Cuốn
11
CHƯƠNG
16
GIẢI
THÍCH: XÁ-LỢI-PHẤT NHÂN DUYÊN
KINH:
Phật bảo Xá-Lợi-Phất.
LUẬN:
Hỏi: Bát-nhã Ba-la-mật là pháp của Bồ-tát Ma-ha-tát, vì
sao Phật bảo Xá-Lợi-Phất mà không bảo Bồ-tát?
Ðáp:
Xá-Lợi-Phất là vì trí tuệ bậc nhất trong tất cả đệ
tử, như Phật có bài kệ nói:
"Trí
hết thảy chúng sanh,
Chỉ
trừ Phật Thế Tôn,
Muốn
sánh Xá-Lợi-Phất
Trí
tuệ và đa văn,
Ở
trong mười sáu phần,
Còn
không bằng được một".
Lại
nữa, Xá-Lợi-Phất có trí tuệ đa văn và công đức lớn.
Năm mới tám tuổi đã tụng mười tám bộ kinh, thông hiểu
hết thảy kinh sách nghĩa lý. Khi ấy ở nước Ma-kiệt-đà
có anh em Long vuơng, một tên là Cật-Lợi, một tên là A-già-hòa-la.
Trời mưa xuống đúng thời, nước không bị mất mùa, nhân
dân cảm phục, thường chọn tháng trọng xuân, tất cả họp
lại để đi đến chỗ ở của Rồng, mở đại hội, tấu
nhạc, luận nghĩa trọn một ngày. Từ xưa đến nay, sự
tập hội ấy chưa bõ, bèn lấy tên Rồng để đặt tên hội
này. Lệ thường trong ngày ấy, trải bốn tòa cao, một
cho Quốc vương, một cho Thái tử, một cho Ðại thần, một
cho Luận sư. Bấy giờ Xá-Lợi-Phất với cái thân tám
tuổi, hỏi mọi người rằng: "Bốn tòa cao ấy đặt
cho ai?"
Mọi
người đáp: "Cho Quốc vương, thái tử, đại thần, luận
sĩ".
Khi
ấy Xá-Lợi-Phất quán sát người đương thời Bà-la-môn v.v...
thấy thần tình, đởm lược, chí hướng của họ, không ai
hơn mình, bèn bước lên tòa dành cho luận sĩ, kiết già phu
tọa. Mọi người thấy vậy nghi ngờ lấy làm lạ, hoặc
bảo đó là nhỏ dại vô tri, hoặc bảo là có trí tuệ hơn
người. Tuy khen cho là thần dị, nhưng vẫn ôm lòng kiêu
căng, sợ xấu hổ với tuổi nhỏ kia, không tự mình nói với;
mà sai đệ tử niên thiếu chuyển lời để hỏi. Xá-Lợi-Phất
đáp lại đúng chỉ thú, lời lẽ nghĩa lý siêu tuyệt.
Khi ấy các Luận sư tán thán là chưa từng có. Không
luận kẻ ngu người trí, lớn nhỏ tất cả đều phục.
Vua rất hoan hỷ, liền ra lệnh quan Hữu ty phong tặng một
làng để cung cấp thường xuyên. Vua cỡi xe Voi, rung lịnh
tuyên cáo cho tất cả đều rõ. Trong mười sáu đại
quốc, sáu đại thành thảy đều vui mừng.
Khi
ấy, với người con thầy bói tên là Câu-luật-đà, họ Ðại
Mục-kiền-liên, Xá-Lợi-Phất kết làm bạn thân.
Xá-Lợi-Phất thì tài trí thông minh được quý, Mục-kiền-liên
thì sáng suốt khoát đạt được trọng. Hai người này
tài trí ngang nhau, đức hạnh tương đồng, đi thì cùng đi,
ở thì cùng ở, nhỏ lớn quyến luyến, giao ước chung thủy.
Về sau cả hai nhàm chán việc đời, xuất gia học đạo, làm
đệ tử của Phạm-chí. Tinh cần cầu đạo, đã lâu
mà chẳng có chứng nghiệm, mới đem hỏi Thầy. Thầy
tên là Sằn-xà-gia (Sànjaya) trả lời rằng: "Từ khi Ta
cầu đạo, trải bao nhiêu năm, chẳng biết là đạo quả không
có chăng hay Ta không phải là người cầu đạo chăng mà Ta
cũng chẳng được gì?"
Một
ngày kia ông Thầy mắc bệnh, Xá-Lợi-Phất đứng ở phía
trên đầu, Mục-kiền-liên đứng ở phía dưới chân, thấy
thở hổn hển, mạng sắp chết, thương xót mà cười.
Hai người đồng lòng cùng hỏi cười vì ý gì? Ông Thầy
trả lời: "Người đời không có mắt, bị ân ái bức
bách, Ta thấy vua nước Kim Ðịa chết, đại phu nhân của
ông tự nhảy vào đống lửa, mong cùng ở một chỗ, nhưng
hai người ấy hành nghiệp và quả báo khác nhau, nơi sanh đến
cũng khác nhau. Khi ấy hai người lấy viết ghi lại ý
thầy, muốn để nghiệm xem hư thật".
Sau
có người khách buôn nước Kim Ðịa, từ xa đi đến nước
Ma-kiệt-đà, hai người lấy sự thật xét nghiệm, quả đúng
như lời Thầy nói, mới bùi ngùi than rằng: "Chúng ta
chẳng phải là hạng người cầu đạo chăng? Hay là Thầy
còn giấu chúng ta chăng?"
Hai
người cùng nhau thề rằng: "Nếu ai gặp được vị cam
lồ trước, phải cho nhau cùng nếm!".
Lúc
ấy, Phật đã độ cả ngàn anh em ông Ca-diếp, đang lần lượt
đi qua các nước, đến thành Vương-xá, dừng chân lại ở
vườn Trúc. Hai thầy Phạm-chí nghe Phật ra đời, cùng
nhau đi vào thành Vương-xá để biết tin tức. Bấy giờ
có một Tỳ-kheo tên là A-thuyết-thị (Assaji - một trong năm
thầy Tỳ-kheo được Phật độ đầu tiên) mặc y cầm
bát, vào thành khất thực. Xá-Lợi-Phất trông thấy dung
nghi y phục khác thường, các căn tịch tịnh, trầm mặc, đi
đến hỏi rằng: "Ngài đệ tử ai? Người nào là
thầy của ngài?" Ðáp: "Thái tử dòng họ Thích nhàm
chán sự khổ, già, bệnh, chết, xuất gia học đạo, chứng
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, là Thầy của tôi".
Xá-Lợi-Phất nói: "Thầy ông dạy thế nào nói cho tôi
biết với?" Tỳ-kheo đáp kệ:
"Tuổi
tôi còn trẻ nhỏ,
Ngày
thọ giới mới mẻ,
Ðâu
thể diễn chí chơn,
Nói
rộng nghĩa Như Lai".
Xá-Lợi-Phất
nói: "Xin ngài hãy lược nói nghĩa cốt yếu". Bấy
giờ Tỳ-kheo A-thuyết-thị nói kệ:
"Các
pháp nhân duyên sanh,
Pháp
ấy là nhân duyên,
Pháp
ấy nhân duyên diệt,
Ðại
sư nói như vậy".
Xá-Lợi-Phất
nghe kệ xong liền chứng được sơ quả, trở về để báo
lại với Mục--liên. Mục-liên trông thấy nhan sắc từ hòa
vui vẻ, nghinh tiếp và hỏi: "Anh được vị cam lồ ư?
Nói cho tôi biết?" Xá-Lợi-Phất liền nói lại bài kệ
vừa được nghe. Mục-liên nói: "Hãy nói lại cho
lần nữa", liền nói lại. Mục-liên nghe xong cũng chứng
được Sơ quả.
Hai
Thầy cùng hai trăm năm mươi đệ tử, đều đi đến chỗ
Phật. Phật từ xa thấy hai người đi đến, bảo các
Tỳ-kheo rằng: "Các ông đã từng thấy hai người ấy
ở trước các Phạm-chí chăng?" Các Tỳ-kheo thưa:
"Bạch Thế Tôn, đã thấy", Phật nói: "Hai người ấy
là đệ tử đệ nhất và thần thông đệ nhất trong hàng
đệ tử của Ta".
Hai
người cùng chúng đệ tử đi dần đến gần Phật, đến
rồi cúi đầu đứng qua một bên, cùng bạch Phật rằng:
"Bạch Thế Tôn! Chúng con muốn được xuất gia thọ giới
ở trong Phật pháp". Phật nói: "Thiện tai Tỳ-kheo!",
tức thời râu tóc tự rụng, áo pháp mặc vào thân, y bát
đầy đủ thọ giới thành tựu.
Qua
nửa tháng sau, lúc Phật thuyết pháp cho Trường Trão Phạm-chí,
Xá-Lợi-Phất chứng đắc đạo quả A-la-hán. Sở dĩ
nửa tháng sau mới đắc đạo là vì người sẽ làm Thầy
theo Phật chuyển pháp luân, thì phải ở Học địa, phải
hiện tiền tự chứng nhập các pháp, mỗi mỗi biết đầy
đủ, thế nên nửa tháng sau mới chứng đắc đạo quả A-la-hán.
Có
các thứ công đức như vậy rất nhiều, thế cho nên Xá-Lợi-Phất
tuy là A-la-hán, mà Phật đem pháp Bát-nhã Ba-la-mật sâu xa
để nói cho.
Hỏi:
Nếu vậy, tại sao lúc đầu ít vì Xá-Lợi-Phất nói, về
sau nhiều vì Tu-bồ-đề nói? Nếu vì trí tuệ bậc nhất,
thì nên vì Xá-Lợi-Phất nói nhiều; cớ sao lại vì Tu-bồ-đề
nói nhiều?
Ðáp:
Xá-Lợi-Phất là vị trí tuệ bậc nhất trong hàng đệ tử
Phật, Tu-bồ-đề là vị được Vô tránh tam muội đệ nhất
trong hàng đệ tử Phật. Tướng trạng của Vô tránh
tam muội là thường quán sát chúng sanh, không để tâm sinh
phiền não, phần nhiều hành theo tâm lân mẫn. Các Bồ-tát
là người mở rộng thệ nguyện lớn để độ chúng sanh,
thương xót đồng đều, thế nên Phật sai nói Bát-nhã Ba-la-mật.
Lại
nữa, Tu-bồ-đề ưa tu Không tam muội. Như Phật ở cung
trời Ðao-lợi, hạ an cư, thọ tuế xong, trở xuống lại Diêm-phù-đề.
Bấy giờ Tu-bồ-đề đang ở trong hang đá, tự suy nghĩ:
"Phật từ trời Ðao-lợi đi xuống, ta nên đi đến chỗ Phật
ư? Hay không nên đi đến chỗ Phật ư?" Lại nghĩ:
"Phật thường nói, nếu người dùng con mắt trí tuệ để
quán Phật pháp thân, thời trong sự thấy Phật đó là hơn
cả".
