Cuốn
6
Chương
10
GIẢI
THÍCH: "MƯỜI DỤ"
KINH:
Hiểu rõ các Pháp như huyễn, như sóng nắng, như trăng dưới
nước, như hư không, như thành Càn-thát-bà, như mộng, như
ảnh, như tiếng vang, như bóng trong gương, như hóa.
LUẬN:
Ấy là mười thí dụ để giải thích pháp Không.
1-
Như huyễn. Hỏi: Nếu tất cả pháp Không ví như huyễn
thuật, vì sao các pháp lại có thể thấy, có thể nghe, có
thể ngửi, có thể nếm, có thể xúc, có thể biết?
Nếu thật không có thì không có thể thấy cho đến có thể
biết? Lại nữa, nếu không mà vọng kiến là có, thế
vì sao không thấy tiếng, nghe sắc? Nếu hết thẩy đều
không có gì, thế vì sao có cái thấy được, có cái không
thấy được? Như một ngón tay, móng thứ nhất không,
móng thứ hai cũng không, thế tại sao không thấy móng thứ
hai mà chỉ thấy móng thứ nhất? Vậy cho biết móng thứ
nhất thật có nên có thể thấy, móng thứ hai thật không
nên không thể thấy?
Đáp:
Các pháp tướng tuy không, cũng có phân biệt có thể thấy
và không thể thấy. Ví như Voi, Ngựa huyễn hóa và các
thứ khác tuy biết nó không thật, nhưng sắc có thể thấy,
tiếng có thể nghe, đối với sáu căn không tạp loạn.
Các pháp cũng như vậy, tuy không mà có thể thấy, có thể
nghe, không tạp loạn. Như kinh Đức Nữ (Therisutra) thuyết:
"Đức Nữ bạch Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn, như
Vô minh có ở bên trong chăng?"
Phật
nói "Không phải".
-
Bạch, có ở bên ngoài chăng?
-
Không.
-
Bạch, có ở bên trong bên ngoài chăng?
-
Không.
-
Bạch Thế Tôn, Vô minh ấy từ đời trước mà đến chăng?
Phật
nói "Không".
-
Bạch, từ đời này đến đời sau chăng?
-
Không.
-
Bạch, Vô minh ấy có sanh có diệt chăng?
-
Không.
-
Bạch Thế Tôn, có một pháp nhất định có thật tánh gọi
là Vô minh chăng?
-
Không.
Bấy
giờ Đức Nữ lại bạch Phật: "Bạch đức Thế Tôn,
nếu Vô minh không ở trong không ở ngoài; cũng không ở trong
ở ngoài; không từ đời trước đến đời nay, từ đời
nay đến đời sau; cũng không có tánh chơn thật; vậy sao nói
từ Vô minh làm duyên mà có Hành cho đến các khổ tập?
Bạch Thế Tôn, ví như có cây, nếu không có gốc làm sao sanh
cọng, đốt, cành, lá, hoa, quả được?"
Phật
nói: "Các pháp tướng tuy không, nhưng vì kẻ phàm phu
vô văn vô trí đối với các pháp sanh đủ thứ phiền não,
do phiền não làm nhân duyên tạo nghiệp thân khẩu ý, do nghiệp
làm nhân tác thành thân đời sau, do thân làm nhân duyên mà
thọ khổ thọ vui. Ở trong đó, không có phiền não tạo
tác thật sự, cũng không có thân khẩu ý nghiệp, cũng không
có kẻ thọ khổ thọ vui, ví như huyễn sư huyễn làm ra các
vật, ý ngươi nghĩ sao? Các vật huyễn ấy có ở bên
trong chăng?"
-
Bạch Thế Tôn, không phải.
-
Có ở bên ngoài chăng?
-
Bạch Thế Tôn, không.
-
Có ở bên trong bên ngoài chăng?
-
Bạch, không.
-
Từ đời trước đến đời nay, từ đời nay đến đời sau
chăng?
-
Bạch, không.
-
Các vật huyễn có sanh có diệt chăng?
-
Bạch, không.
-
Thật có một pháp gọi là vật huyễn chăng?
-
Bạch, không.
Phật
nói: "Ngươi có thấy có nghe kỹ nhạc do huyễn thuật
làm ra chăng?"
-
Bạch, con cũng có nghe có thấy.
Phật
hỏi Đức Nữ: "Nếu huyễn thuật không, dối trá, không
thật; làm sao từ huyễn thuật làm ra kỹ nhạc?"
Đức
Nữ bạch Phật: "Bạch Thế Tôn, huyễn tướng ấy là
như vậy, tuy vốn không có căn bản, mà vẫn có thể nghe,
thấy". Phật nói: "Vô minh cũng như vậy, tuy không
có ở bên trong, không ở bên ngoài, không có ở bên trong bên
ngoài, không từ đời trước đến đời nay, từ đời nay
đến đời sau, không có thật tánh, không có sanh diệt, nhưng
Vô minh làm nhân duyên mà có các Hành sanh, cho đến các khổ
tập hợp. Như khi huyễn dứt thì vật huyễn cũng dứt.
Vô minh cũng vậy, Vô minh hết thì Hành cũng hết, cho đến
các Khổ và Tập cũng hết".
Lại
nữa, thí dụ về huyễn là chỉ cho chúng sanh hay rằng hết
thảy pháp Hữu vi là trống không không bền chắc.
Như nói: các Hành như huyễn, dối gạt trẻ con, hệ thuộc
vào nhân duyên, không tự tại, không trụ lâu. Thế cho
nên nói các Bồ-tát biết các pháp như huyễn.
1-
Như ráng nắng. Ráng nắng là khi mặt trời chiếu vào bụi
trần do gió thổi động, thấy như Ngựa chạy giữa đồng
hoang, người vô trí trông thấy bảo đó là nước, tướng
nam tướng nữ cũng vậy. Ánh mặt trời của kiết
sử phiền não chiếu vào bụi trần các Hành do gió tà ức
niệm thổi lên, xoay chuyển trong đồng hoang sanh tử.
Người không có trí tuệ cho đó là một tướng, là nam, là
nữ. Thế gọi là như ráng nắng.
Lại
nữa, nếu ở xa trông thấy ráng nắng tưởng là nước, đến
gần không có tướng nước. Người vô trí cũng như thế.
Nếu xa rời Thánh pháp, không biết lý Vô ngã, không biết
các pháp không, thời với pháp ấm, giới, nhập tánh không,
sanh ra tướng người, tướng nam, tướng nữ. Nếu gần
gũi Thánh pháp thời biết thật tướng các pháp, bấy giờ
các thứ vọng tưởng hư cuống trừ sạch. Thế nên nói
các Bồ-tát biết các pháp như ráng nắng.
2-
Như trăng dưới nước: Thí như trăng thật ở giữa hư
không mà ảnh hiện dưới nước. Trăng thật pháp
tướng ở giữa hư không của như pháp tánh, thật tế, mà
trong nước tâm của người phàm lại hiện ra tướng ngã,
ngã sở. Thế nên gọi là như trăng dưới nước.
Lại
nữa, như trẻ con thấy trăng dưới nước, vui mừng muốn
nắm lấy, người lớn thấy vậy thì cười. Người vô
trí cũng như thế, do thân kiến mà thấy có tự ngã, do không
có thật trí mà thấy đủ thứ pháp, thấy rồi hoan hỷ muốn
nắm lấy các tướng: Tướng nam, tướng nữ v.v…
Các Thánh nhân đắc đạo thì cười, như kệ nói:
"Như
trăng dưới nước, nước trong nắng.
Trong
mộng được tiền, chết cầu sống.
Nếu
ai thật muốn được như vậy,
Là
kẻ ngu si bị Thánh cười".
Lại
nữa, như trong nước đứng lặng trông thấy bóng trăng, khuấy
nước lên thời không thấy nữa. Trong nước tâm vô minh,
đứng lặng thấy có bóng tự ngã và các kiết sử kiêu mạn.
