữa, sanh ở thấp hơn thì kiết sử nặng nề ô trược.
Sanh ở cao hơn thì kiết sử lanh lợi. Sanh ở Đâu-suất
thì kiết sử không nặng nề, không lanh lợi, trí tuệ an ổn.
Lại
nữa, vì không muốn quá thời kỳ Phật xuất thế vậy.
Nếu sanh ở cõi thấp hơn thì mạng sống ngắn, khi mệnh chung
mà Phật chưa xuất thế. Nếu sanh ở cõi cao hơn thì
mạng sống dài, tuổi thọ chưa hết lại quá thời kỳ Phật
xuất thế. Ở cõi trời Đâu-suất, tuổi thọ cùng với
lúc Phật xuất thế trùng nhau.
Lại
nữa, Phật thường ở Trung đạo. Trời Đâu-suất ở
giữa Lục-dục thiên và Phạm thiên, trên ba dưới ba.
Sanh ở nước chính giữa thiên hạ này, nửa đêm giáng trần,
nửa đêm ra khỏi thành Ca-tỳ-la mà thựa hành Trung đạo,
chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, dùng trung
đạo mà thuyết pháp cho người. Nửa đêm Ngài vào Vô
dư Niết-bàn, vì thích ở trung pháp nên sanh ở trung thiên.
Như vậy, Bồ-tát sau khi sanh cõi trời Đâu-suất, dùng bốn
cách quán nhân gian: Một là quán thời, hai là quán quốc
độ, ba là quán dòng họ và bốn là quán nơi sanh ra.
-
Thế nào là quán Thời? Thời có tám kỳ, Phật xuất
thế nhằm trong đó: 1- Lúc loài người thọ tám
vạn bốn ngàn tuổi, 2- Lúc loài người thọ bảy vạn tuổi,
3- Lúc loài người thọ sáu vạn tuổi, 4- Lúc loài người
thọ năm vạn tuổi, 5- Lúc loài người thọ bốn vạn tuổi,
6- Lúc loài người thọ ba vạn tuổi, 7- Lúc loài người thọ
hai vạn tuổi, 8- Lúc loài người thọ một trăm tuổi.
Bồ-tát nghĩ như vầy: "Loài người thọ một trăm tuổi
là thời Phật xuất thế đã đến", ấy là quán Thời.
-
Thế nào là quán quốc độ? Các đức Phật thường sanh
ở trung quốc, nơi có nhiều vàng bạc vật báu, uống ăn đầy
đủ, cõi đất thanh tịnh.
-
Thế nào là quán dòng họ? Phật sanh trong hai dòng hoặc
Sát-lợi hoặc Bà-la-môn. Dòng Sát-lợi thì thế lực
lớn, dòng Bà-la-môn thì trí tuệ lớn lao. Tùy lúc được
quý trọng mà Phật sanh ra trong dòng đó.
-
Thế nào là quán chỗ sanh ra? Những người mẹ nào có
thể mang thai vị Bồ-tát có sức mạnh Na-la-diên và cũng hay
giữ mình tịnh giới.
Quán
như vậy xong, chỉ có hoàng hậu của vua Tịnh-phạn nước
Ca-tỳ-la, là ở chỗ trung quốc, là có thể mang thai Bồ-tát.
Suy nghĩ như vậy, rồi từ trên trời Đâu-suất mà xuống,
không mất chánh tuệ mà nhập vào thai mẹ.
Hỏi:
Tại sao thân cuối cùng của hết thảy Bồ-tát, đều từ
trên trời mà xuống, không từ trong loài người mà đến?
Đáp:
Vì là đi con đường thượng đạo. Trong lục đạo, Thiên
đạo trên hết.
Lại
nữa, lúc từ trên trời xuống, thì hiện đủ các điềm lành
chưa từng có. Nếu từ Nhân đạo mà đến, thì Nhân
đạo không có các điềm lành ấy. Lại nữa, vì người
kính trọng trời.
Hỏi:
Mọi người đều do cấu tâm tương tục mà nhập vào thai
mẹ, với hết thảy tà tuệ tương ưng; vì sao Bồ-tát lại
dùng chánh tuệ mà nhập vào thai mẹ?
Đáp:
Có người nói: Lúc có tương tục, hết thảy chúng sanh
cùng với tâm tà tuệ mà vào thai mẹ. Bồ-tát ức niệm
không quên, gọi là chánh tuệ vào thai mẹ. Ở trung ấm
thì biết là ở trung ấm, lúc vào thai mẹ thì biết là vào
thai mẹ, lúc Ca-la-la (Kalala) thì biết đang trú ở Ca-la-la (là
lúc tinh trắng và tinh đỏ hỗn hợp trong bảy ngày đầu thọ
thai), lúc Án-phù-đà (Arbuda) thì biết đang trú ở Án-phù-đà
(hai tuần lễ sau, hình như vỏ kén), lúc Già-na (Ghana) thì
biết đang trú ở Già-na (là tuần lễ sau, hình như sữa đặc),
lúc Ngũ-bào (Giải thích phẩm Pesin) thì biết đang trú ở
Ngũ-bào, lúc sanh ra biết là sanh ra. Trong những lúc đó
ức niệm không quên, ấy gọi là chánh tuệ vào thai mẹ.
Lại
nữa, ngươì khác khi trú ở trung ấm, nếu là nam thì đối
với người mẹ sanh tâm dục nhiễm cho rằng người nữ ấy
tùng sự cùng với mình, còn đối với người cha thì sanh
tâm sân hận. Nếu là nữ thì đối với cha sanh tâm dục
nhiễm cho rằng nam tử ấy tùng sự cùng với mình, còn đối
với người mẹ thì sanh tâm sân hận. Bồ-tát không có
tâm sân hận, tâm dục nhiễm như thế. Bồ-tát trước
đã biết rõ ràng đó là cha là mẹ, là cha mẹ hay nuôi lớn
thân ta. Ta nương nhờ nơi thân do cha mẹ sanh, mà được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tịnh tâm nghĩ đến
cha mẹ như vậy, tương tục mà nhập thai, ấy gọi là chánh
tuệ mà vào thai mẹ.
