Cuốn
19
CHƯƠNG
29
GIẢI
THÍCH: 37 PHẨM TRỢ ĐẠO
KINH:
Bồ-tát Ma-ha-tát do không trụ pháp mà trụ trong Bát-nhã Ba-la-mật.
Vì bất sanh nên đủ Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn
như ý túc, Năm căn, Năm lực,
Bảy
giác phần, Tám thánh đạo phần.
LUẬN:
Hỏi: Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là đạo của Thanh-văn
và Bích-chi Phật; sáu Ba-la-mật là đạo của Bồ-tát Ma-ha-tát.
Đây vì sao trong Bồ-tát đạo còn nói đến pháp Thanh-văn?
Đáp:
Bồ-tát Ma-ha-tát phải học tất cả các thiện pháp, tất
cả đạo; như Phật nói với Tu-bồ-đề: “Bồ-tát Ma-ha-tát
thực hành Bát-nhã Ba-la-mật đều phải học tất cả các
thiện pháp, tất cả đạo; đó là từ Càn huệ địa cho đến
Phật địa. Chín địa ấy nên học mà không thủ chứng;
Phật địa cũng học và cũng thủ chứng.
Lại
nữa, chỗ nào nói Ba mươi bảy phẩm trợ đạo chỉ là pháp
Thanh-văn, Bích-chi Phật, chứ không phải là pháp Bồ-tát?
Chính trong phẩm Đại thừa của kinh Bát-nhãBa-la-mật, Phật
nói bốn niệm xứ, cho đến tám thánh đạo phần là Đại
thừa. Trong Tam tạng cũng không nói ba mươi bảy đạo
phẩm chỉ là pháp Tiểu thừa. Phật vì tâm đại từ
nên nói Ba mươi bảy đạo phẩm là đạo Niết-bàn; tùy nguyện
của chúng sanh, tùy nhân duyên của chúng sanh đều chứng được
đạo ấy. Người muốn cầu Thanh-văn thì đắc Thanh-văn
đạo; người muốn gieo giống thiện căn về Bích-chi Phật
thì đắc Bích-chi Phật đạo; người cầu Phật đạo thì
đắc Phật đạo. Tùy bản nguyện và các căn lanh lợi
hay đần độn; có tâm đại bi, không tâm đại bi; ví như
Long vương xuống mưa, mưa khắp thiên hạ, mưa không sai khác,
cây lớn cỏ lớn, gốc lớn cho nên thọ nhận nhiều; cây
nhỏ cỏ nhỏ, gốc nhỏ cho nên thọ nhận ít.
Hỏi:
Ba mươi bảy đạo phẩm, tuy không chỗ nào nói là đạo riêng
của Thanh-văn, Bích-chi Phật chứ không phải Bồ-tát đạo.
Song lấy nghĩa suy ra khá biết; Bồ-tát ở lâu trong sanh tử,
qua lại năm đường, không gấp lấy Niết-bàn; còn trong Ba
mươi bảy đạo phẩm thì chỉ nói pháp Niết-bàn, không nói
đến Ba-la-mật, cũng không nói đại bi. Do đó nên biết
không phải là Bồ-tát đạo?
Đáp:
Bồ-tát tuy ở lâu trong sanh tử cũng phải biết thật đạo,
phi thật đạo, là pháp thế gian, là pháp Niết-bàn. Biết
thế rồi lập đại nguyện: “Chúng sanh đáng thương,
ta sẽ lôi ra và đặt vào chỗ vô vi”. Do thật pháp
ấy, thực hành các Ba-la-mật, có thể đạt đến Niết-bàn.
Bồ-tát tuy học, tuy biết pháp ấy, song vì chưa đầy đủ
sáu Ba-la-mật nên không thủ chứng. Như Phật nói:
Ví như ngửa mặt bắn lên giữa không, mỗi mũi tên dính nhau,
không cho rơi xuống đất, Bồ-tát Ma-ha-tát cũng như vậy,
lấy mũi tên Bát-nhã Ba-la-mật, bắn vào giữa không của ba
giải thoát môn; lại dùng mũi tên phương tiện bắn vào mũi
tên Bát-nhã, không cho rơi xuống đất Niết-bàn.
Lại
nữa, hoặc như ông vừa nói, Bồ-tát ở lâu trong sanh tử,
phải chịu các thứ khổ não nơi thân tâm. Nếu không
có được thật trí thời làm sao nhẫn được việc ấy.
Do vậy, Bồ-tát khi cầu thật trí về đạo phẩm ấy, do sức
Bát-nhã Ba-la-mật mà có thể chuyển thế gian thành đạo quả
Niết-bàn, vì cớ sao? Vì ba cõi thế gian đều do hòa
hợp sanh; hòa hợp sanh là không có tự tánh. Vì không có tự
tánh nên là không, vì là không nên không thể thủ; không thể
thủ tướng ấy là Niết-bàn. Do vậy nói Bồ-tát Ma-ha-tát
do không trú pháp nên trú trong Bát-nhã Ba-la-mật. Vì không
sanh nên đầy đủ bốn niệm xứ.
Lại
nữa, trong pháp của Thanh-văn và Bích-chi Phật không nói thế
gian tức là Niết-bàn; vì cớ sao, vì trí tuệ không thâm nhập
các pháp vậy. Như Phật nói với Tu-bồ-đề: “Sắc
tức là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức
tức là không; không tức là thọ, tưởng, hành, thức; không
tức là Niết-bàn; Niết-bàn tức là không”. Trong Trung
luận nói kệ:
“Niết-bàn
không khác thế gian,
Thế
gian không khác Niết-bàn.
Mé
thế gian, mé Niết-bàn,
Một
mé không có sai khác”
Bồ-tát
Ma-ha-tát chứng được thật tướng ấy nên không chán thế
gian, không vui Niết-bàn. Ba mươi bảy đạo phẩm là chỗ
thật trí.
Hỏi:
Bốn niệm xứ là pháp có thể đầy đủ đắc đạo; sao còn
nói đến Ba mươi bảy? Nếu ông cho vì nói lược nên
nói Bốn niệm xứ, nói rộng nên nói Ba mươi bảy. Điều
ấy không đúng, vì cớ sao, nếu nói rộng thời phải vô lượng?
Đáp:
Bốn niệm xứ tuy là đầy đủ để có thể đắc đạo, mà
cũng nên nói Bốn chánh cần, vì cớ sao? Vì tâm chúng
sanh chủng loại bất đồng; kiết sử cũng nhiều thứ, pháp
ưa thích hiểu biết cũng nhiều thứ. Phật pháp tuy nhất
thật nhất tướng; song vì chúng sanh nên nơi mười hai bộ
kinh, phân biệt thuyết ra tám vạn bốn ngàn pháp tụ.
Nếu không như vậy, đầu tiên Chuyển pháp luân, nói đến
Bốn đế là đủ, không cần nói thêm pháp khác. Vì có
hạng chúng sanh nhàm khổ, đắm vui, nên thuyết ra Bốn đế.
Những pháp thân tâm có được đều là khổ, không có vui.
Nguyên nhân của khổ ấy là do các phiền não tham ái v.v…;
Nơi khổ ấy đoạn tận là Niết-bàn; phương tiện đi đến
Niết-bàn đó gọi là đạo. Có hạng chúng sanh niệm
nhiều loạn tâm điên đảo, nên đắm theo thân, thọ, tâm
pháp ấy mà làm các hạnh tà. Vì hạng người đó nên
nói ra Bốn niệm xứ. Các đạo pháp khác cũng như vậy,
vì mỗi chúng sanh mà thuyết, ví như thầy thuốc không dùng
một thứ thuốc trị tất cả các bệnh. Các bệnh không
đồng, thì thuốc cũng chẳng một thứ. Phật cũng như
vậy, vì tâm bệnh của chúng sanh nhiều thứ nên Phật dùng
nhiều thứ thuốc để trị.
Hoặc
thuyết một pháp để độ chúng sanh; như Phật nói với một
Tỳ-kheo: “Chẳng phải vật của ngươi thì chớ lấy”.
Tỳ-kheo nói: “Biết rồi”. Phật hỏi: “Biết
thế nào?” Tỳ-kheo nói: “Những pháp không phải
vật của tôi thì không nên lấy”.
Hoặc
dùng hai pháp để độ chúng sanh, đó là định và tuệ.
Hoặc dùng ba pháp là giới định tuệ. Hoặc dùng bốn
pháp là Bốn niệm xứ.
Thế
nên Bốn niệm xứ tuy có thể đắc đạo, nhưng các pháp khác
hành trì có khác, phân biệt hơi khác, quán sát cũng khác.
Do vậy nên phải nói các pháp như Bốn chánh cần, v.v…
Lại
nữa, các Bồ-tát Ma-ha-tát vì có tín lực lớn, vì độ hết
thảy chúng sanh, nên trong một lúc Phật nói đủ Ba mươi bảy
đạo phẩm. Nếu nói pháp khác làm cửa vào đạo, thời
mười tưởng v.v... đều thu nhiếp cả trong Ba mươi bảy đạo
phẩm. Ba mươi bảy đạo phẩm ấy là các thứ thuốc
hòa hợp lại, đủ chữa lành mọi bệnh của chúng sanh, cho
nên không cần thuyết nhiều. Như Phật tuy có vô lượng
trí lực, nhưng chỉ nói mười lực là đủ cho việc độ
chúng sanh.
Ba
mươi bảy đạo phẩm này, lấy mười pháp làm căn bản.
Những gì là mười? Đó là tín, giới, tư duy, tinh tấn,
niệm, định, tuệ, trừ, hỷ, xả.
Tín
là Tín căn, Tín lực.
Giới
là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.
Tinh
tấn là Bốn chánh cần, Tinh tấn căn, Tinh tấn lực, Tinh tấn
giác phần, Chánh Tinh tấn.
Niệm
là Niệm căn, Niệm lực, Niệm giác phần, Chánh niệm.
Định
là Bốn như ý túc, Định căn, Định lực, Định giác phần,
Chánh định.
Tuệ
là Bốn niệm xứ, Tuệ căn, Tuệ lực, Trạch pháp giác phần,
chánh kiến.
Các
pháp ấy, niệm tùy thuận theo cảnh duyên của trí tuệ mà
được chơn chánh an trụ, nên bấy giờ gọi là Niệm xứ.
Phá tà pháp, đi trong chánh đạo, nên gọi là Chánh cần.
Nhiếp tâm an ổn ở trong quán duyên, nên gọi là Như ý túc.
Trí tâm được nhu nhuyến, gọi là Căn; tri tâm được lanh
lợi gọi là Lực. Dùng để tu đạo nên gọi là Giác,
dùng để thấy đạo nên gọi là Đạo.
Hỏi:
Nên trước nói Đạo, vì cớ sao? Vì hành đạo rồi sau
mới được các thiện pháp; ví như người trước tiên đi
đường rồi sau mới được đến nơi. Nay sao điên đảo,
nói Bốn niệm xứ trước, rồi sau mới nói Tám chánh đạo?