Dùng gậy trí tuệ chơn thật khuấy nước tâm lên thời không
còn thấy bóng các kiết sử, tự ngã nữa. Vì thế nên
nói các Bồ-tát biết các pháp như trăng dưới nước.
3-
Như hư không: Chỉ có danh mà không có thật pháp, hư
không chẳng phải là pháp có thể thấy, nhìn ở xa, do nhãn
quan mà thấy thành màu xanh bạc. Các pháp cũng như thế,
rỗng không, không có gì, do xa rời thật trí tuệ vô lậu,
bỏ thật tướng nên thấy bỉ, ngã, nam, nữ, ốc xá, thành
quách, các thứ tạp vật, tâm đắm vào, như trẻ con ngửa
xem trời xanh, cho là có sắc thật, có người bay lên thật
xa thì hoàn toàn không thấy gì, chỉ vì nhìn xa, bảo là sắc
xanh. Các pháp cũng như thế, vì thế nên nói là như hư
không.
Lại
nữa, như hư không tánh thường thanh tịnh nhưng vì khí u ám
mà cho là bất tịnh. Các pháp cũng như thế, tánh thường
thanh tịnh, vì dâm dục, sân nhuế che ám mà cho là bất tịnh,
như kệ nói:
"Như
trời mùa hạ, sấm chớp mưa,
Mây
mờ che khuất không trong sáng.
Phàm
phu vô trí cũng như thế,
Các
thứ phiền não thường che tâm.
Như
mặt trời mọc về mùa đông,
Thường
bị hôn khí, tuyết che ám.
Tuy
được Sơ quả và Nhị quả.
Còn
bị dục nhiễm làm che lấp.
Hoặc
như mặt trời mọc mùa xuân,
Thường
bị bóng mây làm u ám,
Tuy
lìa dục nhiễm được Tam quả,
Si,
mạn dư tàn còn che tâm.
Hoặc
như mặt trời thu không mây,
Cũng
như biển cả nước thanh tịnh,
Việc
làm đã xong tâm vô lậu,
La-hán
được thanh tịnh như vậy".
Lại
nữa, hư không không có đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối;
các pháp cũng như vậy.
Lại
nữa, như trong kinh Đại thừa, Phật nói với Tu-bồ-đề:
Hư không không đời trước, cũng không đời giữa, cũng không
đời sau; các pháp cũng như vậy. Kinh kia, được nói
rộng trong đó. Thế nên nói các pháp như hư không.
Hỏi:
Hư không thật có pháp, vì sao? Vì nếu hư không không
thật pháp thì các động tác đưa lên, hạ xuống, đến, đi,
co duỗi, ra, vào v.v… cũng không có, vì không có chỗ để
chuyển động?
Đáp:
Nếu pháp hư không thật có, thời hư không phải có chỗ trú,
vì sao? Vì không có chỗ trú thì không có pháp. Nếu
hư không trú trong lỗ trống, ấy là hư không trú trong hư
không, vì vậy không phải trú trong lỗ trống. Nếu ở
trong vật đặc, mà vật đặc chẳng phải làhư không, thì
không thể trú được, vì nó không dung nạp.
Lại
nữa, ông nói chỗ trú là hư không, như trong vách đá đặc
không có chỗ trú. Nếu không có chỗ trú thì không có
hư không. Vì hư không không có chỗ trú, cho nên không
có hư không. Vì vô tướng nên không có hư không.
Các pháp mỗi mỗi đều có tướng, vì tướng có nên biết
có pháp; như tướng cứng của đất, tướng ướt của nước,
tướng nóng của lửa, tướng động của gió, tướng biết
của thức, tướng hiểu của tuệ, tướng sanh tử của thế
gian, tướng vĩnh diệt của Niết-bàn; còn hư không không có
tướng cho nên không.
Hỏi:
Hư không có tướng, ông không biết nên nói là không.
Chỗ không có sắc tướng ấy là tướng của hư không.
Đáp:
Không phải! Không sắc tướng, ấy gọi là phá trừ sắc,
không còn pháp gì khác, như đèn tắt; vì thế nên không có
tướng hư không.
Lại
nữa, pháp hư không ấy không có, vì sao? Vì ông
nhân nơi sắc mà nói chỗ không sắc tướng là tướng hư
không. Nếu vậy khi sắc tướng chưa sanh thời không có
tướng hư không.
Lại
nữa, ông cho sắc là pháp vô thường, hư không là pháp thường,
vậy khi sắc tướng chưa sanh phải trước có pháp hư không,
vì là thường có. Nếu sắc tướng chưa có, thời không
có chỗ vô sắc; nếu không có chỗ vô sắc, thời không có
tướng hư không. Nếu không có tướng thời không pháp,
vì vậy nên hư không chỉ có danh mà không có thật. Các
pháp cũng như thế, chỉ có giả danh mà không thật.
Vì thế nên nói các Bồ-tát biết các pháp như hư không.
5-
Như tiếng vang: Ở trong núi sâu, hang hẹp, khe cùng, mà
có tiếng nói, tiếng đánh đập, từ tiếng đó mà có tiếng
dội lại, gọi là tiếng vang. Kẻ vô trí cho là có tiếng
người nói, người trí thì suy nghĩ tiếng đó không phải
là tiếng người phát ra mà chỉ do tiếng xúc chạm nên có
vang dội lại. Tiếng vang không thật mà có thể lừa
dối lỗ tai. Như người khi sắp muốn nói thì trong
miệng có gió tên là Ưu-đà-na, nó trở vào đến rún, xúc
chạm rún có tiếng vang phát ra, khi tiếng vang phát ra xúc chạm
bảy chỗ rồi lui lại, ấy là ngôn ngữ, như kệ nói:
"Gió
tên Ưu-đà-na
Chạm
rún rồi đi lên,
Gió
ấy chạm bảy chỗ:
Gáy,
lợi răng, răng môi.
Lưỡi,
cổ họng và ngực,
Trong
ấy phát lời nói,
Người
ngu không hiểu thế,
Mê
đắm khởi sân si.
Người
bậc trung có trí,
Không
sân cũng không đắm,
Cũng
lại không ngu si,
Chỉ
tùy các pháp tướng.
Cong,
thẳng và co duỗi
Đi,
lại hiện ngữ ngôn,
Đều
không có tác giả,
Việc
ấy là huyễn ư?
Hay
là người gỗ máy,
Hay
là việc trong mộng,
Hay
bị bệnh nóng buồn,
Có
hay là không có?
Việc
ấy ai biết được?
Người
xương ấy gân buộc,
Mà
phát ra tiếng nói,
Như
vàng chảy xuống nước".
Vì
thế nên nói các Bồ-tát biết các pháp như tiếng vang.
5-
Như thành Càn-thát-bà: Khi mặt trời mới mọc,
thấy các cửa thành, lầu gác, cung điện có người đi ra
đi vào, mặt trời càng lên cao nó càng mất. Thành ấy
chỉ có thể mắt trông thấy mà không có thật, ấy gọi là
thành Càn-thát-bà. Có người từ trước chưa thấy thành
Càn-thát-bà, sáng sớm nhìn hướng Đông thấy nó, ý cho là
thật vui, chạy mau đến đó, càng gần càng mất, mặt trời
càng lên cao nó càng mất . Lúc rất đói khát sầu muộn,
thấy khí nóng bốc lên chạy nhảy như ngựa hoang, cho đó
là nước, chạy mau đến đó càng gần càng mất, mệt nhọc
cùng cực, khi đi đến trong hang hẹp núi cùng, cả kêu than
khóc, nghe có tiếng dội lại cho là có cư dân, tìm kiếm hết
sức mệt mà không thấy, suy nghĩ rồi tự ngộ, thời tâm
mong ước thèm khát liền lặng dứt. Người vô trí cũng
như thế, ở trong ấm, giới, nhập, không thật mà thấy tự
ngã và các pháp, tâm đắm trước tham dâm, sân hận, chạy
cuồng khắp nơi cầu vui tự mãn, điên đảo dối trá, cùng
cực áo não. Nếu lấy trí tuệ biết không thật ngã
không thật pháp, bấy giờ điên đảo mơ ước chấm dứt.