Bồ-tát
khi đã đủ mười tháng, chánh tuệ ức niệm không quên.
Khi ra khỏi thai, đi bảy bước, miệng phát ra lời rằng:
"Đây là thân sau cùng của Ta".
Cho
đến khi vua Tịnh-phạn đưa đến tướng sư coi rằng:
"Ông hãy xem con ta thật có đủ ba mươi hai tướng chăng?
Nếu có đủ ba mươi hai tướng thì có thể có hai điều:
Nếu tại gia thì sẽ làm Chuyển luân Thánh vương, nếu xuất
gia thì sẽ thành Phật". Các Tướng sư nói: "Địa
thiên Thái tử thật có đủ ba mươi hai tướng đại nhân.
Nếu tại gia thì sẽ làm Chuyển luân Thánh vương, nếu xuất
gia thì sẽ thành Phật". Vua nói: "Những gì là ba
mươi hai tướng?". Tướng sư đáp:
1-
Tướng dưới bàn chân bằng phẳng: Dưới bàn chân hết
thảy đều chấm đất, dù một cây kim cũng không thể lọt
qua.
2-
Tướng hai bánh xe dưới bàn chân: Đủ một ngàn căm
xe, vòng đai bánh xe và trục bánh xe, ba điều ấy dầy đủ,
tự nhiên thành tựu, không đợi thợ người làm. Các
thợ trời như Tỳ-thủ-kiết-ma không thể hóa làm được
diệu tướng như thế.
Hỏi:
Vì sao mà không thể?
Đáp:
Tỳ-thủ-kiết-ma ấy là thợ giỏi của Trời mà trí tuệ
không ẩn mật, luân tướng ấy là nghiệp báo thiện.
Thợ trời được trí tuệ ở sanh báo, luân tướng ấy do
thực hành thiện căn trí tuệ mà được. Tỳ-thủ-kiết-ma
ấy trong một đời mà được trí tuệ ấy, luân tướng ấy
từ trí tuệ vô lượng kiếp mà sanh. Do đó, Tỳ-thủ-kiết-ma
không thể hóa làm, huống gì các thợ khác.
3-
Tướng ngón tay dài: Ngón tay thon, dài và thẳng, cao thấp
đều đặn, đốt tay sâm sai.
4-
Tướng gót chân rộng và bằng.
5-
Tướng ngón tay, ngón chân có lưới lụa xòe như của chim
Nhạn: Trương ngón ra thì hiện, không trương ra thì
không hiện.
6-
Tướng tay chân mềm mại: Như thứ lông Tế-kiếp-ba (Karpàsakambalam)
hơn các phần khác trong thân.
7-
Tướng mu bàn chân cao và dầy: Lấy chân đáp đất, không
rộng không hẹp, sắc dưới chân như Hoa sen đỏ, dưới giữa
các ngón chân và sắc hai bên bàn chân như san hô thật; móng
tay như đồng đỏ trong sạch. Trên mu bàn chân màu như
chơn kim, lông trên mu bàn chân như màu Tỳ-lưu-ly xanh; chân
nghiêm chỉnh đẹp đẽ như chiếc guốc trang sức đủ các
thứ báu.
8-
Tướng như bắp đùi Y-nê-diên (Aineya): Như đùi trước
của nai chúa Y-nê-diên, tùy trước sau mà co duỗi.
9-
Tướng khi đứng thẳng, ngón tay rờ đến đầu gối:
Không cúi không ngước, lấy bàn tay rờ đầu gối.
10-
Tướng âm tàng như Voi báu, Ngựa báu: Điều hòa và khéo,
đẹp.
Hỏi:
Nếu khi Bồ-tát được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
các đệ tử do nhân duyên gì mà được thấy tướng âm tàng?
Đáp:
Vì độ chúng nhân, dứt chúng nghi mà Phật cho thấy tướng
âm tàng. Lại có người nói, Phật hóa làm ngựa báu,
voi báu, chỉ cho các đệ tử mà nói rằng: "Tướng âm
tàng của ta cũng như thế".
11-
Tướng thân cao và rộng cân đối như cây Ni-câu-lô-đà:
Thân Bồ-tát lỗ rún ở chính giữa, bốn phần bằng nhau.
12-
Tướng lông xoay hướng lên trên: Các sợi lông trên thân
đều hướng lên và đẹp.
13-
Tướng mỗi lỗ chân lông có một sợi lông: Lông không
tạp loạn, màu xanh như Lưu ly, lông xoay theo phía hữu và hướng
lên trên.
14-
Tướng sắc vàng kim sắc
Hỏi:
Sắc vàng như thế nào?
Đáp:
Nếu sắt ở bên vàng thì màu của sắt không hiện. Nay thứ
vàng hiện tại sánh với vàng trong thời Phật ở đời thì
không hiện. Vàng trong thời Phật ở đời sánh với vàng
Diêm-phù-na (Jambùnadasuvarna) thì không hiện. Vàng Diêm-phù-na
sánh với cát vàng trên đường Chuyển luân Thánh vương trong
đại hải thì không hiện. Cát vàng sánh với núi vàng
thì không hiện. Núi vàng sánh với vàng của núi Tu-di
thì không hiện. Vàng núi Tu-di sánh với vàng Anh lạc
của cõi trời Tam thập tam thì không hiện. Vàng Anh lạc
của cõi trời Tam thập tam sánh với vàng của cõi trời Diệm-ma
thì không hiện. Vàng của cõi trời Diệm-ma sánh
với vàng của trời Đâu-suất-đà thì không hiện. Vàng
của cõi trời Đâu-suất-đà sánh với vàng của cõi trời
Hóa-tự-tại thì không hiện. Vàng của trời Hóa-tự-tại
sánh với vàng của cõi trời Tha-hóa-tự-tại thì không hiện.
