Cuốn
5
Chương
8
GIẢI
THÍCH: "MA-HA TÁT-ĐỎA"
KINH:
Ma-ha Tát-đỏa (Maha sattva)
LUẬN:
Hỏi: Sao gọi là Ma-ha Tát-Đỏa?
Đáp:
Ma-ha là đại, Tát-Đỏa là chúng sanh. Hoặc gọi là dũng
tâm, vì tâm người này làm được việc lớn, vì tâm đại
dũng mãnh không thối không lui, nên gọi là Ma-ha Tát-Đỏa.
Lại
nữa, là người đứng đầu bậc nhất trong nhiều chúng sanh,
nên gọi là Ma-ha Tát-Đỏa.
Lại
nữa, ở giữa nhiều chúng sanh, khỏi tâm đại từ đại bi
, thành lập Đại thừa, thực hành đại đạo, được ở
chỗ tối đại, nên gọi là Ma-ha Tát-Đỏa.
Lại
nữa, thành tựu các tướng của bậc đại nhân, nên gọi
là Ma-ha Tát-Đỏa.
Tướng
Ma-ha Tát-Đỏa như trong bài kệ tán Phật nói:
"Duy
một mình Phật là đệ nhất,
Là
cha mẹ ba cõi, là Nhất thiết trí,
Ở
trong tất cả, không ai bằng,
Cúi
lạy Thế Tôn, đấng hy hữu,
Phàm
nhân thi ân vì lợi mình,
Đem
của bố thí cầu quả báo,
Phật
Đại nhân từ không việc ấy,
Lợi
cả người oán, thân, thương, ghét".
Lại
nữa, vì có thể thuyết pháp phá trừ các phiền não đại
tà kiến, đại ái mạn, đại ngã tâm cho mình và hết thảy
chúng sanh, nên gọi là Ma-ha Tát-Đỏa.
Lại
nữa, chúng sanh mênh mông như biển cả, không đầu, không
giữa, không cuối, dù có vị toán sư minh trí, trải qua vô
lượng năm tính toán cũng không thể tính hết. Như Phật
dạy Vô-tận-ý Bồ-tát rằng: "Ví như tất cả thế giới
trong mười phương, cho đến biên tế của hư không, hợp lại
thành một dòng nước, khiến cho vô số vô lượng chúng sanh
chung nhau cầm một sợi tóc lấy một giọt nước đem đi.
Lại có vô ương vô số chúng sanh cũng chung nhau cầm một
sợi tóc lấy một giọt nước đem đi. Cứ như vậy làm
cho dòng nước kia hết sạch không còn, thì số chúng sanh vẫn
không tính hết. Với số chúng sanh vô biên, vô lượng,
không thể đếm, không thể tư nghì ấy, mà hay cứu vớt hết,
làm cho xa lìa khổ não, đặt vào trong chỗ thật vui vô vi
an ổn; vì có đại tâm muốn độ nhiều chúng sanh ấy, nên
gọi là Ma-ha Tát-Đỏa.
Như
trong kinh Bất Khả Tư Nghì, Ưu-bà-di Âu-xá-na nói với Bồ-tát
Tu-đạt-na rằng: "Các hàng Bồ-tát Ma-ha-tát, không vì
độ một người mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác cũng không phải vì hai, ba, cho đến mười người; cũng
không phải vì trăm, ngàn, vạn, mười vạn, trăm vạn, một
ức, mười trăm ngàn vạn cho đến ức ức; cũng không phải
vì A-do-tha ức chúng sanh mà phát tâm. Không phải vì Na-do-tha,
không phải vì A-già-đà chúng sanh. Cũng không phải chỉ
vì Tần-ba-la, Ca-ca-la, A-ca-la, Bệ-bà-la, Ma-bà-la, Ba-đà, Đa-bà,
Tỳ-bà-ha, Bố-ma, Niệm-ma, A-bà-ca, Ma-già-bà, Tỳ-la-già, Tăng-già-ma,
Tỳ-tát-la, Vị-diêm-bà, Tỳ-xà-ca, Ty-lô-ha-tỳ-bạt-đế,
Tỳ-ca-đa, Đâu-la, A-bà-la-na, Tha-bà-la, Tỳ-bà-na-bà, Miệu-tã,
Độn-na-gia-tã, Hê-ba-la, Tỳ-bà-la, Tát-giá-đa, A-bạt-xà-đài,
Tỳ-thi-đà, Nê-bà-la, Hê-lê-phù-đà, Ba-ma-đà-dạ, Tỷ-sơ-bà,
A-lê-phù-đà, A-lê-tát-tã, Hê-vân-ca, Độ-ư-đa, A-lâu-na,
Ma-lâu-đà, Xoa-dạ, Ô-la-đa, Mạt-thù-dạ-ma, Ta-ma-đà, Tỳ-ma-đà,
Ba-ma-đà, A-mãn-đà-la, Bà-mãn-đa-la, Thi-bà-la-đa, Hê-la, Vi-la,
Đề-la, Chi-la, Sí-la, Thi-la, Tư-la, Ba-la, Di-la, Bà-la-la, Mê-lâu,
Sí-lô, Ma-đổ-la, Tam-mâu-la, A-bà-dạ, Kiến-ma-la, Ma-ma-la,
A-đạt-đa, Hê-lâu, Tỳ-lâu-bà, Ca-la-bạt, A-bà-bạt, Tỳ-bà-bạt,
Bà-bà, A-la-bà, Ta-bà-bà-la, Mê-la-phù-la, Ma-giá-la, Đà-ma-la,
Bà-ma-đà, Ni-già-ma, A-bạt-đa, Nê-đề-xá, A-xoá-dạ, Tam-phù-đà,
Bà-ma-ma, A-bà-đà, Âu-bà-la, Ba-đầu-ma, Tăng-khư,
Già-đề, Âu-ba-già-na, A-tăng-kỳ, A-tăng-kỳ A-tăng-kỳ, Vô
lượng, Vô lượng vô lượng, Vô biên, Vô biên vô biên, Vô
đẳng, Vô đẳng vô đẳng, Vô số, Vô số vô số, Bất khả
kế, Bất khả kế bất khả kế, Bất khả tư nghì, Bất khả
tư nghì bất khả tư nghì, Bất khả thuyết, Bất khả thuyết
bất khả thuyết. Cũng không phải vì số chúng sanh nhiều
như vi trần của một quốc độ mà phát tâm.
Cũng
không phải vì hai, ba, đến mười trăm ngàn vạn ức ngàn
vạn ức A-do-tha, Na-do-tha, cho đến vì số chúng sanh nhiều
như vi trần của Bất khả thuyết bất khả thuyết quốc độ
mà phát tâm.
Không
phải vì số chúng sanh nhiều như vi trần của một cõi Diêm-phù-đề
mà phát tâm.
Không
phải vì số chúng sanh nhiều như vi trần của cõi Câu-đà-ni,
Uất-đát-la-việt, Phất-bà-đề mà phát tâm.
Không
phải vì số chúng sanh nhiều như vi trần của Tiểu thiên
thế giới, Trung thiên thế giới, Đại thiên thế giới mà
phát tâm.
Không
phải vì số chúng của hai, ba, đến mười trăm ngàn vạn
ức ngàn vạn ức A-do-tha cho đến Bất khả thuyết bất khả
thuyết tam thiên đại thiên thế giới mà phát tâm.
Không
phải vì cúng dường cung cấp cho một đức Phật mà phát
tâm, cho đến không phải vì cúng dường cung cấp cho Bất
khả thuyết bất khả thuyết các đức Phật mà phát tâm.
Không
phải vì cúng dường cung cấp cho các đức Phật số nhiều
như vi trần của một quốc độ mà phát tâm, cho đến không
phải vì cúng dường cung cấp cho các đức Phật số nhiều
như vi trần của Bất khả thuyết bất khả thuyết tam thiên
đại thiên thế giới mà phát tâm.
Không
phải làm thanh tịnh một Phật độ mà phát tâm, cho đến
không phải vì làm thanh tịnh Phật độ nhiều như số vi trần
của Bất khả thuyết bất khả thuyết tam thiên đại thiên
thế giới mà phát tâm.
Không
phải vì thọ trì pháp của một đức Phật mà phát tâm, cho
đến không phải vì thọ trì pháp của các đức Phật số
nhiều như vi trần của Bất khả thuyết bất khả thuyết
tam thiên đại thiên thế giới mà phát tâm.