Lại
nữa, thành Càn-thát-bà chẳng phải thành, tâm người tưởng
là thành. Phàm phu cũng như vậy, chẳng phải thân tưởng
là thân, chẳng phải tâm tưởng là tâm.
Hỏi:
Một việc cũng đủ biết, sao dùng nhiều ví dụ làm gì?
Đáp:
Trước tôi đã đáp, pháp Ma-ha-diễn như nước trong biển
cả, nhiếp hết tất cả các pháp. Ma-ha-diễn có nhiều
nhân duyên nên nêu nhiều ví dụ, không lỗi gì.
Lại
nữa, Bồ-tát vì lợi trí sâu xa, đủ các pháp môn, các nhân
duyên, các thí dụ, hoại diệt các pháp, vì người mà giả
thuyết nên cần nhiều thí dụ.
Lại
nữa, trong hết thảy pháp Thanh-văn, không có thí dụ thành
Càn-thát-bà, chỉ có các thí dụ về vô thường như:
Sắc như bọt nước, thọ như bóng nước, tưởng như ngựa
đồng, hành như cây chuổi, thức như huyễn và thí dụ về
Không trong kinh HuyềnVõng; vì thí dụ về thành Càn-thát-bà
có khác nên nói trong đây.
Hỏi:
Trong pháp Thanh-văn lấy thành thí dụ thân, sao trong đây nói
thí dụ thành Càn-thát-bà?
Đáp:
Trong pháp Thanh-văn, thành là để thí dụ cho các duyên là
thật có, chỉ thành là giả danh; còn thành Càn-thát-bà, chính
các duyên cũng không có, như vòng lửa quay chỉ mê hoặc mắt
người. Trong pháp Thanh-văn, vì để phá vô ngã nên lấy
thành thí dụ. Còn trong đây Bồ-tát lợi căn thâm nhập
trong các pháp Không, nên lấy thành Càn-thát-bà để thí dụ;
vì vậy nên nói như thành Càn-thát-bà.
7-
Như mộng: Như trong mộng không có sự thật mà thấy
có thật, khi thức dậy mới biết không, trở lại tự cười
mình. Người cũng như vậy, ở trong sức ngủ của các
kiết sử, thật không có mà vẫn ái trước, khi được đạo
giác ngộ, mới biết là không thật, cũng lại tự cười mình;
vì vậy nên nói như mộng.
Lại
nữa, mộng là do sức ngủ, không có pháp mà thấy là có.
Người cũng như vậy, do sức ngủ của vô minh, các thứ không
có mà thấy có, nào là ngã, ngã sở, nam nữ v.v…
Lại
nữa, trong mộng không có việc vui mừng mà mừng, không có
việc giận mà giận, không có việc sợ mà sợ.
Chúng sanh trong ba cõi cũng như vậy, vì sức ngủ của vô minh
nên không đáng giận mà giận, không đáng mừng mà mừng,
không đáng sợ mà sợ.
Lại
nữa, mộng có năm thứ: Trong thân không điều hòa, hoặc
nhiệt khí nhiều, thời phần nhiều mộng thấy lửa, thấy
sắc vàng, đỏ; hoặc lãnh khí nhiều, thời phần nhiều mộng
thấy nước, thấy sắc trắng; hoặc phong khí nhiều, thời
phần nhiều mộng thấy bay, thấy sắc đen; hoặc thường nhớ
tưởng suy nghĩ những việc từng nghe thấy, thời hay mộng
thấy việc ấy; hoặc do thiên Đế-thích muốn làm cho mộng
để được khiến thấy việc vị lai. Năm thứ mộng
ấy đều không có thật mà vọng thấy có. Người cũng
như vậy, chúng sanh trong năm đường, vì nhân duyên của lực
thân kiến nên thấy bốn thứ ngã: Sắc ấm là ngã, sắc
là ngã sở, sắc ở trong ngã, ngã ở trong sắc. Giống
như sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Bốn
nhân năm thành hai mươi cách chấp ngã. Khi đắc đạo
thật tri tuệ giác ngộ rồi, thời biết không thật.
Hỏi:
Không nên nói mộng không có thật, vì sao? Thức tâm có
đủ nhân duyên mới sanh, tâm thức trong mộng có các thứ
duyên, nếu không có duyên ấy thì làm sao sanh thức?
Đáp:
Không phải! Không thể thấy mà thấy; như trong mộng
thấy người trên đầu có sừng, hoặc mộng thấy thân mình
bay giữa hư không, nhưng người thật không có sừng, cũng
không bay; thế nên không thật.
Hỏi:
Thật có đầu người, ở nơi khác cũng thật có sừng, vì
tâm mê lầm mà thấy trên đầu người có sừng. Thật
có hư không, cũng thật có vật bay, vì tâm mê lầm mà tự
thấy thân mình bay, chứ chẳng phải không thật?
Đáp:
Tuy thật có người có đầu, tuy thật có sừng, nhưng thấy
người trên đầu có mọc sừng, đó là vọng kiến.
Hỏi:
Thế giới rộng lớn do nhân duyên đời trước mà có nhiều
loại bất đồng, hoặc có thế giới khác, có người đầu
mọc sừng, hoặc một tay một chân, có người cao một thước,
có người cao chín thước, vậy người có sừng, có gì là
kỳ quái?
Đáp:
Nếu ở thế giới khác mà có sừng, có thể vậy, nhưng mộng
thấy những người được biết ở thế giới này có sừng,
thời không thể được.
Lại
nữa, nếu có người mộng thấy ranh giới của hư không, của
phương hướng, của thời gian; các việc ấy làm sao có thật?
Vì chỗ nào lại không có hư không, không có phương hướng,
không có thời gian? Vì vậy trong mộng không mà thấy
có.
Trên
kia ông vừa nói không có duyên làm sao sanh thức? Tuy không
có duyên của năm trần, nhưng do niệm lực tư duy chuyển thành
pháp duyên sanh. Hoặc người nghe nói có hai đầu, do lời
nói đó mà sanh tưởng tượng. Trong mộng không mà thấy
có cũng như thế. Các pháp cũng vậy, các pháp tuy không
mà có thể thấy, có thể nghe, có thể biết, như kệ nói:
"Như
mộng, như huyễn,
Như
Càn-thát-bà,
Tất
cả các pháp,
Cũng
lại như thế".
Vì
vậy nên nói các Bồ-tát biết các pháp như mộng.
8-
Như ảnh: Ảnh chỉ có thể thấy mà không thể nắm bắt.
Các pháp cũng như vậy, nhãn căn v.v… thấy, nghe, giác tri,
nhưng thật không có, như kệ nói:
"Ấy
thật trí tuệ,
Khắp
nơi chẳng nắm,
Như
đống lửa lớn,
Cũng
không thể đụng,
Pháp
không thể thọ.
Cũng
không nên thọ".
Lại
nữa, như ảnh, khi có ánh sáng dọi thời hiện, không dọi
thời không có. Các phiền não kiết sử ngăn ánh sáng
chánh kiến, thời có ảnh ngã tướng, pháp tướng hiện ra.
Lại
nữa, như ảnh, người đi thời đi, người động thời động,
người ở thời ở. Ảnh nghiệp thiện ác cũng như
vậy, khi đời sau đi cũng đi, khi đời này ở cũng ở, quả
báo không dứt; khi tội hay phước chín muồi thời hiện ra,
như kệ nói:
"Giữa
không cũng đi theo,
Trong
núi đá cũng theo,
Dưới
lòng đất cũng theo,
Trong
biển nước cũng vào,
Nơi
nơi thường theo dõi,
Nghiệp
ảnh không lìa nhau".