Đáp:
Không có gì điên đảo. Ba mươi bảy đạo phẩm
là tên gọi khi bắt đầu muốn vào đạo; cũng như kẻ hành
giả đi đến chỗ thầy, khi nghe đạo pháp, trước tiên dùng
niệm để thọ trì pháp ấy; khi ấy gọi là Niệm xứ.
Thọ trì rồi, từ nơi pháp mà cầu tu chánh quả, cho nên tinh
tấn tu hành; khi ấy gọi là Chánh cần. Vì tinh tấn nhiều
nên tâm không tán loạn; nhiếp tâm điều nhu nên gọi là Như
ý túc.
Tâm
điều nhu rồi phát sanh Năm căn: Thật tướng các pháp sâu
xa khó hiểu, do Tín căn nên tín được; ấy gọi là Tín căn.
Không tiếc thân mạng, nhất tâm cầu đạo; ấy gọi là Tinh
tấn căn. Thường niệm đạo không niệm việc khác, ấy
gọi là niệm căn. Thường nhiếp tâm ở đạo; ấy gọi
là Định căn. Quán thật tướng Bốn đế; ấy gọi là
Tuệ căn. Năm căn ấy tăng trưởng, hay ngăn chặn phiền
não; như sức cây lớn hay ngăn nước. Năm căn này khi
tăng trưởng có thể dần vào thâm pháp; ấy gọi là Lực.
Khi
lực được rồi, phân biệt đạo pháp có ba phần: Trạch
pháp giác, Tinh tấn giác, Hỷ giác. Ba pháp này, khi hành
đạo nếu tâm bị trầm một thì nó làm cho khởi lên, còn
Trừ giác (Khinh an giác chi), Định giác, Xả giác, ba pháp này,
nếu khi hành đạo mà tâm tán động, thì nó thu nhiếp làm
cho Định, Niệm giác chi ở hai nơi, nhóm tập thiện pháp,
ngăn chặn ác pháp; cũng như người giữ cửa, kẻ có lợi
thì cho vào, kẻ vô ích thì đuổi đi. Nếu khi tâm trầm
một thì niệm ba pháp làm cho khởi lên; nếu khi tâm tán động
thì niệm ba pháp làm cho nhiếp lại.
Bảy
việc này (Bảy giác chi) có thể đưa đến thật giác ngộ
của bậc vô học, cho nên gọi là phần (chi). Được
pháp ấy an ổn đầy đủ rồi, vì muốn nhập vào thành Niết-bàn
vô vi, nên thực hành các pháp ấy, khi ấy gọi là Đạo.
Hỏi:
Những gì là Bốn niệm xứ?
Đáp:
Thân niệm xứ; Thọ, Tâm, Pháp niệm xứ; ấy là Bốn niệm
xứ. Quán bốn pháp đều có bốn: Quán thân bất
tịnh, quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô
ngã. Bốn pháp này tuy đều có đủ bốn tướng là bất
tịnh, khổ, vô thường, vô ngã; song đối với thân phần
nhiều quán là bất tịnh; đối với thọ phần nhiều quán
là khổ; đối với tâm phần nhiều quán là vô thường; đối
với pháp phần nhiều quán là vô ngã. Vì cớ sao?
Kẻ phàm phu khi chưa vào đạo, thì đối với bốn pháp này,
vì tà hạnh khởi lên bốn điên đảo. Trong các pháp bất
tịnh điên đảo cho là tịnh; trong khổ điên đảo cho là
vui; trong vô thường điên đảo cho là thường; trong vô ngã
điên đảo cho là ngã. Để phá bốn điên đảo ấy nên
thuyết Bốn niệm xứ: Phá tịnh điên đảo nên nói Thân
niệm xứ; phá lạc điên đảo nên nói Thọ niệm xứ; phá
thường điên đảo nên nói Thân niệm xứ; phá thường điên
đảo nên nói Tâm niệm xứ; phá ngã điên đảo nên nói Pháp
niệm xứ. Do vậy nên nói bốn, không ít không nhiều.
Hỏi:
Làm sao thành được Bốn niệm xứ ấy?
Đáp:
Hành giả nương trú tịnh giới, nhất tâm tu hành tinh tấn,
quán thân có năm tướng bất tịnh. Những gì là năm?
1- Nơi sinh ra bất tịnh, 2- Chứng tử bất tịnh, 3-
Tự tánh bất tịnh, 4- Tự tướng bất tịnh, 5-
Cứu kính bất tịnh.
-
Thế nào là nơi sinh ra bất tịnh? Đầu, chân, bụng,
lưng, hông, gân, các vật bất tịnh hòa hợp gọi là thân
nữ, bên trong có sanh tạng thục tạng, phân, nước tiểu bất
tịnh, bên ngoài có ngọn gió do phiền não nghiệp thổi thức
chủng tử vào trong hai tạng, hoặc tám tháng, hoặc chín tháng,
như ở trong hầm xí, như bài kệ nói:
“Thân
ấy là xú uế,
Không
từ hoa nở sanh,
Cũng
không từ Chiêm-bặc,
Không
xuất từ núi báu”.
Ấy
gọi là nơi sanh ra bất tịnh.
-
Thế nào là chủng tử bất tịnh? Cha mẹ có ngọn gió
vọng tưởng tà niệm thổi lửa dâm dục, thịt tủy cao chảy
ra, nóng biến thành tinh. Do hành nghiệp nhân duyên đời
trước, thức chủng tử ở trong tinh đỏ trắng; ấy gọi
là thân chủng, như kệ nói:
“Thân
này giống bất tịnh,
Chẳng
phải vật diệu bảo.
Không
từ tịnh bạch sanh,
Chỉ
từ đường tiểu ra”.
Ấy
gọi là chủng tử bất tịnh.
-
Tự tánh bất tịnh là, từ chân đến đầu, bốn phía da mỏng,
trong đó đầy dẫy thứ bất tịnh; trang sức y phục, tắm
gội xoa hương, ăn các thứ hào soạn hương vị, trải qua
một đêm đều thành bất tịnh. Giả sử mặc áo trời,
ăn đồ ăn trời, vì bản tính của thân nên trở thành bất
tịnh; huống gì áo cơm của loài người, như kệ nói:
“Chất
đất nước lửa gió,
Biến
đổi trừ bất tịnh.
Nghiêng
biển rửa thân này,
Không
thể làm thân sạch”.
Ấy
gọi là tự tánh bất tịnh.
-
Tự tướng bất tịnh là, nơi thân này chín lỗ thường chảy
đồ bất tịnh: Con mắt chảy nước mắt, tai chảy cứt ráy,
mũi chảy nước dãi, miệng chảy nước miếng, đường đại
đường tiểu thường chảy ra phân, nước tiểu, và các lỗ
chân lông chảy mồ hôi bất tịnh, như kệ nói:
“Các
thứ vật bất tịnh,
Chứa
đầy ở trong thân,
Thường
chảy ra không ngừng,
Như
đẫy lủng đựng nước”.
Ấy
gọi là tự tướng bất tịnh.
-
Cứu kính bất tịnh là, thân này nếu quăng vào lửa
thời thành tro, trùng ăn thời thành phân, ở đất thời mục
nát thành đất, ở nước thời phình trướng tiêu họai, hoặc
bị loài thủy trùng ăn. Trong hết thảy thây chết, thây
người bất tịnh nhất. Pháp bất tịnh sẽ nói rộng
trong đoạn nói về chín tưởng, như kệ nói:
“Xét
kỹ quán thân này,
Cuối
cùng đến chỗ chết,
Khó
ngăn không đáp trả.
Bội
ân như tiểu nhân”.
Ấy
gọi là cứu kính bất tịnh.
Lại
nữa, thân này khi sanh khi chết, những vật để gần thân,
chỗ để an thân đều thành bất tịnh; như nước sạch thơm
ngon, theo trăm giòng chảy, khi đã vào biển, đều biến thành
nước mặn. Các thứ mỹ vị mà thân ăn vào, dù sắc
đẹp hương thơm, thượng soạn trơn mịn, khi vào biển bụng
đều biến thành bất tịnh. Thân này như vậy, từ sanh
đến chết, thường có bất tịnh, rất đáng nhàm ghét.
Hành giả suy nghĩ: Thân này tuy bất tịnh, nếu có chút
thường thời còn có thể chữa khỏi, nhưng nó lại vô thường;
thân tuy bất tịnh, vô thường, nếu có chút vui thời còn
có thể chữa khỏi, nhưng lại đại khổ. Thân này là
nơi sanh ra khổ, như nước từ đất sanh ra, gió từ hư không
sanh, lửa nhân cây mà có. Thân này như vậy, các khổ
trong ngoài đều từ thân sanh ra. Khổ trong là già, bệnh,
chết, v.v... Khổ ngoài là đao gậy, lạnh nóng, đói khát
v.v... Vì có thân này nên có khổ ấy.
Hỏi:
Thân chẳng phải chỉ là khổ; mà cũng từ thân có vui.
Nếu không có thân thời năm thứ dục thuận theo ý, ai sẽ
lãnh thọ?
Đáp:
Khổ đế trong Bốn Thánh đế, Thánh nhân biết nó thật là
khổ, kẻ ngu cho đó là vui. Bậc thánh thật đáng nương,
kẻ ngu cần xa bỏ. Thân này thật khổ, vì dứt đại
khổ nên lấy tiểu khổ làm vui; cũng như người đáng phải
chết, được thế mạng bằng sự hình phạt, thì thật rất
vui mừng. Hình phạt thật là khổ, nhưng vì thay thế
cái chết, nên cho là vui.
Lại
nữa, khổ mới là vui, khổ cũ là khổ; như khi mới ngồi
thì vui, ngồi lâu sanh khổ. Khi mới đi, đứng, nằm là
vui, lâu cũng là khổ. Co, duỗi, cúi, ngước, xem ngó,
hít thở, khổ thường theo thân. Từ khi mới thọ thai,
sanh ra cho đến chết, không có lúc nào vui. Nếu ông cho
sự lãnh thọ dâm dục là vui, bệnh dâm là nặng; đi tìm nữ
sắc bên ngoài, tìm được càng nhiều, hoạn đến càng nặng;
như khổ về bệnh ghẻ lở đưa tay vào lửa hơ, lúc ấy có
được chút vui, mà thống khổ lớn lại càng sâu. Cái
vui nhỏ như vậy, cũng do bệnh mà có, chứ không phải thật
vui. Người không bệnh xem thấy người hơ lửa sanh tâm
thương xót. Người lìa dục xem người dâm dục cũng
như vậy; thương cho kẻ cuồng mê bị lửa dục thiêu đốt,
thọ nhiều thì khổ nhiều.