Không
phải vì làm cho Phật chủng của trong một tam thiên đại
thiên thế giới không bị dứt mà phát tâm, cho đến không
phải vì làm cho Phật chủng của trong Tam thiên đại thiên
thế giới số nhiều như vi trần của Bất khả thuyết bất
khả thuyết Tam thiên đại thiên thế giới không bị dứt
mà phát tâm.
Không
phải vì phân biệt biết đại nguyện của một đức Phật
mà phát tâm, cho đến không phải vì phân biệt biết đại
nguyện của các đức Phật nhiều như số vi trần của Bất
khả thuyết bất khả thuyết Tam thiên đại thiên thế giới
mà phát tâm.
Không
phải vì trang nghiêm một Phật độ mà phát tâm, cho đến
không phải vì trang nghiêm Phật độ nhiều như số vi trần
của bất khả thuyết bất khả thuyết Tam thiên đại thiên
thế giới mà phát tâm.
Không
phải vì phân biệt biết chúng hội đệ tử của một đức
Phật mà phát tâm, cho đến không phải vì phân biệt biết
chúng hội đệ tử của các đức Phật số nhiều như vi trần
của Bất khả thuyết bất khả thuyết Tam thiên đại thiên
thế giới mà phát tâm.
Không
phải vì giữ gìn Pháp luân của một đức Phật mà phát tâm,
cho đến không phải vì giữ gìn Pháp luân của các đức Phật
số nhiều như vi trần của Bất khả thuyết bất khả thuyết
Tam thiên đại thiên thế giới mà phát tâm.
Không
phải vì biết các tâm của một người.
Không
phải vì biết các căn của một người.
Không
phải vì biết các kiếp thứ lớp tương tục của trong một
Tam thiên đại thiên thế giới.
Không
phải vì phân biệt dứt các phiền não của một người mà
phát tâm, cho đến không phải vì phân biệt dứt các phiền
não của nhiều người như số vi trần của Bất khả thuyết
bất khả thuyết Tam thiên đại thiên thế giới mà phát tâm.
Các
Bồ-tát Ma-ha-tát ấy nguyện rằng: "Giáo hóa hết thảy
mười phương chúng sanh, cúng dường cung cấp hết thảy mười
phương chư Phật. Nguyện làm cho hết thảy mười phương
Phật độ được thanh tịnh, tâm kiên cố thọ trì hết thảy
pháp của mười phương chư Phật, phân biệt biết hết thảy
các Phật độ, biết chúng đệ tử của hết thảy chư Phật,
phân biệt các tâm của hết thảy chúng sanh, biết đoạn các
phiền não cho hết thảy chúng sanh, biết hết các căn của
hết thảy chúng sanh". Vì các nguyện ấy, các Bồ-tát
phát tâm cầu trú trong Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Như
vậy v.v… lấy mười môn làm đầu, cho đến trăm, ngàn, vạn,
ức A-tăng-kỳ môn, đó là môn đạo pháp. Bồ-tát
phải biết, phải vào. Thật đạo của các Bồ-tát
lược nói như vậy. Hết thảy các pháp đều vào, đều
biết, vì trí tuệ mà biết vậy, vì hết thảy Phật độ
ở trong Bồ-tát đạo mà trang nghiêm vậy.
Âu-xá-na
(Asà) nói: "Thiện nam tử! Tôi nguyện như vầy:
Từ khi có thế giới đến nay, hết thảy chúng sanh đều thanh
tịnh, hết thảy phiền não đều đoạn trừ". Tu-đạt-na
nói: "Ấy là giải thoát gì?" Âu-xá-na đáp: "Ấy
là vô ưu an ổn tràng. Tôi chỉ biết được một môn
giải thoát ấy, không biết các Bồ-tát có đại tâm như biển
cả, hết thảy các Phật pháp đều hay trì thọ. Tâm
các Bồ-tát bất động như núi Tu-di. Các Bồ-tát như
vị Dược vương, hay trừ hết thảy các phiền não.
Các Bồ-tát như mặt trời, hay trừ hết thảy tối tăm.
Các Bồ-tát như đất, hay hàm chứa tất cả chúng sanh.
Các Bồ-tát như gió, hay lợi ích tất cả chúng sanh.
Các Bồ-tát như lửa, hay đốt tất cả phiền não của ngoại
đạo. Các Bồ-tát như mây, hay mưa xuống nước pháp.
Các Bồ-tát như mặt trăng, phước đức sáng suốt soi khắp
tất cả. Các Bồ-tát như Thích-đề-hoàn-nhơn, thủ hộ hết
thảy chúng sanh. Ấy là đạo pháp của Bồ-tát sâu xa,
tôi làm sao biết hết được". Do vì các Bồ-tát phát
nguyện lớn, muốn được sự lớn, muốn đến chỗ lớn,
nên gọi là Ma-ha Tát-Đỏa.
Lại
nữa, tướng Ma-ha Tát-Đỏa trong Kinh Bát-nhã Ba-la-mật ấy,
Phật tự nói tướng như vậy như vậy, là tướng Ma-ha Tát-Đỏa.
Các đệ tử Xa-lợi-phất, Phú-lâu-na v.v… mỗi vị đều
nói. Phẩm kia, ở trong đây có nói rộng.
Chương
9
GIẢI
THÍCH: "BỔ-TÁT CÔNG ĐỨC"
KINH:
Đều được Đà-la-ni và các Tam muội, thực hành Không, Vô
tướng, Vô tác, đã được Đẳng, Nhẫn
LUẬN:
Hỏi: Vì sao lấy ba việc ấy mà lần lượt tán thán
Bồ-tát Ma-ha-tát?
Đáp:
Vì muốn nêu thật công đức của các Bồ-tát, đáng tán thán
thì tán thán, đáng tin thì tin; vì chúng sanh không thể tin
được pháp thanh tịnh sâu xa, nên lấy ba việc ấy tán thán
Bồ-tát.
Lại
nữa, trước mới nói danh tự Bồ-tát Ma-ha-tát. Nay nói
vì được Đà-la-ni, Tam muội và các công đức Nhẫn v.v…
nên gọi là Bồ-tát Ma-ha-tát.
Hỏi:
Đã biết nghĩa thứ lớp, vậy sao gọi là Đà-la-ni?
Thế nào là Đà-la-ni?
Đáp:
Đà-la-ni, Hán văn là "Năng trì" hoặc "Năng già".
Năng trì là nhóm các thiện pháp, giữ gìn không tán không
mất. Vì như đồ hoàn hảo đựng nước, nước không
thấm chảy, Năng già là tâm ác bất thiện căn sanh, hay ngăn
làm cho không sanh. Nếu muốn làm tội ác, giữ không cho
làm, ấy gọi là Đà-la-ni. Đà-la-ni ấy hoặc tương ưng
với tâm hoặc không tương ưng với tâm, hoặc hữu lậu, hoặc
vô lậu, vô sắc, vô đối, không thấy, một trì, một nhập,
một ấm nhiếp (pháp trì, pháp nhập, hành ấm), chín trí trì
(trừ tận trí), một thức thức (một ý thức). Trong
pháp A-tỳ-đàm giảng nghĩa của Đà-la-ni.
Lại
nữa, vị Bồ-tát được Đà-la-ni, thì đối với hết thảy
pháp đã được nghe, do niệm lực giữ gìn không mất.
Lại
nữa, pháp Đà-la-ni ấy thường đuổi theo Bồ-tát như bệnh
sốt rét cách nhật. Pháp Đà-la-ni ấy không rời Bồ-tát
như bị quỉ bám. Pháp Đà-la-ni ấy thường thuận theo
Bồ-tát như luật nghi thiện bất thiện. Pháp Đà-la-ni
ấy giữ gìn Bồ-tát khơng để rơi xuống hố Nhị-địa,
như cha lành thương con, con sắp rơi xuống hố, giữ lại không
để rơi.
Lại
nữa, Bồ-tát nhờ được lực Đà-la-ni mà hết thảy Ma vương,
Ma dân, Ma nhân không thể làm lay động, không thể phá, không
thể hơn, như núi Tu-di, miệng người phàm thổi không thể
lay động.
Hỏi:
Pháp Đà-la-ni ấy có mấy thứ?
Đáp:
Pháp Đà-la-ni ấy rất nhiều. Có Văn trì Đà-la-ni. Người
được Đà-la-ni này, hết thảy các pháp ngữ ngôn, tai đã
được nghe, đều không quên mất. Lại có Phân biệt
trí Đà-la-ni. Người được Đà-la-ni này, phân biệt
hết các chúng sanh, các pháp lớn, nhỏ, tốt, xấu như kệ
nói:
"Các
voi, ngựa, vàng
Cây,
đá, y phục,
Nam
nữ và nước,
Các
thứ bất đồng.