Vàng của trời Tha-hóa-tự-tại sánh với sắc thân của Bồ-tát
thì không hiện. Sắc như thế ấy gọi là tướng
sắc vàng.
15-
Tướng ánh sáng một trượng: Bốn phía trên thân đều
có một trượng hào quang. Phật ở trong hào quang đó
đoan nghiêm bậc nhất, như hào quang minh tịnh của chư Thiên
vương.
16-
Tướng da mỏng mịn: Bụi đất không dính thân, như Hoa
sen không dính bụi, nước. Nếu Bồ-tát kinh hành trên
núi đất khô, đất không dính chân. Cuồng phong thổi
đến nghiền nát núi đất thành bụi bay, dẫu đến một mảy
bụi cũng không dính thân Phật.
17-
Tướng bảy chỗ đầy đặn: Hai tay, hai chân, hai mắt
và giữa cổ; bảy chỗ ấy đều đầy đặn đoan chánh, màu
sắc trong sạch hơn các thân thể khác.
18-
Tướng dưới hai nách đầy đặn: Không cao, không sâu.
19-
Tướng phần thân trên như Sư tử.
20-
Tướng thân to lớn và thẳng: Thân lớn và thẳng hơn
mọi người.
21-
Tướng vai tròn và đẹp: Hết thảy không có vai nào sánh
được như vậy.
22-
Tướng bốn mươi cái răng: Không nhiều không ít hơn.
Các người khác thì ba mươi hai cái răng, thân có hơn ba trăm
đốt xương, xương đầu có chín, còn Bồ-tát có bốn mươi
cái, đầu có một xương. Bồ-tát xương răng nhiều,
xương đầu ít, người khác xương răng ít, xương đầu nhiều,
do đó nên khác với thân người.
23-
Tướng răng đều đặn: Các răng không to quá, không nhỏ
quá, không lồi ra, không thụt vào. Răng khít nhau, người
không biết cho là chỉ có một răng. Kẻ răng khít dù
một sợi lông nhỏ cũng không lọt.
24-
Tướng răng trắng: Trắng hơn cả ánh sáng của núi Tuyết.
25-
Tướng hai má như Sư tử: Như Sư tử là chúa trong các
loài thú, có má thẳng và rộng.
26-
Tướng được thượng vị trong các vị: Có người nói:
"Phật lấy thức ăn để vào trong miệng, thì tất cả thức
ăn đều trở thành vị tối thượng, vì sao? Vì trong
tất cả thức ăn ấy có cái nhân của vị tối thượng.
Người không có tướng ấy, không thể phát ra cái nhân đó,
không được vị tối thượng".
Lại
có người nói: "Nếu Bồ-tát đưa thức ăn để vào trong
miệng, bấy giờ hai bên yết hầu chảy ra cam lồ hòa lẫn
với các vị". Vì vị ấy thanh tịnh nên gọi là được
thượng vị trong các vị.
27-
Tướng lưỡi to lớn: Lưỡi to lớn của Bồ-tát từ
trong miệng đưa ra phủ kín cả mặt cho đến chân tóc, khi
đưa trở lại miệng cũng không chật.
28-
Tướng âm thanh Phạm-thiên: Như Phạm-thiên vương có
năm thứ âm thanh từ trong miệng phát ra: 1- Sâu thẳm
như sấm, 2- Trong suốt nghe xa, người nghe vui thích, 3- Nhập
vào tâm họ thì sanh kính ái, 4- Nghe rõ dễ hiểu, 5- Người
nghe không chán; thanh âm của Bồ-tát cũng như vậy. Năm
thứ thanh âm từ trong miệng phát ra tướng thanh âm của chim
Ca-lăng-tần-già rất dễ ưa. Lại có tướng âm thanh
của trống, như trống lớn có âm thanh vang dội sâu xa.
29-
Tướng mắt xanh biếc: Như hoa sen xanh đẹp đẽ.
30-
Tướng lông mi Trâu: Như lông mi của Trâu chúa, dài và
đẹp, không tạp loạn.
31-
Tướng Nhục kế ở đỉnh đầu: Bồ-tát có búi tóc
bằng xương như nắm tay ở trên đỉnh đầu.
32-
Tướng lông trắng: Lông trắng mọc giữa hai chân mày,
không cao không thấp, trắng sạch, xoay theo phía hữu, kéo ra
dài trăm thước.
Thầy
tướng nói: "Địa thiên Thái tử có ba mươi hai tướng
đại nhân như vậy, Bồ-tát có đủ các tướng ấy".
Hỏi:
Chuyển luân Thánh vương có ba mươi hai tướng, Bồ-tát cũng
có ba mươi hai tướng, có gì sai khác?
Đáp:
Tướng của Bồ-tát có bảy điều hơn tướng của Chuyển
luân Thánh vương. Tướng của Bồ-tát: 1- Tịnh hảo,
2- Phân minh, 3- Không sai chỗ, 4- Đầy đủ,
5- Thâm nhập, 6- Tùy trí tuệ mà làm, không
tùy thế gian, 7- Tùy sự viễn ly. Tướng của Chuyển
luân Thánh vương không được như vậy.
Hỏi:
Sao gọi là tướng?
Đáp:
Dễ biết nên gọi là tướng, như nước khác lửa, do tướng
nên biết.