Vì
vậy nên nói các pháp như ảnh.
Lại
nữa, như ảnh không thật mà tìm cầu thật, không được.
Hết thảy pháp cũng như vậy, không, không thật có.
Hỏi:
Ảnh không, không có thật, việc ấy không phải vậy, vì sao?
Vì A-tỳ-đàm nói: "Thế nào gọi là sắc nhập?
Xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, xanh nhạt, tía, quang, minh, ảnh
v.v… và ba thứ tác sắc nơi thân nghiệp; ấy gọi là sắc
nhập có thể thấy", vì sao ông nói không?
Lại
nữa, thật có ảnh, vì có nhân duyên. Nhân là cây, duyên
là ánh sáng, hai việc ấy họp lại có ảnh hiện ra, sao nói
là không được? Nếu không có ảnh, các pháp do nhân
duyên mà có cũng đều nên là không.
Lại
nữa, ảnh ấy, sắc có thể thấy: dài, ngắn, lớn, nhỏ,
thô, tế, cong, thẳng, hình động ảnh cũng động, sự ấy
đều thấy rõ; vì thế cho nên có ảnh?
Đáp:
Ảnh thật không, không có, ông cho rằng trong A-tỳ-đàm nói
có, đó là người giải thích nghĩa A-tỳ-đàm nói như vậy;
thuyết một thứ pháp môn, mà người không thể hội được
ý ấy, nên chấp cho là thật. Như trong Tỳ-bà-sa có thuyết
nói vi trần rất nhỏ, không thể phá, không thể đốt, ấy
thời thường có. Lại có thuyết nói thật có pháp ở
trong ba đời, từ trong vị lai ra đến hiện tại, từ hiện
tại vào quákhứ, không bị mất, ấy thời là thường.
Lại có thuyết nói các pháp hữu vi, sanh diệt đổi mới mãi
không ngừng. Nếu như vậy, thời là tướng của đoạn
diệt, vì sao? Vì trước có nay không. Như vậy đủ
các thứ dị thuyết, trái ngược lời Phật, không thể dẫn
lời ấy làm chứng.
Nay
ảnh khác với sắc pháp, sắc pháp sanh ra tất cả hương,
vị, xúc v.v… ảnh thời không vậy; ấy là chẳng phải có.
Như bình, do hai căn biết được, là nhãn căn và thân căn;
ảnh nếu có cũng phải do hai căn biết, nhưng mà không có
chuyện đó. Vì thế ảnh chẳng phải là thật vậy, chỉ
là pháp lừa dối con mắt. Như cầm que lửa quay nhanh
thành vòng, vòng ấy chẳng phải thật. Nếu ảnh là vật
có thật, thì lý đáng có thể phá, có thể diệt, nhưng nếu
hình không diệt thì ảnh không bao giờ diệt, vì thế nên
không.
Lại
nữa, ảnh lệ thuộc hình, không tự tại nên không, tuy không
mà tâm sanh mắt thấy; vì vậy nên nói các pháp như ảnh.
9-
Như bóng trong gương: Như bóng trong gương, chẳng phải do gương
làm ra, chẳng phải do mặt làm ra, chẳng phải do người cầm
gương làm ra, cũng chẳng phải tự nhiên làm ra, cũng chẳng
phải không nhân duyên.
Vì
sao không phải do gương làm ra? Nếu mặt chưa soi đến,
gương không có bóng; vì vậy nên không phải do gương làm
ra.
Sao
không phải do mặt làm ra? Vì không gương thời không
có bóng.
Sao
không phải do người cầm gương làm ra? Vì không gương, không
mặt thời không có bóng.
Sao
không phải tự nhiên làm ra? Nếu chưa có gương, chưa
có mặt thời không có bóng, bóng phải đợi gương đợi mặt
mới có, nên chẳng phải do tự nhiên làm ra.
Sao
không phải không nhân duyên? Nếu không do nhân duyên thời
phải thường có, nếu thường có, thì hoặc trừ gương trừ
mặt ra, lý đáng có mặt xuất hiện; vì vậy nên chẳng phải
không nhân duyên.
Các
pháp cũng như vậy, chẳng phải tự nhiên tác, chẳng phải
tha tác, chẳng phải cọng tác, chẳng phải không nhân
duyên.
Thế
nào là chẳng phải tự tác? Vì ngã là bất khả đắc,
vì hết thảy pháp do nhân duyên sanh, không được tự tại;
vì các pháp đều thuộc nhân duyên nên chẳng phải tự tác.
Sao
chẳng phải là tha tác? Vì tự đã không có thì tha cũng
không, nếu là tha tác thời mất hiệu lực của tội phước.
Tha tác có hai thứ, hoặc thiện hoặc bất thiện. Nếu
thiện thì lẽ nên cho tất cả đều vui, nếu bất thiện thì
lẽ nên cho tất cả đều khổ; nếu khổ lạc lẫn lộn, thì
vì nhân duyên gì mà cho lạc, vì nhân duyên gì mà cho khổ.
Nếu cả hai cùng tạo thì có hai lỗi là tự và tha. Nếu
không có nhân duyên sanh khổ vui, thì người lẽ nên thường
vui, lìa hết thảy khổ. Nếu không có nhân duyên thì
người không nên tạo nhân vui, trừ nhân khổ. Hết
thảy các pháp quyết chắc có nhân duyên, vì ngu si nên không
biết. Ví như người từ nơi cây tìm lửa, từ nơi đất
tìm nước, từ nơi quạt tìm gió, các loại như vậy đều
có nhân duyên. Khổ lạc ấy do nhân duyên hòa hợp sanh.
Nghiệp đời trước là nhân, đời nay hành động tốt, hoặc
hành động tà vạy là duyên, từ đó mà có khổ vui.
Các nhân duyên khổ lạc ấy, muốn tìm cái thật, thì không
có người làm, không có người chịu. Là không,
nhưng năm ấm làm ra, là không, nhưng năm ấm chịu. Người
vô trí được vui thì tâm tham dâm, ái trước, bị khổ thì
sanh sân nhuế. Khi vui ấy diệt, lại muốn tìm cho được.
Như trẻ con thấy bóng trong gương, tâm vui mừng ái trước,
bóng mất thì đập gương mà tìm; người trí chê cười.
Mất vui lại cầu, cũng như vậy, cũng bị Thánh nhân đắc
đạo chê cười; vì vậy nên nói các pháp như bóng trong gương.
Lại
nữa, bóng trong gương thật không, không sanh không diệt, lừa
dối mắt người. Hết thảy các pháp cũng như vậy, là
không, không thật, không sanh không diệt, lừa dối con mắt
kẻ phàm phu.
Hỏi:
Bóng trong gương từ nhân duyên mà có: Có mặt, có gương,
có người cầm gương, có ánh sáng, các sự ấy hòa hợp mà
có bóng. Nhân bóng ấy mà sanh lo, mừng, cũng làm nhân,
cũng làm quả rõ ràng, cớ sao nói thật không, không sanh không
diệt?
Đáp:
Pháp từ nhân duyên sanh, không được tự tại, nên không.
Nếu pháp thật có thì không nên từ nhân duyên sanh, vì sao?
Nếu trong nhân duyên, trước đã có pháp, thì nhân duyên thành
vô dụng, nếu trong nhân duyên, trước không có pháp, thì nhân
duyên cũng thành vô dụng. Thí như trong sữa, nếu trước
đã có lạc (kem) thì sữa không phải là nhân duyên của lạc,
vì lạc đã có trước. Nếu trước không có lạc, như
trong nước không có lạc, thì sữa ấy cũng không phải là
nhân của lạc. Nếu không nhân mà có lạc, sao trong nước
không sanh lạc? Nếu sữa là nhân duyên của lạc, sữa
cũng không tự tại, nó cũng từ nhân duyên sanh. Sữa
từ bò mà có, bò từ cỏ, nước mà có, như thế, không có
giới hạn, đều có nhân duyên. Vì vậy, quả của trong
nhân duyên không được nói là có, không được nói là không,
không được nói là vừa có vừa không, không được nói là
chẳng có chẳng không. Các pháp từ nhân duyên sanh, không
tự tánh, như bóng trong gương, như kệ nói:
"Nếu
pháp nhân duyên sanh,
Pháp
ấy, tánh thật không,
Nếu
pháp ấy chẳng không,
Không
từ nhân duyên có.