Các
vật tên một,
Quý
tiện khác nhau,
Được
Tổng trì này,
Phân
biệt được hết".
Lại
có Nhập âm thanh Đà-la-ni. Vị Bồ tát được Đà-la-ni
này, nghe hết ngữ ngôn âm thanh, không mừng không giận.
Nếu hết thảy chúng sanh trải qua kiếp số như cát sông Hằng,
dùng lời ác mắng nhiếc, tâm Bồ-tát cũng không ghét hận.
Hỏi:
Bồ-tát chưa sạch các lậu, làm sao có thể nhẫn được các
điều ác đó trải qua kiếp số như cát sông Hằng?
Đáp:
Đã nói trước kia rằng được lực Đà-la-ni này nên có thể
như thế. Lại nữa, vị Bồ-tát tuy chưa sạch hết lậu,
song đại trí lợi căn, có thể tư duy trừ khử tâm sân hận,
suy nghĩ rằng: "Nếu nhĩ căn không đến bên tiếng, thì
tiếng ác dính vào đâu? Lại như tiếng mắng, nghe liền
bay qua, nếu không phân biệt, thì ai sẽ giận? Phàm phu
vì tâm trước tự ngã, phân biệt phải trái mới sanh sân
hận.
Lại
nữa, nếu người biết được rằng ngữ ngôn vừa sanh liền
diệt, trước sau không cùng thời, thời sẽ không sân hận.
Cũng biết các pháp, bên trong vô chủ, ai mắng, ai sân?
Hoặc có người nghe tiếng lạ của địa phương khác, đây
bảo là tốt, kia bảo là xấu, tốt xấu không nhất định,
nên tuy mắng vẫn không sân. Hoặc có người biết tiếng nói
là vô định, thời không giận không mừng. Như người
thân ái mà mắng, tuy mắng không giận, không thân ái mà nói
lời dữ nghe thì sanh giận. Cũng như khi đi gặp gió mưa
thì vào nhà hoặc cầm dù, khi đi gặp đất có gai thì mang
giày dép, lạnh quá thì đốt lửa, lúc nóng thì tìm nước.
Những hoạn nạn như thế chỉ đi tìm cách ngăn che chứ không
sân hận. Đối các việc hung ác mắng chửi cũng
như vậy, chỉ dùng từ bi ngăn dứt các ác đó chứ không
sanh tâm giận.
Lại
nữa, Bồ-tát biết các pháp là bất sanh, bất diệt, tánh
nó đều không, nếu gặp người sân hận mắng nhiếc, hoặc
đánh, hoặc giết, đều như mộng, như biến hóa, thì còn
ai giận, ai mắng?
Lại
nữa, nếu có người như chúng sanh trong hằng hà sa kiếp,
tán thán, cúng dường y, thực, ngọa cụ, y dược, hoa hương,
anh lạc, tâm của vị Bồ-tát đắc nhẫn vẫn không lay động,
không mừng không đắm.
Hỏi:
Đã biết các nhân duyên khiến các Bồ-tát không sân hận,
nhưng chưa biết tại sao khi thật sự tán thán công đức mà
vẫn không vui mừng?
Đáp:
Biết các thứ cúng dường cung kính đều là vô thường, nay
vì có nhân duyên nên đến tán thán cúng dường, sau lại có
nhân duyên khác thì lại sân hận, hoặc đánh hoặc giết;
vì thế nên được tán thán mà không mừng.
Lại
nữa, do vì ta có công đức trí tuệ nên đến tán thán cúng
dường, đó là tán thán công đức chứ đâu phải tán thán
ta; ta vì sao mà mừng?
Lại
nữa, người ấy vì cầu quả báo nên ở nơi ta tạo nhân
duyên cúng dường ta để làm công đức, cũng như người vì
gieo lúa mà tưới tẩm sửa sang, đất cũng không mừng.
Lại
nữa, nếu người cúng dường ta, ta nếu vui mừng thọ nhận,
thì phước ta mỏng đi mà phước người kia cũng ít cho nên
không mừng.
Lại
nữa, Bồ-tát quán hết thảy pháp như mộng, như tiếng vang
vậy có ai khen, ai mừng? Ta chưa được thoát khỏi ba
cõi, các lậu chưa dứt sạch, chưa được Phật đạo, tại
sao được tán thán mà mừng? Nếu đáng mừng thì chỉ
có một mình Phật, vì sao? Vì đã đầy đủ hết
thảy công đúc.
Thế
nên Bồ-tát khi được tán thán, cúng dường, cung cấp, tâm
không sanh mừng. Các tướng như thế gọi là Nhập âm
thanh Đà-la-ni.
Lại
có Danh tịch diệt Đà-la-ni, Vô biên triền Đà-la-ni, Tùy địa
quán Đà-la-ni, Oai đức Đà-la-ni, Hoa nghiêm Đà-la-ni, Tịnh
âm Đà-la-ni, Hư không tạng Đà-la-ni, Hải tạng Đà-la-ni,
Phân biệt chư pháp địa Đà-la-ni, Minh chư pháp nghĩa Đà-la-ni.
Lược
nói năm trăm Đà-la-ni môn như vậy. Nếu nói rộng thời
có vô lượng. Do vậy nên nói các Bồ tát đều được Đà-la-ni.
Các
Tam muội là ba Tam muội: Không, Vô tác, Vô tướng.
Có
người nói: "Quán năm uẩn vô ngã, vô ngã sở; ấy gọi
là Không. Trú ở Không tam muội ấy, không vì đời
sau mà khởi ba độc, ấy gọi là Vô tác. Duyên pháp lìa
mười tướng là năm trần, nam, nữ, sanh, trụ, diệt; ấy
gọi là Vô tướng". Có người nói: "Trú trong tam
muội ấy, thì biết được thật tướng của tất cả pháp
là tất cả không, ấy gọi là Không tam muội. Biết Không
ấy rồi không làm. Thế nào là không làm? Là không
xem các pháp hoặc không hoặc bất không, hoặc có hoặc không
v.v… như bài kệ Phật thuyết trong kinh Pháp Cú:
"Thấy
có thời sợ hãi,
Thấy
không cũng sợ hãi,
Cho
nên không trước có
Và
cũng không trước không".
Ấy
gọi là Vô tác tam muội.
Thế
nào là Vô tướng tam muội? Hết thảy pháp không có tướng,
hết thảy pháp không thọ, không trước, ấy gọi là Vô tướng
tam muội, như kệ nói:
"Ngôn
ngữ đã lặng,
Tâm
hành cũng diệt,
Bất
sinh bất diệt,
Như
tướng niết-bàn".
Lại
nữa, mười tám Không, ấy gọi là Không tam muội. Trong
các thứ hữu (sanh hữu, bản hữu, tử hữu, trung hữu, nghiệp
hữu) tâm không cầu, ấy gọi là Vô tác tam muội. Hết thảy
các pháp tướng phá hoại, không nhớ nghĩ, ấy gọi là Vô
tướng tam muội.
Hỏi:
Có nhiều thứ pháp Thiền định, sao chỉ nói riêng ba Tam muội
này?
Đáp:
Vì ở trong ba Tam muội ấy mà tư duy là gần với Niết-bàn,
khiến tâm người không cao không hạ, bình đẳng bất động,
các định khác không được như vậy; vì thế nói riêng ba
Tam muội. Trong các định khác hoặc tâm ái nhiều, hoặc
mạn nhiều, hoặc kiến nhiều, còn trong ba Tam muội ấy có
nghĩa thật lợi bậc nhất, là cửa ngõ được Niết-bàn;
vì thế trong các pháp Thiền định lấy ba pháp định ấy
làm ba cửa giải thoát, cũng gọi là ba Tam muội. Ba Tam
muội ấy thật là Tam muội, các định khác cũng được gọi
là định.