Hỏi:
Bồ-tát vì sao có ba mươi hai tướng, không nhiều không ít
hơn?
Đáp:
Có người nói: Phật do ba mươi hai tướng trang nghiêm thân
nên đoan chánh không tạp loạn. Nếu ít hơn thì thân
không đoan chánh, nếu nhiều hơn thì tướng nơi thân Phật
tạp loạn. Ba mươi hai tướng ấy đoan chính không tạp
loạn, không thể thêm, không thể bớt, thân tướng cũng như
vậy.
Hỏi:
Bồ-tát vì sao lấy tướng tốt để trang nghiêm thân?
Đáp:
Có người thấy thân tướng của Phật thì tâm được tịnh
tín. Vì vậy, dùng tướng tốt để trang nghiêm thân.
Lại nữa, vì chư Phật hết thảy mọi sự đều hơn hết,
nên từ sắc thân, uy lực, dòng họ, gia thuộc, trí tuệ, thiền
định, giải thoát, mọi sự đều hơn. Nếu Phật không
trang nghiêm thân tướng, sự ấy bèn thiếu.
Lại
nữa, có người nói: Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trú
ở trong thân ấy. Cũng như người muốn cưới con gái
nhà hào quý, con gái ấy sai sứ nói với người kia rằng:
"Nếu muốn cưới tôi thì trước phải trang nghiêm phòng, thất,
trừ khử ô uế, sơn phết, xông hương, sắp đặt giường
nệm, trải chiếu, giăng màn, trướng, cờ lọng, hương, hoa,
phải cho nghiêm trang rồi sau tôi mới đến nhà ngươi".
Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng như vậy, sai trí tuệ
đi sứ, trong đời vị lai, đến chỗ Bồ-tát nói:
"Nếu muốn được Ta, phải tu tập cho có tướng tốt để
tự trang nghiêm, rồi sau Ta đến trong thân ngươi. Nếu
không trang nghiêm thân, thì ta không trú".
Do
vậy, Bồ-tát tu ba mươi hai tướng để tự trang nghiêm thân,
để được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bấy
giờ Bồ-tát dần dần lớn, trông thấy cái khổ già, bệnh,
chết, tâm sanh nhàm chán, rồi nửa đêm xuất gia, sáu năm
khổ hạnh, ăn cháo nhừ hòa sữa, đường, mật; những thứ
này có mười sáu công đức làm bổ ích cho thân do con gái
Bà-la-môn tên Nan-đà cúng. Ăn xong, ở tại cội Bồ-đề,
Bồ-tát phá một vạn tám ngàn ức Quỷ binh ma chúng, rồi
chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Hỏi:
Được công đức gì mà gọi là Phật?
Đáp:
Được Tận trí, Vô sanh trí nên gọi là Phật.
Lại
có người nói: Được Mười lực, Bốn vô sở úy, Mười
tám pháp bất cọng, Ba đạt vô ngại. Ba ý chỉ là:
1- Người thọ giáo kính trọng, Phật không mừng.
2- Người không thọ giáo, không kính trọng, Phật không
buồn, 3- Kính trọng hay không kính trọng, tâm không khác.
Đại từ, đại bi, ba mươi bảy đạo phẩm; tổng tướng,
biệt tướng của hết thảy pháp đều biết, nên gọi là
Phật.
Hỏi:
Vì sao khi chưa được Phật đạo thì gọi là Bồ-tát, khi
được Phật đạo rồi thì không gọi là Bồ-tát?
Đáp:
Chưa được Phật đạo, tâm còn ái trước cầu muốn được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên gọi là Bồ-tát.
Khi thành Phật đạo rồi, lại được các thứ đại công
đức khác, nên lại có tên khác gọi là Phật. Cũng như
khi con vua khi chưa làm vua thì gọi là vương tử, khi đã làm
vua, không gọi là vương tử. Khi đã làm vua, tuy vẫn
là vương tử, mà không gọi là vương tử. Bồ-tát
cũng như vậy, khi chưa được Phật đạo, gọi là Bồ-tát,
khi đã được Phật đạo, gọi là Phật.
Trong
pháp Thanh-văn, bọn đệ tử của Ca-chiên-diên Ni-tử thuyết
về tướng và nghĩa của Bồ-tát như trên.
Người
Đại-thừa nói: "Bọn đệ tử của Ca-chiên-diên Ni-tử,
là người ở trong vòng sanh tử, không tụng không đọc kinh
Đại-thừa, họ chẳng phải đại Bồ-tát, không biết thật
tướng của các pháp, tự lấy căn trí lanh lợi, ở trong Phật
pháp viết các luận nghị giải nghĩa về các kiết sử, tín,
định, căn v.v… còn nhiều chỗ sai quấy, huống gì muốn
luận nghị về Bồ-tát? Cũng như người ít sức, nhảy
ngang cái kênh nhỏ còn không qua được huống là sông lớn?
Người ấy ở trong sông lớn, biết chắc sẽ chìm mất.
Hỏi:
Mất thế nào?
Đáp:
Trên kia nói trải qua vô số kiếp, gọi là Bồ-tát.
Trong ba vô số kiếp, bố thí cả đầu, mắt, tủy, não, tâm
không hối hận, ấy là điều A-la-hán, Bích-chi Phật không
thể sánh kịp. Như xưa Bồ-tát làm Đại Tát-đà-bà
(Sàrthavàha), đi qua biển lớn, gió mạnh làm vỡ thuyền, nói
với các con buôn: "Hãy nắm lấy đầu tóc, tay, chân của
tôi, tôi sẽ đưa qua". Khi các con buôn nắm xong, Ngài
liền lấy dao tự sát. Lệ của biển cả là không chứa
tử thi, tức thời gió mạnh thổi đưa đến bờ.