Các
nhân duyên như vậy, biết rõ tướng khổ và nhân khổ của
thân. Hành giả biết thân chỉ là vật bất tịnh, vô
thường, khổ, bất đắc dĩ mà phải nuôi nấng nó; ví như
cha mẹ sanh con, con lại tệ ác bạo ngược, nhưng vì tự mình
sanh ra nên phải nuôi nấng nó thành tựu. Thân thật vô
ngã, vì cớ sao? Vì không tự tại. Ví như người
bệnh phong, không thể cúi ngước đi lại; người bị bệnh
tắc cổ họng không thể nói năng; do vậy nên biết thân không
tự tại. Như người có vật, tùy ý sử dụng nó; còn
thân thì không đươc như vậy, vì không tự tại, nên xét
biết vô ngã. Hành giả suy nghĩ: Thân này bất tịnh,
vô thường, khổ, không vô ngã như vậy, có vô lượng tội
ác như vậy. Các lối quán thân như vậy, gọi là Thân
niệm xứ.
Thành
tựu thân niệm xứ quán ấy, rồi lại suy nghĩ: Chúng
sanh vì nhân duyên gì mà tham đắm thân này? Vì lạc thọ
vậy; vì cớ sao, do sáu căn bên trong hòa hợp với sáu trần
bên ngoài sanh ra sáu thức, trong sáu thức sanh ba thứ thọ:
Khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ
là điều tất cả chúng sanh ưa muốn; khổ thọ là điều
hết thảy chúng sanh không ưa muốn; bất khổ bất lạc thọ
thì không thủ không xả, như kệ nói:
“Hoặc
làm người ác, hoặc xuất gia,
Chư
thiên, người đời và động vật.
Trong
hết thảy mười phương ngũ đạo,
Tất
cả đều ưa vui ghét khổ.
Vì
cuồng hoặc điên đảo vô trí,
Không
biết chỗ Niết-bàn thường vui”
Hành
giả quán lạc thọ ấy, thật biết nó không có gì vui, mà
chỉ có khổ; vì sao, vui là thật vui thì không có điên đảo,
hết thảy cái vui của thế gian hưởng thọ, đều từ điên
đảo sanh, không có chút thật.
Lại
nữa, theo lạc thọ ấy, tuy muốn cầu vui, lại chỉ có thể
bị đại khổ, như kệ nói:
“Nếu
người vào biển gặp gió dữ,
Sóng
biển quật khởi như núi đen,
Nếu
người vào trận lớn chiến đấu,
Trải
đường hiểm lớn giữa núi dữ,
Hào
qúy trưởng giả uốn cong mình,
Gần
gũi tiểu nhân vì sắc dục.
Các
thứ đại khổ sự như vậy,
Đều
do tâm tham đắm vui thích”.
Do
vậy nên biết lạc thọ sanh ra các thứ khổ.
Lại
nữa, tuy Phật nói ba thứ thọ, có lạc thọ, vì lạc thọ
nên gọi là khổ; như một đấu mật, rót vào sông lớn, thời
mất hết ý vị.
Hỏi:
Nếu cái vui của thế gian, do nhân điên đảo nên khổ.
Vậy các Thánh nhân thiền định sanh ra cái vui vô lậu, phải
là thật vui, vì cớ sao. Vì cái vui ấy không từ ngu si
điên đảo mà có, tại sao cái vui ấy là khổ?
Đáp:
Chẳng phải là khổ. Tuy Phật nói vô thường tức là
khổ, vì là pháp hữu lậu nên nói khổ; vì người phàm phu
đối với pháp hữu lậu sanh tâm nhiễm trước, vì pháp hữu
lậu vô thường biến hoại cho nên sanh khổ. Còn đối
với pháp vô lậu thì tâm không nhiễm trước, nên tuy
vô thường không sanh ra ưu bi khổ não, nên không gọi là khổ,
cũng không bị các kiết sử sai sử vậy.
Lại
nữa, nếu cái vui vô lậu là khổ thời Phật không thuyết
riêng Đạo đế, vì đã nhiếp vào Khổ đế rồi vậy.
Hỏi:
Có hai thứ vui, là vui hữu lậu và vui vô lậu. Vui hữu
lậu thì hạ tiện tệ ác, vui vô lậu thì thượng diệu.
Vì sao, vì trong cái vui hạ tiện thì sanh tâm nhiễm trước,
còn trong cái vui thượng diệu thì không sanh tâm nhiễm trước?
Trong cái vui thượng diệu mới sanh tâm nhiễm trước nhiều;
như đối với vàng bạc bảo vật thì tham đắm nặng, chứ
đâu phải đồng như cây cỏ?
Đáp:
Trong cái vui vô lậu thượng diệu thì trí tuệ nhiều, trí
tuệ nhiều nên có thể xa lìa sự nhiễm trước. Trong
cái vui hữu lậu, các kiết sử tham ái v.v... nhiều; ái là
gốc đắm trước, thật trí tuệ, có thể xa lìa ái.
Do vậy cho nên không nhiễm trước.
Lại
nữa, trí tuệ vô lậu, thường quán hết thảy vô thường,
quán vô thường nên không sanh ra các kiết sử tham ái v.v...;
Ví như dê ở gần cọp, tuy được cỏ non nước tốt, mà
không thể béo mập. Như vậy, Thánh nhân tuy thọ cái
vui vô lậu, nhưng quán vô thường, không, nên không sanh tâm
nhiễm trước.
Lại
nữa, cái vui vô lậu không lìa ba tam muội, mười sáu
Thánh hạnh, thường không có tướng chúng sanh. Nếu có
tướng chúng sanh, thời sanh tâm nhiễm trước. Do vậy
nên cái vui vô lậu tuy thượng diệu mà không sanh tâm nhiễm
trước.
Do
các nhân duyên như vậy, quán lạc thọ của thế gian là khổ.
Quán khổ thọ như mũi tên. Quán bất khổ bất lạc thọ
là tướng vô thường bại hoại. Quán như vậy thời
trong lạc thọ không sanh dục trước, trong khổ thọ không
sanh sân nhuế, trong bất khổ bất lạc thọ không sanh ngu si;
ấy gọi là thọ niệm xứ.
Hành
giả suy nghĩ: Vì vui nên tham đắm thân. Ai thọ cái vui
đó? Suy nghĩ rồi biết do tâm thọ. Chúng sanh tâm
cuồng điên đảo cho nên thọ cái vui đó, hãy nên quán tướng
của tâm ấy là vô thường sanh diệt, không an trụ được
trong một niệm nên không thể thọ lạc. Nhưng con người
vì điên đảo nên cho là được thọ lạc, vì cớ sao?
Vì khi bắt đầu muốn thọ vui tâm sanh ra khác, trong khi cái
vui sanh ra tâm lại khác, tâm trước tâm sau không bắt kịp
nhau, làm sao nói tâm thọ vui được? Tâm quá khứ đã
diệt nên không thọ vui; tâm hiện tại chỉ trụ trong một
niệm quá mau chóng nên không biết thọ vui.
Hỏi:
Quá khứ, vị lai không thể thọ vui; tâm hiện tại khi trụ
trong một niệm có thể thọ vui. Vì sao nói không thọ?
Đáp:
Tôi đã nói vì nó đi quá nhanh nên không biết thọ vui.
Lại
nữa, tướng các pháp là vô thường, nên không có lúc ngưng
trụ; nếu tâm ngưng trụ được trong một niệm, thì đến
niệm thứ hai nó cũng có thể trụ, thế là thuờng trụ không
có tướng diệt. Nhưng như Phật nói: Hết thảy
pháp hữu vi đều có ba tướng, trong trụ tướng cũng có diệt
tướng; nếu không diệt, thời không phải là tướng hữu
vi.
Lại
nữa, nếu pháp lúc sau có diệt, thời nên biết lúc đầu
cũng đã có diệt. Ví như người mặc áo mới, ngày mới
mặc nếu không cũ, ngày thứ hai cũng không thể cũ; cho đến
mười năm áo vẫn cứ mới mãi, không thể cũ, mà kỳ thật
nó đã cũ; cho nên biết cũ với mới cùng có một lúc, chỉ
vì vi tế nên không nhận biết, đến khi sự cũ đã hiện
ra mới biết. Do vậy biết các pháp không có lúc ngưng
trụ, làm sao có khi tâm trụ để được thọ vui? Nếu
không trụ mà thọ vui, việc ấy không đúng! Do vậy nên
biết thật không có cái chi thọ vui, chỉ theo pháp thế tục,
vì các tâm nối nhau, nên gọi đó là một tướng thọ vui.
Hỏi:
Làm sao biết hết thảy pháp hữu vi đều vô thường?
Đáp:
Trước tôi đã nói, nay sẽ đáp thêm. Pháp hữu duy ấy
đều phải tùy thuộc nhân duyên nên vô thường, trước không
nay có, nay có sau không, nên vô thường.
Lại
nữa, tướng vô thường thường theo dõi pháp hữu vi, pháp
hữu vi không có tăng giảm; hết thảy pháp hữu vi cứ xung
khắc nhau nên vô thường.
Lại
nữa, pháp hữu vi có hai tướng già thường theo dõi:
1- Sắp già, 2- Hư hoại già. Có hai tướng chết
thường theo dõi: 1- Tự chết, 2- Kẻ khác giết
chết. Do vậy nên biết hết thảy pháp hữu vi đều vô
thường. Đối trong các pháp hữu vi, tâm vô thường rất
dễ thấy biết. Như Phật nói kẻ phàm phu có khi biết
thân vô thường, nhưng không thể biết tâm vô thường.
Nếu phàm phu nói thân thường là còn chữa trị được; nếu
nói tâm là thường thì là mê lầm quá lớn; vì cớ sao, thân
trụ được mười năm, hoặc hai mươi năm; còn tâm thì ngày,
tháng, giờ, khắc, phút chốc qua đi, sanh diệt đổi khác,
niệm niệm không dừng, sắp muốn sanh lại khác sanh, sắp
muốn diệt lại khác diệt. Như sự huyễn thuật, thật
tướng bất khả đắc.
Do
vô lượng các nhân duyên như vậy, biết tâm vô thường; ấy
gọi là Tâm niệm xứ.
Hành
giả suy nghĩ: “Tâm ấy thuộc ai? Ai sai khiến tâm
ấy? Quán xong, không thấy có chủ. Hết thảy pháp
do nhân duyên hòa hợp nên không tự tại; không tự tại nên
không tự tánh; không tự tánh nên vô ngã. Nếu vô ngã,
thì ai sai khiến tâm?”
Hỏi:
Nên có ngã, vì cớ sao? Vì tâm sai khiến thân, cũng nên
có ngã sai khiến tâm? Ví như vua sai sử tướng, tướng
sai sử binh. Như vậy nên có ngã sai sử tâm, có tâm sai
sử thân để thọ năm dục lạc?
Lại
nữa, mỗi người đều có ngã tâm, nên biết thật có
ngã. Nếu chỉ có thân, vì tâm điên đảo nên chấp ngã;
sao không ở trong thân khác khởi chấp ngã? Do tướng
ấy nên biết mỗi người đều có ngã?