Lại
nữa, trừ Bốn thiền căn bản, từ Vị đáo địa trở lên
cho đến Hữu đỉnh gọi là Định, cũng gọi là Tam muội,
chẳng phải là Thiền. Bốn thiền cũng gọi là Định,
cũng gọi là Thiền, cũng gọi là Tam muội. Các định
khác cũng gọi là Định, cũng gọi là Tam muội. Như các pháp
định: Bốn Vô lượng tâm, bốn Biện tài, sáu Thần
thông, tám Bội xả, tám Thắng xứ, chín thứ Đệ định,
mười Nhất thiết xứ v.v…
Lại
có người nói: "Hết thảy pháp Tam muội có ba mươi hai
thứ, có người nói sáu mươi lăm thứ, có người nói năm
trăm thứ. Vì pháp Đại thừa rất lớn nên có vô lượng
Tam muội, là: Tam muội Biến pháp tánh trang nghiêm, Tam muội
năng chiếu tất cả pháp trong ba đời, Tam muội Không phân
biệt biết quán cùng để pháp tánh, Tam muội Vào Phật pháp
không đáy, Tam muội Như hư không chiếu vô để vô biên, Tam
muội Quán hạnh lực của Như lai, Tam muội Phật vô úy trang
nghiêm lực tần thân, Tam muội Xoay chứa muôn pháp tánh, Tam
muội Mặt trăng chóng biến khắp hết thảy thế giới không
ngăn ngại, Tam muội Pháp vân quang trang nghiêm cùng khắp…
Bồ-tát được vô lượng tam muội như thế.
Lại
nữa, trong phẩm Ma-ha Diễn của Kinh Bát-nhã Ba-la-mật, lược
nói thì có một trăm lẻ tám Tam muội. Đầu tiên gọi
là Tam muội Thủ lăng nghiêm, cho đến Tam muội Hư không không
trước không nhiễm. Rộng nói thì có vô lượng Tam muội.
Vì vậy nên nói các Bồ-tát được các Tam muội, thực hành
Không, Vô tướng, Vô tác.
Hỏi:
Trước nói Bồ-tát được các tam muội, cớ sao nay lại nói
thực hành Không, Vô tướng, Vô tác?
Đáp:
Trước nói tên tam muội, chưa nói tướng tam muội, nay muốn
nói tướng cho nên nói thực hành Không, Vô tác, Vô tướng.
Nếu có người thực hành Không, Vô tướng, Vô tác; ấy gọi
là được Thật tướng tam muội, như kệ nói:
"Nếu
giữ giới thanh tịnh,
Gọi
thật là Tỳ-kheo,
Nếu
có thể quán Không,
Gọi
là Thật tam muội.
Nếu
có thể tinh tấn,
Gọi
là người hành đạo.
Nếu
có được Niết-bàn,
Ấy
gọi là thật vui".
KINH:
"Đã được Đẳng, Nhẫn"
Hỏi:
Thế nào là Đẳng? Thế nào là Nhẫn?
Đáp:
Có hai thứ Đẳng là Chúng sanh đẳng, Pháp đẳng. Nhẫn
cũng có hai thứ là Chúng sanh nhẫn, Pháp nhẫn. Thứ nào
là Chúng sanh đẳng? Đối với tất cả chúng sanh, tâm
bình đẳng, niệm bình đẳng, ái bình đẳng, lợi bình đẳng,
ấy gọi là Chúng sanh đẳng.
Hỏi:
Từ bi lực đối với hết thảy chúng sanh nên niệm bình đẳng,
không nên quán bình đẳng, vì sao? Vì Bồ-tát hành thật
đạo, không điên đảo, đúng như pháp tướng. Vì sao
mà đối với người thiện, người bất thiện, người lớn,
người nhỏ và súc sanh, mà lại xem một mực bình đẳng?
Trong người bất thiện, thật có tướng bất thiện; trong
người thiện, thật có tướng thiện? Người lớn, người
nhỏ, người và súc sanh cũng như vậy. Như tướng trâu
ở nơi trâu, tướng ngựa ở nơi ngựa, tướng trâu không
ở trong tướng ngựa, tướng ngựa không ở trong tướng trâu,
vì ngựa không làm trâu. Chúng sanh mỗi mỗi có tướng
riêng, làm sao một mực quán xem là bình đẳng mà không rơi
vào điên đảo?
Đáp:
Nếu tướng thiện, tướng bất thiện là có thật, thì Bồ-tát
phải rơi vào điên đảo, vì sao? Vì phá hoại pháp
tướng, nhưng vì các pháp chẳng phải thật tướng thiện,
chẳng phải thật tướng bất thiện, chẳng phải tướng nhiều,
chẳng phải tướng ít, chẳng phải người, chẳng phải súc
sanh, chẳng phải một, chẳng phải khác; vì lẽ ấy, ông vấn
nạn không đúng, như kệ thuyết về các pháp tướng:
"Bất
sanh bất diệt.
Bất
đoạn bất thường,
Bất
nhất bất dị,
Bất
khứ bất lai.
Pháp
nhân duyên sanh,
Dứt
các hý luận,
Phật
thuyết như vậy,
Tôi
kính lễ Ngài".
Lại
nữa, đối với hết thảy chúng sanh, không trước các thứ
tướng, tướng chúng sanh, tướng không, một mực bình đẳng
không khác. Quán như vậy, ấy gọi là Chúng sanh đẳng.
Nếu người ở trong đó tâm bình đẳng không ngăn ngại, thẳng
vào không lui,
ấy
gọi là đẳng, nhẫn. Bồ-tát được đẳng, nhẫn thời
đối với hết thảy chúng sanh, không giận, không não hại,
như mẹ lành thương con, như kệ nói:
"Quán
âm thanh như tiếng vang,
Thân
hành như bóng trong gương,
Người
quán được như thế,
Làm
sao mà không nhẫn?".
Ấy
gọi là Chúng sanh đẳng, nhẫn.
Thế
nào gọi là Pháp đẳng, nhẫn? Pháp thiện, pháp bất
thiện, hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi v.v… với các pháp
như vậy mà vào bất nhị pháp môn, vào thật pháp tướng
môn. Vào như vậy rồi, ở trong đó, khi thâm nhập
thật tướng các pháp, thì tâm nhẫn mà trực nhập, không
tránh, không ngại, ấy gọi là Pháp đẳng, nhẫn, như kệ
nói:
"Chư
pháp bất sanh bất diệt,
Phi
bất sanh bất diệt.
Cũng
bất sanh diệt phi bất sanh diệt,
Cũng
phi bất sanh diệt phi phi bất sanh diệt".
Đã
được giải thoát (lìa khỏi tà kiến gọi là giải thoát),
không, phi không (không thủ nơi không nên gọi là phi không)
v.v… thảy đều xả bỏ, diệt các hý luận, đường ngôn
ngữ dứt, thâm nhập Phật pháp, tâm thông suốt không ngại,
bất động bất thối, gọi là Vô sanh nhẫn. Đó
là cửa ban đầu hỗ trợ Phật pháp, vì vậy nói "Đã được
đẳng, nhẫn".
KINH:
Được vô ngại Đà-la-ni.
LUẬN:
Hỏi: Trước đã nói các Bồ-tát được Đà-la-ni.
Nay vì sao lại nói được Vô ngại Đà-la-ni?
Đáp:
Vì Vô ngại Đà-la-ni là tối đại. Như trong tất cả tam muội,
tam muội vương tam muội là tối đại; như vua trong loài người,
như Vô ngại giải thoát trong các giải thoát. Như vậy
trong tất cả Đà-la-ni, Vô ngại Đà-la-ni là lớn, cho nên
trùng thuyết.
Lại
nữa, trước nói các Bồ-tát đã được Đà-la-ni, không biết
ấy là Đà-la-ni gì? Có tiểu Đà-la-ni như của Chuyển
luân Thánh vương, tiên nhân v.v… có được. Có Văn trì
Đà-la-ni, Phân biệt chúng sanh Đà-la-ni, Quy mạng cứu hộ
bất xả Đà-la-ni … Các tiểu Đà-la-ni như vậy, các người
khác cũng có được. Còn Vô ngại Đà-la-ni ấy, hàng
ngoại đạo, Thanh-văn, Bích-chi Phật, tân học Bồ-tát đều
không có được. Chỉ các Bồ-tát đủ vô lượng phước
đức, trí tuệ, đại lực là có Đà-la-ni ấy, cho nên nói
riêng.
Lại
nữa, hàng Bồ-tát ấy, tự lợi đã đầy đủ, chỉ muốn
lợi tha, thuyết pháp giáo hóa vô tận, tất lấy Vô ngại
Đà-la-ni làm căn bản; vì thế, các Bồ-tát thường thực
hành Vô ngại Đà-la-ni.
KINH:
Đều được ngũ thông.
LUẬN:
Như ý, Thiên nhãn, Thiên nhĩ, Tha tâm trí, tự biết túc mạng.