Lúc
ấy, vì Phật từ trời Ðao-lợi xuống, cho nên bốn bộ chúng
trong Diêm-phù-đề tập họp, do đó mà chư thiên thấy người,
người cũng thấy chư thiên. Ngồi ở giữa có Phật và
Chuyển luân Thánh vương, chư thiên, đại chúng. Chúng
hội trang nghiêm, từ trước chưa từng có. Tâm Tu-bồ-đề
suy nghĩ: "Nay đại chúng này tuy là thù diệu đặc biệt,
nhưng thế không thể lâu bền, pháp sanh diệt đều trở về
vô thường". Nhân bước đầu của phép quán vô thường
này, mà biết được tất cả đều là không, không có thật.
Khi tu phép quán ấy, liền được chứng đạo.
Bấy
giờ, tất cả mọi người đều mong muốn thấy Phật để
lễ kính cúng dường. Có Tỳ-kheo-ni Hoa Sắc muốn trừ
sự xấu của cái tiếng nữ, bèn hóa làm Chuyển luân Thánh
vương và bảy báu, ngàn đứa con. Mọi người trông thấy
đều đứng dậy khỏi chỗ ngồi. Hóa vương đi đến
chỗ Phật xong, trở lại thân như cũ làm Tỳ-kheo-ni trước
tiên đảnh lễ Phật.
Khi
ấy, Phật nói với Tỳ-kheo-ni: "Chẳng phải ngươi trước
tiên đảnh lễ Ta, mà chính Tu-bồ-đề trước tiên đảnh
lễ Ta, vì cớ sao? Vì Tu-bồ-đề quán các pháp Không,
ấy là thấy Phật pháp thân, thành chơn cúng dường, hơn hết
trong các cúng dường , chẳng phải do cung kính sanh thân là
cúng dường vậy.
Vì
vậy, nên nói Tu-bồ-đề thực hành Không tam muội, cùng tương
ứng với tướng Không Bát-nhã Ba-la-mật. Thế nên Phật
sai Tu-bồ-đề thuyết Bát-nhã Ba-la-mật.
Lại
nữa, vì chúng sanh tin kính vị A-la-hán, các lậu đã sạch
hết, nên Phật sai thuyết, để chúng sanh tâm tịnh tín.
Các Bồ-tát, chưa hết lậu, nếu vì các người mà nói thì
họ không tin. Vì vậy, nên Phật đối với cả Xá-Lợi-Phất
và Tu-bồ-đề mà thuyết Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Sao gọi là Xá-Lợi-Phất? Ðó là tên cha mẹ đặt?
Hay dựa vào hành vi công đức mà đặt?
Ðáp:
Ðó là tên do cha mẹ đặt. Ở trong Diêm-phù-đề, nơi
an lạc nhất có nước Ma-kiệt-đà, trong nước đó có thành
lớn tên là Vương-xá, vua tên là Tần-bà-sa-la, có vị luận
sư dòng Bà-la-môn tên là Ma-đà-la. Vì người ấy luận
nghị giỏi nên vua phong cho một ấp, cách thành lớn không
xa. Ma-đà-la còn có gia đình, vợ sanh một người con
gái, có con mắt giống chim Xá-lợi, liền đặt tên con gái
ấy là Xá-lợi. Lần thứ hai sinh một người con trai,
mà xương đầu gối thô to, nên đặt tên là Câu-hy-la (có
nghĩa là đầu gối to lớn).
Bà-la-môn
Ma-đà-la đã có gia đình, phải nuôi nấng con trai con gái,
nên sở học về kinh sách đều bị cũ xưa không còn được
trau dồi mới.
Lúc
ấy ở Nam Thiên Trúc có một thầy đại luận nghị Bà-la-môn,
đối với mười tám thứ đại kinh, thảy đều thông lợi.
Người này đi vào thành Vương-xá, trên đầu đội lửa, lấy
nịt sắt nịt bụng. Người ta hỏi lý do, bèn nói:
"Sở học kinh sách của tôi quá nhiều, sợ bụng bị vỡ ra,
cho nên nịt nó lại". Lại hỏi: "Trên đầu vì sao
đội lửa?" Ðáp: Vì tối quá". Mọi người
nói: "Mặt trời mọc chiếu sáng, tại sao nói tối?"
Ðáp: "Tối có hai thứ: Một là ánh sáng mặt trời
không chiếu đến, hai là ngu si che tối. Nay tuy có mặt
trời sáng mà ngu si còn đen tối". Mọi người nói:
"Chỉ vì ông chưa gặp Bà-la-môn Ma-đà-la, nếu ông gặp thì
bụng sẽ teo, sáng sẽ tối".
Vị
Bà-la-môn ấy đi ngay đến bên chiếc trống, đánh trống luận
nghị lên. Quốc vương nghe hỏi: "Ấy là người
nào?" Các quan thần đáp:" Ở Nam Thiên Trúc có một
Bà-la-môn tên Ðề-xá, là một đại luận nghị sư, muốn
tìm luận xứ, cho nên đánh trống luận".
Ðại
vương hoan hỷ, liền họp mọi người mà cáo rằng: "Ai
có thể vấn nạn, hãy cùng người ấy luận nghị?" Ma-đà-la
nghe vậy tự nghĩ: "Ta vì đã cũ xưa, không còn tập luyện
đổi mới, không biết nay có thể cùng người ấy luận chăng?",
gắng gỗ mà đi đến. Giữa đường thấy hai con Trâu
đực đang húc bạng nhau, trong tâm khởi ý tưởng tượng:
"Con Trâu này là Ta, con Trâu kia là người. Lấy đó bói
xem biết được ai thắng". Nhưng con Trâu này không bằng,
bèn sầu lo quá, mà tự nghĩ rằng: "Cứ như tướng trạng
ấy, ta sẽ không bằng".
Khi
sắp đi vào giữa chúng, thấy có người mẹ, ôm một bình
nứơc đứng ngay ở trước, bị khoẹo chân té đất bình
vỡ. Lại nghĩ rằng: "Ðây cũng là điềm không tốt
nữa". Ma-đà-la hết sức không vui.
Khi
đi vào giữa chúng, thấy luận sư kia, nhan mạo ý chí, khí
sắc tướng tốt đầy đủ, biết mình không bằng. Nhưng
việc chẳng đặng ngừng, phải cùng chung luận nghị.
Luận nghị đã giao ước, liền bị thua. Ðại vương
hoan hỷ là có người đại trí sáng suốt đi vào nước ta,
còn muốn phong cho một ấp. Quần thần nghị bàn:
"Một người thông minh đi đến, liền phong cho một ấp, công
thần thì chẳng tưởng thưởng, chỉ ưa thiùch ngữ luận,
sợ rằng đó không phải là cái đạo an quốc toàn gia.
Nay Ma-đà-la bị thua, thì phải dành lại phong ấp để cho
người thắng. Nếu lại có người khác thắng thì lại
dành lại để phong cho". Vua chấp dụng lời ấy, liền
dành lại đem phong cho người sau.
Khi
ấy Ma-đà-la nói với Ðề-xá rằng: "Ông là người thông
minh, ta gả con gái cho, con trai chỉ làm lụy nhau. Chi bằng
nay ta muốn đi xa đến nước khác để cầu bổn chí".
Ðề-xá
nhận người con gái kia làm vợ. Người vợ mang thai,
nằm mộng thấy một người thân mặc áo giáp, đầu đội
mũ trụ, tay cầm Kim-cang, xô phá các núi mà đứng một bên
núi lớn. Thức dậy nói lại với chồng: "Tôi mộng
như vậy". Ðề-xá nói: "Bà sẽ sanh con trai, tồi
phục hết thảy các luận nghị sư, chỉ không hơn được
một người, lại sẽ làm đệ tử người đó".
Xá-lợi
mang thai. Vì đứa con trong thai mà mẹ cũng thông minh,
rất có khả năng luận nghị. Em trai là Câu-hy-la, cùng
với chị luận nghị, mỗi lần luận nghị đều bị thua,
không bằng, biết đứa con trong thai của chị, chắc chắn
là đại trí tuệ, chưa sanh mà đã như vậy, huống gì sanh
ra? Liền bỏ nhà đi học vấn, đến Nam Thiên Trúc, không
rảnh để cắt móng tay, chuyên đọc mười tám thứ kinh thơ,
đều thông suốt, cho nên người thời bấy giờ gọi là Phạm-chí
móng tay dài (Trường Trão Phạm-chí). Con của chị đã
sanh, bảy ngày sau, bọc trong giạ trắng, đem chỉ với cha
nó. Cha nó suy nghĩ: "Ta tên Ðề-xá, vậy theo tên
ta mà đặt tên là Ưu-ba-đề-xá (Ưu-ba Tàu dịch Trụ, nghĩa
là theo, Ðề-xá là tên ngôi sao). Ấy là tên do cha mẹ
đặt. Mọi người vì thấy người kia do bà Xá-lợi sanh
ra, nên đều gọi là Xá-lợi-phất (Phất nghĩa là con, tử).
Lại,
Xá-lợi-phất đời đời có bản nguyện, làm người đệ
tử bậc nhất của Phật Thích-ca Mâu-ni, tự là Xá-lợi-phất.
Ðó là tên do nhân duyên bản nguyện. Do các lẽ đó nên
gọi là Xá-lợi-phất.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao không gọi là Ưu-ba-đề-xá mà chỉ nói
Xá-lợi-phất?
Ðáp:
Người thời bấy giờ quý trọng người mẹ kia, thông minh
bậc nhất trong chúng nữ nhân. Do nhân duyên ấy cho nên
gọi là Xá-lợi-phất.
KINH:
Bồ-tát Ma-ha-tát muốn đem Nhất thiết chủng trí biết Nhất
thiết pháp, thì phải tập hành Bát-nhã Ba-la-mật.
LUẬN:
Nghĩa chữ Bồ-tát Ma-ha-tát, trước đã nói ở chương Tán
thán Bồ-tát.
Hỏi:
Sao gọi là nhất thiết chủng? Sao gọi là nhất thiết
pháp?
Ðáp:
Cửa trí tuệ gọi là chủng. Có người do một cửa trí
tuệ để quán, có người do hai, ba, mười, trăm, ngàn, vạn
cho đến hằng hà sa A-tăng-kỳ cửa trí tuệ để quán các
pháp. Nay do nhất thiết cửa trí mà vào nhất thiết chủng
loại, quán nhất thiết pháp, cho nên gọi là Nhất thiết chủng.
Như người phàm phu có ba thứ quán. Muốn cầu lìa dục,
sắc, nên quán Dục giới, Sắc giới là thô ác, dối hoặc,
ô trược, nặng nề. Còn Phật đệ tử thì có 8 thứ
quán là, quán vô thường, khổ, không, vô ngã, như bệnh, như
ung nhọt, như mũi tên cắm vào thân, bức não hoạn nạn.
Tám thứ Thánh quán ấy vào trong bốn Thánh đế trở thành
bốn hành tướng trong mười sáu hành tướng.
Mười
sáu hành tướng là: Quán Khổ đế có bốn hành tướng:
Vô thường, khổ, không, vô ngã. Quán khổ nhân (Tập đế)
có bốn hành tướng: Tập, nhân, duyên, sanh. Quán khổ tận
(Diệt đế) có bốn hành tướng: Tận, diệt, diệu, xuất.
Quán đạo đế có bốn hành tướng: Ðạo, chánh, hành, tích
(dấu).
Trong
phép quán hơi thở ra vào lại có mười sáu hành tướng.