Đại từ như vậy mà nói là không phải là Bồ-tát thì còn
ai là Bồ-tát?
Tu
hành mãn vô số kiếp thứ hai, khi chưa vào vô số kiếp thứ
hai ở nơi Phật Nhiên-đăng, Ngài được thọ ký làm Phật,
tức thời bay lên hư không thấy mười phương Phật, đứng
giữa hư không, ca ngợi Phật Nhiên-đăng. Phật Nhiên-đăng
nói: "Ngươi qua khỏi một vô số kiếp sẽ được làm
Phật, hiệu là Thích-ca Mâu-ni". Được thọ ký như vậy,
mà nói bấy giờ chưa là Bồ-tát, há không phải là đại
bậy?
Bọn
đệ tử của Ca-chiên-diên Ni-tử nói: Trong ba vô số
kiếp chưa có tướng Phật, cũng không trồng nhân duyên về
tướng Phật, làm sao biết là Bồ-tát? Hết thảy
pháp trước có tướng, rồi sau mới có thể biết nó có thật,
nếu không có tướng thời không biết được.
Người
Đại-thừa nói: Được thọ ký làm Phật, bay lên hư
không, thấy mười phương Phật, đó chẳng phải là tướng
lớn sao? Được thọ ký sẽ làm Phật, được làm
Phật, đó là tướng lớn. Bỏ tướng lớn này,
mà nhận lấy ba mươi hai tướng, thì ba mươi hai tướng Chuyển
luân Thánh vương cũng có. Chư thiên, ma vương cũng hóa
làm được tướng đó. Nan-đà, Đề-bà v.v… đều
có ba mươi hai tướng. Bà-bạt-lê Bà-la-môn có ba tướng,
Vợ của Đại Ca-diếp có tướng sắc vàng. Cho đến
người đời này, mỗi người cũng có một tướng, hai tướng,
hoặc là mắt xanh, tay dài, phần trên như thân Sư tử.
Những tướng như vậy hoặc nhiều hoặc ít, sao ngươi chỉ
coi trọng tướng ấy?
Trong
kinh nào nói trong ba vô số kiếp Bồ-tát không gieo trồng nhân
duyên của tướng? Như Nan-đà tắm cho Phật Tỳ-bà-thi,
nguyện được thanh tịnh đoan nghiêm. Ở tháp Bích-chi
Phật, Ngài lấy màu xanh sẫm vẽ lên vách làm tượng Bích-chi
Phật, nhân đó phát nguyện: "Nguyện tôi thường được
tướng thân kim sắc". Ngài lại xây bậc cấp trong tháp
Phật ca-diếp. Do ba nhân duyên của ba việc phước
đó mà đời đời được an vui, sanh ra ở đâu cũng đoan nghiêm.
Dư phúc ấy, được sanh trong dòng họ Thích nước Ca-tỳ-la,
làm đệ tử của Phật, được ba mươi hai tướng của bậc
đại nhân, thanh tịnh đoan chánh, xuất gia được đạo quả
A-la-hán. Phật nói trong năm trăm đệ tử, Tỳ-kheo
Nan-đà đoan chánh bậc nhất. Tướng ấy dễ được,
vì sao nói ở chín mươi mốt kiếp gieo trồng, còn lại một
đời mới được tướng ấy? Thế là quá bậy!
Ông nói trong vô số kiếp đầu, không biết sẽ làm Phật
hay không làm Phật. Trong vô số kiếp thứ hai, biết sẽ
làm Phật, nhưng không tự nói ra. Trong vô số kiếp thứ
ba, biết được làm Phật và có thể nói cho người biết.
Ở chỗ nào Phật nói lời ấy? Trong kinh nào
có lời ấy? Trong Tam tạng pháp Thanh-văn nói, hay trong
kinh Đại thừa nói?
Bọn
đệ tử của Ca-chiên-diên Ni-tử nói: Tuy trong Tam tạng
tự miệng phật nói ra không ghi, nhưng nghĩa lý là phải vậy.
Phẩm Bồ-tát trong A-tỳ-đàm Tỳ-bà-sa (Abhidharma vibàsa) nói
như vậy?
Trả
lời rằng: Trong Đại thừa nói: Lúc mới phát tâm
là biết rằng "Ta sẽ thành Phật. Như Bồ-tát A-già-la
(Acala) ở bên đức Phật Trường Thủ, khi mới phát tâm cho
đến khi ở tòa Kim-cang mà thành Phật đạo, trong khỏang trung
gian đó, tâm điên đảo bất tịnh không sanh. Như trong Thủ-lăng-nghiêm
Tam-muội (Sùramgamasamàdhi), có bốn hạng Bồ-tát và bốn thứ
thọ ký: Có Bồ-tát chưa phát tâm mà được thọ ký;
có Bồ-tát vừa phát tâm mà được thọ ký; có Bồ-tát trước
khi thọ ký, người khác đều biết, tự mình không biết;
có Bồ-tát trước khi thọ ký, người và mình đều biết.
Vì sao ông nói trong vô số kiếp thứ hai biết được thọ
ký, mà không tự nói ra?
Lại
nữa, Phật nói: Trong vô lượng vô số kiếp làm công
đức, muốn độ chúng sanh, vì sao chỉ nói ba vô số kiếp,
ba vô số kiếp này có lượng, có hạn.
Hỏi:
Trong pháp Đại thừa, tuy có lời ấy, tôi cũng không tin được.
Đáp:
Thế là quá bậy! Pháp Đại thừa là chân Phật pháp, từ
trong miệng phật nói ra. Ông không thể phản lại lời
ấy. Ông từ trong pháp Đại thừa mà ra, vì sao lại nói:
"Tôi không thể tin được!?"
