Tập 01
Lời
nói đầu
Cuốn
1
Duyên
khởi luận
Giải
thích Phẩm Tựa Đầu ( gồm 46 Chương)
Chương
1: Giải thích Như thị, Ngã văn, Nhất thời
Chương
2: Tổng thuyết Như thị, Ngã văn
Cuốn
2
Chương
3: Giải thích Bà-già-bà
Cuốn
3
Chương
4: Giải thích Trú Vương-xá thành
Chương
5: Giải thích Cọng Ma-ha Tỳ-kheo Tăng
Chương
6: Giải thích Nghĩa ba chúng
Cuốn
4
Chương
7: Giải thích Bồ-tát
Cuốn
5
Chương
8: Giải thích Ma-ha Tát-đỏa
Chương
9: Giải thích Bồ-tát Công-đức
Cuốn
6
Chương
10: Giải thích Mười dụ
Cuốn
7
Chương
11: Giải thích Phật thế giới nguyện
Chương
12: Giải thích Tam muội
Chương
13: Giải thích Phóng quang
Cuốn
8
Cuốn
9
Chương
14: Giải thích Hiện Phổ thân
Chương
15: Giải thích Mười Phương chư Bồ-tát đến
Cuốn
10
Cuốn
11
Chương
16: Giải thích Xá lợi-phất nhân duyên
Chương
17: Giải thích Đàn Ba-la-mật
Chương
18: Giải thích Tán thán Đàn Ba-la-mật
Chương
19: Giải thích Tướng của Đàn Ba-la-mật
Chương
20: Giải thích Đàn Ba-la-mật pháp thí
Cuốn
12
Cuốn
13
Chương
21: Giải thích Thi-la Ba-la-mật
Chương
22: Giải thích Nghĩa của giới tướng
Chương
23: Giải thích Tán thán nghĩa Thi-la Ba-la-mật
Cuốn
14
Giải
thích Thi-la Ba-la-mật
Chương
24: Giải thích Sằn-đề Ba-la-mật
Cuốn
15
Giải
thích Sằn-đề Ba-la-mật pháp nhẫn
Chương
25: Giải thích Tỳ-lê-gia Ba-la-mật
Cuốn
16
Giải
thích Tinh tấn Ba-la-mật
Cuốn
17
Chương
26: Giải thích Thiền Ba-la-mật
Cuốn
18
Chương
27: Giải thích Bát-nhã Ba-la-mật
Chương
28: Giải thích Tướng Bát-nhã
Cuốn
19
Chương
29: Giải thích Ba mươi bảy phẩm trợ đạo
Cuốn
20
Chương
30: Giải thích Ba tam muội, Bốn thiền, bốn vô lượng tâm,
Bốn vô sắc định
Phụ
lục
Nội
dung luận Đại Trí Độ
Khái
quát sự truyền dịch kinh Bát-nhã
Lời
Nói Đầu
Kinh
Bát-Nhã (Prajna) được lưu hành rất sớm tại Ấn độ. Khoảng
700 năm sau khi Phật diệt độ (cuối thế kỷ II đầu thế
kỷ III Tây lịch), lúc Bồ-tát Long Thọ (Nagarjuna) ra đời
đã có hai bộ kinh Bát-Nhã hoàn thiện là Tiểu Phẩm Bát Nhã,
còn gọi là Bát-Nhã 8.000 bài tụng (Astasàhasrikà - Prajnãpàramità)
gồm 10 cuốn 29 Phẩm và bộ Đại Phẩm Bát-Nhã 25.000 bài
tụng (Pancavimsati - Sàhasrikà - Prajnãpàramita) gồm 27 hay 30,
40 cuốn 9 Phẩm.
Bồ-tát
Long Thọ viết luận giải thích kinh Đại Phẩm Bát-Nhã đề
tên là Maha Prajnãpàramità sastra, gồm có 100 cuốn 90 Phẩm.