-
Thế nào là Như ý thông (Riddhi)? Như ý thông có ba thứ
là: Năng đáo, Chuyển biến và Thánh như ý. Năng
đáo có bốn thứ: 1- Thân năng phi hành như chim,
không ngại. 2- Dời xa lại gần, không đi qua
mà đến. 3- Lặn ở đây hiện ở kia. 4-
Trong một khoảnh khắc có thể đến được. Chuyển biến
là lớn biến làm nhỏ, nhỏ biến làm lớn; một biến thành
nhiều, nhiều biến thành một, có thể chuyển biến mọi vật.
Hàng ngoại đạo chuyển biến không lâu quá bảy ngày, chư
Phật và đệ tử chuyển biến tự tại, không có lâu mau.
Thánh như ý là đối với vật bất khả ái bất tịnh của
sáu trần bên ngoài, có thể quán làm cho nó tịnh, vật khả
ái thanh tịnh, có thể quán làm cho nó bất tịnh. Thánh
như ý ấy, chỉ có Phật mới có được. Như ý thông
ấy, từ trong bốn Như ý túc mà ra. Như ý túc thông v.v…
ấy, vì duyên theo sắc, thứ lớp phát sanh, nên không thể
có được trong cùng một lúc.
-
Thế nào là Thiên nhãn thông? Với mắt được sắc thanh
tịnh tứ đại của Sắc giới tạo nên, ấy gọi là Thiên
nhãn thấy được chúng sanh và các vật trong lục đạo ở
cả tự địa và hạ địa; các sắc hoặc gần hoặc xa, hoặc
thô hoặc tế, đều có thể soi thấy. Thiên nhãn ấy
có hai thứ: 1- Do quả báo mà được. 2-
Do tu mà được. Trong ngũ thông ấy, Thiên nhãn thông do
tu mà được, không phải do quả báo được, vì cớ sao?
Vì thường nhớ nghĩ các thứ quang minh mà được. Có
người nói: Các hàng Bồ-tát ấy vì được lực vô sanh
pháp nhẫn nên không thuộc trong sáu đạo, nhưng chỉ vì giáo
hoá chúng sanh mà dùng Pháp thân hiện ra trong mười phương
ba cõi; còn các Bồ-tát chưa chứng Pháp thân thì Thiên nhãn
do tu đắc hoặc do báo đắc.
Hỏi:
Công đức của các Bồ-tát ấy hơn A-la-hán, Bích-chi Phật;
vậy cớ sao lại tán thán Thiên nhãn là thứ công đức nhỏ
mà phàm phu cũng có chứ không tán thán Tuệ nhãn, Pháp nhãn,
Phật nhãn của các Bồ-tát?
Đáp:
Có ba loại Thiên: 1- Giả hiệu thiên, 2- Sanh
thiên, 3- Thanh tịnh thiên. Chuyển luân Thánh vương,
các đại vương khác v.v…; ấy là Giả hiệu thiên. Tứ
trời Tứ thiên vương, cho đến trời Hữu đĩnh; ấy là Sanh
thiên. Chư Phật và pháp thân Bồ-tát, Bích-chi Phật,
A-la-hán; ấy là Thanh tịnh thiên. Thanh tịnh thiên ấy,
tu được Thân nhãn, ấy gọi là Thiên nhãn thông. Thiên nhãn
thanh tịnh của pháp thân Bồ-tát, hết thảy ly dục, ngũ thông
hàng phàm phu không thể có được, Thanh-văn và Bích-chi Phật
cũng không có được, vì cớ sao? Vì tiểu A-la-hán, tiểu
dụng tâm thì thấy được một ngàn thế giới, đại dụng
tâm thì thấy được hai ngàn thế giới. Đại A-la-hán
tiểu dụng tâm thì thấy hai ngàn thế giới, đại dụng tâm
thì thấy ba ngàn Đại thiên thế giới, Bích-chi Phật cũng
vậy, ấy gọi là Thiên nhãn thông.
-
Thế nào là Thiên nhĩ thông? Với tai được sắc thanh
tịnh tứ đại của cõi Sắc tạo nên, nghe được hết thảy
tiếng, tiếng trời, tiếng người, tiếng của ba ác đạo.
Thế nào là được Thiên nhĩ thông do tu đắc? Vì thường
ức niệm các thứ tiếng, ấy gọi là Thiên nhĩ thông.
-
Thế nào là biết Túc mạng thông? Thường ức niệm việc
của mình trải qua ngày, tháng, năm đến lúc ở trong thai,
cho đến trong đời quá khứ, một đời, mười đời, trăm
đời, ngàn vạn ức đời, cho đến bậc đại A-la-hán, Bích-chi
Phật biết tám đại vạn kiếp, các đại Bồ-tát và Phật
biết vô lượng kiếp, ấy gọi là Thần thông biết Túc mạng.
-
Thế nào là Thần thông biết Tha tâm? Biết Tha tâm hoặc
có ô cấu, hoặc không ô cấu, khi tự quán tâm sanh, trụ,
diệt, thường ức niệm cho nên được Tha tâm thông.
Lại
nữa, quán tướng mừng, tướng giận, tướng sợ, tướng
hãi của người khác. Thấy tướng ấy rồi, vậy sau
biết tâm. Ấy là cửa ban đầu của Tha tâm trí.
Ấy
là lược nói ngũ Thông.
KINH:
Nói ra ắt tín thọ.
LUẬN:
Trời, Người, Rồng, A-tu-la v.v… và tất cả đại nhân, đều
tín thọ lời kia, ấy là quả báo của bất ỷ ngữ.
Các người bị quả báo ỷ ngữ, tuy có nói thực mà mọi
người đều không tín thọ, như kệ nói:
"Bị
đoạ trong ngạ quỷ,
Lửa
cháy từ miệng ra,
Bốn
hướng phát tiếng lớn,
Là
báo của lỗi miệng.
Tuy
có nhiều hiểu biết,
Thuyết
pháp giữa đại chúng,
Vì
nghiệp không thành tín,
Nên
không ai tín thọ.
Nếu
muốn rộng đa văn,
Được
mọi người tín thọ,
Cho
nên hãy chí thành,
Không
nên nói thêu dệt."
KINH:
Không còn biếng nhác.
LUẬN:
Biếng nhác phá hỏng tài lợi, phúc lợi của người tại
gia, phá hỏng cái vui sanh Thiên và vui Niết-bàn của người
xuất gia. Tại gia xuất gia thanh danh đều diệt.
Lỗi bốn giặc lớn không gì hơn biếng nhác, như kệ nói:
"Biếng
nhác mấy thiện tâm,
Sĩ
ám phá trí minh,
Diệu
nguyện đều bị diệt,
Nghiệp
lớn cũng đã mất".
Vì
vậy nên nói "Không còn biếng nhác"
KINH:
Đã bỏ lợi dưỡng và tiếng tăm.
LUẬN:
Sự lợi dưỡng ấy như giặc, phá hoại gốc rễ công đức.
Ví như trời mưa đá làm tổn hại ngũ cốc. Lợi dưỡng
tiếng tăm cũng như thế, phá hoại lúa công đức, không tăng
trưởng được. Như Phật nói ví dụ: Thí như sợi
giây bằng lông trói buộc người làm cho đứt da gãy xương,
người tham lợi dưỡng làm đứt mất gốc rễ công đức
cũng lại như thế, như kệ nói:
"Được
vào rừng Chiên-đàn,
Mà
chỉ nhặt lấy lá,
Đã
vào núi bảy báu,
Mà
lại lấy thủy tinh.
Có
người vào Phật pháp,
Không
cầu vui Niết-bàn,
Lại
cầu lợi cúng dường,
Hạng
ấy là tự dối.
Thế
nên đệ tử Phật,
Muốn
được vị cam lồ,
Hãy
vứt bỏ tạp độc,
Cần
cầu vui Niết-bàn.
Ví
như mưa đá dữ,
Làm
hư hại ngũ cốc,
Nếu
đắm lợi cúng dường,
Phá
tàm quý, đầu đà (Dhùta).
Đời
này mất thiện căn,
Đời
sau đọa địa ngục,
Như
Đề-bà-đạt-đa,
Vì
lợi dưỡng tự đọa".
Vì
thế nên nói "Đã bỏ lợi dưỡng và tiếng tăm".
KINH:
Thuyết pháp mà không mong cầu.