1- Quán hơi thở vào, 2- Quán hơi thở ra, 3- Quán hơi thở dài,
thở ngắn, 4- Quán hơi thở chạy khắp thân, 5- Trừ các
thân hành (hơi thở), 6- Thọ hỷ, 7- Thọ lạc, 8-
Thọ các tâm hành, 9- Khởi tâm mừng, 10- Tâm khởi
thu nhiếp, 11- Tâm khởi giải thoát, 12- Quán vô thường,
13- Quán rã hoại, 14- Quán lìa dục, 15- Quán
diệt, 16- Quán vứt bỏ.
Lại
có sáu niệm: Niệm Phật là niệm đức Phật là đấng
Như Lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác. Như vậy đủ mười
hiệu, năm niệm khác như sau sẽ nói.
Thế
trí, xuất thế trí, A-la-hán, Bích-chi Phật, Bố-tát, Phật
trí. Trí tuệ như vậy biết rõ các pháp gọi là Nhất
thiết chủng.
Nhất
thiết pháp là: Pháp của thức duyên, là Nhất thiết
pháp. Ðó là nhãn thức duyên sắc, nhĩ thức duyên tiếng,
tỷ thức duyên mùi, thiệt thức duyên vị, thân thức duyên
xúc, ý thức duyên pháp. Duyên mắt, duyên sắc, duyên
nhãn thức cho đến duyên ý, duyên pháp, duyên ý thức, ấy
gọi là Nhất thiết pháp, là pháp của các thức duyên.
Lại
nữa, pháp của trí duyên là Nhất thiết pháp. Ðó làkhổ
trí biết khổ, tập trí biết tập, đạo trí biết đạo.
Thế trí biết khổ, tập, tận, đạo và hư không, chẳng phải
thường duyên Diệt đế. Ấy là pháp của trí duyên.
Lại
nữa, hai pháp thu nhiếp hết thảy pháp là: Pháp sắc,
pháp vô sắc. Pháp có thể thấy, pháp không thể thấy;
pháp có đối ngại, pháp không đối ngại; hữu lậu, vô lậu,
hữu vi, vô vi;tương ưng với tâm, không tương ưng với tâm;
tương ưng với nghiệp, không tương ưng với nghiệp (trong
tâm pháp, trừ tư tâm sở, tất cả đều tương ưng, vì nghiệp
tức là tư cho nên trừ), pháp gần, pháp xa v.v... Các loại
hai pháp như thế thu nhiếp hết thảy pháp (hiện tại và vô
vi là pháp gần, vị lai, quá khứ là pháp xa).
Lại
nữa, ba pháp thu nhiếp hết thảy pháp, đó là: Thiện,
bất thiện, vô ký; học, vô học, phi học phi vô học; kiến
đế đoạn, tư duy đoạn, bất đoạn.
Lại
nữa, ba pháp thu nhiếp hết thảy pháp là: Năm uẩn, mười
hai nhập, mười tám giới. Ðem các loại ba pháp như thế
thu nhiếp hết thảy pháp.
Lại
có bốn pháp thu nhiếp hết thảy pháp, đó là: Pháp quá khứ,
vị lai, hiện tại, pháp chẳng phải quá khứ, vị lai, hiện
tại. Pháp ràng buộc ở Dục giới, pháp ràng buộc ở
Sắc giới, pháp ràng buộc ở Vô sắc giới, pháp không ràng
buộc. Pháp từ nhân thiện, pháp từ nhân bất thiện,
pháp từ nhân vô ký, pháp chẳng phải từ nhân thiện, bất
thiện, vô ký. Pháp duyên, pháp duyên không duyên, pháp
duyên duyên không duyên, pháp chẳng phải duyên duyên chẳng
phải duyên không duyên. Các loại bốn pháp như vậy thu
nhiếp hết thảy pháp.
Lại
có năm pháp thu nhiếp hết thảy pháp, đó là: Sắc, tâm,
tâm tương ưng, tâm không tương ưng và pháp vô vi. Các
loại như vậy thu nhiếp hết thảy pháp.
Lại
có sáu pháp thu nhiếp hết thảy pháp, đó làPháp thấy khổ
đoạn, pháp thấy tập, tận, đạo đoạn, pháp tư duy đoạn
và pháp chẳng đoạn. Các loại sáu pháp như vậy, cho
đến vô lượng, thu nhiếp hết thảy pháp. Ấy là Nhất
thiết pháp.
Hỏi:
Các pháp sâu xa vi diệu không thể nghĩ bàn, hết thảy chúng
sanh còn không thể biết được, huống gì một người mà
muốn biết hết tất cả pháp? Thí như có người, muốn
lường đại địa và đếm giọt nước của biển cả, muốn
cân núi Tu-di, muốn biết ranh giới của hư không, những điều
như vậy còn không thể biết được. Tại sao muốn dùng
nhất thiết chủng để biết hết thảy pháp?
Ðáp:
Ngu si che tối rất là khổ, trí tuệ sáng suốt rất là vui.
Hết thảy chúng sanh đều không cầu đến khổ, chỉ muốn
tìm vui, cho nên Bồ-tát cầu hết thảy đại trí tuệ bậc
nhất mà quán hết thảy chủng để biết hết thảy pháp.
Bồ-tát ấy phát đại tâm khắp vì hết thảy chúng sanh mà
cầu đại trí tuệ, cho nên muốn biết hết chủng hết thảy
pháp. Cũng như thầy thuốc vì một người hai người
thì dùng một thứ thuốc hai thứ thuốc là đủ, còn nếu
muốn trị bệnh của hết thảy chúng sanh thì phải dùng hết
thảy thứ thuốc. Bồ-tát cũng như vậy. Muốn độ
hết thảy chúng sanh cho nên muốn biết hết thảy chủng hết
thảy pháp. Như các pháp sâu xa vi diệu vô lượng, thì
trí tuệ của Bồ-tát cũng sâu xa vi diệu vô lượng.
Trước đây trong đoạn đáp lại các vấn nạn phá bác về
"người Nhất thiết trí" đã nói rộng. Cũng như cái
hòm lớn thì nắp cũng lớn.
Lại
nữa, nếu không lấy lý nghĩa để cầu hết thảy pháp, thời
không thể được. Nếu lấy lý nghĩa để cầu thời
không có điều gì không được. Thí như dùi lửa với
cây thời lửa bật ra, chẻ củi tìm lửa, lửa không thể
có, cũng như đại địa có ranh giới, chẳng phải người
Nhất thiết trí, người không có đại thần lực thời không
thể biết được. Nếu có sức thần thông lớn thời
biết được ranh giới đại địa của ba ngàn đại thiên
thế giới. Nay đại địa này ở trên Kim cương, bốn
phía của ba ngàn đại thiên thế giới là hư không. Như
vậy gọi là ranh giới đại địa. Muốn cân núi Tu-di
cũng như vậy. Muốn lường hư không, chẳng phải không
lượng được, nhưng hư không thì không có gì cả, cho nên
không thể lường.
KINH:
Xá-lợi-phất bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn!
Bồ-tát Ma-ha-tát tại sao muốn dùng hết thảy chủng biết
hết thảy pháp thì phải tập hành Bát-nhã Ba-la-mật?"
LUẬN:
Hỏi: Phật muốn thuyết Bát-nhã Ba-la-mật nên hiện các
thứ thần biến, hiện rồi thì nên thuyết liền, cớ sao để
Xá-lợi-phất hỏi rồi sau mới thuyết?
Ðáp:
Hỏi rồi mới đáp, cách thức của Phật là phải như vậy.
Lại
nữa, Xá-lợi-phất biết Bát-nhã Ba-la-mật là pháp sâu xa
vi diệu vô tướng, khó hiểu khó biết, tự dùng trí lực
suy nghĩ nhiều cách, như quán các pháp vô thường, đó là
Bát-nhã Ba-la-mật ư? Hay không là Bát-nhã Ba-la-mật
ư? Vì không thể tự hiểu được cho nên hỏi.
Lại
nữa, Xá-lợi-phất chẳng phải là người Nhất thiết trí,
đối với trong trí tuệ của Phật, chỉ như bé con. Như
trong kinh A-bà-đàn-na nói: "Phật trú ở Kỳ Hoàn, đi
kinh hành lúc xế chiều, Xá-lợi-phất theo Phật kinh hành.
Khi ấy có con chim Cắt đuổi chim Bồ câu. Bồ câu bay
đến bên Phật, Phật kinh hành ngang qua, bóng phủ lên Bồ
câu, thân Bồ câu an ổn, sợ hãi tiêu mất, không còn tiếng
kêu. Sau có bóng của Xá-lợi-phất đến, Bồ câu liền
kêu lên và sợ hãi như lúc đầu. Xá-lợi-phất bạch
Phật: "Thân Phật và thân con, đều không có ba độc,
vì nhân duyên gì bóng Phật phủ lên Bồ câu thì Bồ câu im
tiếng không còn sợ hãi, còn bóng của con phủ lên, thì Bồ
câu kêu lên, sợ hãi như lúc đầu?" Phật nói: "Tập
khí ba độc của ông chưa hết, cho nên khi bóng của ông phủ
lên thì sợ hãi không trừ. Ông quán xem nhân duyên trước
của Bồ câu này mấy đời làm Bồ câu?"
Xá-lợi-phất
liền nhập vào tam muội Túc mạng trí, quán thấy Bồø câu
ấy chính từ trong loài Bồø câu đến. Như vậy một,
hai, ba đời, cho đến tám vạn đại kiếp, thường làm thân
Bồø câu. Quá đây trở về trước không còn thấy được
nữa, Xá-lợi-phất từ tam muội dậy bạch Phật rằng:
"Bồø câu ấy trong tám vạn đại kiếp thường làm thân Bồø
câu, quá đó về trước, con không còn biết được nữa".
Phật nói: "Ông nếu không biết được hết đời quá
khứ, thử quán xem đời vị lai, Bồø câu ấy đến lúc nào
thì thoát được?"
Xá-lợi-phất
liền nhập vào tam muội Nguyện trí, quán thấy Bồø câu ấy
một, hai, ba đời, cho đến tám vạn đại kiếp, chưa thoát
khỏi thân Bồø câu. Quá đó trở đi, cũng không còn
biết được nữa. Từ tam muội dậy, bạch Phật:
"Con thấy Bồø câu ấy từ một, hai, ba đời, cho đến tám
vạn đại kiếp, chưa thoát khỏi thân Bồø câu. Quá
đây trở đi không còn biết được nữa. Con không biết
giới hạn quá khứ, vị lai. Vậy không hiểu Bồø câu
ấy lúc nào sẽ thoát khỏi". Phật bảo: " Xá-lợi-phất!
Bồø câu ấy trừ hạng mức mà các Thanh-văn và Bích-chi Phật
biết được, lại còn trải qua hằng hà sa đại kiếp, làm
thân Bồø câu, khi tội hết mới được thoát khỏi, xoay vần
mãi trong năm đường, sau được làm thân người, trải qua
trong năm trăm đời mới được lợi căn. Lúc ấy có
Phật, độ vô lượng vô số chúng sanh, sau đó vào Vô-dư
Niết-bàn. Giáo pháp để lại ở đời, người ấy (hậu
thân Bồ câu) thọ năm giới Ưu-bà-tắc, theo các Tỳ-kheo nghe
tán thán công đức Phật, bấy giờ mới phát tâm, nguyện
được làm Phật, vậy sau ba A-tăng-kỳ kiếp, thực hành sáu
Ba-la-mật, mười địa đầy đủ, được làm Phật, độ vô
lượng chúng sanh xong mà vào Niết-bàn.