Năm
402 Tây lịch, Tam tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập (Kumarajva) đến
Trung hoa dịch kinh Đại Phẩm Bát-Nhã ra Hán văn đề là Ma-ha
Bát-nhã Ba-la-mật-đa kinh (tương đương Hội thứ hai trong
kinh Đại Bát-nhã của ngài Huyền Trang dịch) và dịch Luận
Maha Prajnãpàramità ra Hán văn tên là Đại Trí Độ luận hay
Đại Trí Độ kinh luận, Trí luận, Đại luận, gồm 100 cuốn
90 Phẩm, từ Phẩm Tựa Đầu cho đến Phẩm Chúc Lụy cuối.
Có
hai thể luận là Tôn Luận và Thích Luận. Lấy một ý nào
trong Kinh nêu làm tôn chỉ rồi diễn dịch, hệ thống thành
luận gọi là Tôn Luận, như luận Thập Nhị Môn, Trung luận,
Du Già Sư Địa luận v.v… Còn viết luận giải thích Kinh
như luận Đại Trí Độ gọi là Thích Luận.
Căn
cứ theo luận Đại Trí Độ thì trong 90 Phẩm, 66 Phẩm đầu
của Kinh là nói về Bát-nhã đạo, còn 24 Phẩm sau của Kinh
là nói về Phương tiện đạo. Nếu căn cứ theo sách Đại
Phẩm Kinh Nghĩa Lược Tự của ngài Cát Tạng thì trong 90 Phẩm
của Kinh, 6 Phẩm đầu Phật nói cho hạng thượng căn như
Xá-lợi-phất v.v… Phẩm thứ 7 đến Phẩm thứ 14 Phật sai
ngài Tu-bồ-đề nói cho hàng trung căn; từ Phẩm 45 đến Phẩm
90 là Phật nói cho hàng hạ căn như chư thiên, loài người.
Luận
Đại Trí Độà một bộ luận lớn, bộ luận căn bản
của Phật pháp, giảng giải bao quát nhiều vấn đề liên
quan đến học thuyết, tư tưởng, truyền thuyết, lịch sử,
địa lý, các quy định thực tiễn, giới luật Tăng già; dẫn
dụng nhiều Kinh sách bao hàm cả kinh A-hàm, luận A-tỳ-đàm
của các Bộ phái, các kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Duy-ma-cật,
A-di-đà, luôn cả tư tưởng của phái Thắng luận… Cho nên
ví nó như là một bộ Phật Giáo Bách Khoa Toàn Thư.
Tác
phẩm của Bồ-tát Long Thọ có nhiều như Trung luận, Thập
Nhị Môn luận, Đại Trí Độ luận, Thập Trụ Tỳ-bà-sa luận,
Bồ-đề Tư lương luận, Hồi Tránh luận v.v… nhưng trong
đó chủ yếu nhất phải kể là Trung luận và luận Đại
Trí Độ. Ở Trung luận thì nhấn mạnh về mặt giảng lý
chơn không, còn ở luận Đại Trí Độ giải thích kinh Đại
Phẩm Bát-nhã thì nhấn mạnh về mặt thuyết giảng lý thật
tướng diệu hữu. Không thấu triệt tính chơn không của hiện
hữu thì hữu ấy là vọng hữu, thấu triệt được tính chơn
không của hiện hữu thì hữu ấy là diệu hữu.
Tư
tưởng "Không" của Bát-nhã là cốt gạt bỏ mọi quan niệm
vọng tưởng cố định, luôn luôn nhìn thế giới theo hai mặt
(nhị biên) là sinh diệt, có không, thường đoạn, một khác,
hữu biên, vô biên v.v… Vì vậy mà chơn tánh của thế giới
bị bóp méo, bị che lấp. Chỉ có thể nói chơn tánh của
thế giới là không, là vô tướng, không sanh không diệt, không
đi không lại, không có không không v.v… trong đó không có
thể thêm vào một thuộc tánh nào nữa được
Đễ
thấu triệt "Không tánh" ấy người ta thường theo hai lối
quán là Tích không quán và Thể không quán. Quán pháp phân
tích thấy các pháp không tự có mà phải do nhân duyên hòa
hợp mới có, có một cách giả tạo, trống rỗng, không có
thật tánh; như vậy gọi là Tích không quán. Nếu không thông
qua sự quán sát phân tích nhân duyên, mà chỉ thể nhận trực
tiếp "Không tính" thấy sự vật như thấy trăng dưới nước,
bóng trong gương v.v…; như vậy gọi là Thể không quán.