Đáp:
Nếu tâm sai sử thân, có ngã sai sử tâm, thời lại phải
có cái khác sai sử ngã; nếu lại có cái khác sai sử ngã,
ấy thời vô cùng. Lại còn có cái sai sử ngã thời sẽ
có hai thần ngã. Nếu lại vô ngã, mà ngã sai sử tâm,
thì cũng nên chỉ tâm sai sử thân. Nếu ông cho tâm thuộc
thần ngã, trừ tâm ra thời thần ngã không biết gì;
nếu không biết gì, làm sao sai sử tâm? Nếu thần
ngã có tướng biết, thời còn dùng tâm làm gì? Do vậy
nên biết chỉ có tâm là tướng thức tri, tự sai sử thân,
không có đợi thần ngã. Như tánh lửa hay thiêu đốt
vật, không cần đến người.
Hỏi:
Lửa tuy có sức thiêu đốt, song không có người thì vô dụng;
tâm tuy có tướng thức tri, không có thần ngã thì không sai
sử được?
Đáp:
Các pháp có tướng nên có, thần ngã ấy không tướng nên
không. Ông dù muốn lấy hơi thở ra vào và sự khổ vui
v.v... cho là tướng thần ngã; việc ấy không đúng, vì cớ
sao? Vì hơi thở ra vào là tướng của thân, thọ khổ
vui v.v... là tướng của tâm; sao lại lấy thân và tâm làm
tướng của thần ngã?
Lại
nữa, hoặc thời lửa tự có thể thiêu đốt, không đợi
người; chỉ vì đời theo danh từ mà gọi là người đốt
lửa. Luận lý của ông bị thua, vì sao? Thần ngã
chính là người, không nên lấy người ví dụ người.
Lại ông còn nói mỗi người đều có ngã tâm, nên biết thật
có ngã. Nếu chỉ có thân, mà vì tâm điên đảo nên
chấp ngã, sao không ở trong thân người khác khởi tâm
chấp ngã. Đối với lý hữu ngã vô ngã ông còn chưa
rõ, mà lại hỏi sao không ở trong thân người khác khởi tâm
chấp ngã? Tự thân tha thân đều từ ngã mà có, ngã
cũng không thể có được. Hoặc sắc tướng, hoặc vô
sắc tướng; hoặc thường hoặc vô thường; hoặc biên, hoặc
vô biên; có đi, không đi; tự tại, không tự tại; các tướng
ngã như vậy đều không thể có được. Như đã nói
ở trong đoạn “Ngã văn” ở trước.
Do
các nhân duyên như vậy, quán các pháp do nhân duyên hoà
hợp sanh, không có thật pháp có ngã; ấy gọi là pháp niệm
xứ.
Bốn
niệm xứ này có ba loại là Tánh niệm xứ, Cọng niệm xứ,
Duyên niệm xứ.
-
Thế nào là Tánh niệm xứ? Trí tuệ quán thân gọi là
Thân niệm xứ, trí tuệ quán các thọ gọi là Thọ niệm xứ;
trí tuệ quán các tâm gọi là Tâm niệm xứ, trí tuệ
quán các pháp gọi là Pháp niệm xứ; ấy là Tánh niệm xứ.
-
Thế nào là Cọng niệm xứ? Quán thân trên hết, làm
nhân duyên phát sanh đạo; hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu; gọi
là Thân niệm xứ. Quán thọ, quán tâm hay quán pháp trên
hết, làm nhân duyên phát sanh đạo; hoặc hữu lậu, hoặc
vô lậu; gọi là Thọ, Tâm, Pháp niệm xứ; ấy là Cọng niệm
xứ.
-
Thế nào là Duyên niệm xứ? Hết thảy sắc pháp tức
là mười nhập và một phần pháp nhập; gọi là Thân niệm
xứ. Sáu thọ là nhãn xúc sanh thọ; nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý xúc sanh thọ, gọi là Thọ niệm xứ. Sáu thức
là nhãn thức, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý thức; gọi là Tâm
niệm xứ. Tưởng ấm, hành ấm và ba vô vi; gọi là Pháp
niệm xứ; ấy là Duyên niệm xứ.
Tánh
niệm xứ: Lấy trí tuệ làm tánh; không có sắc,
không thể thấy, không đối ngại; hoặc hữu lậu, hoặc vô
lậu; hữu lậu hữu báo, vô lậu vô báo, đều là pháp hữu
vi nhân duyên sanh, nhiếp thuộc vào ba đời; nhiếp vào danh,
nhiếp vào ngoại nhập, do tuệ biết. Nếu hữu lậu đoạn
biến tri, vô lậu là chẳng phải đoạn biến trí. Hữu
lậu là có thể đoạn, vô lậu là không thể đoạn; là pháp
tu, vô cấu; là quả và cũng có quả. Hết thảy chẳng
phải pháp thọ, chẳng phải do bốn đại tạo thành; là pháp
hữu thượng (chứ không phải pháp vô thượng). Hữu
lậu niệm xứ là có, vô lậu niệm xứ là chẳng có; đều
là tương ưng nhân.
Bốn
niệm xứ nhiếp vào một phần thiện thuộc hành uẩn của
trong sáu thiện; và phần thiện hành uẩn nhiếp vào bốn niệm
xứ, chứ không nhiếp vào trong bất thiện và vô ký lậu.
Hoặc
có Bốn niệm xứ chẳng phải pháp hữu lậu, hoặc pháp hữu
lậu chẳng phải Bốn niệm xứ; hoặc có Bốn niệm xứ cũng
là pháp hữu lậu, hoặc chẳng phải Bốn niệm xứ cũng chẳng
phải pháp hữu lậu. Có Bốn niệm xứ chẳng phải pháp
hữu lậu là Bốn niệm xứ vô lậu tánh. Pháp hữu lậu
chẳng phải Bốn niệm xứ là, trừ Bốn niệm xứ hữu lậu
tánh, phần hữu lậu còn lại.
Có
Bốn niệm xứ cũng là hữu lậu là, Bốn niệm xứ thuộc
tánh hữu lậu. Chẳng phải Bốn niệm xứ cũng chẳng
phải pháp hữu lậu là trừ Bốn niệm xứ thuộc tánh vô
lậu, các pháp vô lậu khác còn lại. Bốn câu về vô
lậu cũng như vậy.
Cọng
niệm xứ: Trong Cọng niệm xứ này, thân nghiệp,
khẩu nghiệp là thuộc sắc, còn lại chẳng phải sắc.
Hết thảy chẳng thể thấy, đều là pháp không có đối ngại;
hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu; đều là pháp hữu vi.
Hữu lậu niệm xứ có báo, vô lậu niệm xứ thì không báo;
là pháp nhân duyên sanh, nhiếp thuộc ba đời, nhiếp vào sắc
của thân khẩu nghiệp; còn lại nhiếp thuộc vào danh, nhiếp
thuộc vào tâm, ý, thức, nội nhập còn lại nhiếp thuộc
ngoại nhập, do tuệ biết. Nếu hữu lậu là đoạn biến
tri, vô lậu chẳng phải đoạn biến tri. Hữu lậu
có thể đoạn, vô lậu không thể đoạn; đều là pháp tu,
đều vô cấu; là quả và cũng có quả; hết thảy chẳng phải
pháp thọ. Thân, khẩu nghiệp do bốn đại tạo ra, còn
lại chẳng phải do bốn đại tạo; đều là pháp hữu thượng.
Hữu lậu niệm xứ là có, vô lậu niệm xứ là chẳng phải
có. Thân, khẩu nghiệp và các tâm tương ưng hành là
chẳng phải tương ưng nhân; phần còn lại là tương ưng nhân.
Năm thiện phần thu nhiếp bốn niệm xứ, bốn niệm xứ cũng
thu nhiếp năm thiện phần; phần còn lại không thu nhiếp nhau,
không nhiếp trong pháp bất thiện và vô ký lậu.
Hoặc
có Bốn niệm xứ chẳng phải pháp hữu lậu, hoặc có pháp
hữu lậu chẳng phải Bốn niệm xứ; hoặc có Bốn niệm xứ
cũng là pháp hữu lậu, hoặc chẳng phải Bốn niệm xứ cũng
chẳng phải pháp hữu lậu. Có Bốn niệm xứ chẳng phải
pháp hữu lậu là, Bốn niệm xứ vô lậu tánh. Có pháp
hữu lậu chẳng phải Bốn niệm xứ là, trừ Bốn niệm xứ
hữu lậu tánh, phần pháp hữu lậu còn lại. Có Bốn
niệm xứ cũng là pháp hữu lậu, là Bốn niệm xứ hữu lậu
tánh. Chẳng pháp Bốn niệm xứ, chẳng phải pháp hữu
lậu là hư không, thường duyên Diệt đế, chẳng thường
thường duyên Diệt đế.
Hoặc
có Bốn niệm xứ chẳng phải vô lậu, hoặc có pháp vô lậu
chẳng phải Bốn niệm xứ; hoặc có Bốn niệm xứ cũng pháp
vô lậu, hoặc chẳng phải Bốn niệm xứ chẳng phải pháp
vô lậu. Có Bốn niệm xứ chẳng phải pháp vô lậu là
Bốn niệm xứ hữu lậu tánh. Có pháp vô lậu chẳng
phải Bốn niệm xứ là ba pháp vô vi. Có Bốn niệm xứ
cũng là vô lậu là Bốn niệm xứ vô lậu tánh. Chẳng
phải Bốn niệm xứ chẳng phải pháp vô lậu là trừ Bốn
niệm xứ hữu lậu, phần pháp hữu lậu còn lại.
Duyên
niệm xứ: Trong Duyên niệm xứ, Thân niệm xứ là sắc,
ba niệm xứ kia chẳng phải sắc. Ba niệm xứ kia không
thể thấy; Thân niệm xứ thì cần phân biệt: Thân niệm
xứ có phần khả thấy có phần không thể thấy. Phần
khả thấy là sắc nhập, phần không thể thấy là chín nhập
kia và một phần pháp nhập. Ba niệm xứ không có đối
ngại, một Thân niệm xứ thì cần phân biệt: Thân niệm
xứ có đối ngại là Mười nhập, từ Sắc nhập đến Thân
nhập và một phần Pháp nhập. Thân niệm xứ hữu lậu
là Mười nhập và một phần Pháp nhập; vô lậu là một phần
Pháp nhập. Thọ niệm xứ tương ưng với hữu lậu ý
là hữu lậu; tương ưng với vô lậu ý là vô lậu. Tâm
niệm xứ cũng như vậy, Pháp niệm xứ thuộc hữu lậu tưởng
ấm và hành ấm là hữu lậu; thuộc vô lậu tưởng ấm, hành
ấm và pháp vô vi là vô lậu.
Ba
niệm xứ là hữu vi, một Pháp niệm xứ thì cần phân biệt:
Pháp niệm xứ thuộc tưởng ấm và hành ấm là hữu vi; ba
vô vi pháp là vô vi.
Thân
niệm xứ bất thiện và Thân niệm xứ hữu lậu thiện là
có quả báo; Thân niệm xứ vô ký và vô lậu là không có
quả báo. Thọ niệm xứ, Tâm niệm xứ, Pháp niệm xứ
cũng như vậy.
Ba
niệm xứ từ nhân duyên sanh, Pháp niệm xứ thì cần phân
biệt: Pháp niệm xứ nếu là pháp hữu vi thì từ nhân
duyên sanh; nếu là pháp vô vì thì không từ nhân duyên sanh.