Thí
như bóng trong gương,
Chẳng
gương cũng chẳng mặt,
Cũng
chẳng người cầm gương,
Chẳng
tư, chẳng vô nhân.
Chẳng
có cũng chẳng không,
Cũng
lại chẳng có không.
Lời
ấy cũng không nhận,
Như
vậy là Trung đạo.
Vì
vậy nên nói các pháp như bóng trong gương.
10-
Như hóa: Mười bốn tâm biến hóa: Sơ thiền có
hai là Dục giới và Sơ thiền; Nhị thiền có ba là Dục giới,
Sơ thiền và Nhị thiền; Tam thiền có bốn là Dục giới,
Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền; Tứ thiền có năm là Dục
giới, Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.
Ấy là mười bốn tâm biến hóa làm thành tám thứ biến hóa:
1- Có thể làm nhỏ cho đến vi trần; 2- Có thể làm lớn
cho đến khắp đầy hư không; 3- Có thể làm nhẹ cho đến
như lông hồng; 4- Có thể tự tại, lớn làm nhỏ, dài làm
ngắn, đủ thứ như vậy; 5- Có chủ lực; 6-
Có thể đi đến xa; 7- Có thể chuyển động đất; 8-
Tùy ý muốn đều làm được, một thân có thể thành nhiều
thân, nhiều thân có thể làm một, đi qua vách đá, đi trên
nước, đạp hư không, tay rờ mặt trăng mặt trời; có thể
chuyển tứ đại, đất thành nước, nước thành đất, lửa
thành gió, gió thành lửa, đá thành vàng, vàng thành đá.
Sự
biến hóa ấy lại có bốn thứ: 1- Các cây thuốc, bảo
vật ở dục giới do huyễn thuật có thể biến hóa ra các
vật. 2- Các người có thần thông có thể biến
hóa ra các vật. 3-Trời, rồng, quỷ thần được năng
lực của sanh báo có thể biến hóa ra các vật. 4-
Sanh báo ở cõi Sắc, do năng lực tu định có thể biến hóa
ra các vật.
Như
người biến hóa, không có sanh, già, bệnh, chết, không khổ,
không vui, khác với người thường vì vậy nên không, không
thật. Hết thảy pháp cũng như vậy, đều không
sanh, trụ, diệt; vì vậy nên nói các pháp như biến hóa.
Lại
nữa, vật biến hóa trước không có nhất định, chỉ do tâm
sanh, bèn có tạo tác, đều không có thật. Nhân thân
cũng như vậy, vốn không sở nhân, chỉ từ tâm đời trước
sanh thân đời nay, đều không có thật; vì vậy nên nói các
pháp như biến hóa. Nếu như tâm biến hóa diệt, thời
vật biến hóa cũng diệt. Các pháp cũng như vậy, nhân
duyên diệt thời quả cũng diệt, không tự tại.
Như
sự biến hóa, tuy thật không mà có thể khiến chúng sanh sanh
ưu khổ, sân nhuế, hỷ lạc, si hoặc. Các pháp cũng như
vậy, tuy không, không thật, vẫn có thể khiến chúng sanh khởi
tâm hoan hỷ, sân nhuế, ưu khổ v.v… vì vậy nên nói các
pháp như biến hóa.
Lại
nữa, như pháp từ biến hóa sanh, không đoạn đầu, đoạn
giữa, đoạn cuối. Các pháp cũng như vậy, như biến
hóa, khi sanh không từ đâu đến, khi diệt không đi về đâu;
các pháp cũng như vậy.
Lại
nữa, như tướng biến hóa, thanh tịnh như hư không, không
bị nhiễm trước, không bị tội phước làm bẩn. Các
pháp cũng như vậy, như pháp tánh như như, như thật tế, tự
nhiên thường tịnh, thí như bốn sông lớn của Diêm-phù-đề,
một sông có năm trăm sông nhỏ phụ thuộc, nước trong ấy
đủ thứ bất tịnh, nhưng khi chảy vào biển, tất cả đều
thanh tịnh.
Hỏi:
Không thể nói sự biến hóa là không, vì sao? Tâm biến
hóa cũng từ tư định mà đắc, từ tâm ấy làm ra các biến
hóa, hoặc người hoặc pháp. Sự biến hóa đó có nhân
có quả, tại sao không?
Đáp:
Như đã đáp ở đoạn nói về ảnh, đây sẽ đáp thêm.
Nhân duyên ấy, tuy có mà quả biến hóa thì không, như
miệng nói "không có gì cả", tuy có tâm sanh miệng nói, song
không thể vì có tâm có miệng mà câu nói "không có gì cả"
bèn là có. Hoặc nói có đầu thứ hai, tay thứ ba, tuy
từ tâm sanh miệng nói, song không thể vì thế mà nói có đầu,
có tay ấy thật. Như Phật thuyết: "Quán vô
sanh, từ hữu sanh mà được giải thoát, nương vô vi, từ
hữu vi mà được giải thoát". Tuy quán pháp vô sanh là
không, nhưng nó có thể làm nhân duyên, vô vi cũng vậy.
Biến hóa tuy không, cũng có thể làm nhân duyên mà sanh tâm.
Cũng như huyễn, ráng nắng v.v… chín thí dụ tuy không mà
có thể sanh các tâm.
Lại
nữa, sự biến hóa không thể tìm thấy trong sáu nhân bốn
duyên. Không tương ứng với trong sáu nhân bốn duyên
ấy nên không.
Lại
nữa, không, không phải vì không thấy nên không, mà vì nó
không có thật dụng nên nói không. Vì vậy nên nói
các pháp như biến hóa.
Hỏi:
Nếu các pháp đều không như mười thí dụ, vì sao chỉ lấy
mười sự làm thí dụ, không lấy núi, sông, vách, đá làm
thí dụ?
Đáp:
Các pháp tuy không mà có phân biệt. Có thứ không khó
hiểu, có thứ không dễ hiểu. Nay lấy thứ không dễ
hiểu để thí dụ cho thứ không khó hiểu.
Lại
nữa, các pháp có hai thứ: Có chỗ tâm đắm trước,
có chỗ tâm không đắm trước. Nay lấy chỗ tâm không
đắm trước để giải chỗ tâm đắm trước.
Hỏi:
Sao mười thí dụ ấy là chỗ tâm không đắm trước?
Đáp:
Mười thí dụ ấy không trường cửu, dễ sanh dễ diệt; vì
vậy là chỗ tâm không đắm trước.
Lại
nữa, có người chỉ biết mười thí dụ, là pháp lừa dối
tai mắt mà không biết các pháp đều không, nên lấy nó để
làm thí dụ các pháp. Nếu có người đối với mười
thí dụ sanh tâm đắm trước, không hiểu rõ các thứ nạn
luận, cho đó là có, thời mười thí dụ ấy thành vô dụng,
tất lại phải nói các pháp môn khác.
Hỏi:
Nếu các pháp đều không, chẳng sanh chẳng diệt, mười thí
dụ ấy v.v… và các thí dụ, các nhân duyên, luận nghị,
tôi đều đã biết là không. Nếu các pháp đều không,
thì không nên nói thí dụ; nếu nói thí dụ, ấy chẳng là
không?