Khi
ấy, Xá-lợi-phất hướng đến Phật sám hối, bạch Phật
rằng: "Ðối với một con chim, con còn không thể biết
gốc ngọn của nó, huống gì các pháp? Con nếu biết
trí tuệ của Phật như vậy, thì vì trí tuệ Phật mà con
thà vào địa ngục chịu vô lượng khổ, không cho là khó".
Như
vậy v.v... đối với các pháp vì không hiểu cho nên hỏi.
CHƯƠNG
17
GIẢI
THÍCH: ÐÀN BA-LA-MẬT
KINH:
Phật bảo: "Xá-Lợi-Phất! Bồ-tát Ma-ha-tát do không
trú pháp mà trú trong Bát-nhã Ba-la-mật, vì không có gì xả
mà được đầy đủ Ðàn Ba-la-mật. Vì người cho, người
nhận và tài vật đều bất khả đắc vậy".
LUẬN:
Hỏi: Bát-nhã Ba-la-mật là pháp những pháp gì?
Ðáp:
Có người nói: Tuệ căn vô lậu là tướng Bát-nhã Ba-la-mật,
vì cớ sao? Tuệ căn là bậc nhất trong các tuệ, nên gọi
là Bát-nhã Ba-la-mật? Vì tuệ căn vô lậu là bậc nhất,
nên tuệ căn vô lậu gọi là Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Nếu Bồ-tát chưa dứt hết kiết sử, làm sao thực hành tuệ
vô lậu?
Ðáp:
Bồ-tát tuy chưa dứt kiết sử, thực hành vô lậu Bát-nhã
Ba-la-mật tương tự, cho nên được gọi là thực hành vô
lậu Bát-nhã Ba-la-mật. Thí như người Thanh-văn thực
hành noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhất pháp,
trước tiên thực hành vô lậu tương tự, sau mới dễ được
sanh ra khổ pháp trí nhẫn.
Có
người nói: "Bồ-tát có hai hạng: Có hạng dứt
kiết sử được thanh tịnh; có hạng chưa dứt kiết sử,
không được thanh tịnh. Bồ-tát dứt kiết sử được
thanh tịnh, thì có thể thực hành vô lậu Bát-nhã Ba-la-mật.
Hỏi:
Nếu Bồ-tát đã dứt kiết sử, được thanh tịnh , sao còn
phải thực hành Bát-nhã Ba-la-mật?
Ðáp:
Tuy dứt kiết sử, mà mừơi địa chưa viên mãn, chưa trang
nghiêm Phật độ, chưa giáo hóa chúng sanh, thế cho nên thực
hành Bát-nhã Ba-la-mật.
Lại
nữa, dứt kiết sử có hai: Một là dứt tâm ba độc,
không đắm trước ngũ dục của cõi Người cõi Trời, hai
là tuy không đắm trước ngũ dục của cõi Người cõi Trời,
nhưng đối với ngũ dục công đức quả báo của Bồ-tát,
chưa thể xả ly. Bồ-tát như vậy, nên phải thực hành
Bát-nhã Ba-la-mật.
Thí
như Trưởng lão A-nê-lô-đậu, lúc tọa thần ở trong rừng.
Thiên nữ Tịnh Ái v.v... đem thân sạch đẹp đến thử A-nê-lô-đậu.
A-nê-lô-đậu nói: "Các chị làm thành sắc xanh đi đến, không
dùng tạp sắc, nên muốn quán bất tịnh, không thể quán được.
Sắc vàng, đỏ, trắng cũng như vậy".
Khi
ấy A-nê-lô-đậu nhắm mắt không nhìn mà nói rằng:
"Các chị đi cho xa". Các thiên nữ liền biến mất không
hiện.
Thân
hình phước báo của Trời còn như vậy, huống là vô lượng
công đức quả báo ngũ dục của Bồ-tát?
Lại
như vua Chân-đà-ra (Indra) cùng với tám vạn bốn ngàn Chân-đa-ra
đi đến chỗ Phật, gảy đờn ca tụng để cúng dường Phật.
Bấy giờ núi chúa Tu-di và cây cối các núi, nhân dân, cầm
thú, hết thảy đều múa. Ðại chúng ở bên Phật, cho
đến Ðại Ca-diếp đều không thể ngồi yên trên tòa.
Lúc ấy Bồ-tát Thiên Tu hỏi: "Trưởng lão Ðại Ca-diếp
bậc kỳ túc cao niên, bậc nhất về hạnh tu mười hai pháp
đầu đà, tại sao không thể ngồi yên trên tòa?" Ðại
Ca-diếp nói: "Ngũ dục của ba cõi không thể làm lay động
tôi, nhưng đây là vì các công đức thần thông quả báo của
Bồ-tát khiến tôi như vậy, chứ chẳng phải tôi có tâm động,
không thể tự an. Thí như núi Tu-di, gió thổi bốn bề
không thể làm lay động, nhưng đến khi đại kiếp tận diệt,
có gió Tỳ-lam nổi lên thì như thổi cỏ mục".
Do
các việc như vậy, nên biết trong hai thứ kiết sử, có một
thứ chưa dứt hết. Những Bồ-tát như vậy, nên phải
thực hành Bát-nhã Ba-la-mật, ấy là trong A-tỳ-đàm nói.
Lại
có người nói: "Bát-nhã Ba-la-mật là hữu lậu tuệ,
vì cớ sao? Vì Bồ-tát khi đến dưới cội Bồ đề mới
dứt hết kiết sử. Trước đó, tuy có đại trí tuệ,
có vô lượng công đức mà các phiền não chưa dứt hết.
Thế cho nên nói Bát-nhã Ba-la-mật của Bồ-tát là trí tuệ
hữu lậu.
Lại
có người nói: "Từ sơ phát tâm cho đến khi ngồi dưới
cội Ðạo thọ, những trí tuệ có được ở khoảng trung
gian đó, gọi là Bát-nhã Ba-la-mật. Ðến khi thành Phật,
thì Bát-nhã Ba-la-mật ấy đổi lại gọi là Tát-bà-nhã".
Lại
có người nói: "Trí tuệ hữu lậu vô lậu của Bồ-tát
đều gọi là Bát-nhã Ba-la-mật, vì cớ sao? Vì Bồ-tát
quán Niết-bàn, hành phật đạo. Do việc như vậy, nên
trí tuệ của Bồ-tát phải là vô lậu. Lại nữa vì
chưa dứt hết kiết sử, việc phải làm chưa làm xong, nên
gọi là hữu lậu".
Lại
có người nói: "Bát-nhã Ba-la-mật của Bồ-tát là vô
lậu vô vi, không thể thấy, không đối ngại".
Lại
có người nói: "Bát-nhã Ba-la-mật ấy, là không có tướng
gì có thể nắm bắt, hoặc có hoặc không, hoặc thường,
hoặc vô thường, hoặc không, hoặc thật. Bát-nhã Ba-la-mật
ấy không nhiếp thuộc ấm, giới, nhập, chẳng phải hữu
vi, chẳng phải vô vi, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp,
không thủ, không xả, không sanh, không diệt, ra ngoài bốn
câu có không, là không dính mắc, thí như ngọn lửa, bốn
phía không thể đụng đến, vì làm cháy tay. Tướng Bát-nhã
Ba-la-mật cũng như vậy, không thể đụng đến vì tà kiến
bị đốt cháy vậy.
Hỏi:
Các người trên nói về Bát-nhã Ba-la-mật như vậy, người
nào nói đúng?
Ðáp:
Có người nói: "Mỗi người đều có lý, đều là đúng".
Như kinh nói năm trăm Tỳ-kheo mỗi người đều nói về nhị
biên và trung đạo nghĩa. Phật nói họ đều có đạo
lý.
Có
người nói: "Người trả lời sau cùng là đúng, vì cớ
sao? Vì không thể phá, không thể hoại. Nếu có
pháp bằng như ly hào, là đều có sai lầm, có thể phá.
Nếu nói không pháp, cũng có thể phá. Trong Bát-nhã này,
có cũng không, không cũng không, chẳng phải có chẳng phải
không cũng không. Lời nói như vậy cũng không, ấy gọi
là pháp tịch diệt vô lượng, không hý luận. Cho nên
không thể phá, không thể hoại, ấy gọi là chơn thật Bát-nhã
Ba-la-mật, hơn cả, không gì vượt qua được. Cũng như
Chuyển luân Thánh vương, hàng phục các kẻ địch mà không
tự cao. Bát-nhã Ba-la-mật cũng như thế, có thể phá
hết thảy ngữ ngôn hý luận, mà chẳng có gì phá. Lại
nữa, từ đây về sau, trong các phẩm, có nhiều lối cắt
nghĩa thuyết về Bát-nhã Ba-la-mật, đều là thật tướng.
Như vậy, không trú pháp mà trụ trong Bát-nhã Ba-la-mật, có
thể đầy đủ sáu Ba-la-mật.
Hỏi:
Thế nào không trú pháp mà trụ trong Bát-nhã Ba-la-mật, có
thể đầy đủ sáu Ba-la-mật?
Ðáp:
Bồ-tát như vậy quán hết thảy chẳng phải thường, chẳng
phải vô thường, chẳng phải khổ, chẳng phải vui, chẳng
phải ngã, chẳng phải vô ngã, chẳng phải sanh diệt, chẳng
phải không sanh diệt. Như vậy trú trong thậm thâm Bát-nhã
Ba-la-mật, mà đối với tướng Bát-nhã Ba-la-mật cũng chẳng
phải chấp thủ, ấy gọi là không trú pháp mà trú.
Hỏi:
Nếy không chấp thủ tướng Bát-nhã Ba-la-mật, thì tâm không
dính mắc. Như Phật đã nói: "Trong hết thảy các
pháp, dục là gốc nó". Nếu không chấp thủ thì làm
sao đầy đủ sáu Ba-la-mật?
Ðáp:
Bồ-tát vì thương xót chúng sanh nên trước tiên lập thệ
nguyện: "Ta quyết sẽ độ thoát hết thảy chúng sanh.
Do sức tinh tấn Ba-la-mật, nên tuy biết các pháp bất sanh
bất diệt như tướng Niết-bàn, mà lại tu hành các công đức,
đầy đủ sáu Ba-la-mật, vì cớ sao? Vì không trú pháp
mà trú Bát-nhã Ba-la-mật.
CHƯƠNG
18
GIẢI
THÍCH: TÁN THÁN ÐÀN BA-LA-MẬT
Hỏi:
Bố thí có những lợi ích gì, mà Bồ-tát trú trong Bát-nhã
Ba-la-mật thì Ðàn Ba-la-mật được đầy đủ viên mãn?
Ðáp:
Bố thí có đủ thứ lợi ích. Bố thí là kho báu, thường
theo dõi người. Bố thí làm diệt khổ, đem vui cho người.
Bố thí là kẻ đánh xe giỏi mở bày con đường chư thiên.