Ba
niệm xứ nhiếp về ba đời, Pháp niệm xứ thì cần phân
biệt: Pháp niệm xứ nếu là pháp hữu vi thì nhiếp vào
ba đời; nếu là pháp vô vì thì chẳng nhiếp vào ba đời.
Thân
niệm xứ nhiếp về sắc, ba Niệm xứ kia nhiếp về danh.
Tâm
niệm xứ nhiếp về nội nhập: Thọ niệm xứ, Pháp niệm
xứ nhiếp về ngoại nhập; một Thân niệm xứ thì cần phân
biệt: Thân niệm xứ hoặc nhiếp về nội nhập, hoặc nhiếp
về ngoại nhập. Năm nội nhập là nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt,
thân thì nhiếp về nội nhập, năm ngoại nhập là sắc, thanh,
hương, vị, xúc và một phần pháp nhập là nhiếp về ngoại
nhập; do tuệ biết.
Pháp
hữu lậu là đoạn kiến (là đoạn biến tri); pháp vô lậu
chẳng phải đoạn kiến (là đoạn biến tri). Pháp hữu
lậu là có thể đoạn; pháp vô lậu là không thể đoạn.
Sự
tu cần phân biệt: thân niệm xứ thiện thì nên tu, bất thiện
và vô ký thì không nên tu. Thọ, Tâm niệm xứ cũng
như vậy. Pháp niệm xứ nếu là thiện pháp hữu vi thì
nên tu; nếu bất thiện, vô ký và thường thường duyên Diệt
đế thì không nên tu.
Cấu
uế cần nên phân biệt: Thân niệm xứ ẩn mất là cấu,
không ẩn mất là chẳng cấu. Thọ, Tâm, Pháp niệm xứ
cũng như vậy.
Ba
niệm xứ là quả và cũng có quả; còn một Pháp niệm xứ
thì cần phân biệt: Pháp niệm xứ là quả mà chẳng
có quả; hoặc là quả và cũng có quả; hoặc chẳng phải
quả chẳng phải có quả. Thường thường duyên diệt
đế là quả chẳng phải có quả. Hữu vi pháp niệm xứ
là quả và cũng có quả. Hư không và thường thường
duyên diệt đế là chẳng phải quả chẳng phải có quả.
Ba
niệm xứ không thọ, một Thân niệm xứ thì cần phân biệt:
Nếu Thân niệm xứ rơi vào thân hữu tình số là có thọ;
không rơi vào thân hữu tình số là chẳng phải thọ
Ba
niệm xứ chẳng phải do bốn đại tạo thành; một thân niệm
xứ thì cần phân biệt: Thân niệm xứ chín nhập là
sắc, hương, vị, xúc, nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân và một
phần của thanh nhập, pháp nhập là do bốn đại tạo; còn
một phần pháp nhập chẳng phải do bốn đại tạo.
Ba
niệm xứ là pháp hữu thượng; một pháp niệm xứ thì cần
phân biệt: Pháp niệm xứ thuộc pháp hữu vi, hư không
và chẳng phải thường thường duyên diệt đế là pháp hữu
thượng, Niết bàn là pháp vô thượng.
Bốn
niệm xứ nếu là hữu lậu là có, nếu là vô lậu là chẳng
phải có.
Hai
niệm xứ là Thọ và Tâm niệm xứ thuộc tương ưng nhân.
Một Thân niệm xứ không thuộc tương ưng nhân; còn Pháp niệm
xứ thì nếu thuộc tưởng uẩn và tương ưng hành uẩn là
tương ưng nhân; những pháp còn lại là bất tương ưng nhân.
Bốn
niệm xứ phân nhiếp sáu thiện pháp, sáu thiện pháp cũng
phân nhiếp bốn niệm xứ. Phần bất thiện, phần vô
ký cũng tùy chủng loại nhiếp nhau như thế.
Ba
lậu là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu thì nhiếp một phần
niệm xứ; một phần niệm xứ cũng nhiếp ba lậu.
Hữu
lậu nhiếp bốn niệm xứ phần; bốn niệm xứ phần cũng
nhiếp vô lậu.
Các
nghĩa như vậy, nói rộng trong Thiên nạn.
Hỏi:
Những gì là nội thân? Những gì là ngoại thân?
Nếu như nội thân ngoại thân đều đã nhiếp hết tất cả;
sao còn nói quán nội ngoại thân?
Đáp:
Nội là tự thân, ngoại là tha thân. Tự thân có hai:
1- Các bất tịnh trong thân, 2- Da, lông, móng, tóc
ngoài thân.
Lại
nữa, hành giả quán tử thi phình trướng, tiêu hoại.
Lấy tướng đó để tự quán thân cũng như tướng ấy.
Sự việc ấy, ta chưa lìa được tướng ấy. Thây chết
là ngoại thân, thân hành giả là nội thân. Nếu như
hành giả khi thấy nữ nhân đoan chánh mà sanh tâm nhiễm trước,
thì liền quán thân ấy là bất tịnh, là ở bên ngoài; và
tự biết thân ta cũng như vậy, là ở bên trong.
Lại
nữa, năm căn nhãn, nhĩ v.v... là nội thân; năm trần, sắc,
hương là ngoại thân. Bốn đại đất, nước, lửa, gió
là nội thân; bốn đại sở tạo sắc, hương, vị, xúc là
ngoại thân. Nơi có cảm giác khổ, vui là nội thân; nơi
không có cảm giác khổ, vui là ngoại thân. Tự thân và
các căn nhãn v.v... là nội thân; vợ con và các vật cần dùng
như tài của ruộng nhà là ngoại thân, vì cớ sao?
Vì hết thảy sắc pháp đều là thân niệm xứ. Hành
giả tìm nơi một thân ấy có thường, lạc, ngã, tịnh chăng?
Tìm xét kỹ càng đều không thể có được. Như trước
đã nói trong đoạn quán pháp.
Quán
bên trong đã là không thể có được; vậy quán bên ngoài
hoặc là sẽ có ư? vì sao? Vì vật bên ngoài là
chỗ hết thảy chúng sanh nhiễm trước; nhưng khi quán ngoại
thân cũng không thể có được. Lại suy nghĩ rằng:
Ta quán bên trong là không thể có được, vậy ta hãy quán
bên ngoài hoặc là có chăng? Nhưng quán bên ngoài cũng
lại không thể có được!. Tự suy nghĩ rằng: Hay
tại ta sai lầm, vậy nay ta sẽ quán chung cả nội ngoại.
Quán trong quán ngoài ấy là tướng biệt, quán trong ngoài cùng
lúc gọi là tướng tổng. Tổng quán biệt quán rốt ráo
không thể có được. Sự quán như vậy đã trọn vẹn.
Hỏi:
Thân niệm xứ có thể có trong có ngoài, còn các thọ là nhiếp
về ngoại nhập; tại sao phân biệt có nội thọ ngoại thọ?
Đáp:
Phật nói có hai thứ thọ là thân thọ và tâm thọ. Thân
thọ là ngoài, tâm thọ là trong.
Lại
có thọ tương ưng với năm thức là ngoài, thọ tương ưng
với ý thức là trong. Do mười hai nhập làm nhân duyên
nên có các thọ phát sanh, thọ sanh từ phía sáu nội nhập
gọi là trong; thọ sanh từ phía sáu ngoại nhập gọi là ngoài.
Thô thọ là ngoài, tế thọ là trong. Hai thứ khổ là
nội khổ và ngoại khổ. Nội khổ có hai là thân khổ
và tâm khổ. Thân khổ là thân bị bốn trăm lẻ bốn
bệnh như đau thân, đau đầu v.v...; ấy là thân khổ. Tâm
khổ là lo, buồn, giận, sợ, ghen ghét, nghi ngờ v.v...; ấy
là tâm khổ. Hai khổ ấy hợp lại là nội khổ.
Ngoại khổ có hai: Một là vua hơn mình, ác tặc, sư tử,
hổ lang, rắn rết bức hại mình. Hai là gió, mưa, lạnh,
nóng, sấm chớp, sét đánh v.v... Hai thứ khổ này gọi
là ngoại khổ.
Thọ
vui, thọ không khổ không vui cũng như vậy.
Lại
nữa, duyên nội pháp là nội thọ, duyên ngoại pháp là ngoại
thọ.
Lại
nữa, một trăm linh tám thọ là nội thọ, phần còn lại là
ngoại thọ.
Hỏi:
Tâm là nhiếp về nội nhập; sao nói quán ngoại tâm?
Đáp:
Tâm tuy nhiếp về nội nhập; song vì duyên ngoại pháp nên
gọi là ngoại tâm. Ý thức là nội tâm, ngũ thức là
ngoại tâm. Nhiếp tâm vào thiền là nội tâm, tâm tán
loạn là ngoại tâm. Tâm tương ưng với nội năm cái,
nội bảy giác; ấy là nội tâm. Tâm tương ưng với năm
triền cái bên ngoài, bảy giác bên ngoài; ấy là ngoại tâm.
Các
thứ phân biệt trong ngoài như vậy; ấy là nội tâm ngoại
tâm.
Hỏi:
Pháp niệm xứ là nhiếp về ngoại nhập; tại sao nói quán
nội pháp?
Đáp:
Trừ thọ, các tâm số pháp khác hay duyên nội pháp tâm số
pháp, là nội pháp; hay duyên ngoại pháp tâm số pháp, vô vi,
tâm bất tương ưng hành; ấy là ngoại pháp.
Lại
nữa, pháp của ý thức duyên gọi là pháp. Như Phật
nói: “Nương duyên sanh ý thức”. Trong đây trừ
thọ, các tâm số pháp khác là nội pháp, các tâm bất tương
hành và pháp vô vi; ấy là ngoại pháp.
Bốn
chánh cần có hai: 1- Tánh chánh cần, 2- Cọng
chánh cần. Tánh chánh cần là vì Đạo nên tu bốn
thứ tinh tấn, là tinh tấn ngăn ngừa hai pháp bất thiện và
tu tập hai pháp thiện. Khi quán bốn niệm xứ, nếu có
tâm giải đãi; hoặc các phiền não như năm cái che tâm hay
khi xa lìa năm thiện căn là tín, tấn v.v... các pháp bất thiện
đó, nếu đã sanh thì siêng tinh tấn dứt trừ, nếu chưa sanh
thì siêng tinh tấn không để cho sanh. Còn năm thiện căn
tín, tấn v.v... nếu chưa sanh thì siêng tinh tấn làm cho sanh,
nếu đã sanh thì siêng tinh tấn làm cho tăng trưởng.
Pháp tinh tấn đối với bốn niệm xứ nhiều thì được gọi
là chánh cần.
Hỏi:
Sao trong bảy loại pháp là Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần,
Bốn như ý túc, Năm căn, Năm Lực, Bảy giác chi, Tám chánh
đạo; chỉ bốn hạnh này gọi là Chánh cần, và tám thứ
sau thì gọi là Chánh đạo, ngoài ra đều không gọi là chánh?