Đáp:
Tôi nói không là để phá các pháp hữu. Nay những lời
ấy nói ra ấy nếu rằng có, thì trước đây đã phá; nếu
là không, thì không nên nạn. Cũng như vị Tỳ-kheo chấp
sự đưa tay lên xướng: "Đại chúng tất cả im
lặng". Ấy là dùng lấy tiếng ngăn tiếng, chẳng phải
tìm tiếng. Vì vậy, tuy nói các pháp không, chẳng sanh
chẳng diệt, là vì thương xót chúng sanh, tuy nói, mà chẳng
phải có; vì vậy nên nói các pháp như biến hóa.
KINH:
Được vô ngại, không sợ hãi.
LUẬN:
Trong các nhân duyên, năm ấm, mười tám giới, mười hai nhập,
tâm vô ngại, vô tận, vô diệt, ấy là vô ngại không sợ
hãi.
Hỏi:
Như trước nói các Bồ-tát ở giữa vô lượng chúng không
sợ hãi, nay vì sao lại nói vô ngại không sợ hãi?
Đáp:
Trước nói nhân duyên không sợ hãi, nay nói quả không sợ
hãi. Ở giữa đại chúng cho đến chúng Bồ-tát nói pháp
không cùng tận, luận nghị không dứt, tâm không nghi nan; vì
đã được vô ngại, không sợ hãi.
Lại
nữa, như trước nói ở giữa vô lượng chúng không sợ hãi,
mà không biết do lực gì nên không sợ hãi; vì vậy nên lại
nói tiếp không sợ hãi là do được lực vô ngại.
Hỏi:
Nếu các Bồ-tát cũng có vô ngại, không sợ hãi, vậy Phật
với Bồ-tát có gì khác?
Đáp:
Như tôi nói ở trước, các Bồ-tát tự có lực không sợ
hãi, nên ở giữa các pháp không sợ hãi, chứ không phải
ở giữa Phật không sợ hãi.
Lại
nữa, pháp vô ngại có hai thứ: Một là khắp mọi nơi,
hai là không khắp mọi nơi. Như vào một kinh thư
cho đến vào trăm ngàn kinh thư vô ngại, hoặc vào trong một
chúng, hoặc vào trong trăm ngàn chúng không sợ hãi. Các
Bồ-tát cũng như vậy, ở trong trí tuệ vô ngại, chứ không
phải ở trong trí tuệ Phật. Như lúc Phật quăng chiếc
bát giữa hư không, năm trăm ngàn A-la-hán và Di-lặc các Bồ-tát
đều không lấy được. Các Bồ-tát cũng như vậy,
trong tự lực thì vô ngại, mà trong trí tuệ của Phật thì
có ngại, vì vậy nên nói các Bồ-tát được vô ngại, không
sợ hãi.
KINH:
Khắp biết tâm hành chúng sanh đi về đâu, dùng trí vi diệu
mà độ thoát.
LUẬN:
Hỏi: Thế nào khắp biết tâm hành chúng sanh?
Đáp:
Biết tâm chúng sanh đi đến nơi nào trong các pháp, như ánh
sáng mặt trời khắp chiếu, Bồ-tát khắp biết chỗ xu hướng
của tâm hành chúng sanh mà giáo hoá, rằng hết thảy chúng
sanh xu hướng có hai, một là tâm thường đi tìm vui, hai là
trí tuệ phân biệt, biết được tốt xấu. Ngươi chớ
đi theo tâm ái trước, mà nên đi theo trí tuệ, nên tự trách
tâm mình: "Ngươi vô số kiếp lại đây, nhóm các nghiệp
tạp nhiễm, không biết nhàm đủ, mà chỉ dong ruổi theo khoái
lạc thế gian, không biết là khổ. Ngươi không thấy
thế gian khoái lạc mà gây ra hoạnh khổ, thọ sanh trong năm
đường, đều do tâm tạo, đâu phải ai khiến vậy. Ngươi
như Voi cuồng, dẫm đạp tàn hại, không bị câu chế, ai điều
phục ngươi. Nếu được điều phục hay, thời xa lìa
hoạnh khổ ở đời. Nên biết ở trong thai bất tịnh,
khổ ách giống như địa ngục. Đã sanh ra ở đời, già,
bệnh, chết, khổ, ưu bi muôn mối. Nếu sanh lên trời,
sẽ bị đọa lạc trở lại. Ba cõi không an, ngươi vì
sao mà vui đắm?" Qưở trách tâm mình như thế, thề
không chạy theo ngươi, ấy là Bồ-tát biết tâm hành của
chúng sanh.
Hỏi:
Thế nào gọi là dùng trí tuệ vi diệu mà độ thoát?
Trong đây thế nào gọi là trí tuệ vi diệu? Thế nào gọi
trí tuệ thô thiển?
Đáp:
Xảo tuệ của thế gian, ấy gọi là trí tuệ thô thiển.
Thực hành bố thí, trí giới, thiền định, gọi là trí tuệ
vi diệu.
Lại
nữa, trí của thi và giới là trí tuệ thô thiển; trí của
thiền định gọi là trí tuệ vi diệu. Lại nữa, trí
của thiền định là trí tuệ thô thiển; trí của thiền không
y ỷ gọi là trí tuệ vi diệu. Lại nữa, thủ của các
pháp tướng là trí tuệ thô thiển; đối với các pháp tướng
không thủ không xả, gọi là trí tuệ vi diệu. Lại nữa,
phá vô minh các phiền não, được các pháp tướng, ấy là
trí tuệ thô thiển; nhập vào như pháp tướng, cũng như chơn
kim không tổn không mất, cũng như Kim-cương không phá
không hoại, lại như hư không không nhiễm không trước, ấy
gọi là trí tuệ vi diệu. Vô lượng trí tuệ như vậy,
các Bồ-tát tự được, lại giáo hoá chúng sanh; vì vậy nên
nói các Bồ-tát biết chỗ đến của tâm hành chúng sanh, dùng
trí tuệ vi diệu mà độ thoát.
KINH:
Ý không quái ngại.
LUẬN:
Thế nào là ý không quái ngại? Bồ-tát đối tất cả
người oán, thân, phi oán phi thân, tâm bình đẳng không ngăn
ngại.
Lại
nữa, hết thảy chúng sanh trong thế giới nếu đến xâm hại,
tâm không oán hận, hoặc cung kính đủ thứ, cũng không vui
mừng, như kệ nói:
"Đối
Phật Bồ-tát,
Tâm
không ái trước,
Ngoại
đạo, ác nhân,
Tâm
không ghét, giận".
Tâm
thanh tịnh như vậy, gọi là ý không quái ngại. Lại nữa,
tâm đối với các pháp vô ngại.
Hỏi:
Bồ-tát ấy chưa được Phật đạo, chưa được Nhất thiết
trí, sao đối với các pháp tâm vô ngại?
Đáp:
Vì Bồ-tát được vô lượng trí tuệ thanh tịnh nên đối
với các pháp, tâm vô ngại.
Hỏi:
Chư Bồ-tát vì chưa được Phật đạo không nên có vô lượng
trí; vì còn kiết sử dư tàn không nên có thanh tịnh trí?
Đáp:
Các Bồ-tát ấy không phải là nhục thân kiết nghiệp trong
tam giới, mà đều là được pháp thân tự tại, qua khỏi
già, bệnh, chết; vì thương chúng sanh nên Bồ-tát đi trong
tam giới; vì trang nghiêm Phật độ, giáo hoá chúng sanh, đã
được tự tại, muốn thành Phật thì được thành.
Hỏi:
Như pháp thân Bồ-tát thì cùng với Phật không khác, thế
sao còn gọi là Bồ-tát, sao còn lễ Phật nghe Pháp? Nếu
cùng với Phật có khác, sao lại có vô lượng thanh tịnh trí?
Đáp:
Bồ-tát ấy tuy pháp thân không già, bệnh, chết; hơi khác
với Phật. Cũng như trăng mười bốn, mọi người sanh
nghi cho hoặc tròn hoặc không tròn. Bồ-tát cũng như vậy,
tuy có thể thành Phật, có thể thuyết pháp, nhưng chưa thật
thành Phật; Phật như trăng rằm tròn đầy, chắc chắn không
nghi.