LUẬN:
Tâm đại từ thương xót, vì chúng thuyết pháp, không vì cơm
áo tiếng tăm, thế lực mà thuyết, mà vì đại từ bi, vì
tâm thanh tịnh, vì được Vô sanh pháp nhẫn, như kệ nói:
"Đa
văn, biện tuệ, nói năng hay,
Thuyết
pháp êm đẹp chuyển lòng người.
Tự
không như pháp, hạnh bất chánh,
Thí
như mây sấm mà không mưa.
Bác
học, đa văn có trí tuệ,
Ngọng
miệng vụng lời không khéo léo,
Không
thể hiển bày tạng Pháp bảo,
Ví
như không sấm mà mưa nhỏ.
Không
rộng học vấn, không trí tuệ,
Không
thuyết pháp được, không hành tốt,
Pháp
sư tệ ấy, không tàm quý,
Ví
như mây ít, không sấm mưa.
Đa
văn, quảng trí, nói năng hay,
Khéo
nói các pháp chuyển lòng người,
Hành
pháp, tâm chánh không sợ sệt,
Như
mây sấm lớn đổ mưa to
Đại
tướng của pháp cầm gương pháp,
Chiếu
sáng Phật pháp, kho trí tuệ,
Trì
tụng giảng rộng, rung linh pháp,
Như
thuyền giữa biển độ hết thảy.
Cũng
như Ong chúa nhóm các vị,
Thuyết
như lời Phật, theo ý Phật,
Giúp
Phật sáng pháp, độ chúng sanh,
Pháp
sư như thế thật khó gặp".
KINH:
Qua đến bờ thậm thâm Pháp nhẫn.
LUẬN:
Thế nào là Pháp thậm thâm? Mười hai nhân duyên, ấy
là Pháp thậm thâm. Như Phật bảo A-nan: "Pháp mười
hai nhân duyên ấy rất sâu, khó hiểu, khó biết".
Lại
nữa, lìa hẳn sáu mươi hai lưới tà kiến do nương đời
quá khứ, vị lai phát sanh, ấy là Pháp thậm thâm.
Như Phật bảo Tỳ-kheo: "Kẻ phàm phu vô văn, nếu
muốn tán thán Phật, điều họ tán thán rất ít, đó là hoặc
tán thán về giới thanh tịnh, hoặc tán thán sự xa lìa các
dục. Nếu tán thán được Pháp thậm thâm khó hiểu khó
biết ấy mới thật là tán thán Phật". Điều này
trong kinh Phạm Võng có nói rộng.
Lại
nữa, ba môn giải thoát, ấy gọi là Pháp thậm thâm.
Như trong Kinh Phật thuyết Kinh Bát-nhã Ba-la-mật, hàng chư
thiên tán thán rằng: "Thế Tôn! Pháp ấy thậm thâm!".
Phật nói: " Pháp thậm thâm chính Không là nghĩa ấy.
Vô tác, Vô tướng là nghĩa ấy".
Lại
nữa, hiểu rõ tướng hết thảy pháp là chân thật, không
thể phá, không thể động; ấy là Pháp thậm thâm.
Lại
nữa, trừ tâm tưởng trí lực bên trong, mà chỉ định tâm
trú ở trong thật tướng thanh tịnh của các pháp.
Cũng như khi khí nóng hưng thịnh, chẳng phải màu vàng mà
thấy màu vàng, đó là do tâm tưởng trí lực, đối với các
pháp thấy thay đổi, ấy là pháp nông cạn. Ví như người
có mắt thanh tịnh, khi không có khí nóng thì đúng như thực
thấy màu vàng là màu vàng. Cũng vậy, trừ tâm tưởng
trí lực ở bên trong, được tuệ nhãn thanh tịnh thấy thật
tướng của các pháp. Cũng như thủy tinh thật, để vào
nơi vật có màu vàng thì tùy theo đó mà thành màu vàng; màu
xanh, đỏ, trắng đều tùy theo mà biến đổi. Tâm cũng
như thế, hạng phàm phu do tâm tưởng trí lực bên trong mà
thấy các pháp với dị tướng. Quán thật tướng của
các pháp là phi không, phi bất không, bất hữu, phi bất hữu.
Trong pháp ấy thâm nhập không lay chuyển, không ngăn ngại;
ấy gọi là "Qua đến bờ thậm thâm pháp nhẫn". "Qua
đến" nghĩa là được thậm thâm pháp. Được đầy đủ,
không ngăn ngại, được qua bờ bên kia, ấy gọi là qua đến
bờ (độ).
KINH:
Được sức vô úy.
LUẬN:
Các Bồ-tát thành tựu Bốn lực vô sở úy.
Hỏi:
Như Bồ-tát việc phải làm chưa làm xong, chưa được Nhất
thiết trí, vì sao nói là "Được bốn vô sở úy"?
Đáp:
Vô sở úy có hai thứ: Bồ-tát vô sở úy và Phật vô sở
úy. Các Bồ-tát ấy tuy chưa được Phật vô sở úy nhưng
được Bồ-tát vô sở úy, cho nên gọi là "Được Vô sở
úy".
Hỏi:
Những gì là bốn Vô sở úy của Bồ-tát?
Đáp:
1- Do giữ gìn được tất cả pháp đã được nghe, do
được các Đà-la-ni, do thường ức niệm không quên, nên ở
trong chúng thuyết pháp mà không sợ sệt. 2- Do biết
nhân duyên ý dục giải thoát của hết thảy chúng sanh, lợi
căn độn căn, rồi tùy theo chỗ thích hợp mà thuyết pháp,
nên Bồ-tát ở giữa đại chúng thuyết mà không sợ sệt.
3- Không thấy có ai từ phương Đông, Nam, Tây, Bắc, bốn
góc, trên dưới đến nạn vấn làm cho ta không thể đúng
như pháp mà giải đáp; vì không thấy một chút ít tướng
như vậy, nên ở giữa đại chúng thuyết pháp mà không sợ
sệt. 4- Hết thảy chúng sanh lắng nghe lãnh
thọ hay vấn nạn, tùy ý đúng như pháp mà giải đáp, khéo
đoạn trừ mối nghi cho hết thảy chúng sanh, nên Bồ-tát ở
giữa đại chúng thuyết pháp mà không sợ sệt.
KINH:
Vượt qua các Ma sự.
LUẬN:
Ma có bốn thứ: 1- Phiền não ma, 2-
Ấm ma, 3- Tử ma, 4- Tha-hóa-tự-tại-thiên-tử
ma. Các Bồ-tát ấy do được Bồ-tát đạo nên phá
Phiền não ma. Do được pháp tánh thân nên phá Ấm ma.
Do được đạo, được pháp tánh thân nên phá Tử ma.
Do thường nhất tâm, do tâm không dính một nơi nào, do vào
bất động tam muội, nên phá Tha-hóa-tự-tại-thiên-tử ma;
vì thế nên nói: "Vượt qua các Ma sự".
Lại
nữa, trong phẩm Giác Ma của kinh Bát-nhã ấy, Phật tự nói
đến Ma nghiệp, Ma sự. Ma nghiệp, Ma sự ấy đều đã vượt
qua, nên gọi là "Đã vượt qua Ma sự".
Lại
nữa, trừ thật tướng của các pháp, tất cả pháp tàn dư
đều là Ma. Như các phiền não, kiết sử, dục, phược,
thủ, triền, ấm, giới, nhập, Ma vương, Ma dân, Ma nhân, những
điều như vậy đều gọi là Ma.
Hỏi:
Chỗ nào bói các kiết sử, dục, phược v.v… đều gọi là
Ma?
Đáp:
Trong kinh Tạp tạng, Phật nói kệ với Ma vương rằng:
"Dục
là đạo quân đầu của ngươi,
Ưu
sầu là đạo quân thứ hai,
Đói
khát là đạo quân thứ ba,
Ái
là đạo quân thứ tư.
Đạo
quân thứ năm là ham ngủ,
Sợ
hãi là đạo quân thứ sáu,
Nghi
là đạo quân thứ bảy,
Ngậm
độc là đạo quân thứ tám,
Đạo
quân thứ chín là lợi dưỡng
Và
đắm trước tiếng tăm hư vọng,
Đạo
quân thứ mười là tự cao,
Khinh
mạn với người khác.
Đám
quân của ngươi như vậy,
Mọi
người ở trong thế gian
Và
hết thảy hàng chư thiên,
Không
một ai phá nổi.
Ta
dùng mũi tên trí tuệ,
Lúc
tu định trí tuệ,
Dẹp
phá ma quân ngươi,
Như
bình đất chìm nước.