Bố thí là điệu phù tốt thu nhiếp các người lành (thu nhiếp
người lành cùng làm nhân duyên). Bố thí là an ổn, khi
sắp mệnh chung tâm không sợ hãi. Bố thí là tướng
từ tâm, hay cứu chúng sanh. Bố thí là nhóm điều vui,
hay phá giặc khổ. Bố thí là đại tướng hay dẹp kẻ
địch xan tham. Bố thí là diệu quả được trời người
ưa thích. Bố thí là con đường thanh tịnh, hiền thánh
dạo đi. Bố thí là cửa chứa phước đức lành.
Bố thí là cái duyên để xây dựng nghiệp, quy tụ chúng.
Bố thí là hạt giống thiện hành thọ quả. Bố thí
là phước nghiệp, tướng của người lành. Bố thí phá
nghèo cùng, dứt ba đường ác. Bố thí hay trọn vẹn
được quả phước lạc. Bố thí là cái duyên ban đầu
của Niết-bàn, là pháp thiết yếu để đi vào trong nhóm người
lành, là nguồn phủ của sự tán thán khen ngợi, là công đức
để vào giữa chúng không khó khăn, là hang nhà của tâm không
hối hận, là căn bản của thiện pháp đạo hành, là
rừng rậm của mọi điều hoan lạc, là ruộng phước của
giàu sang an ổn, là bến bờ của sự đắc đạo Niết-bàn,
là sở hành của Thánh nhân, đại sĩ, trí giả, là chỗ bắt
chước của các người kém đức ít biết.
Lại
nữa, ví như nhà bị lửa cháy, người khôn ngoan biết rõ
hình thế, lửa chưa đến kịp, gấp đem tài vật ra ngoài;
nhà tuy bị cháy hết mà tài vật vẫn còn, để sau làm nhà
lại. Người ưa bố thí cũng như vậy. Biết thân
mong manh, tài vật vô thường, lo tu phước kịp thời, giống
như từ trong lửa đem tài vật ra, đời sau được hưởng
vui. Cũng như người kia còn sửa lại nghiệp nhà, phước
tốt tự an vui. Người u mê thì chỉ biết tiếc cái nhà,
vội tìm cách cứu chữa. Cuồng ngu mất trí, không lường
thế lửa, gió mạnh cháy bừng, đất đá cháy sém, giữa tiếng
ầm vang, hỏng hết mất sạch. Nhà đã không cứu được,
mà tài vật cũng mất hết, đói rét lo khổ suốt đời.
Người có tâm tham tiếc cũng như vậy. Không biết thân
mạng vô thường, khó bảo toàn giây lát, mà lại cứ gom chứa
giữ gìn ái tiếc, chết đến không hẹn, bỗng chốc chết
mất, thân mình cùng cây đất đồng trôi đi, của cải cùng
vật ủy thác đều bỏ hết. Cũng như người ngu, lo khổ
mất hết sanh kế.
Lại
nữa, người đại tuệ, bậc hữu tâm mới hay giác ngộ, biết
thân như huyễn, tiền của không thể bảo toàn; vạn vật
vô thường, chỉ có phước đức là có thể nương cậy, đưa
người ra khỏi khổ, là bến thông đạo lớn.
Lại
nữa, đại nhân đại tâm hay đại bố thí, hay tự lợi mình.
Tiểu nhân, tiểu tâm, không thể ích người cũng không có
hậu với mình.
Lại
nữa, dũng sĩ gặp địch, chắc mong nuốt sống; người trí
tâm huệ, được ngộ lý sâu xa; kẻ giặc xan lẩn tuy mạnh,
cũng bẻ gãy được, quyết khiến như ý. Gặp phước
điền tốt, gặp thời tiết đẹp (Lúc cần bố thí thì bố
thí, nếu không làm là bỏ mất thời tiết) rõ việc ứng
lòng, hay đại bố thí.
Lại
nữa, người ưa bố thí, được người kính phục. Như
mặt trăng mới mọc chẳng ai không ưa. Tiếng tốt danh
lành đồn khắp thiên hạ, được người quy ngưỡng, mọi
người đều tin. Người ưa bố thí, được quý nhân
tưởng nhớ, tiện nhân kính trọng. Khi sắp mạng chung,
tâm không sợ hãi. Quả báo như vậy, được trong đời
này, thí như trồng hoa; có quả lớn vô lượng, là phước
của đời sau, trong vòng sanh tử luân chuyển, qua lại năm
đường, không có người thân để có thể trông cậy, chỉ
có phước bố thí, hoặc sanh lên trời, trong loài người,
được quả báo thanh tịnh, đều do bố thí. Voi ngựa
súc sanh được nuôi nấng tốt cũng là do bố thí mà được.
Ðức của bố thí đưa đến giàu sang hoan lạc, người trì
giới thì được sanh lên trời, thiền trí tâm tịnh, không
có nhiễm trước, thời được đạo Niết-bàn. Phước
của bố thí là tư lương của đạo Niết-bàn.
Niệm
tưởng bố thí nên hoan hỷ, hoan hỷ nên nhất tâm, nhất tâm
quán lý sanh diệt vô thường nên đắc đạo. Cũng như
người mong có bóng mát mà trồng cây, hoặc mong có hoa, hoặc
mong có quả mà trồng cây. Bố thí vì mong được quả
báo cũng như vậy. Ðời này, đời sau vui như mong bóng
mát. Ðạo Thanh-văn, Bích-chi Phật như hoa, thành Phật
như quả, ấy là các thứ công đức của bố thí.
CHƯƠNG
19
GIẢI
THÍCH: TƯỚNG CỦA ÐÀN BA-LA-MẬT
Hỏi:
Sao gọi là Ðàn?
Ðáp:
Ðàn gọi là bố thí. Tâm tương ưng với tư tâm sở thiện;
ấy gọi là Ðàn.
Có
người nói: "Tư tâm sở thiện, khởi lên thân nghiệp,
khẩu nghiệp, ấy gọi là Ðàn".
Có
người nói: "Có lòng tin, có phước điền, có tài vật,
khi cả ba sự hòa hợp, tâm sanh pháp "xả", có thể phá hoại
xan tham; ấy gọi là Ðàn. Thí như pháp "từ", quán thấy
chúng sanh không vui mà tâm sanh thương. Tâm sở pháp bố
thí cũng như vậy. Ba sự hòa hợp, tâm sanh pháp "xả",
có thể phá hoại xan tham.
Ðàn
có ba thứ: Hoặc hệ thuộc theo Dục giới, hoặc hệ
thuộc theo Sắc giới; hoặc không hệ thuộc (thánh nhân làm
bố thí là không hệ thuộc). Là pháp tương ưng với
tâm, theo tâm hành động cùng với tâm sanh, chẳng phải là
sắc pháp, có thể làm duyên. Chẳng phải nghiệp, nhưng
tương ưng với nghiệp, theo nghiệp hành động, cùng với nghiệp
sanh; chẳng phải là nghiệp báo đời trước sanh.
Hai
lối tu nên tu, là hành tu và đắc tu.
Hai
lối chứng là thân chứng và tuệ chứng.
Hoặc
tư duy đoạn, hoặc chẳng đoạn, hai kiến đoạn (Dục giới,
Sắc giới tận đoạn). Là pháp có giác có quán, phàm
phu và thánh nhân cùng tu hành.
Các
nghĩa như vậy v.v... có phân biệt nói rộng ở trong A-tỳ-đàm.
Lại
nữa, Thí có hai thứ: Có thanh tịnh và không thanh tịnh.
Thí không thanh tịnh là: Hàng ngu si thí mà không hiểu
gì; hoặc có khi vì cầu tài nên thí; hoặc vì sợ hiềm trách
nên thí; hoặc vì muốn cầu ý người nên thí; hoặc sợ chết
nên thí; hoặc dối người để cho họ mừng nên thí; hoặc
tự cho giàu sang nên phải thí; hoặc tranh hơn nên thí; hoặc
ganh ghét sân si nên thí; hoặc kiêu mạn tự cao nên thí; hoặc
vì danh dự nên thí; hoặc vì chú nguyện nên thí, hoặc giải
trừ suy hoại cầu tốt lành nên thí; hoặc vì quy tụ đông
người nên thí; hoặc khinh hèn không cung kính nên thí.
Các thứ thí như vậy v.v... gọi là thí không thanh tịnh.
Thí
thanh tịnh là trái ngược lại với trên, gọi là thí thanh
tịnh.
Lại
nữa, vì đạo nên thí, tâm sanh thanh tịnh; không các kiết
sử; không cầu quả báo đời này đời sau, cung kính thương
xót; ấy gọi là thí thanh tịnh. Thí thanh tịnh là
tư lương đưa đến đạo Niết-bàn; thế cho nên nói vì đạo
nên thí. Nếu chưa được Niết-bàn, sự thí ấy là các
nhân của lạc bảo ở cõi trời cõi người. Như hoa Anh
lạc, mới thành chưa hoại, hương thơm tinh khiết tươi đẹp.
Vì Niết-bàn mà tịnh thí, được hưởng quả báo, cũng như
vậy. Như Phật nói: "Ðời có hạng người khó được:
Một là trong hàng xuất gia, vị Tỳ-kheo được phi thời giải
thoát; hai là trong hàng tại gia, kẻ bạch y hay bố thí thanh
tịnh."
Tướng
bố thí thanh tịnh ấy, cho đến vô lượng đời, đời đời
không mất. Ví như bằng khoán, không khi nào mất.
Quả của sự bố thí ấy, khi nhân duyên hòa hợp bèn có.
Cũng như cây gặp được thời tiết liền có hoa lá quả trái.
Nếu thời tiết chưa đến, tuy có nhân mà không có quả.
Pháp bố thí ấy, nếu để cầu đạo, có thể đưa đến
nhân đạo, vì sao? Vì kiết sử diệt hết mới gọi là
Niết-bàn. Ðương khi bố thí, các kiết sử được mỏng
bớt, thì có thể giúp cho Niết-bàn.
Ðối
với vật bố thí không tiếc cho nên trừ keo kiệt; kính niệm
người thọ nhận cho nên trừ tật đố; trực tâm bố thí
cho nên trừ nịnh hót quanh co; nhất tâm bố thí cho nên
trừ giao động; suy nghĩ sâu bố thí cho nên trừ hối hận;
quán công đức của người thọ nhận cho nên trừ tâm ái;
thương yêu người thọ nhận cho nên trừ sân; cung kính người
thọ nhận cho nên trừ kiêu mạn; biết hành thiện pháp cho
nên trừ vô minh; tin có quả báo cho nên trừ tà kiến;
biết quyết chắc có quả báo cho nên trừ nghi. Các thứ
phiền não bất thiện như vậy, khi bố thí đều bị mỏng
đi, mà các thứ thiện pháp đều có được.
Khi
bố thí, sáu căn thanh tịnh, tâm thiện dục phát sanh nên trong
tâm thanh thịnh; quán công đức quả báo nên tín tâm phát
sanh; thân tâm nhu nhuyến cho nên hỷ lạc phát sanh; hỷ lạc
phát sanh nên được nhất tâm; được nhất tâm nên trí tuệ
chơn thật phát sanh. Các thiện pháp như vậy thảy đều
có được.