Đáp:
Bốn tinh tấn thì tâm dõng mãnh phát động, sợ sai lầm nên
gọi là Chánh cần; hành đạo hướng đến pháp, sợ đọa
tà pháp, nên gọi là Chánh đạo.
Tánh
là bốn tánh tinh tấn. Cọng là bốn tánh tinh tấn đều
làm nhân duyên đầu tiên phát sanh Chánh đạo. Hoặc hữu
lậu, hoặc vô lậu; hoặc sắc, hoặc vô sắc; như trên đã
nói.
Khi
thực hành Bốn chánh cần, nếu tâm hơi bị tán loạn, lấy
định thu nhiếp lại, đó gọi là Như ý túc. Ví như
đồ ăn ngon, thiếu muối thời vô vị, được muối thời
vị đầy đủ như ý. Lại như người có hai chân, lại
có được ngựa tốt, xe tốt thì đi đến nơi như ý.
Hành giả như vậy, được thật trí tuệ về bốn niệm xứ,
chánh tinh tấn trong bốn chánh cần, do tinh tấn nên trí tuệ
tăng nhiều mà định lực giảm yếu, được có bốn định
thu nhiếp tâm lại, làm cho định tuệ ngang nhau, mà sở nguyện
đều thành tựu; ấy gọi là Như ý túc.
Hỏi:
Trong Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần đã có định; cớ sao
không gọi là Như ý túc?
Đáp:
Kia tuy có định, mà trí tuệ tinh tấn lực nhiều, định lực
yếu hành giả không được như ý nguyện. Bốn định
là, do dục làm chủ mà đắc định, do tinh tấn làm chủ mà
đắc định, do định làm nhân duyên phát sanh đạo; hoặc
hữu lậu, hoặc vô lậu. Do tâm làm chủ mà đắc định,
do tư duy làm chủ mà đắc định, do định làm nhân duyên
phát sanh đạo; hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Cọng
với thiện ngũ uẩn gọi là cọng như ý, Bốn định
do dục làm chủ phát sanh v.v... gọi là Tánh như ý. Bốn
chánh cần, Bốn như ý túc, như trong tánh niệm xứ, cọng
niệm xứ đã phân biệt nói rộng.
Năm
căn là tin vào đạo và thiện pháp trợ đạo, gọi là Tín
căn. Khi thực hành đạo và pháp trợ đạo ấy; siêng
cầu không ngừng, gọi là Tinh Tấn căn. Nhớ nghĩ đạo
và pháp trợ đạo, không còn nghĩ gì khác, gọi là Niệm căn.
Nhất tâm nhớ nghĩ không tán lọan gọi là Định căn.
Vì đạo và pháp trợ đạo quán mười sáu hành tướng như
vô thường, khổ v.v... gọi là Tuệ căn. Năm căn tăng
trưởng không bị phiền não phá hoại thì gọi là Năm lực.
Như đã nói trong Năm căn.
Năm
căn, năm lực này nhiếp thuộc trong hành uẩn, thường chung
tương ưng, theo tâm hành động, là tâm số pháp, chung với
tâm sanh, chung với tâm trú, chung với tâm diệt. Nếu
có năm pháp này là theo chánh định, nếu không có năm pháp
này là rơi vào tà định.
Nghĩa
của Bảy giác phần, như trước đã nói.
Hỏi:
Trước tuy đã nói nghĩa Bảy giác phần, song chẳng phải nói
theo pháp A-tỳ-đàm?
Đáp:
Nay sẽ nói tiếp. Cũng như nghĩa của Bốn niệm xứ,
Bảy giác phần này là vô sắc, không thể thấy, không đối
ngại; là vô lậu, hữu vi, nhân duyên sanh, nhiếp về ba đời,
nhiếp về danh, nhiếp về ngoại nhập; do tuệ biết, chẳng
phải đoạn biến tri, chẳng phải đoạn; là pháp tu, pháp
vô cấu; là quả và cũng có quả; chẳng phải pháp thọ, chẳng
phải do bốn đại tạo; là pháp hữu thượng, chẳng phải
có; là tương ưng nhân. Hai thiện phần (hữu lậu thiện,
vô lậu thiện) nhiếp Bảy giác phần; Bảy giác phần nhiếp
hai thiện phần, không nhiếp vào pháp bất thiện, vô ký lậu
và hữu lậu. Hai phần vô lậu (hữu vi vô lậu, vô vi
vô lậu) nhiếp Bảy giác phần; Bảy giác phần nhiếp hai phần
vô lậu.
Các
nghĩa như vậy v.v... như trong Thiên nạn có nói rộng.
Tám
Tánh đạo phần như trước đã nói. Chánh kiến là trí
tuệ, như đã nói trong Bốn niệm xứ, tuệ căn, tuệ lực,
trạch pháp giác. Chánh tư duy là khi quán Bốn đế có
tâm vô lậu tương ưng, suy nghĩ phát động, giác biết đo
lường. Chánh phương tiện là như đã nói trong Bốn Chánh
cần, Tinh tấn căn, Tinh tấn lực, Tinh tấn giác. Chánh
niệm là như đã nói trong Niệm căn, Niệm lực, Niệm giác.
Chánh định là như đã nói trong ý túc, định căn, định
lực, định giác. Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng
nay sẽ nói. Trừ bốn thứ tà mạng thuộc về khẩu nghiệp,
dùng vô lậu trí tuệ trừ bỏ xa lìa các khẩu tà nghiệp;
ấy là Chánh ngữ. Chánh nghiệp cũng như vậy. Dùng
trí tuệ vô lậu trừ bỏ xả ly năm thứ tà mạng; gọi là
Chánh mạng.
Hỏi:
Những gì là năm thứ tà mạng?
Đáp:
1- Nếu hành giả vì lợi dưỡng, dối trá hiện tướng
kỳ đặc. 2- Vì lợi dưỡng tự nói công đức của mình.
3- Vì lợi dưỡng, xem tướng cát hung để nói cho người.
4- Vì lợi dưỡng, to tiếng hiện oai khiến người khiếp
sợ. 5- Vì lợi dưỡng, khen ngợi công đức cúng dường
để khích động lòng người. Dùng nhân duyên tà vạy
để nuôi sống, ấy gọi là tà mạng.
Tám
chánh đạo này gồm ba phần: Ba thứ là Giới phần, ba
thứ là Định phần, hai thứ là Huệ phần. Tuệ phần,
Định phần như trước đã phân biệt nói, riêng Giới phần
nay sẽ nói. Giới phần là sắc tánh (vô biểu sắc),
không thể thấy, không có đối ngại; thuộc vô lậu, hữu
vi, không báo, nhân duyên sanh, nhiếp về ba đời, nhiếp về
sắc chẳng phải nhiếp về danh, nhiếp về ngoại nhập, do
tuệ biết. Chẳng phải đoạn kiến ( nên hiểu là đoạn
biến tri) chẳng thể đoạn; là pháp tu, pháp vô cấu; là quả
và cũng có quả, chẳng phải pháp thọ, do bốn đại tạo;
là pháp hữu thượng, pháp chẳng phải có, chẳng phải tương
ưng nhân. Một thiện phần (hữu lậu thiện) nhiếp ba
chánh (ngữ, nghiệp, mạng). ba chánh nhiếp một thiện phần,
không nhiếp vào bất thiện, hữu lậu, vô ký lậu. Một
pháp vô lậu nhiếp ba chánh; ba chánh cũng nhiếp một pháp
vô lậu.
Các
lối phân biệt như vậy, như trong A-tỳ-đàm đã nói rộng.
Ba
mươi bảy đạo phẩm này, ở Sơ thiền địa có đủ, trong
Vị đáo địa có ba mươi sáu, trừ hỷ giác. Trong đệ
Nhị thiền cũng có ba mươi sáu; trừ Chánh hạnh (chánh cần).
Trong trung gian thiền, đệ Tam, đệ Tứ thiền đều có ba mươi
lăm; trừ hỷ giác, chánh hạnh. Trong ba vô sắc định
có ba mươi hai; trừ hỷ giác, chánh hạnh, chánh ngữ, chánh
nghiệp, chánh mạng. Trong Hữu đảnh địa có hai mươi
hai; trừ bảy giác phần, Tám thánh đạo phần. Trong Dục
giới có hai mươi hai, cũng như vậy. Đây là phân biệt
nói ở trong pháp Thanh văn.
Hỏi:
Trong Đại thừa nói nghĩa ba mươi bảy đạo phẩm như thế
nào?
Đáp:
Bồ-tát Ma-ha-tát thực hành Bốn niệm xứ, quán nội thân
là vô thường, khổ, như bệnh như ung, thịt xương tụ tập
bại hoại, đầy dẫy bất tịnh, chín lỗ thường chảy ra,
đó là nhà xí. Như vậy quán thân lộ bày xâu xa, không
một chỗ sạch, thịt lấp xương vóc, gân buộc, da bọc.
Do chịu nghiệp nhân hữu lậu đời trước và do đời nay
tắm rửa, hương hoa, y phục, ăn uống, ngọa cụ, thuốc men
v.v... tạo thành. Như xe có hai bánh, do sức bò kéo có
thể đi đến được. Do nhân duyên hai đời làm thành
xe thân, do con Bò “thức” kéo qua lại quanh co. Thân
này do bốn đại đạo hòa hợp tạo thành giống như bọt
nước, trống rỗng không kiên cố. Thân này vô thường,
lâu chắc phải bị phá hoại. Tướng của thân này không
thể tìm thấy ở trong thân, cũng không ở ngoài thân, cũng
không ở chặng giữa. Thân tự không biết, vô tri vô
tác, giống như tường vách ngói đá. Trong thân này không
có thân tướng nhất định, không có ai làm ra thân này, cũng
không có ai sai khiến làm. Thân này đời trước, đời
này, đời này đều không thể có được. Có tám vạn
hộ trùng, vô lượng các bệnh và các thứ đói khát, lạnh
nóng, hình thể suy tàn, v.v... thường bức não thân này.
Bồ-tát
Ma-ha-tát quán thân như vậy, biết chẳng phải thân ta, cũng
chẳng phải thân người khác, không được tự tại làm và
không làm. Thân tướng của thân này trống, do nhân duyên
hư vọng sanh ra. Thân này là giả có, thuộc nghiệp nhân
duyên của đời trước. Bồ-tát tự suy nghĩ: Ta
không nên tiếc thân này; vì cớ sao, vì thân tướng này không
hợp không tán, không đến không đi, không sanh không diệt,
không nương tựa. Men theo thân, quán thân này là vô ngã,
vô ngã sở cho nên không, không cho nên không các tướng nam
nữ. Không các tướng cho nên không ước nguyện.
Quán như vậy được vào môn Vô tác trí, biết thân không
làm, không có kẻ làm, chỉ do các pháp nhân duyên hòa hợp
sanh. Các nhân duyên làm ra thân này cũng lại từ hư vọng
điên đảo mà có, chính trong nhân duyên ấy cũng không có
tướng nhân duyên. Nhân duyên ấy sanh, cũng không có tướng
sanh. Suy nghĩ như vậy biết thân này từ xưa đến nay
không có tướng sanh, biết thân này là vô tướng, không thể
chấp thủ. Vô sanh nên vô tướng, vô tướng nên vô sanh.