Lại
nữa, luận nghị của Đại thừa đã nói rộng ở trong đó.
Lại
nữa, nói nghiệp nhân duyên của ba mươi hai tướng, gieo trồng
ở tại Dục giới chứ không phải gieo trồng ở tại Sắc
giới, Vô sắc giới. Vì Vô sắc giới không có thân,
không có Sắc, mà ba mươi hai tướng ấy là để trang nghiêm
thân, nên trong cõi Vô sắc giới không thể gieo trồng được
là phải; còn trong cõi Sắc giới vì sao không gieo trồng được?
Ở trong Sắc giới có các đại Phạm vương, thường thỉnh
Phật thuyết pháp lần đầu tiên, ấy là trí tuệ thanh tịnh,
có thể cầu Phật đạo, vì sao nói không gieo trồng nhân duyên
của ba mươi hai tướng được?
Lại
nói chỉ ở trong loài người được gieo trồng chứ không
phải ở trong các loài khác. Nhưng như Bà-già-độ Long
vương (Saramayara-jaduhita) ở Thập trụ Bồ-tát, A-na-bà-đạt
Long vương ở Thất trụ Bồ-tát, La-hầu-la-ru-la vương cũng
là đại Bồ-tát, sao lại nói trong các loài khác không thể
gieo trồng nhân duyên của ba mươi hai tướng?
Lại
nói, trong loài người, chỉ ở Diêm-phù-đề mới được gieo
trồng; còn ở châu Uất-đa-la-việt không thể gieo trồng.
Có ý kiến cho rằng vì người ở châu kia không biết tự
ngã, đắm trước khoái lạc, không có lợi căn. Nhưng
Cù-đà-ni, Phất-bà-đề, hai chỗ này phước đức, trí tuệ,
thọ mạng hơn Diêm-phù-đề, vì sao không thể gieo trồng được?
Lại
nói: Một ý tứ gieo trồng một tướng, nhưng tâm ấy
trong khoảnh khắc có sáu mươi lần sanh diệt. Trong một
tâm không an trụ, trong một tâm ấy đã vô lực, không an trụ,
không thể phân biệt thì làm sao có thể gieo trồng tướng
bậc đại nhân? Tướng bậc đại nhân ấy không
thể không rõ biết tâm mà gieo trồng được, do vậy cũng
phải nhiều ý tứ hòa hiệp mới có thể gieo trồng một tướng.
Cũng như một vật nặng, một người không thể gánh, phải
có sức của nhiều người. Cũng vậy, gieo trồng tướng
ấy phải có đại tâm, nhiều ý tứ hòa hiệp mới gieo trồng
được, do vậy, gọi là tướng trăm phước. Không thể
một ý gieo trồng một tướng. Các việc khác còn không
thể một ý gieo trồng một việc, hà huống tướng trăm phước.
Vì
sao lại nói "Bồ-tát Thích-ca Văn-ni tâm chưa thuần thục,
mà đệ tử tâm thuần thục? Bồ-tát Di-lặc tâm thuần
thục, mà đệ tử tâm chưa thuần thục? Lời ấy ở
chỗ nào nói? Trong Tam tạng, trong Đại thừa giáo không
có việc ấy. Lời ấy chỉ tự tâm riêng ông xuất ra.
Ông chỉ thấy Bồ-tát Thích-ca Văn-ni ở trong hang báu, trông
thấy Phật Phất-sa, qua bẩy ngày đêm dùng một bài kệ để
tán thán, nhưng Bồ-tát Di-lặc cũng nhiều cách tán thán Phật
Phất-sa, chỉ trong Kinh A-ba-đàkhông nói, nên ông không biết
được đó thôi. Không có nhân duyên chi mà lại
bảo rằng đệ tử của Di-lặc tâm chưa thuần thục.
Như thế đều là sai quấy.
Ông
nói: Bồ-tát hay bố thí mọi thứ mà không thương tiếc,
như vua Thi-tỳ (Sibi) vì Bồ câu mà cắt thịt cho chim
Ó, tâm không hối hận. Nên biết đem tài bảo mà bố
thí, ấy là hạ bố thí; đem thân mạng mà bố thí, ấy gọi
là trung bố thí; bố thí đủ thứ mà trong tâm không
trước, ấy là thượng bố thí. Sao ông lại tán thán
hạ bố thí là Đàn Ba-la-mật được đầy đủ? Sự
bố thí này tuy có tâm từ bi nhiều và lớn nhưng có khi có
trí tuệ hiểu biết, có khi không có trí tuệ hiểu biết.
Như người vì cha mẹ thân thuộc mà không tiếc thân mạng,
hoặc vì thân chủ mà không tiếc thân mạng. Thế nên
biết, vì Bồ câu mà thuộc mà không tiếc thân mạng, là bố
thí bậc trung.
Hỏi:
Bồ-tát là vì hết thảy chúng sanh, còn chỉ vì cha mẹ, vì
thầy chủ thì đó chỉ là vì hết thảy người, cho nên chẳng
phải chỉ không tiếc thân mạng mà đã cho làĐàn Ba-la-mật
được đầy đủ?
Đáp:
Tuy vì hết thảy chúng sanh mà tâm ấy không thanh tịnh.
Không biết thân mình là không có tự, không biết người nhận
cũng là không người, không chủ, không biết thật tánh của
vật bố thí là chẳng thể nói một, chẳng thể nói khác.
Đối với ba điều ấy mà tâm chấp trước, ấy là không
thanh tịnh, chỉ được phước báo ở thế gian, không thể
đi thẳng đến Phật đạo, như nói: Trong Bát-nhã Ba-la-mật,
ba sự là bất khả đắc, cũng không chấp trước.