Lại
nữa, khi bố thí, trong tâm phát sanh Tám chánh đạo tương
tợ. Tin quả báo bố thí nên có được Chánh kiến; trong
chánh kiến suy nghĩ không tán loạn nên được Chánh tư
duy; thanh tịnh nói năng nên được Chánh ngữ; thanh tịnh thân
hành nên được Chánh nghiệp; không cầu quả báo nên được
Chánh mạng; tâm siêng bố thí nên được Chánh phương tiện
(tinh tấn); niệm tưởng bố thí không bỏ nên được Chánh
niệm; tâm trụ một nơi không tán loạn nên được Chánh định.
Như vậy ba mươi bảy phẩm thiện pháp tương tợ phát sanh
trong tâm.
Lại
nữa, có người bố thí, ấy là nhân duyên của ba mươi hai
tướng, vì cớ sao? Khi bố thí giữ tâm kiên cố nên
được tướng dưới bàn chân bằng phẳng đứng vững.
Khi bố thí, có năm sự vây quanh người thọ nhận, là nghiệp
nhân duyên về quyến thuộc, nên được tướng bánh xe dưới
bàn chân. Do sức đại dõng mãnh bố thí, nên đuợc tướng
gót chân rộng phẳng. Bố thí nhiếp phục người, nên
được tướng mạn lưới giữa các ngón tay, chân. Bố
thí thức ăn uống ngon lành, nên được tướng tay chân mềm
mại, bảy chỗ nơi thân đầy đặn. Bố thí để lợi ích
mạng sống, nên được tướng ngón tay dài, thân không cong,
to lớn ngay thẳng. Khi bố thí nói rằng ta sẽ đem cho,
tâm bố thí tăng dần, nên được tướng mu bàn chân cao, lông
xoay lên trên. Khi bố thí, người thọ nhận mong cầu,
thì một lòng vui cho, ân cần hứa hẹn, để chắc chắn mau
được, nên được tướng bắp đùi như nai Y-nê-diên.
Không khinh không giận người đến xin, nên được tướng
cánh tay dài quá gối. Theo ý người xin mà thí, không đợi
nói ra, nên được tướng mã âm tàng. Bố thí y phục,
đồ nằm tốt, vàng bạc, trân bảo, nên được tướng thân
kim sắc, tướng da mỏng. Khi bố thí thích hợp với ý
của người trước mặt, khởi lên nghiệp nhân duyên của
sự tự tại, nên được tướng mỗi lỗ chân lông mọc một
sợi lông, tướng lông trắng ở giữa hai chân mày. Người
xin cần gì, liền nói sẽ cho, do nghiệp ấy nên được tướng
thân trên tròn trịa như vai Sư tử. Gặp người bệnh
thì cho thuốc, gặp người đói khát thì cho ăn uống, khởi
lên nghiệp nhân duyên ít bệnh ấy nên được tướng dưới
hai nách đầy đặn, tướng chất vị tối thượng (trong miệng).
Khi bố thí cũng khuyên người bố thí mà an ủi chỉ vẻ con
đường bố thí cho họ, nên được tướng nhục kế, tướng
thân tròn trịa như Ni-câu-lô. Có người đến xin, khi
có ý muốn cho êm ái nói thật, quyết chắc cho không dối,
nên được tướng lưỡi rộng dài, tướng âm thanh thanh tịnh,
tướng âm thanh như tiếng chim Ca-lăng-tần-già. Khi bố
thí nói như thật, nói có lợi ích, nên được tướng hai
má như Sư tử. Khi bố thí cúng dường người thọ nhận,
tâm thanh tịnh, nên được tướng răng trắng đều nhau.
Khi bố thí nói thật, nói lời hòa hợp, nên được tướng
răng khít vào nhau, bốn mươi hai cái. Khi bố thí không
giận, tâm không đắm trước, tâm bình đẳng đối với người
kia, nên cảm được tướng con mắt trong xanh, tướng mí mắt
như mắt trâu chúa... Ấy là gieo trồng nhân duyên về
ba mươi hai tướng.
Lại
nữa, lấy bảy báu, nhân dân, xe cộ, vàng bạc, đèn đuốc,
phòng xá hương hoa mà bố thí nên được làm Chuyển luân
Thánh vương, bảy báu đầy đủ.
Lại
nữa, bố thí đúng thời nên quả báo cũng tăng thêm nhiều.
Như Phật dạy: "Bố thí cho người đi xa, cho người từ
xa đến, cho người bệnh, cho người nuôi bệnh, bố thí khi
gặp nạn gió rét, ấy là bố thí đúng thời.
Lại
nữa, khi bố thí tùy theo sự cần thiết theo địa phương
mà thí, nên được quả báo tăng nhiều.
Lại
nữa, ở giữa đường trống mà thí, được phước tăng nhiều.
Thường bố thí không bỏ, thì được quả báo tăng nhiều.
Theo chỗ ưa muốn của người xin mà thí, thì được phước
tăng nhiều. Bố thí vật nặng, thì được phước tăng
nhiều, như thí tinh xá,vườn rừng, ao tắm v.v... nếu thí
cho người làng thì được quả báo thêm nhiều. Nếu
thí cho tăng thì được quả báo thêm nhiều. Nếu người
cho và người nhận đều có đức thì quả báo thêm nhiều.
Ðủ thứ nghinh đón cung kính người thọ nhận, thì được
quả báo thêm nhiều. Thí vật khó kiếm được thì được
phước thêm nhiều. Tùy vật có được đều có thể
thí hết, thì được phước thêm nhiều. Ví như ở trong
thành Phất-ca-la của nước Ðại-nhục-chi, có một thợ vẽ
tên là Thiện-na, đi đến nước Ða-lợi-đà-na ở phương
đông, làm khách vẽ suốt mười hai năm, được ba mươi hai
lượng vàng, đem về nước cũ, ngang qua thành Phất-ca-la, nghe
có tiếng trống mở đại hội, đi đến trông thấy Tăng chúng,
liền sanh lòng tin thanh tịnh, hỏi thầy Duy-na rằng: "Trong
chúng này cần bao nhiêu vật thì đủ một ngày ăn?" Thầy
Duy-na đáp: "Ba mươi lượng vàng thì đủ một ngày ăn".
Người
thợ vẽ liền lấy ba mươi lượng vàng có được, giao thầy
Duy-na và nói: "Giúp tôi làm một ngày ăn, sáng mai tôi
sẽ đi về nhà".
Người
thợ vẽ với hai tay không mà trở về nhà, vợ anh ta hỏi:
"Mười hai năm làm nên được thứ gì?" Ðáp: "Ðược
ba mươi lượng vàng". Người vợ liền hỏi: "Ba
mươi lượng vàng nay đâu rồi?" Ðáp: "Ðã gieo trong
ruộng phước". Vợ hỏi: " Ruộng phước gì?"
Ðáp: "Thí cho chúng Tăng". Người vợ liền trói
chồng đem đến cho quan trị tội. Ðại quan xử đoán
hỏi cớ sự. Người vợ đáp: "Chồng tôi si cuồng,
suốt mười hai năm làm được ba mươi lượng vàng, không
thương xót vợ con mà lại đem cho hết người khác. Y
như luật quan, bèn trói đưa đến". Ðại quan hỏi
người chồng: "Ngươi sao không cung cấp vợ con, mà lại
đem cho người khác?" Ðáp: "Ðời trước tôi không
làm công đức nên đời này nghèo chịu đủ cay đắng, đời
này gặp ruộng phước, nếu không gieo phước thì đời sau
còn nghèo nữa; cứ nghèo tiếp nghèo mãi không biết ngày nào
thoát khỏi. Tôi nay muốn dứt ngay sự nghèo cùng, cho
nên đem hết vàng mà thí cho Tăng chúng".
Ðại
quan là một vị Ưu-bà-tắc, có lòng tin Phật thanh tịnh, nghe
lời ấy xong, khen rằng: "Ấy là rất khó! Siêng
năng khó nhọc mới có được một ít vật ấy, mà đem thí
cho hết chúng Tăng, ngươi thật là người thiện!" Liền
cởi chuỗi Anh lạc trên thân và xe ngựa, với một thôn đem
cho người nghèo ấy, mà nói rằng: "Người mới thí chúng
Tăng, chúng Tăng chưa ăn, ấy là hạt lúa chưa gieo mà mầm
đã mọc, quả báo lớn đương ở kế sau vậy!" Do vậy
nên nói thí hết vật khó kiếm được, thì phước rất nhiều.
Lại
nữa, có thứ bố thí của thế gian, có thứ bố thí của
xuất thế gian, có thứ bố thí được Thánh nhân khen ngợi,
có thứ bố thí không được Thánh nhân khen ngợi, có thứ
bố thí của Phật Bồ-tát, có thứ bố thí của Thanh-văn.
Thế
nào là bố thí của thế gian? Người phàm phu bố thí,
cũng như Thánh nhân khởi tâm hữu lậu bố thí; ấy gọi là
thế gian thí.
Lại
nữa, có người nói: "Người phàm phu bố thí; ấy là
thế gian thí. Thánh nhân tuy tâm hữu lậu bố thí, nhưng
vì để dứt kiết sử nên gọi là xuất thế gian thí, vì
cớ sao? Vì Thánh nhân ấy được Vô tác tam muội vậy.
Lại
nữa, thế gian thí là không thanh tịnh, xuất thế gian thí
là thanh tịnh. Hai thứ kiết sử một thuộc ái, một
thuộc kiến. Bị hai thứ kiết sử sai khiến là thế
gian thí; không bị hai thứ kiết sử ấy, là xuất thế
gian thí. Nếu có ba thứ (người cho, người nhận, tài
vật) chướng ngại ràng buộc tâm, là thế gian thí, vì cớ
sao? Các pháp nhân duyên thật không có tự ngã, mà nói
là ta cho, kia nhận, cho nên gọi là thế gian thí.
Lại
nữa, ta không có chỗ nhất định. Lấy ta làm kia, kia
cho là không phải, lấy kia làm ta, ta cho là không phải.
Vì là không nhất định, nên thật không có ngã (ta).
Vật thí là do nhân duyên hòa hợp mà có, không một vật nào
đơn độc tự có; như lụa, vải, do các duyên hợp lại mà
thành, bỏ tơ bỏ sợi thời không có lụa. Các pháp cũng
như vậy. Nhất tướng vô tướng, tướng thường tự
không, nhưng người ta móng tưởng niệm, chấp cho là có, điên
đảo không thật, ấy là thế gian thí. Tâm không có ba
chướng ngại, thật biết rõ pháp tướng, tâm không điên
đảo; ấy là xuất thế gian thí. Xuất thế gian thí được
Thánh nhân khen ngợi, thế gian thí không được Thánh nhân
khen ngợi.
Lại
nữa, thanh tịnh thí thì không lẫn lộn các kiết sử ô cẩn,
đúng như thật tướng các pháp, là được Thánh nhân khen
ngợi. Không thanh tịnh thí, thì lẫn lộn các kiết sử,
tâm điên đảo chấp đắm, là không được Thánh nhân khen
ngợi.
Lại
nữa, thật tướng và trí tuệ hòa hợp mà bố thí, là được
Thánh nhân khen ngợi; nếu không như vậy, là không được
Thánh nhân khen ngợi.