Lại
nữa, vô lượng thanh tịnh có hai: Một là thật
có lượng nhưng đối với người vì không thể lường được,
mà gọi là vô lượng; cũng như nước biển, như cát sông
Hằng v.v… Vì người không thể lượng được, mà gọi là
vô lượng, chứ đối với chư Phật Bồ-tát thì chẳng phải
vô lượng. Vô lượng thanh tịnh trí của Bồ-tát cũng
lại như vậy, đối với hàng trời, người, Thanh-văn và Bích-chi
Phật, vì họ không thể lường được, mà gọi là vô lượng
trí. Lúc Bồ-tát được Vô sanh trí, đoạn hết các kiết
sử, được trí thanh tịnh.
Hỏi:
Nếu bấy giờ đã đoạn hết các kiết sử , thì khi thành
Phật còn đoạn gì?
Đáp:
Thanh tịnh ấy có hai: Một là lúc thànhh Phật, các kiết
sử sạch hết, được thanh tịnh thật. Hai là lúc Bồ-tát
xả nhục thân pháp thân, đoạn các kiết sử được thanh
tịnh. Cũng như một ngọn đèn có thể trừ được bóng
tối, được có các sự làm lụng; lại có ngọn đèn lớn
hơn, càng sáng tỏ gấp bội. Phật và Bồ-tát đoạn
các kiết sử cũng như vậy. Kiết sử được đoạn của
Bồ-tát tuy được gọi là đã đoạn, nhưng so với kiết sử
được đoạn của Phật, còn chưa sạch hết.
Ấy
gọi là do được vô lượng thanh tịnh trí nên đối với
các pháp ý không quái ngại.
KINH:
Thành tựu đại nhẫn.
LUẬN:
Hỏi: Trước đã nói đẳng nhẫn, pháp nhẫn, nay sao lại
nói thành tựu đại nhẫn?
Đáp:
Hai nhẫn ấy tăng trưởng gọi là đại nhẫn .
Lại
nữa, đẳng nhẫn ở giữa chúng sanh hết thảy đều nhẫn
được, còn nhu thuận pháp nhẫn, là đối với pháp thâm diệu
nhẫn được. Hai nhẫn này tăng trưởng, tác chứng được
vô sanh nhẫn. Nhục thân tối hậu thấy được khắp
mười phương chư Phật đang hóa hiện ở trước mắt, hoặc
đang ngồi giữa hư không, ấy gọi là thành tựu đại nhẫn.
Cũng như trong pháp Thanh-văn, Noản pháp tăng trưởng gọi là
Đảnh pháp; Đảnh pháp tăng trưởng gọi là Nhẫn pháp, mà
không phải còn có pháp khác tăng trưởng làm khác đi.
Đẳng nhẫn, Đại nhẫn cũng như vậy.
Lại
nữa, có hai thứ nhẫn là: Sanh nhẫn, Pháp nhẫn.
Sanh nhẫn là nhẫn đối với chúng sanh, như hằng hà sa khắp
chúng sanh đem đủ thứ ác gia hại mà tâm không sân hận;
dù cung kính cúng dường đủ thứ mà tâm cũng không hoan hỷ.
Lại
nữa, quán chúng sanh không có ban đầu. Nếu có ban đầu
thời không có nhân duyên, nếu có nhân duyên thời không có
ban đầu. Nếu không ban đầu thời cũng nên không có
sau rốt, vì sao? Vì ban đầu và rốt sau đối đãi. Nếu
không ban đầu, không rốt sau thì cũng không chặng giữa.
Lúc quán như vậy, không rơi vào nhị biên đoạn thường.
Dùng đạo an ổn quán chúng sanh, không sanh tà kiến, ấy gọi
là Sanh nhẫn. Trong pháp thậm thâm, tâm không quán ngại,
ấy gọi là Pháp nhẫn.
Hỏi:
Thế nào là Pháp thậm thâm?
Đáp:
Như trước đã nói trong mục thậm thâm Pháp nhẫn.
Lại
nữa, Pháp thậm thâm là trong Mười hai nhân duyên triển chuyển
sanh quả, trong nhân không phải có quả, cũng không phải không
quả. Từ trong ấy mà ra gọi là Pháp thậm thâm.
Lại
nữa, vào ba môn giải thoát Không, Vô tướng, Vô tác, thời
được Niết-bàn thường lạc, nên gọi là Pháp thậm thâm.
Lại
nữa, quán hết thảy pháp phi không bất không, phi hữu tướng,
phi vô tướng , phi hữu tác, phi vô tác. Trong khi quán
như vậy, tâm cũng không dính, ấy gọi là Pháp thậm thâm,
như kệ nói:
"Pháp
nhân duyên sanh,
Gọi
là Không tướng,
Cũng
gọi giả danh,
Cũng
gọi Trung đạo.
Nếu
pháp thật có,
Không
thể lại không.
Trước
có nay không,
Ấy
gọi là đoạn.
Chẳng
thường, chẳng đoạn,
Cũng
chẳng có không,
Tâm
thức đều diệt,
Ngôn
ngữ cũng dứt".
Đối
với pháp sâu xa ấy, tín tâm vô ngại, không hối không mất,
ấy gọi là thành tựu Đại nhẫn.
KINH:
Như thật khéo độ.
LUẬN:
Có pháp ngoại đạo, tuy độ chúng sanh nhưng không phải là
như thật độ, vì sao? Vì còn các thứ tà kiến
kiết sử. Nhị thừa tuy có chở độ, nhưng không đúng
như chỗ nên độ, vì sao? Vì không có Nhất thiết trí,
tâm phương tiện mỏng, chỉ có Bồ-tát mới như thật khéo
độ. Cũng như người khéo đưa qua sông: Với người
này thì dùng phao nổi, bè cỏ đưa qua; với người kia thì
dùng thuyền vuông đưa qua. Cả hai cách cùng đưa qua mà
khác biệt. Bồ-tát khéo độ chúng sanh cũng như vậy.
Lại
nữa, thí như trị bệnh, thuốc đắng, chích đốt mà bệnh
được lành; còn như có thứ thuốc thần diệu tên là Tô-đà-phiến-đà,
mắt người bệnh trông thấy thì các bệnh tật đều lành.
Hai cách trị bệnh đồng nhau, mà phương pháp hơn kém khác
nhau. Thanh-văn và Bồ-tát giáo hóa độ người cũng như
vậy, khổ hạnh đầu đà, đầu đêm, giữa đêm, cuối đêm,
tâm siêng tọa thiền, quán khổ mà đắc đạo, đó là lối
giáo hóa của Thanh-văn; còn các pháp tướng không trói không
mở, tâm được thanh tịnh, đó là lối giáo hóa của Bồ-tát.
Như
trong Văn-thù-sư-lợi Bản duyên (Manj50;sryavadana), Văn-thù-sư-lợi
bạch Phật: "Bạch Đại đức Thế Tôn! Xưa con trong đời
trước đã trải qua vô lượng A-tăng-kỳ kiếp, bấy giờ
có Phật hiệu là Sư-tử-âm-vương, Phật và chúng sanh sống
lâu mười vạn ức na-do-tha tuổi, Phật đem Tam thừa giáo
mà độ chúng sanh. Nước tên là Thiên-quang-minh, các cây
trong nước ấy đều do bảy báu tạo thành. Cây phát
ra vô lượng pháp âm thanh tịnh, là pháp âm Không, Vô tướng,
Vô tác, bất sanh, bất diệt, vô sở hữu. Chúng sanh nghe
được, thời tâm bừng sáng, đắc đạo. Bấy giờ đức
Phật Sư-tử-âm-vương trong hội thuyết pháp đầu, có chín
mươi chín ức người đắc A-la-hán đạo, chúng Bồ-tát cũng
như vậy. Các Bồ-tát ấy, tất cả đều được
Vô sanh Pháp nhẫn, vào chủng chủng pháp môn, thấy vô lượng
chư Phật, cung kính cúng dường và độ vô lượng vô
số chúng sanh, được vô lượng Đà-la-ni môn, vô lượng chủng
chủng tam muội. Còn hàng Bồ-tát sơ phát tâm mới vào
đạo số không kể xiết. Quốc độ của đức Phật
ấy trang nghiêm vô lượng, không thể nói hết. Lúc Phật
giáo hóa đã xong, thời vào Vô-dư Niết-bàn. Chánh pháp
trụ sáu vạn năm. Pháp âm của các cây cũng không còn
phát ra lại. Bấy giờ có hai Tỷ-kheo Bồ-tát, một vị
tên là Hỷ-căn (Prasannendriya), và một vị tên là Thắng-ý
(Agramati)".