Ấy mới là đầy đủ Đàn Ba-la-mật. Cũng vậy, cho đến
nói rằng: "Bát-nhã Ba-la-mật là hay phân chia đại địa,
thành quách, xóm làng làm bảy phần. Ấy là Bát-nhã Ba-la-mật
được đầy đủ" thì sai.
Nên
biết, Bát-nhã Ba-la-mật ấy thật vô lượng vô biên, như
biển cả. Chư thiên, Thánh nhân, A-la-hán, Bích-chi Phật
cho đến Bồ-tát mới hành đạo còn không thể biết bờ bến
của nó, chỉ Bồ-tát ở Thập địa mới biết được.
Vì sao ông nói hay phân chia được đại địa, thành quách,
xóm làng làm bảyphần, ấy gọi là Bát-nhã Ba-la-mật được
đầy đủ? Việc ấy thuộc về pháp toán số, khả
năng chia đại địa chỉ là một phần ít của trong Bát-nhã
Ba-la-mật thế tục cũng như một hai giọt trong nước biển
cả. Thật Bát-nhã Ba-la-mật là mẹ của chư Phật ba
đời, hay hiển thị thật tướng của hết thảy pháp.
Bát-nhã Ba-la-mật không chỗ đến, không chỗ đi. Tìm
nó khắp mọi nơi, không thể được; như huyễn thuật, như
tiếng vang, như trăng lồng trong nước, vừa thấy liền mất.
Các bậc Thánh vì lòng thương xót, nên tuy một tướng mà
dùng nhiều danh tự gọi Bát-nhã Ba-la-mật ấy là kho
báu trí tuệ của chư Phật. Còn ông nói quá bậy!
Ông nói bốn thứ quán là: Quán Thời, quán Quốc độ,
quán Dòng họ, quán Nơi sanh. Trong thời kỳ loài người
thọ tám vạn tuổi Phật ra đời, trong thời kỳ thọ bảy,
sáu, năm, bốn, ba, hai vạn tuổi Phật ra đời, trong thời
kỳ người đời thọ một trăm tuổi là lúc Phật ra đời".
Nếu chư Phật thường thương xót chúng sanh thì sao chỉ ra
đời trong tám thời kỳ, còn các thời kỳ khác thì không?
Phật pháp không đợi thời, cũng như thuốc hay uống lúc nào
lành bệnh lúc ấy. Phật pháp cũng như thế, không đợi thời.
Hỏi:
Tuy Bồ-tát thương xót chúng sanh, chư Phật không đợi thời
nhưng lúc loài người sống lâu quá tám vạn tuổi, nhiều
khoái lạc, kiết sử nhiễm ái sâu dày, căn tánh ám độn,
thời không phải là lúc có thể giáo hóa. Nếu một trăm
tuổi trở xuống, loài người tuổi thọ ngắn, khổ hại nhiều,
các kiết sử sân hận lại càng sâu dày hơn. Ở hai thời
kỳ vui và khổ này, không phải là thời kỳ đắc đạo nên
Phật không ra đời?
Đáp:
Chư thiên sống ngoài ngàn vạn tuổi, là do nhân duyên đời
trước; tuy nhiều khoái lạc, nhiễm ái sâu dày, màhay đắc
đạo, huống ở trong loài người không vui hơn. Lúc đủ
ba sáu thứ bất tịnh thì dễ giáo hóa. Vì thế
nên lúc người thọ tám vạn tuổi Phật nên ra đời, vì người
trong lúc đó không bệnh tật, tâm vui, đều có lợi căn phước
đức; vì lợi căn phước đức nên dễ đắc đạo.
Lại
nữa, thời đức Phật Sư-tử-cổ-âm vương, người thọ mười
vạn tuổi, thời đức Phật Minh Vương, người thọ bảy trăm
vô số kiếp. Ở nước Phật A-di-đà, người thọ
vô lượng vô số kiếp, sao ông nói lúc lúc người thọ tám
vạn tuổi Phật không ra đời?
Hỏi:
Trong kinh Đại thừa có việc ấy, trong pháp tôi không nói
đến mười phương Phật, duy chỉ có quá khứ Thích-ca Văn-ni,
Câu-trần-nhã v.v… một trăm Phật; vị lai Di-lặc v.v… năm
trăm Phật?
Đáp:
Trong luận Đại thừa, do nhiều nhân duyên nói có ba đời
mười phương Phật. Vì sao? Vì mười phương thế
giới có già, bệnh, chết, dâm, nộ, si v.v… cho nên Phật
cần ra đời ở quốc độ đó. Như trong kinh nói:
Nếu không có già, bệnh, chết, phiền não thì chư Phật không
ra đời".
Lại
nữa, nhiều người có nhiều bệnh, nên phải có nhiều thày
thuốc. Trong pháp Thanh-văn các ông, như trong kinh Trường
A-hàm, vua Tỳ-sa-môn dùng kệ bạch Phật:
"Khể
thủ các Phật quá khứ, vị lai, hiện tại,
Cũng
quy mạng Thích-ca Văn Phật".
Kinh
ông nói đến khể thủ chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại,
nói quy mạng Thích-ca Văn Phật. Do đó mà biết hiện
tại có các Phật khác. Nếu không có Phật ở các quốc
độ khác, thế tại sao trước khể thủ Tam thế Phật, sau
mới quy mạng riêng đối với Thích-ca Văn Phật? Vị
vua (Tỳ-sa-môn) ấy chưa ly dục, ở nơi đức Phật Thích-ca
Văn đắc đạo; vì tâm quá kính ái nên quy mạng, còn đối
nơi các Phật khác thì chỉ khể thủ.
Hỏi:
Chính miệng Phật nói: Ở một thế gian không có hai Phật
ra đời trong một lúc, cũng không có hai Chuyển luân Thánh
vương ra đời một lúc; vì thế nên trong hiện tại không
thể có các Phật khác?