Lại
nữa, không vì chúng sanh cũng không vì biết thật tướng các
pháp, mà chỉ cầu thoát khỏi sanh già bệnh chết nên thí;
ấy là Thanh-văn thí. Vì chúng sanh, cũng vì biết thật
tướng các pháp nên thí; ấy là chư Phật Bồ-tát thí.
Ðối với các công đức không thể đầy đủ, chỉ mưốn
được chút ít phần; ấy là Thanh-văn thí. Muốn đầy
đủ viên mãn hết thảy các công đức; ấy là chư Phật Bồ-tát
thí. Vì sợ già bệnh chết nên thí; ấy là Thanh-văn
thí. Vì bảo trợ Phật đạo, vì hóa độ chúng sanh,
không vì sợ già bệnh chết mà thí; ấy là chư Phật Bồ-tát
thí. Trong đây nói về Bồ-tát Bản Sanh kinh. Như
trong kinh A-bà-đà-na nói: "Xưa trong châu Diêm-phù-đề,
có vị vua tên là Bà-la-bà. Bấy giờ có Bà-la-môn Bồ-tát
tên là Vi-la-ma, là thầy của Quốc vương, dạy vua thực hành
pháp Chuyển luân Thánh vương. Vi-la-ma giàu có vô lượng, trân
châu bảo đầy đủ, suy nghĩ rằng: "Người đời cho
ta là sang, tài của giàu có vô lượng, làm lợi ích chúng
sanh. Nay chính là đúng lúc hãy nên bố thí lớn.
Giàu sang tuy vui mà hết thảy vô thường, tài của là chung
của cả năm nhà (nước, lửa, vua quan, đạo tặc, con bất
hiếu) khiến lòng người tán loạn, khinh động không yên định.
Giống như con khỉ không chút ở yên. Mạng người chóng qua
nhanh hơn điển chớp. Thân nngười vô thường, là chỗ
tụ đọng các thứ khổ. Vì vậy nên thực hành bố thí.
Suy
nghĩ như vậy, tự tay viết lời tỏ bày, phổ cáo cho các
Bà-la-môn và hết thảy người xuất gia trong cõi Diêm-phù-đề:
Mong đều đến họp tại nhà tôi, tôi muốn mở đại hội
suốt mười hai năm, cơm, nước, thuyền đi, lấy cao sữa làm
ao, bún gạo làm núi; váng dầu làm ngòi rạch; y phục, ăn
uống, đồ thuốc thang đều sắm rất tốt. Quá mười
hai năm lại muốn đem bố thí tám muôn bốn ngàn voi trắng;
lấy mai tê giác và vàng trang sức, quấn bằng danh bảo, dựng
cờ lớn bằng vàng, có bốn báu trang nghiêm. Tám muôn
bốn ngàn ngựa; cũng lấy mai tê giác và vàng trang sức, có
bốn báu quấn quanh. Tám muôn bốn ngàn xe đều bằng
bạc, lưu ly, pha lê, châu báu trang sức, phủ bằng da sư tử,
cọp beo, hoặc bạch kiếm bà-la, bảo hiến trang sức xen lộn
để cho trang nghiêm. Tám muôn bốn ngàn giường tủ bảo
tạp sắc chằng chịt; các thứ mền nệm, mềm mại mịn láng,
để trang sức; gối đỡ, mền gấm, đặt ở hai đầu giường;
y phục tốt đẹp, đều có đủ cả. Tám muôn bốn ngàn
cái bát vàng đựng đầy lúa bạc. Bát lưu ly đựng lúa
pha lê, bát pha lê đựng lúa lưu ly. Tám muôn bốn ngàn
bò sữa, mỗi con bò lấy ra một hộc sữa, móng sừng nó thì
trang sức bằng vàng, đắp bằng lụa trắng. Tám muôn
bốn ngàn mỹ nữ, đoan chánh phước đức, đều lấy ngọc
bạch, danh bảo, anh lạc đeo thân. Ðây lược nêu vài
điều cốt yếu như vậy, không thể kể xiết.
Bấy
giờ, vua Bà-la-bà và tám muôn bốn ngàn tiểu quốc vương,
cùng các thần dân, hào hiệt, trưởng giả, đều lấy mười
vạn tiền vàng củ, di tặng, khuyến trợ, để thiết bày
cuộc tế như pháp đó. Bố thí đầy đủ rồi, Thích-đề-bà-na-dân
(Thích-đề-hoàn-nhơn) đến nói với Bồ-tát Vi-la-ma bằng
bài kệ rằng:
"Vật
khó được trong trời đất,
Hay
làm cho vui tất cả,
Ông
nay đều đã có được,
Vì
Phật đạo mà bố thí"
Bấy
giờ chư thiên Tịnh-cư hiện thân mà tán thán nói kệ:
"Mở
cửa đại bố thí,
Việc
ông làm ấy là,
Vì
thương xót chúng sanh,
Ðể
mà cầu Phật đạo"
Khi
ấy chư thiên suy nghĩ rằng: "Ta sẽ bít bình vàng kia
lại, không cho nước chảy xuống, vì sao? Vì có người
bố thí mà không có phước điền". Khi ấy Mavương nói
với trời Tịnh-cư: "Các Bà-la-môn ấy đều xuất gia
trì giới, thanh tịnh vào đạo; sao lại nói là không có phước
điền"? Trời Tịnh-cư nói: "Bồ-tát ấy vì Phật
đạo nên bố thí, còn nay các người Bà-la-môn ấy đều là
tà kiến, cho nên ta nói không có phước điền". Ma vương
nói với Trời: "Sao biết người ấy vì Phật đạo nên
bố thí?" Bấy giờ trời Tịnh-cư liền hóa thân làm
Bà-la-môn, ôm bình vàng, cầm gậy vàng, đi đến chỗ Bồ-tát
Vi-la-ma, nói rằng: "Ông bố thí lớn, xả vật khó xả,
để cầu cái gì? Muốn Chuyển luân Thánh vương có đủ
bảy báu, ngàn con trai, cai trị bốn châu thiên hạ ư?"
Bồ-tát đáp: "Không cầu chuyện đó".
-
Hay là ông muốn làm Thích-đề-bà-na-dân, để làm chủ 80
Na-do-tha thiên nữ?
-
Không!
-
Hay ông cầu làm chủ trời Lục dục?
-
Không!
-
Hay ông cầu làm Phạm-thiên vương để làm chủ ba ngàn đại
thiên thế giới, làm tổ phụ của chúng sanh?
-
Không!
-
Vậy ông muốn cầu cái gì?
Khi
ấy Bồ-tát liền nói bài kệ:
"Ta
cầu chỗ vô dục,
Lìa
sanh già bệnh chết,
Khắp
độ các chúng sanh,
Cầu
Phật đạo như vậy".
Hoá
thân Bà-la-môn hỏi rằng: "Ông chủ bố thí! Phật đạo
khó được, phải chịu tân khổ lắm, mà ông tâm mềm yếu,
quen thói vui, chắc không thể cầu thành đạo ấy được.
Như tôi vừa nói: Chuyển luân Thánh vương, Thích-đề-bà-na-dân,
vua trời Lục dục, Phạm-thiên vương, là điều dễ cầu được.
Vậy chi bằng ông hãy cầu nơi đó!"
Bồ-tát
đáp rằng: "Ông hãy nghe tôi nhất tâm thề nguyện:
"Giả
sử vành sắt nóng,
Xoay
ở trên đầu tôi,
Nhất
tâm cầu Phật đạo,
Không
bao giờ hối hận!
Hoặc
bị vô lượng khổ
Ba
đường ác, cõi người.
Nhất
tâm cầu Phật đạo,
Không
bao giờ lay chuyển".
Hoá
thân Bà-la-môn nói: "Ông chủ bố thí! Lành thay! Cầu
Phật đạo như vậy!" Liền tán thán kệ rằng:
"Ông
sức tinh tấn lớn,
Thương
xót đối tất cả,
Trí
tuệ không chướng ngại,
Thành
Phật hẳn không lâu".
Khi
ấy trời mưa các hoa cúng dường Bồ-tát. Các trời Tịnh-cư
bít bình nước liền ẩn mất không hiện.
Bồ-tát
khi ấy đi đến trước Ba-la-môn thượng tọa, đem bình vàng
rót nước, nước bị bít không chảy. Mọi người lấy
làm lạ nghi ngờ: "Các thứ đại thí, tất cả đầy
đủ, chủ nhân bố thí và công đức cũng lớn. Nay tại
sao nước trong bình không chảy xuống?" Bồ-tát cũng suy
nghĩ: "Ðó phải chăng vì cớ sự khác, hay vì tâm ta không
thanh tịnh? Cớ sao xảy ra như vậy?" Tự xem kinh
tế tự mười sáu loại sách thanh tịnh không tì vết.
Khi ấy chư thiên nói với Bồ-tát rằng: "Ông chớ nghi
ngờ hối hận! Ông không có điều chi không thành tựu.
Ðó là do các Bà-la-môn ác tà bất tịnh mà ra vậy. Liền
nói bài kệ rằng:
"Người
ấy lưới tà kiến,
Phiền
não phá chánh trí,
Lìa
các thanh tịnh giới,
Luống
khổ sa bị đọa".
Do
vậy mà nước bị bít không chảy xuống! Nói như vậy
xong bỗng không xuất hiện.
Bấy
giờ trời Lục Dục phóng các thứ ánh sáng, chiếu đến các
chúng hội nói với Bồ-tát bài kệ rằng:
"Ði
trong biển ác tà,
Không
thuận chánh đạo ông,
Trong
các người thọ thí,
Không
có ai bằng ông".
Nói
lời ấy xong, bỗng không hiện. Khi Bồ-tát nghe nói kệ
ấy, tự nghĩ: "Trong chúng hội thật sự không có ai bằng
ta. Tại sao nước bị bít không chảy xuống, phải làm
sao đây?" Liền nói kệ rằng:
"Nếu
ở trong đất mười phương,
Có
những người hảo tâm thanh tịnh,
Tôi
nay quy mạng cúi đầu lễ,
Tay
phải cầm bình rưới tay trái,
Mà
tự lập nguyện: Tôi một người,
Ðang
thọ đại bố thí như vậy!"
Khi
ấy nước trong bình vọt lên hư không, từ trên chảy xuống
mà rưới vào tay trái của Bà-la-môn thượng tọa kia.
Vua Bà-la-bà thấy sự cảm ứng ấy, tâm sanh cung kính mà nói
kệ rằng:
"Ðại
Bà-la-môn chủ,
Nước
trong màu lưu ly,
Từ
trên chảy xuống dưới,
Rơi
đến trong tay ông".
Khi
ấy chúng đại Bà-la-môn sanh cung kính, chấp tay tác lễ, quy
mạng Bồ-tát, Bồ-tát nói kệ:
"Nay
điều ta bố thí
Không
cầu phước ba cõi
Chỉ
vì các chúng sanh
Ðể
mong cầu Phật đạo".
Nói
kệ ấy xong, hết thảy đại địa, núi sông, cây cỏ, đều
rung động sáu lần. Vi-la-ma vốn cho rằng chúng ấy đáng
thọ cúng dường cho nên bố thí; nhưng nay đã biết không
có ai kham thọ nhận được, mà vì thương xót nên lấy vật
thọ lãnh được mà bố thí. Nhân duyên các thứ bố
thí như trong Bổn Sanh truyện đã nói rộng nên biết.