Chỉ dối gạt kẻ phàm phu nên gọi là thân.
Bồ-tát
khi quán thật tướng của thân như vậy, lìa xa các ái trước
dục nhiễm. Tâm thường buộc niệm ở nơi thân, men theo
thân quán như vậy, gọi là Bồ-tát quán thân niệm xứ.
Quán ngoại thân, quán nội ngoại thân cũng như vậy.
-
Bồ-tát quán Thọ như thế nào? Quán nội thọ. Thọ
này có ba thứ là hoặc khổ, hoặc vui, hoặc không khổ không
vui. Các thọ ấy không từ đâu đến, diệt không đi
về đâu, chỉ theo hư cuồng điên đảo vọng tưởng sanh;
là báo quả, thuộc nhân duyên nghiệp đời trước. Bồ-tát
cầu tìm các thọ như vậy, không ở trong quá khứ, không ở
vị lai, không ở hiện tại; biết các thọ ấy là không, vô
ngã, vô ngã sở, vô thường phá hoại. Quán các thọ
ba đời ấy là không, vô tướng, vô tác, được vào môn giải
thoát. Cũng quán các thọ sanh diệt, cũng biết các thọ
không hợp không tan, không sanh không diệt, như vậy được
vào môn vô sanh. Biết các thọ vô sanh nên vô tướng,
vô tướng nên vô sanh. Biết như vậy rồi, buộc tâm
ở trong quán duyên, hoặc có khổ, có vui, không khổ không
vui đưa đến, tâm không lãnh thọ, không ái trước, không
nương tựa.
Do
các nhân dyên như vậy quán các thọ, ấy gọi là Thọ niệm
xứ. Quán ngoại thọ, quán nội ngoại thọ cũng như vậy.
-
Bồ-tát quán tâm niệm xứ như thế nào? Bồ-tát quán
nội tâm. Nội tâm ấy có ba thứ là sanh, trụ, diệt.
Suy nghĩ rằng: Tâm này không từ đâu đến, diệt cũng
không đi về đâu, chỉ theo nhân duyên trong ngoài hoà hợp
sanh, tâm ấy không có thật tướng nhất định, cũng không
thật sanh, trụ, diệt; cũng không ở trong quá khứ vị lai,
hiện tại. Tâm ấy không ở trong, ở ngoài, không ở
chặng giữa. Tâm ấy cũng vô tánh vô tướng, cũng không
ai sanh, không ai khiến sanh. Do bên ngoài có nhân duyên
của sáu trần, bên trong có tâm tưởng điên đảo, sanh diệt
tiếp nối nên miễn cưỡng gọi là tâm. Trong tâm như
vậy, thật tướng của tâm không thể có được. Tánh
của tâm ấy bất sanh bất diệt, thường là tướng tịnh,
bị tướng khách trần phiền não nhiễm trước nên gọi là
tâm bất tịnh.
Tâm
không tự biết tâm; vì cớ sao, vì tâm ấy, tướng của tâm
là không. Tâm ấy gốc ngọn không có thật pháp.
Tâm ấy với các pháp không hợp không tan; cũng không đời
trước, đời sau, đời giữa; không sắc, không hình, không
đối ngại; chỉ là điên đảo hư vọng sanh. Tâm ấy
là không, vô ngã, vô ngã sở, không thường, không thật; ấy
gọi là tùy thuận quán tâm. Biết tướng của tâm vô
sanh, được vào trong vô sanh pháp; vì cớ sao, vì tâm ấy vô
sanh, vô tánh, vô tướng, người trí biết được. Người
trí tuy quán tướng sanh diệt của tâm cũng không thấy có
pháp thật sanh thật diệt, không phân biệt nhơ sạch, mà tâm
được thanh tịnh. Do tâm thanh tịnh nên không bị khách
trần phiền não cấu nhiễm. Như vậy v.v... quán nội
tâm. Quán ngoại tâm, quán nội ngoại tâm cũng như vậy.
-
Bồ-tát quán pháp niệm xứ như thế nào? Quán hết thảy
pháp không ở trong, không ở ngoài, không ở chặng giữa; không
ở trong đời quá khứ vị lai, hiện tại; chỉ theo nhân duyên
hòa hợp vọng kiến sanh ra, không có thật tướng nhất định,
không có pháp ấy, không có pháp ấy của ai. Trong các
pháp, tướng của pháp là không thể có được, cũng không
có pháp hoặc hợp hoặc tan. Hết thảy pháp không có
gì có như hư không. Hết thảy pháp hư dối như huyễn,
tánh các pháp vốn tịnh, không ô nhiễm nhau. Các pháp
không có thọ; các pháp không có gì; các pháp không thể biết
được, vì tâm số pháp hư dối vậy. Khi quán như vậy,
không thấy có pháp hoặc tướng một, hoặc tướng khác.
Quán hết thảy pháp là không, vô ngã, không có tự tánh; ấy
thật là không, thật không nên không có tướng, không có tướng
nên không có tạo tác; không tạo tác nên không thấy pháp
hoặc sanh hoặc diệt. Trụ trong trí tuệ ấy, được
vào môn Vô sanh pháp nhẫn. Bấy giờ tuy quán các pháp
sanh diệt cũng vào môn vô tướng; vì cớ sao, vì hết thảy
pháp lìa các tướng, người trí đã biết rõ.
Khi
quán như vậy, buộc tâm vào trong quán duyên, thuận theo các
pháp tướng, không nhớ niệm thân, thọ, tâm, pháp; biết bốn
pháp ấy không có nơi chỗ; ấy là nội pháp niệm xứ.
Ngoại pháp niệm xứ, nội ngoại pháp niệm xứ cũng như vậy.
Bốn
chánh cần, bốn như ý túc cũng cần phân biệt như vậy, quán
nó là không, không có nơi chỗ.
-
Bồ-tát thực hành năm căn như thế nào? Bồ-tát Ma-ha-tát
quán Năm căn, tu Năm căn.
Tín
căn là tin hết thảy pháp do nhân duyên sanh, do tâm điên đảo
vọng kiến sanh; như vòng lửa quay, như mộng như huyễn.
Tin các pháp là bất tịnh, vô thường, khổ, không, vô ngã;
như bệnh như ung, như gai nhọn, tai biến bại hoại.
Tin các pháp không gì có; như nắm tay không dối trẻ nhỏ.
Tin các pháp không ở trong quá khứ, không ở trong vị
lai, không ở trong hiện tại, không từ đâu đến, diệt không
đi về đâu. Tin các pháp là không, vô tướng vô tác,
bất sanh bất diệt. Vô tác vô tướng mà tin sự trì
giới, thiền định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến.
Được tín căn ấy, không còn bị thối chuyển. Lấy
tín căn làm đầu, khéo trì tịnh giới, trụ trong sự trì
giới rồi thì tín tâm không động không chuyển. Nhất
tâm tin chắc nương nghiệp có quả báo, xa lìa các tà kiến,
không còn tin các lời lẽ khác, chỉ trọ trì Phật pháp, tin
chúng Tăng. Trụ trong thật đạo, trực tâm nhu nhuyến
hay nhẫn, thông đạt vô ngại, không lay động không biến
hoại, đắc lực tự tại; ấy gọi là Tín căn.
Tinh
tấn căn là ngày đêm thường tu hành tinh tấn, khước trừ
năm điều che lấp, nhiếp hộ năm căn, muốn được, muốn
biết, muốn thực hành, muốn tụng, muốn đọc, cho đến muốn
nghe các kinh pháp thâm diệu. Nếu các pháp ác bất thiện
khởi lên, liền khiến nó tiêu diệt; nếu chưa sanh khởi khiến
cho không sanh khởi; còn các pháp thiện chưa sanh thì làm cho
sanh, đã sanh làm cho tăng trưởng rộng lớn. Cũng như
không ghét pháp bất thiện, cũng không ưa pháp thiện, được
sự tinh tiến bình đẳng, tiến thẳng không lui chuyển, được
chánh tinh tiến định tâm, nên gọi là Tinh tấn căn.
Niệm
căn là Bồ-tát thường nhất tâm niệm tưởng muốn đầy
đủ bố thí, trì giới, thiền định, trí tuệ, giải thoát,
muốn tịnh thân khẩu ý nghiệp, thường nhất tâm niệm ở
trong trí biết về các pháp sanh, diệt, trú, dị. Nhất
tâm niệm khổ, tập, diệt, đạo. Nhất tâm niệm phân
biệt căn, lực, giác, đạo, thiền định, giải thoát, sanh
diệt vào ra. Nhất tâm niệm các pháp bất sanh bất diệt,
không làm không nói, để được trí tuệ vô sanh nên đầy
đủ các Phật pháp. Nhất tâm niệm không để cho tâm
Thanh-văn, Bích-chi Phật xen vào. Thường niệm không quên
các pháp thậm thâm thanh tịnh như vậy, quán hạnh thành tựu,
được niệm tự tại như vậy; ấy gọi là Niệm căn.
Định
căn là Bồ-tát khéo thủ lấy tướng định, hay sanh các thứ
thiền định, rõ ràng biết các môn định, khéo biết vào
định, khéo biết trú định, khéo biết xuất định; nơi định
không đắm trước, không ưa thích, không nương tựa; khéo
biết sở duyên, khéo biết duyên hoại, tự tại dạo qua các
thiền định; cũng biết định vô duyên, không theo lời người
khác, không chuyên theo hạnh thiền định, tự tại ra vào vô
ngại; ấy gọi là Định căn.
Tuệ
căn là Bồ-tát vì để dứt hết khổ, thành tựu trí tuệ
bậc Thánh. Trí tuệ ấy là vì xa lìa các pháp, vì Niết-bàn.