Nhất
tâm tu trí tuệ,
Để
cứu độ hết thảy,
Đệ
tử ta tinh tấn,
Thường
niệm tu trí tuệ.
Tùy
thuận hành đúng pháp,
Chắc
được đến Niết-bàn,
Dẫu
ngươi không muốn buông,
Ta
vẫn đến chỗ ngươi không đến.
Ma
vương nghe thế rồi,
Ưu
sầu mà bỏ đi.
Bộ
đảng Ma ái ấy,
Cũng
mất không hiện nữa.
Ấy
gọi là Ma kiết sử".
Hỏi:
Năm uẩn, Mười tám giới, Mười hai xứ, chỗ nào nói là
Ma?
Đáp:
Khi ở trong núi Mạc-câu-la, Phật dạy đệ tử La-đà:
"Sắc uẩn là Ma. Thọ, tưởng, hành, thức cũng là Ma".
Lại
nữa, nếu muốn làm thân có sắc trong vị lai, ấy là chỗ
động; nếu muốn làm thân không sắc ấy cũng là chỗ động;
nếu muốn làm thân có tưởng, không tưởng, phi hữu tưởng,
phi vô tưởng, ấy là tất cả chỗ động. Động là
bị Ma trói buộc, không động thời không bị trói buộc, từ
chỗ ác được giải thoát. Trong đây nói uẩn, giới,
nhập là Ma, còn Tự-tại-thiên-tử Ma, Ma dân, Ma nhân, tức
là Ma thời không cần phải nói.
Hỏi:
Sao gọi là Ma?
Đáp:
Đoạt mất tuệ mạng, phá hoại đạo pháp công đức thiện
căn; ấy gọi là Ma. Bọn người ngoại đạo cũng nói
rằng, đó là chúa dục, cũng là mũi tên họa, cũng gọi là
năm mũi tên (ngũ dục), phá hỏng các việc thiện. Trong
Phật pháp gọi là Ma-la. Nghiệp ấy, sự ấy, gọi là
Ma sự. Ma sự của những gì? Như trong phẩm Giác
Ma nói rõ.
Lại
nữa, nhân duyên của kiết sử làm cho loài người xoay chuyển
trong thế gian thọ khổ vui, cũng là nhân duyên của Ma vương
lực. Ma ấy là oán thù của chư Phật, là giặc của
Thánh nhân, phá hoại hết thảy sự nghiệp của những người
ngược dòng sanh tử, không còn thích Niết-bàn, ấy gọi là
Ma.
Ma
ấy có ba việc: 1- Nói phô, cười cợt, ca múa, nhìn bậy
v.v…, những việc như vậy đều từ tham ái sanh. 2- Trói
buộc, đánh đập, tra khảo, châm chích, cắt chặt v.v…, những
việc như vậy đều từ sân sanh. 3- Lấy lửa đốt
thân, chịu rét, nhổ tóc, chịu đói, nhảy vào lửa, nhảy
vào vực thẳm, nhảy từ chót cao v.v…., những việc như vậy
đều từ ngu si sanh.
Lại
những việc tội lỗi to lớn, bất tịnh, nhiễm trước thế
gian, đều là Ma sự. Ganh ghét điều lợi ích, không cần
biết Niết-bàn và Niết-bàn đạo cũng là Ma sự. Chìm
trong biển khổ lớn, không tự giác tri, vô lượng những điều
như thế đều là Ma sự. Đã vứt bỏ các thứ đó, ấy
là "vượt qua các Ma sự".
KINH:
Hết thảy nghiệp chướng đều được giải thoát.
LUẬN:
Hết thảy ác nghiệp được giải thoát, ấy gọi là nghiệp
chướng được giải thoát.
Hỏi:
Có ba thứ chướng, là phiền não chướng, nghiệp chướng,
báo chướng; tại sao bỏ qua hai chướng mà chỉ nói đến
nghiệp chướng?
Đáp:
Trong ba chướng, nghiệp lực lớn hơn cả. Chứa nhóm
các nghiệp cho đến trong trăm ngàn vạn kiếp không mất, không
cháy, không hoại, khi cùng hiệp với quả báo mà cũng không
mất. Các nghiệp ấy tồn tại lâu dài cho đến khi hòa
hợp cùng quả báo. Như hạt giống lúa cổ ở dưới
đất khi gặp thời tiết thuận lợi thì mọc, không mất không
hoại. Chư Phật là bậc Nhất thiết trí, tôn trọng bậc
nhất như núi chúa Tu-di, còn không thể chuyển đổi các nghiệp,
huống là người phàm như kệ nói:
"Xe
sanh tử chở người,
Các
phiền não kết nghiệp,
Có
sức lớn tự tại xoay chuyển,
Không
ai cấm ngăn được.
Tự
tạo nghiệp đời trước,
Chuyển
làm đủ các hình.
Nghiệp
lực là rất lớn,
Thế
gian không gì sánh,
Nghiệp
đời trước tự tại,
Dắt
người chịu quả báo,
Do
nghiệp lực luân chuyển,
Quay
trong biển sanh tử.
Nước
biển cả khô sạch,
Đất
núi Tu-di tiêu,
Nghiệp
nhân duyên đời trước,
Không
cháy cũng không mất.
Các
nghiệp tích tập từ lâu
Chạy
theo kẻ tạo nghiệp,
Cũng
ví như chủ nợ,
Chạy
đuổi không rời con nợ.
Quả
báo của các nghiệp,
Không
ai lay chuyển được,
Cũng
không chỗ trốn tránh,
Cũng
không thể van xin (mà khỏi).
Nghiệp
theo đuổi không rời,
Chúng
sanh trong ba cõi,
Như
kha-lê-la-bạt,
Nghiệp
ấy, Phật đã nói.
Như
gió qua chỗ trống,
Như
nước không chảy ngược,
Hư
không không thọ hại,
Không
nghiệp cũng như thế.
Lực
các nghiệp vô lượng,
Không
theo kẻ không tạo,
Khi
quả báo đến thời,
Không
mất cũng không tiêu.
Từ
đất bay lên trời,
Từ
trời vào núi tuyết,
Từ
núi Tuyết vào biển,
Không
chỗ nào tránh được.
Thường
mãi đuổi theo ta,
Không
lúc nào rời nhau,
Cho
đến lúc thọ báo,
Như
sao hiện theo trăng"
Vì
vậy nên nói "Hết thảy các nghiệp chướng đều được giải
thoát".
KINH:
Khéo nói Pháp nhân duyên.
LUẬN:
Pháp Mười hai nhân duyên sanh với đủ thứ pháp môn mà khéo
léo giảng thuyết phiền não, nghiệp và sự (khổ). Thứ
lớp triển chuyển tương tục mà sanh; ấy gọi là Mười hai
nhân duyên. Trong ấy, Vô minh, Ái, Thủ ba thứ, gọi là
Phiền não; Hành và Hữu hai thứ, gọi là Nghiệp; bảy thứ
còn lại gọi là Sự. Trong Mười hai nhân duyên ấy, hai
thứ đầu thuộc đời quá khứ, hai thứ cuối cùng thuộc
đời vị lai, tám thứ giữa thuộc đời hiện tại. Ấy
là lược nói ba việc: Phiền não, nghiệp, khổ. Ba sự
ấy triển chuyển làm nhân duyên cho nhau, ấy là phiền não
làm nhân duyên cho nghiệp, nghiệp làm nhân duyên cho khổ, khổ
lại làm nhân duyên cho khổ. Khổ làm nhân duyên cho phiền
não, phiền não làm nhân duyên cho nghiệp, nghiệp làm nhân
duyên cho khổ, khổ lại làm nhân duyên cho khổ, ấy gọi là
triển chuyển làm nhân duyên cho nhau.
Tất
cả phiền não thuộc đời quá khứ gọi là Vô minh. Từ
Vô minh sanh nghiệp, có thể tạo thành quả cho một thế giới
nên gọi là Hành. Do từ Hành sanh tâm cấu nhiễm, nhân
của thân đầu tiên, như Trâu nghé biết mẹ. Vì tự
tướng thức gọi là Thức. Thức ấy cùng sanh với bốn
uẩn vô sắc và sắc của nó trú ở; ấy gọi là Danh sắc.