Ấy là bố thí bên ngoài.
Thế
nào là bố thí bên trong? Không tiếc thân mạng đem thí
cho các chúng sanh. Như trong Nhân duyên Bổn sanh nói:
"Ðức Phật Thích-ca Văn trước vốn là Bồ-tát, trong khi làm
đại Quốc vương, gặp thời không có Phật, không có pháp,
không có chúng Tăng, vua ấy đi ra bốn phương tìm cầu Phật
pháp, cuối cùng không tìm được. Khi ấy có một Bà-la-môn
nói: "Ta biết bài kệ Phật. Cúng dường cho ta, ta
sẽ trao cho". Vua liền hỏi: "Ðòi cúng dường gì?"
Người ấy đáp: "Ngươi có thể trên thân ngươi khoét
thịt làm bấc đèn cúng dường ta, ta sẽ trao cho ngươi".
Tâm vua suy nghĩ: "Nay thân này của ta, mong manh bất tịnh,
đời đời chịu khổ không thể kể hết, chưa từng vì pháp,
nay mới đắc dụng không tiếc vật". Nghĩ như vậy xong,
bảo người Chiên-đà-la khoét khắp trên thân làm bấc đèn,
mà lấy lụa trắng quấn thịt, dầu bơ rưới lên trên.
Một lúc cháy khắp, lửa đỏ cả thân, mới được cho một
bài kệ.
Lại
một kiếp khác, Thích-ca Văn Phật làm một con chim Bồ câu
ở trong núi tuyết gặp khi mưa tuyết lớn, có một người
lạc đường, cùng khổ nguy ách, đói rét dồn đến, mạng
sống chỉ còn trong giây lát. Bồ câu thấy người ấy,
liền bay đi tìm lửa, chất thành đống đốt lên, rồi gieo
thân vào lửa, thí cho người đói ấy.
Như
vậy v.v... đem đầu, mặt, tủy não cấp thí cho chúng sanh,
ở trong các kinh nói về hai Nhân duyên Bổn sanh, trong đó đã
nói rộng nên biết. Các thứ như vậy, gọi là bố thí
bên trong.
CHƯƠNG
20
GIẢI
THÍCH: ÐÀN BA-LA-MẬT PHÁP THÍ
Hỏi:
Thế nào gọi là bố thí Pháp?
Ðáp:
Có người nói thường dùng lời nói hay đem lại lợi ích,
ấy là Pháp thí.
Lại
nữa, có người nói đem pháp hay lành của chư Phật đã nói
mà giảng cho người, ấy là Pháp thí.
Lại
nữa, có người nói đem ba thứ pháp dạy người: Một
là Tu-đố-lộ (Kinh), hai là Tỳ-ni (Luật), ba là A-tỳ-đàm
(Luận), ấy là Pháp thí.
Lại
nữa, có người nói đem bốn pháp tạng dạy người:
Kinh tạng, Luật tạng , Luận tạng, Tạp tạng, ấy là Pháp
thí.
Lại
có người nói lược đem hai pháp dạy người: 1-
Pháp Thanh-văn, 2- Pháp Ðại thừa, ấy là Pháp thí.
Hỏi:
Như Ðề-bà-đạt-đa(Devadhata), Ha-đa, cũng đem ba tạng, bốn
tạng, pháp Thanh-văn, pháp Ðại-thừa dạy người, mà thân
bị sa vào địa ngục, việc ấy thế nào?
Ðáp:
Ðề-bà-đạt-đa tội tà kiến nhiều, Ha-đa tội vọng ngữ
nhiều, chẳng phải vì đạo thanh tịnh pháp thí, mà chỉ cầu
danh lợi cung kính cúng dường. Vì tội ác tâm nên Ðề-bà-đạt-đa
đang sống bị sa vào địa ngục, Ha-đa chết đọa địa ngục
Lại
nữa, chẳng phải nóisuông mà gọi là Pháp thí, nhưng thường
đem tâm thanh tịnh, tâm lành giáo hóa hết thảy, ấy là Pháp
thí. Ví như tài thí, mà không do thiện tâm, thì
không gọi là phước đức. Pháp thí cũng như vậy, không
do tịnh tâm suy nghĩ thiện thời chẳng phải Pháp thí.
Lại
nữa, người thuyết pháp, hay đem tịnh tâm suy nghĩ thiện
tán thán Tam Bảo, mở bày cửa tội phước, chỉ rõ Bốn chơn
đế, giáo hóa chúng sanh, khiến vào Phật đạo, ấy là chơn
tịnh Pháp thí.
Lại
nữa, lược nói pháp có hai cách: 1- Không bức não
chúng sanh, thiện tâm thương xót, ấy là nhơn duyên của Phật
đạo. 2- Quán các pháp chơn không, ấy là nhơn duyên
của Niết-bàn đạo, ở giữa đại chúng, khởi tâm thuơng
xót nói hai pháp ấy, chẳng vì tiếng tăm, lợi dưỡng, cung
kính, ấy là pháp thí thanh tịnh Phật đạo. Như nói:
"Vua A-dục làm một ngày tám vạn tranh vẽ Phật, tuy chưa thấy
đạo, mà đối với Phật pháp đã có một phần tin vui, ngày
ngày mời các Tỳ-kheo vào cung cúng dường, ngày ngày ngày
tuần tự lưu vị Pháp sư ở lại thuyết pháp. Có một
Tam tạng Pháp sư tuổi trẻ, thông minh đoan chánh, đến lược
thuyết pháp, ngồi ở bên vua, miệng có mùi thơm lạ.
Vua rất lấy làm lạ nghi ngờ, cho là không đoan chánh, muốn
dùng mùi thơm làm lay động người trong cung vua, mới nói với
Tỳ-kheo: "Trong miệng Ngài có gì? Há miệng cho xem!".
Tỳ-kheo ấy há miệng không có gì cả. Bảo lấy nước
rửa, mùi thơm vẫn như cũ. Vua hỏi: ""Ðại đức
mới có mùi thơm ấy hay có lâu rồi?" Tỳ-kheo đáp: "Mùi
thơm như vậy có lâu rồi, chứ chẳng phải mới có.
Lại hỏi: "Có mùi thơm ấy lâu như thế nào?" Tỳ-kheo
dùng kệ đáp:
"Thời
Phật Ca-diếp,
Nhóm
hương pháp ấy
Như
vậy đã lâu,
Mà
thường như mới"
Vua
nói: "Ðại đức! Ngài nói lược tôi chưa hiểu,
xin hãy giảng rộng cho". Tỳ-kheo đáp: "Vua hãy nhất
tâm, khéo nghe tôi nói: Xưa tôi ở trong pháp Phật Ca-diếp,
làm vị Tỳ-kheo thuyết pháp, thường ở giữa đại chúng,
hoan hỷ diễn nói về vô lượng công đức của Ca-diếp Thế
Tôn, về thật tướng các pháp, vô lượng pháp môn; ân cần
tán thán diễn giảng, dạy bảo hết thảy. Từ đó đến
nay, thường có mùi thơm vi diệu từ trong miệng ra, đời đời
không dứt, thường như ngày nay", và nói kệ rằng:
"Hương
các hoa, cây, cỏ,
Mùi
hương này tuyệt vời,
Làm
vui lòng tất cả,
Ðời
đời thường không dứt"
Bấy
giờ Quốc vương, vừa thẹn vừa mừng lẫn lộn, bạch Tỳ-kheo
rằng: "Ðiều chưa từng có! Công đức thuyết pháp
có quả báo lớn như vậy!" Tỳ-kheo nói: "Ấy gọi
là hoa, chưa gọi là quả". Vua nói: "Quả nó thế
nào, xin hãy nói cho nghe". Tỳ-kheo đáp: "Quả lược nói
có mười, vua khéo nghe cho kỹ, liền nói kệ:
"Tiếng
tăm lớn, đoan chánh,
Ðược
vui và cung kính,
Oai
sáng như mặt trời,
Ðược
hết thảy yêu thích.
Biện
tài, có trí lớn,
Sạch
tất cả kiết sử,
Khổ
diệt, được Niết-bàn,
Như
thế gọi là mười"
Vua
nói: "Ðại đức! Tán thán công đức Phật sao mà
được quả báo như vậy?" Bấy giờ Tỳ-kheo đáp kệ:
"Khen
công đức chư Phật,
Cho
hết thảy đều nghe,
Do
vì quả báo ấy,
Mà
được danh dự lớn.
Khen
thật công đức Phật,
Cho
hết thảy hoan hỷ,
Do
vì công đức ấy,
Ðời
đời thường đoan chánh.
Vì
người thuyết tội phước,
Cho
được chỗ an vui,
Do
vì công đức ấy,
Thọ
vui thường hoan hỷ.
Sức
khen công đức Phật,
Khiến
hết thảy tâm phục,
Do
vì công đức ấy,
Thường
được báo cung kính.
Hiển
hiện đèn thuyết pháp
Chiếu
ngộ các chúng sanh,
Do
vì công đức ấy,
Oai
sáng như mặt trời.
Ðủ
cách khen Phật đức,
Làm
vui cho hết thảy,
Do
vì công đức ấy,
Thừơng
được người yêu thích.
Lời
khéo khen Phật đức,
Vô
lượng vô cùng tận,
Do
vì công đức ấy,
Biện
tài không thể tận.
Khen
các diệu pháp Phật,
Tất
cả không gì hơn,
Do
vì công đức ấy,
Ðại
trí tuệ thanh tịnh.
Khi
khen công đức Phật,
Khiến
người mỏng phiền não,
Do
vì công đức ấy,
Các
cấu kiết sử dứt.
Hai
thứ kiết sử hết,
Thân
Niết-bàn đã trọn,
Thí
như rưới mưa lớn,
Lửa
tắt không còn nóng".
Lại
nói với vua: "Nếu còn chỗ nghi ngờ nào chưa rõ, nay
là lúc hỏi, tôi sẽ đem mũi tên trí tuệ phá đội quân nghi
ngờ của vua". Vua thưa: "Pháp sư! Tâm tôi vui
vẻ hiểu rõ, không còn nghi ngờ. Ðại đức là người
phước khéo hay khen ngợi Phật".
Các
nhân duyên thuyết pháp độ người như vậy, gọi là Pháp
thí.
Hỏi:
Tài thí, Pháp thí; thứ nào hơn ?
Ðáp:
Như lời Phật dạy, trong hai thứ ấy, Pháp thí là hơn,
vì cớ sao? Quả báo của Tài thí, được quả báo ở
trong Dục giới; quả báo của Pháp thí thì hoặc ở trong ba
cõi, hoặc ra ngoài ba cõi.
Lại
nữa, Tài thí có hạn lượng; Pháp thí không hạn lượng,
ví như lấy củi thêm vào lửa, ánh sáng càng thêm nhiều.
Lại
nữa, quả báo của Tài thí sạch ít dơ nhiều; quả báo của
Pháp thí nhơ ít sạch nhiều.
Lại
nữa, Tài thí lớn phải đợi sức nhiều người; còn Pháp
thí thì xuất từ tâm, không đợi người khác.
Lại
nữa, Tài thí có thể làm cho các sắc căn bốn đại tăng
trưởng; Pháp thí có thể làm cho Năm căn, Năm lực, Bảy giác