Dùng trí tuệ quán hết thảy ba cõi vô thường, bị ba thứ
suy, ba lửa dục thiêu đốt. Quán xong, trong ba cõi, trí
tuệ cũng không đắm hết thảy ba cõi, mà chuyển thành môn
Không, Vô tướng, Vô tác giải thoát. Nhất tâm cầu Phật
pháp như cứu lửa cháy dầu. Trí tuệ ấy của Bồ-tát
không ai phá hoại được. Không nương tựa trong ba cõi,
tâm thường xa lìa năm dục tùy ý, do tuệ căn lực, chứa
nhóm vô lượng công đức, thông lợi chứng nhật thật tướng
các pháp, không nghi không nạn; đối thế gian không ưu, đối
Niết-bàn không hỷ, được trí tuệ tự tại; ấy gọi là
Tuệ căn
Bồ-tát
thành được Năm căn này, khéo biết tướng căn của chúng
sanh, biết căn của chúng sanh nhiễm dục, biết căn của chúng
sanh ly dục, biết căn của chúng sanh sân nhuế, biết căn của
chúng sanh lìa sân nhuế, biết căn của chúng sanh
ngu si, cũng biết căn của chúng sanh lìa ngu si. Biết căn
của chúng sanh muốn đọa ác đạo, biết căn của chúng sanh
muốn sanh trong cõi người, biết căn của chúng sanh muốn sanh
lên cõi trời; biết căn của chúng sanh độn, biết căn của
chúng sanh lợi, biết căn của chúng sanh có bậc thượng, trung,
hạ; biết căn của chúng sanh có tội, biết căn của chúng
sanh vô tội; biết căn của chúng sanh thuận nghịch; biết
căn của chúng sanh sẽ sanh vào cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô
sắc; biết căn của chúng sanh có căn lành thâm hậu, căn lành
mỏng; biết căn của chúng sanh chánh định, tà định, bất
định tụ; biết căn của chúng sanh khinh tháo, biết căn của
chúng sanh trì trọng, biết căn của chúng sanh xan tham, biết
căn của chúng sanh hay buông thả, biết căn của chúng sanh
cung kính, biết căn của chúng sanh không cung kính; biết
căn của chúng sanh tịnh giới, bất tịnh giới; biết căn
của chúng sanh sân nhuế hay nhẫn nhục; biết căn của chúng
sanh tinh tấn hay giải đãi; biết căn của chúng sanh loạn
tâm, nhiếp tâm, ngu si hay trí tuệ; biết căn của chúng sanh
không sợ có sợ; biết căn của chúng sanh tăng thượng mạn
hay không tăng thượng mạn; biết căn của chúng sanh chánh
đạo hay tà đạo; biết căn của chúng sanh có thủ hộ hay
không thủ hộ; biết căn của chúng sanh cầu Thanh-văn; biết
căn của chúng sanh cầu Bích-chi-Phật; biết căn của chúng
sanh cầu Phật đạo. Đối với trong sự biết căn của
chúng sanh, được sức phương tiện tự tại; gọi là biết
căn.
Bồ-tát
thực hành Năm căn tăng trưởng, phá được phiền não, độ
chúng sanh được Vô sanh Pháp nhẫn; ấy là lực. Lại
thiên ma ngoại đạo không thể hủy hoại; ấy là lực.
Bảy
giác phần là Bồ-tát đối với hết thảy pháp không nhớ
không nghĩ; ấy gọi là niệm giác phần. Trong hết thảy
pháp tìm thiện pháp, bất thiện pháp, vô ký pháp không thể
có được; ấy là trạch giác giáp phần. Không vào ba
cõi, phá hoại ba cõi; ấy gọi là tinh tấn giác phần.
Đối với hết thảy tạo tác không sanh tâm ưa đắm, vì tướng
lo mừng hư hoại lẫn nhau; ấy là hỷ giác phần. Đối
với hết thảy pháp, tâm khinh an duyên không thể có được;
ấy gọi là trừ giác phần. Biết hết thảy pháp tướng
thường định, không loạn không tán; ấy gọi là định giác
phần. Đối với hết thảy pháp không đắm trước, không
nương tựa, cũng không thấy tâm xả ấy; ấy gọi là xả
giác phần. Bồ-tát quán bảy giác phần đều “không”
như vậy.
Hỏi:
Bảy giác phần này, sao chỉ nói lược?
Đáp:
Trong Bảy giác phần, Niệm, Tuệ, Tinh tấn, Định trên kia
đã nói rộng, ba giác phần còn lại nay sẽ nói: Bồ-tát
thực hành Hỷ giác phần, quán hỷ ấy không thật, vì cớ
sao? Vì hỷ nấy do nhân duyên sanh, là pháp tạo tác, pháp
có, pháp vô thường, pháp có thể ưa đắm. Nếu sanh
tâm ưa đắm, khi tướng vô thường ấy biến hoại thì sanh
lo, kẻ phàm phu vì tâm điên đảo nên sanh tâm đắm trước.
Nếu biết các pháp thật là không, bấy giờ tâm sanh hối
hận rằng, ta phải chịu hư dối; ví như người ở trong chỗ
tối, bị đói khát bức bách, ăn nhằm vật bất tịnh, ban
ngày quán biết, mới biết đó là lầm. Nếu quán như
vậy ở trong thật trí tuệ sanh mừng; ấy là chơn hỷ.
Được chơn hỷ này, trước hết trừ được thân thô trọng,
thứ đến trừ được tâm thô trọng, sau mới trừ hết thảy
pháp tướng, được sự khoái lạc biến hết trong thân tâm;
ấy là trừ giác phần (khinh an giác chi). Đã được hỷ
và trừ giác phần thì bỏ các quán hạnh, là vô thường quán,
khổ quán, không, vô ngã quán, sanh diệt quán, bất sanh bất
diệt quán, hữu quán, vô quán, phi hữu phi vô quán. Như
vậy xả hết các hý luận; vì cớ sao, vì vô tướng, vô duyên.,
vô tác, vô hý luận, thuờng tịch diệt là pháp tướng thật
. Nếu không thực hành việc xả bỏ, liền có các tranh
cãi. Nếu cho có là thật, thời cho không là hư dối;
nếu cho không là thật, thời cho có là hư dối. Đối
với thật thì ưa đắm, đối với hư thì giận ghét.
Nơi sanh ra lo mừng như vậy cớ sao không xả?
Được
hỷ, trừ, xả giác phần như vậy thời bảy giác phần
được đầy đủ viên mãn.
Tám
thánh đạo phần thì chánh kiến, chánh phương tiện, chánh
niệm, chánh định như trên đã nói.
Chánh
tư duy nay sẽ nói: Bồ-tát đối với các pháp không,
vô sở đắc. Trú ở trong chánh kiến như vậy, quán xét
tướng của chánh tư duy; biết tất cả tư duy đều là tà
tư duy, cho đến tư duy Niết-bàn, tư duy Phật, đều cũng như
vậy, vì cớ sao? Vì dứt hết thảy tư duy phân biệt;
ấy gọi là Chánh tư duy
Các
tư duy phân biệt đều do bất thật hư dối điên đảo nên
có, tướng phân biệt tư duy đều không. Bồ-tát trụ
trong Chánh tư duy như vậy, không còn thấy là chánh là tà,
vượt qua mọi tư duy phân biệt; ấy gọi là chánh tư duy.
Hết thảy tư duy phân biệt đều bình đẳng, đều bình
đẳng cho nên tâm không đắm trước; như vậy là tướng chánh
tư duy của Bồ-tát.
Chánh
ngữ là Bồ-tát biết hết thảy ngôn ngữ đều do phân biệt
thủ tướng hư vọng bất thực điên đảo mà sanh ra.
Khi ấy Bồ-tát nghĩ rằng: Trong ngôn ngữ không có tướng
ngôn ngữ, dứt hết thảy các khẩu nghiệp, biết thật tướng
các ngôn ngữ; ấy là chánh ngữ. Các ngữ ấy không từ
đâu lại, diệt cũng không đi về đâu; ấy là Bồ-tát
thực hành chánh ngữ. Có nói năng gì đều trú ở trong
thật tướng mà nói ra, do vậy nên các kinh nói: Bồ-tát
trụ ở trong chánh ngữ, hay khởi các khẩu nghiệp thanh tịnh;
biết chơn tướng của hết thảy ngữ ngôn, tuy nói mà không
bị rơi vào tà ngữ.
Chánh
nghiệp là Bồ-tát biết hết thảy tà tướng của nghiệp,
hư vọng không thật, đều không có tướng tạo tác; vì cớ
sao, vì không có một nghiệp nào được có tướng nhất định.
Hỏi:
Nếu hết thảy nghiệp đều không, tại sao Phật nói bố thí
v.v... là thiện nghiệp, sát sanh v.v... là bất thiện nghiệp;
siêng làm các việc khác là nghiệp vô ký?
Đáp:
Trong các nghiệp còn không có một huống gì có ba. Vì cớ
sao? Như lúc đi đã đến thời không có nghiệp đi (sự
đi), chưa đến cũng không có nghiệp đi, hiện tại đang đi
cũng không có nghiệp đi. Do vậy nên không có nghiệp
đi.
Hỏi:
Đã đến nơi thời có thể không, chưa đến nơi thời có
thể không, còn hiện tại chỗ đang đi thì phải là có đi
chứ?
Đáp:
Chỗ hiện đang đi cũng không có đi, vì cớ sao? Vì trừ
nghiệp đi, chỗ hiện đang đi không thể có được. Nếu
trừ nghiệp đi, có chỗ hiện đang đi, thì trong đó có thể
có đi, nhưng không phải vậy. Trừ chỗ hiện đang đi
thời không có nghiệp đi, trừ nghiệp đi thời không có chỗ
hiện đang đi; vì cùng làm duyên chung với nhau nên không được
chỉ nói chỗ hiện đang đi là có đi. Lại nữa, nếu
chỗ hiện đang đi có nghiệp đi, thời lìa nghiệp đi nên
phải có chỗ hiện đang đi, lìa chỗ hiện đang đi nên phải
có nghiệp đi.
Hỏi:
Nếu như vậy có lỗi gì?
Đáp:
Vì trong một lúc có hai nghiệp đi. Nếu có hai nghiệp
đi thời có hai người đi; vì cớ sao, trừ người đi thời
không có đi. Nếu trừ người đi, chỗ hiện đang đi
không thể có được; không có chỗ hiện đang đi thời cũng
không có người đi.
Lại
nữa, người không đi cũng không đi, cho nên không có nghiệp
đi. Nếu trừ người đi và người không đi, thì lại
không có người đi thứ ba.
Hỏi:
Người không đi, thì không đi là như vậy; còn người đi
cớ sao nói là không đi?
Đáp:
Trừ nghiệp đi, người đi không thể có được. Trừ
người đi, nghiệp đi không thể có được. Như
vậy, hết thảy pháp nghiệp đều không; ấy gọi là Chánh
nghiệp.
Các
Bồ-tát chứng nhập lý các nghiệp bình đẳng, không cho tà
nghiệp là ác, không cho chánh nghiệp là thiện. Không
tạo tác gì, không tác chánh nghiệp, không tác tà nghiệp;
ấy gọi là thật trí tuệ, tức là chánh nghiệp.
Lại
nữa, trong các pháp bình đẳng, không chánh không tà, như thật
biết các nghiệp, biết như thật rồi không tạo tác, không
ngừng nghỉ, như vậy người trí thường có chánh nghiệp,
không có tà nghiệp; ấy gọi là chánh nghiệp của Bồ-tát.
Chánh
mạng là hết thảy đồ giúp nuôi mạng sống đều chánh chứ
không tà. Trụ trong trí bất hý luận, không thủ chánh
mạng, không xả tà mạng, cũng không ở trong chánh pháp, cũng
không ở trong tà pháp, mà thường ở trong trí thanh tịnh,
chứng nhập lý bình đẳng chánh mạng, không thấy mạng, không
thấy phi mạng. Thực hành thật trí tuệ như vậy, nên
gọi là Chánh mạng.
Nếu
Bồ-tát quán được Ba mươi bảy đạo phẩm ấy thời vượt
qua Thanh-văn, Bích-chi Phật địa mà vào trong địa vị
Bồ-tát, dần dần thành được Nhất thiết chủng trí.
(Hết
cuốn 19 theo bản Hán)