Từ trong Danh sắc sanh ra Sáu trần (căn) là mắt, tai v.v…;
ấy gọi là Lục nhập. Căn, trần, thức hòa nhập gọi
là Xúc. Từ Xúc sanh Thọ. Trong Thọ có tâm đắm trước
gọi là Khát ái. Do nhân duyên Khát ái nên tìm cầu, ấy
gọi là Thủ. Từ Thủ nên có nghiệp làm nhân cho đời
sau,
ấy gọi là Hữu. Từ hữu trở lại chịu ngũ ấm (uẩn)
trong đời sau, ấy gọi là Sanh. Từ sanh cho đến khi ngũ
chúng (uẩn) chín mùi rồi hoại diệt, ấy gọi là Lão tử.
Lão tử sanh buồn thương khóc lóc, đủ các thứ sầu não
và các khổ tập họp.
Nếu
nhất tâm quán thật tướng thanh tịnh của các pháp, thời
Vô minh hết, Vô minh hết nên Hành hết, cho đến các thứ
khổ tập họp đều hết. Đối với tướng của Mười
hai nhân duyên ấy, năng dùng phương tiện, không dính mắc
tà kiến mà vì người diễn nói, ấy gọi là khéo léo (thiện
xảo).
Lại
nữa, trong sự quán Mười hai nhân duyên ấy, đoạn hết pháp
ái, tâm không dính mắc, biết rõ thật tướng; ấy gọi là
khéo léo. Như phẩm Bất Khả Tận (Akạyaparirarta) trong
Bát-nhã Ba-la-mật, Phật nói với Tu-bồ-đề: "Si" như hư không
không thể cùng tận; "hành" như hư không không thể cùng tận;
cho đến "các khổ hòa tập" như hư không không thể cùng
tận. Bồ-tát nên hiểu như vậy. Hiểu như vậy
là xả bỏ nguồn mê ngu si, mà được vô sở nhập. Quán
Mười hai nhân duyên khởi ấy, thời là ngồi ở đạo tràng,
chứng được Tát-bà-nhã (Sarvajnn tức Nhất thiết trí).
KINH:
Từ A-tăng-kỳ kiếp trở lại phát thệ nguyện lớn.
LUẬN:
Nghĩa chữ A-tăng-kỳ đã nói rõ trong chương giải thích Bồ-tát
nghĩa. Nghĩa chữ Kiếp, Phật thí dụ rằng: "Như núi
đá bốn mươi dặm, có một người sống rất lâu, cứ một
trăm năm cầm một chiếc áo mỏng mịn đến phất một lần
cho đến khi núi đá hết mà một kiếp vẫn chưa hết.
Lại, trong thành lớn bốn mươi dặm, chứa đầy hạt cải,
không san bằng được. Có một người sống rất lâu,
cứ một trăm năm đến lấy một hạt cải, hạt cải
hết mà một kiếp vẫn chưa hết.
Bồ-tát
trải qua vô số kiếp như vậy, phát chánh đại nguyện, độ
thoát chúng sanh. Nguyện là lời thề ước của đại
tâm, phải độ hết thảy chúng sanh, dứt hết các kiết sử,
thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; ấy gọi là Nguyện.
KINH:
Nhan sắc hòa vui, thường hỏi han trước, lời nói không thô.
LUẬN:
Vì đã nhổ gốc sân nhuế, trừ bỏ tật đố, thường tu
đại từ đại bi, đại hỷ đại xả, đã dứt bốn thứ
tà ngữ, nên được nhan sắc hòa vui, như kệ nói:
"Nếu
gặp người xin đạo,
Lấy
bốn điều tiếp đãi:
Vừa
thấy, mắt nhìn ưa,
Nghinh
đón, kính hỏi thăm.
Cúng
dường sàn tọa tốt,
Thí
đủ điều cần muốn.
Tâm
bố thí như vậy,
Phật
đạo như trên tay.
Nếu
trừ được bốn tà,
Miệng
lời độc nói dối,
Hai
lưỡi, dữ, thêu dệt,
Được
quả báo lớn đẹp.
Kẻ
nhu hòa cầu đạo,
Muốn
độ các chúng sanh,
Trừ
bốn khẩu nghiệp tà,
Ví
như Ngựa có cương".
KINH:
Ở giữa đại chúng không hề sợ hãi.
LUẬN:
Vì đức lớn, công đức trí tuệ chắc thật, được Tối
thượng biện Đà-la-ni, nên ở giữa đại chúng không có sợ
hãi, như kệ nói:
"Trong
tâm trí đức mỏng,
Ngoài
khéo dùng lời đẹp,
Ví
như tre bộng ruột,
Chỉ
có tướng bề ngoài.
Trong
tâm trí đức dày,
Ngoài
khéo nói lời Pháp,
Ví
như diệu Kim-cương,
Trong
ngoài đầy đủ sức".
Lại
nữa, vì thành tựu pháp vô úy, đoan chánh thuộc quý tộc,
có sức lớn, trì giới, thiền định, trí tuệ, nói năng luận
nghị đều thành tựu, nên không sợ hãi; vì vậy nên giữa
đại chúng không có sợ hãi, như kệ nói:
"Thiểu
đức, không trí tuệ,
Không
nên ngồi tòa cao.
Như
Sói thấy Sư tử,
Núp
hang không dám ra.
Đại
trí không sợ gì,
Đáng
ngồi tòa Sư tử.
Ví
như Sư tử rống,
Muôn
thú đều sợ hãi".
Nhóm
đủ vô lượng vô biên trí tuệ phước đức lực nên không
sợ hãi, như kệ nói:
"Nếu
người dứt các ác,
Cho
đến không tội nhỏ,
Bậc
đại đức như thế,
Không
nguyện gì chẳng đủ.
Bậc
Đại trí tuệ ấy,
Trong
thế gian không não,
Cho
nên người như vậy,
Sanh
tử tức Niết-bàn".
Lại
nữa, vì là hàng độc nhất được Vô sở úy của Bồ-tát,
như trong kinh Tỳ-na-bà Ma vương nói: "Bồ-tát độc nhất
được bốn vô sở úy", như trên đã nói.
KINH:
Vô số ức kiếp thuyết pháp khéo léo vượt ra.
LUẬN:
Tự thân khéo léo tu các thiện căn không phóng dật v.v…,
ấy là các Bồ-tát chẳng phải một đời, hai đời, ba đời
cho đến vô lượng A-tăng-kỳ kiếp tập họp công đức trí
tuệ, như kệ nói:
"Vì
chúng sanh nên phát đại tâm,
Nếu
có người bất kính kiêu mạn,
Tội
ấy rất lớn khôngthể nói,
Huống
gì còn gia thêm điều ác".
Lại
nữa, Bồ-tát ấy trong vô số vô lượng kiếp tu thân, tu giới,
tu tâm, tu tuệ, ở trong sanh, diệt, trói, mở tự biết rõ
thật tướng các pháp. Có ba thứ hiểu: Hiểu do
nghe, hiểu do nghĩa, hiểu do đắc đạo. Trong nhiều cách
giảng thuyết pháp môn, không chỗ nào ngăn ngại, đều được
trí tuệ Ba-la-mật về phương tiện thuyết pháp. Lời
các Bồ-tát ấy thuyết đều như Thánh nhân nói đều nên
tín thọ, như kệ nói:
"Có
tuệ, không đa văn,
Thì
không biết thật tướng,
Như
trong chỗ tối tăm,
Có
mắt, không thấy gì.
Đa
văn, không trí tuệ,
Cũng
không biết thật tướng,
Như
trong chỗ sáng suốt,
Có
đèn mà không mắt.
Đa
văn, trí tuệ bén,
Lời
người ấy đáng tin,
Không
đa văn, không trí.
Là
Trâu trong lốt Người".
Hỏi:
Nên nói vô số ức kiếp khéo thuyết pháp, sao lại còn nói
vượt ra?
Đáp:
Ở giữa người vô trí và đệ tử, thuyết pháp dễ, nếu
đối với người đa văn lợi trí giỏi luận nghị thì thuyết
pháp khó. Khi đó, nếu là Pháp sư tiểu trí thì phải
rút lui, nếu là bậc Đại học đa văn, thì ở trong vấn nạn
sẽ mạnh dạn vui vẻ, ở giữa hết thảy chúng có đại oai
đức. Như trong kinh Thiên Hội (Deva-samàjasutra) thuyết
kệ rằng:
"Mặt,
mắt, răng sáng ngời,
Chiếu
khắp cả đại hội,
Cướp
ánh sáng chư thiên,
Tất
cả đều không hiện".
Vì
vậy nên gọi là "Vô số ức kiếp trong sự khéo thuyết pháp
có thể vượt ra được".
(Hết
cuốn 5 theo bản Hán)