Đáp:
Tuy có lời ấy, mà ông không hiểu nghĩa nó. Phật
nói trong một Tam thiên đại thiên thế giới không có hai Phật
ra đời cùng một lúc, chứ không phải nói trong mười phương
thế giới. Hiện tại không có Phật, như trong thế giới
tứ thiên hạ, không có hai Chuyển luân Thánh vương ra đời
cùng một lúc; vì đây là người đại phúc đức, không có
kẻ óan địch sanh chung một đời, nên bốn châu thiên hạ
chỉ có một Chuyển luân Thánh vương. Đức Phật cũng
như thế, trong Tam thiên đại thiên thế giới không có hai
Phật ra đời. Phật và Chuyển luân Thánh vương, kinh
nói như nhau, sao ông tin các tứ châu thiên hạkhác còn có
Chuyển luân Thánh vương mà không tin trong Tam thiên đại thiên
thế giới khác còn có Phật?
Lại
nữa, một Phật không thể độ hết tất cả chúng sanh; nếu
một Phật có thể độ hết tất cả chúng sanh, thời có thể
không cần các Phật khác mà chỉ một Phật ra đời là đủ.
Nhưng như pháp của chư Phật, khi đã độ hết các chúng sanh
có thể độ thì nhập diệt, như đèn tắt lửa hết, vì pháp
hữu vi là vô thường, tánh không. Vì thế hiện tại
phải có các Phật khác.
Lại
nữa, chúng sanh vô lượng, khổ cũng vô lượng, cho nên
phải có bậc Bồ-tát đại tâm xuất hiện, cũng phải có
vô lượng Phật ra đời, độ các chúng sanh.
Hỏi:
Như trong kinh nói: "Trong vô lượng năm, Phật mới xuất
hiện một lần, như hoa Ưu-đàm-bát-la lâu lâu mới xuất hiện
một lần. Nếu mười phương có Phật đầy đủ, vậy
Phật dễ xuất hiện, dễ được, không thể gọi là khó vậy?
Đáp:
Không phải vậy! Đây là nói trong một Đại thiên thế
giới, trải qua vô lượng năm, lâu lâu Phật mới xuất hiện,
chứ không phải nói trong hết thảy mười phương thế giới
là khó gặp. Cũng vì người tội lỗi không biết kính,
không tinh tấn cầu đạo, nên nói: "Phật trải qua vô
lượng năm, lâu lâu xuất hiện một lần. Lại vì chúng
sanh ấy có nhiều tội báo, đọa trong ác đạo, vô lượng
kiếp còn không nghe danh Phật huống là thấy Phật? Vì
hạng người ấy mà nói "Phật xuất thế khó".
Hỏi:
Nếu hiện tại mười phương có nhiều Phật, Bồ-tát vậy
nay hết thảy chúng sanh đang bị tội ác khổ não, sao không
đến độ?
Đáp:
Chúng sanh trong vô lượng vô số kiếp tội cấu sâu dày, tuy
có các phước thừa, mà không có công đức để được thấy
Phật nên không thấy, như kệ nói:
"Phước
báo tốt chưa gần,
Tội
suy chưa trừ khử,
Hiện
tiền không thể thấy,
Bậc
Đại đức hữu lực.
Các
Đại đức thánh nhân,
Tâm
cũng không phân biệt,
Từ
bi với tất cả,
Muốn
độ thoát một lần.
Chúng
sanh phước đức thục,
Trí
tuệ căn cũng lớn,
Nếu
là duyên hiện độ,
Tức
thời được giải thoát.
Ví
như đại Long vương,
Tùy
nguyện mà mưa xuống,
Tội
phước theo bổn hạnh,
Mỗi
mỗi như sở tạo".
Hỏi:
Nếu tự có phước đức, tự có trí tuệ, người như vậy
Phật độ được; nếu không có phước đức, trí tuệ, Phật
không độ. Nếu vậy, đã tự có phước đức, trí tuệ,
thì không đợi Phật độ?
Đáp:
Phước đức, trí tuệ ấy, nhân duyên từ Phật mà phát xuất.
Nếu Phật không ra đời, thì các Bồ-tát đem nhân duyên của
mười điều thiện, bốn vô lượng ý, phúc báo tội báo đời
sau, các thứ nhân duyên để giáo đạo. Nếu không có
Bồ-tát, thì có lời thuyết giảng trong các kinh, người gặp
được pháp ấy, nương pháp ấy làm nhân duyên tu hành phước
đức.
Lại
nữa, người tuy có phước đức, trí tuệ, nhưng nếu Phật
không ra đời, thì chỉ thọ báo trong thế gian mà không thể
đắc đạo. Nếu găﰠPhật ra đời mới có thể đắc
đạo, ấy là một lơị ích lớn. Ví như người có mắt,
lúc không có mặt trời, thì không thể trông thấy được,
cần phải có ánh sáng mặt trời, mới trông thấy được,
nên không được nói: "Ta có mắt, cần gì mặt trời".
Như Phật nói, nhờ nhân duyên trong và ngoài mới sanh chánh
kiến: 1- Theo người khác mà nghe pháp, 2- Tâm tự
tư duy đúng như pháp. Do phước đức nên hay sanh thiện
tâm, do lợi căn trí tuệ nên hay tư duy đúng như pháp.
Do đó biết, do từ nơi Phật mà được.
Những
điều luận giải nêu trên như thế, có nhiều chỗ sai lắm.
Nay vì muốn tạo luận nghị về Bát-nhã Ba-la-mật, nên
không thể tiếp tục bàn rộng các việc khác.
(Hết
cuốn 4 theo bản Hán)