Hỷ-căn
Pháp sư ấy, dung nghi chất trực, không bỏ thế pháp, cũng
không phân biệt thiện ác. Đệ tử của Hỷ-căn thông
minh ưa pháp, ưa nghe thâm nghĩa. Pháp sư ấy không
khen ngợi thiểu dục tri túc, không khen ngợi giới hạnh đầu
đà, chỉ thuyết thật tướng thanh tịnh của các pháp.
Ngài bảo các đệ tử: "Hết thảy các pháp, tướng dâm
dục, tướng sân nhuế, tướng ngu si, các pháp tướng ấy
tức là thật tướng các pháp, không bị ngăn ngại".
Dùng phương tiện ấy, dạy các đệ tử nhập vào "Nhất thiết
trí".
Lúc
ấy các đệ tử, đối với mọi người không sân không hối,
tâm không hối tiếc nên được sanh nhẫn, được sanh nhẫn
nên được pháp nhẫn. Ở trong thật pháp, tâm như núi
Tu-di không lay động.
Thắng-ý
Pháp sư, giữ giới thanh tịnh, thực hành hai hạnh đầu đà,
được bốn Thiền và bốn Vô sắc định. Các đệ tử
của Thắng-ý, căn ám độn, nhiều tham cầu, vì phân biệt
tịnh và bất tịnh, tâm luôn động chuyển.
Một
lúc nọ, Thắng-ý đi vào làng, đến nhà đệ tử của Hỷ-căn,
ngồi vào chỗ ngồi, khen ngợi sự trì giới, thiểu dục,
tri túc, thực hành hạnh đầu đà, Thiền định ở chỗ vắng,
rồi chê bai Hỷ-căn rằng: "Người ấy thuyết pháp dạy
người đi vào tà kiến, nói rằng dâm dục, sân nhuế, ngu
si là tướng không ngăn ngại, ấy là người tu hành hỗn tạp,
chẳng phải thuần thanh tịnh". Đệ tử của Hỷ-căn
là người lợi căn đắc Pháp nhẫn, hỏi lại Thắng-ý rằng:
"Thưa Đại đức, pháp dâm dục ấy là tướng gì?"
-
Dâm dục là tướng phiền não.
-
Dâm dục phiền não ở trong hay ở ngoài?
-
Dâm dục phiền não không ở trong không ở ngoài; vì nếu ở
trong thì không cần đợi nhân duyên bên ngoài mới sinh, nếu
ở ngoài thì đối với ta vô sự, không làm não ta được.
Cư
sĩ nói: Nếu dâm dục phiền não chẳng phải ở trong
chẳng phải ở ngoài; chẳng phải từ Đông, Tây, Nam, Bắc,
bốn hướng, trên, dưới đến; tìm khắp không thấy thật
tướng của nó, pháp ấy tức bất sanh bất diệt, nếu không
sanh diệt, không, không có gì, làm sao gây ra phiền não được?
Thắng-ý
nghe lời ấy tâm không vui, không đáp lại được, từ chỗ
ngồi đứng dậy, nói như vầy: "Hỷ-căn phần nhiều
dối gạt mọi người đắm trong đường tà".
Thắng-ý
Bồ-tát ấy chưa học âm thanh Đà-la-ni, nghe Phật thuyết thì
hoan hỷ, nghe ngoại đạo thuyết thì sân hận, nghe ba bất
thiện căn thời không vui vẻ, nghe ba thiện căn thời rất
hoan hỷ, nghe nói sanh tử thời lo, nghe nói Niết-bàn thời
mừng. Rồi từ nhà cư sĩ, Thắng-ý đi đến rừng cây, vào
trong tinh xá, nói với các Tỳ-kheo: "Nên biết Hỷ-căn
Bồ-tát hư dối, phần nhiều khiến người ta vào trong tà
ác, vì sao? Vì kia nói tướng dâm, nộ, si và hết thảy
các pháp đều là tướng vô ngại".
Khi
ấy, Hỷ-căn suy nghĩ: "Người này quá sân, vì ác nghiệp
che lấp, sẽ đọa tội lớn. Ta nay sẽ vì ông ấy nói
pháp sâu xa, dẫu đời nay không được gì, cũng làm nhân duyên
cho Phật đạo ở đời sau".
Khi
ấy, Hỷ-căn họp Tăng, nhất tâm nói kệ:
"Dâm
dục tức là đạo,
Sân
si cũng như vậy,
Trong
ba sự như thế,
Vô
lượng chư Phật đạo.
Nếu
có người phân biệt,
Dâm,
nộ, si là đạo,
Người
ấy cách xa Phật,
Thí
như Trời với đất.
Đạo
và dâm, nộ, si.
Là
một pháp bình đẳng,
Nếu
ai nghe sợ hãi,
Các
Phật đạo rất xa.
Dâm
pháp bất sinh diệt,
Không
thể khiến tâm não,
Nếu
ai chấp tự ngã,
Dâm
đưa vào ác đạo.
Thấy
pháp có khác không,
Là
chẳng lìa có, không.
Nếu
rõ có là không,
Siêu
thắng thành Phật đạo".
Lúc
nói hơn bảy mươi bài kệ như vậy, ba vạn Thiên tử được
Vô sanh Pháp nhẫn, một vạn tám ngàn Thanh-văn, không ái trước
hết thảy các pháp đều được giải thoát.
Khi
ấy, Thắng-ý Bồ-tát, thân liền rơi vào địc ngục, thọ
khổ vô lượng ngàn vạn ức năm, khi được ra khỏi địa
ngục sanh trong loài người, bị bài báng bảy mươi bốn vạn
năm, trải qua trong vô lượng kiếp không nghe đuợc tiếng
Phật. Và khi tội ấy mỏng dần, vị ấy dẫu nghe
được Phật pháp, dẫu có nghe được Phật pháp, xuất gia
học đạo vẫn trở lại xả giới, thường xả giới như
vậy sáu vạn hai ngàn đời, được làm Sa-môn trong vô lượng
đời, tuy không xả giới nhưng các căn ám độn.
Hỷ-căn
Bồ-tát hiện làm Phật ở quá mười vạn ức Phật độ về
phía Đông, Quốc độ kia hiệu là Bảo Nghiêm, Phật hiệu
là Quang Du Phật Minh Vương. Thắng-ý Tỳ-kheo lúc ấy
là thân con hôm nay. Con quán sát bấy giờ phải thọ vô
lượng khổ ấy". Văn-thù-sư-lợi lại bạch Phật:
"Nếu có người cầu Tam thừa đạo, không muốn thọ các khổ,
thì không nên phá các pháp tướng mà ôm lòng sân nhuế".
Phật hỏi Văn-thù: "Ông nghe các bài kệ được lợi
ích gì?" Đáp: "Con nghe các bài kệ, được dứt hết
các khổ, đời đời được lợi căn trí tuệ, hiểu pháp
sâu xa, khéo thuyết nghĩa sâu xa, là bậc nhất ở giữa chư
Bồ-tát".
Như
vậy, gọi là khéo thuyết các pháp tướng, ấy gọi là như
thật khéo nói.
(Hết
cuốn 6 theo bản Hán)