Bát-nhã
chứng chơn không, không phải là dùng tư tưởng để hư vô
hóa sự vật, hư vô hóa thế giới, mà là để thấy rõ thật
tánh của sự vật, của thế giới là Không. Dù cho khi ta đang
do vọng tưởng thấy sự vật có thì tánh nó vẫn là Không,
một cái Không tuyệt đối, không vướng một tướng gì; nó
như một luồng gió mạnh thổi tan đi bao nhiêu đám mây mù
lởn vởn che lấp tâm trí, làm cho mọi hành động bị lúng
túng, vướng vấp, hạn hẹp. Và khi tâm trí đã ra khỏi mây
mù vọng tưởng thì mọi sinh hoạt sẽ tự tại vô ngại không
vướng vào danh tướng ngã nhân. Khi đã có lối nhìn của
Bát-nhã thì các pháp môn tu hành đều được thành cứu kính
Ba-la-mật.
Cái
Không theo Bát-nhã là cái không tức nơi có mà không, chứ
không phải diệt có thành không; cái Không theo Bát-nhã là
cái Không tuyệt đối, chứ không phải cái Không đối đãi,
không đối với có.
Các
pháp tánh không mà chấp cho là thật có ấy là vọng tưởng
lý luận. Nhưng nếu lại chấp tướng không mà phá hủy tất
cả, thì lại rơi vào tà kiến. Vì vậy mà trong luận này
đã cảnh tỉnh như sau:
"Người
tà kiến nói các pháp không, lại chấp thủ tướng không của
các pháp. Người tà kiến tuy miệng nói hết thảy không, mà
ở nơi tham ái thì sanh tham ái, nơi sân giận thì sanh sân giận,
nơi kiêu mạn thì sanh kiêu mạn, nơi ngu si thì sanh ngu si, chỉ
tự dối mình như vậy. Còn người chơn thật biết không,
thì tâm không lay động, nơi tất cả các chỗ kiết sử sanh
không còn sanh lại được. Ví như hư không, khói lửa không
làm nhơ, mưa lớn không làm ướt. Quán không được như vậy,
các phiền não không còn dính tâm".
Và
một đoạn khác nói: "Người quán Chơn không, trước hết
thực hành bố thí, trì giới, thiền định, tâm được mềm
dịu, các kiết sử mỏng, vậy sau mới đắc Chơn không. Còn
người tà kiến thì không có các việc như vậy, họ chỉ
muốn dùng ức tưởng phân biệt, tà kiến thủ không. Ví như
người chưa hề biết muối, khi thấy người khác nêm muối
vào thức ăn, người ấy hỏi lý do thì được người kia
trả lời là muối sẽ làm cho đồ ăn ngon lành. Người ấy
suy nghĩ, như vậy thì muối càng nhiều càng ngon, liền lấy
toàn muối bỏ vào đầy miệng mà ăn, bị muối làm lở miệng,
trở lại trách hỏi người kia, người kia nói sao anh ngu vậy,
phải biết trù lượng nhiều ít hòa hợp mới ngon, chứ sao
lại ăn cả toàn muối! Cũng như vậy, người vô trí nghe nói
"Không giải thoát môn", liền bỏ hết không chịu thực hành
các công việc công đức mà chỉ muốn chứng được Không.
Thế là người tà kiến, dứt bỏ các thiện căn".
Tôi
ước nguyện dịch bộ luận Đại Trí Độ này từ lâu nhưng
nay mới đủ duyên thực hiện được bước đầu. Luận dẫn
dụng nhiều Kinh luận, trong đó có các luận A-tỳ-đàm, được
dẫn ra để chỉ chỗ sai lầm hoặc để giải thích tinh thần
Bát-nhã. Nếu muốn hiểu cho hết thì phải có thì giờ đọc
các luận A-tỳ-đàm mới được.
Luận
này đã được ông Étienne Lamotte dịch ra tiếng Pháp nhan đề
là Le Traité de la Grande vertu de Sagesse và Trường Đại học
Louvain xuất bản tập đầu năm 1944, tập 3 năm 1970, tập 5
năm 1980. Các tập khác không rõ xuất bản năm nào vì hiện
trước mắt tôi chưa có được.
Tôi
nghĩ rằng bản chữ Hán, chữ Pháp và bản chữ Việt đối
chiếu với nhau thì có thể giúp người đọc hiểu dễ dàng
hơn.
Phật
lịch 2541
Từ
Đàm, tháng 9 năm 1997
Thích
Thiện Siêu