Tập
2
Cuốn
21
Chương
31
Giải
Thích: Tám Bội Xả, Tám Thắng Xứ, Chín Thứ Đệ Định,
Mười
Nhất Thiết Xứ
Tám
Bội xả: 1. Trong có sắc, ngoài cũng quán sắc. 2. Trong không
sắc ngoài quán sắc. 3. Tịnh bội xả thân tác chứng; cùng
với bốn vô sắc định và một diệt thọ tưởng định thành
tám bội xả.
Bội
là trái, là sạch hết năm dục, lìa tâm tham đắm ấy, nên
gọi là bội xả.
* Không
hoại sắc trong ngoài, không diệt tướng sắc trong ngoài, lấy
tâm quán sắc ấy bất tịnh, là bội xả thứ nhất.
* Hoại
sắc trong, diệt tướng sắc trong, không hoại sắc ngoài, không
diệt tướng sắc ngoài, lấy tâm quán sắc ngoài ấy bất
tịnh, là bội xả thứ hai. Hay bội xả này đều quán bất
tịnh: 1. Quán trong quán ngoài bất tịnh, 2. Không thấy trong,
chỉ thấy ngoài bất tịnh, vì cớ sao? Vì chúng sanh có hai
phần hành, là ái hành và kiến hành. Người ái nhiều thì
đắm vui, phần nhiều bị buộc ở ngoại kiết sử hành; người
kiến nhiều thì phần nhiều đắm theo thân kiến hành… bị
nội kiết sử buộc. Do vậy nên người ái nhiều thì quán
sắc ngoài bất tịnh, người kiến nhiều thì quán tự thân
bất tịnh bại hoại.
* Lại
nữa, hành giả sơ tâm chưa thu nhiếp vi tế, mà buộc tâm
một nơi thì khó, cho nên quán cả trong và ngoài, dần dần
tập luyện điều nhu, thì có thể bên trong hoại sắc tướng,
chỉ còn quán sắc ngoài.
Hỏi:
Nếu không có tướng nội sắc, thì ai sẽ quán ngoài?
Đáp:
Ấy là được giải đạo, chẳng phải thật đạo, nghĩa là
hành giả nghĩ tới ngày sau chết đi, lửa đốt trùng ăn,
chốn vào trong đất, đều tiêu mất, nếu hiện tại quán
cũng phân biệt thấy rõ thân này, cho đến mảy bụi cũng
không còn, ấy gọi là bên trong không sắc tướng, bên ngoài
quán sắc.
Hỏi:
Hai thắng xứ đầu thấy sắc trong ngoài, sáu thắng xứ sau
chỉ thấy sắc ngoài. Bội xả thứ nhất thấy sắc trong ngoài,
bội xả thứ hai chỉ thấy sắc ngoài, cớ sao chỉ hoại sắc
tướng bên trong còn sắc tướng bên ngoài không hoại được?
Đáp:
Hành giả mắt thấy thân này có tướng chết, lấy tướng
chết trong vị lai ấy đem so với thân hiện nay, còn bốn đại
bên ngoài không thấy tướng diệt của nó, nên khó có thể
quán nó là không, cho nên không nói ngoại sắc tiêu hoại.
* Lại
nữa, trong khi lìa khỏi sắc giới, bấy giờ cũng không thấy
sắc ngoài.
* Tịnh
bội xả thân tác chứng là, trong chỗ bất tịnh quán tịnh,
như nói ở tám thắng xứ. Tám nhất thiết xứ đầu quán
địa, thủy, hỏa, phong và xanh, vàng, đỏ, trắng thanh tịnh.
Quán sắc xanh như hoa sen, như núi vàng rồng, như hoa Ưu-ma-già,
như áo Bà-la-nại thật xanh; quán vàng, đỏ, trắng theo mỗi
sắc cũng như vậy, nên gọi chung là tịnh bội xả.
Hỏi:
Nếu chung cả là tịnh bội xả, thì không nên nói nhất thiết
xứ (khắp mọi chỗ)?
Đáp:
Bội xả là pháp hành ban đầu, thắng xứ là pháp hành chặng
giữa, nhất thiết xứ là pháp hành thành tựu lâu dài. Bất
tịnh quán có hai là bất tịnh và tịnh. Trong bất tịnh quán
có hai bội xả và bốn thắng xứ. Trong tịnh quán có một
bội xả, bốn thắng xứ và tám nhất thiết xứ.
Hỏi:
Hành giả lấy bất tịnh làm tịnh, thì cho là điên đảo,
sao quán tịnh bội xả lại không điên đảo?
Đáp:
Nữ sắc bất tịnh mà vọng thấy là tịnh, ấy gọi là điên
đảo. Còn trong quán tịnh bội xả, tất cả sắc xanh thật
là rộng lớn, nên không điên đảo.
* Lại
nữa, vì điều phục tâm nên quán tịnh. Do tập quán bất
tịnh lâu thì tâm sanh nhàm chán, do đó nên tập quán tịnh
chẳng phải điên đảo, và cũng không đắm trước trong đó
vậy.
* Lại
nữa, hành giả trước quán thân bất tịnh, nương theo các
thứ bất tịnh trong ngoài nơi thân, buộc tâm vào trong cảnh
quán, bấy giờ sanh nhàm chán thân, nên dâm, nộ, si mỏng dần,
liền tự kinh ngạc tỉnh ngộ: ta thật là không mắt, thân
này như vậy; tại sao sanh tâm đắm trước! Nhiếp tâm thật
sự quán sát không để mê lầm nữa. Tâm đã được đều
phục nhu thuận, tưởng tượng thân: da, thịt, máu, tủy, các
bất tịnh đều trừ bỏ, chỉ còn có xương trắng, buộc
tâm vào bộ xương người, nếu nó chạy loạn ra ngoài thì
thu nhiếp nó lại, nhiếp tâm sâu vào nên thấy xương trắng
tỏa ra ánh sáng, như mã não, như xa cừ, có thể chiếu sáng
các vật trong ngoài. AṠlà cửa ban đầu của tịnh bội xả;
vậy sau quán bộ xương người cũng tan mất, chỉ thấy xương
tỏa sáng, thủ lấy sắc tinh khiết bên ngoài.
* Lại
nữa, hoặc Kim cang, ngọc thật, vàng bạc, vật báu, hoặc
đất sạch, hoặc nước trong, như lửa tinh khiết không khói
không củi, hoặc gió thanh không bụi. Các sắc xanh như núi
vàng ròng, các sắc vàng như hoa Chiêm-bặc, các sắc đỏ như
hoa sen đỏ, các sắc trắng như tuyết trắng…, thủ lấy
tướng ấy, buộc tâm quán tịnh, tùy các sắc ấy, mỗi thứ
đều có ánh sáng trong sạch, bấy giờ hành giả được cảm
thọ mừng vui lan khắp trong thân, ấy gọi là tịnh bội xả.
Vì duyên theo tướng thanh tịnh, nên gọi là tịnh bội xả,
vì khắp thân thọ vui, nên gọi là thân chứng. Được thứ
tâm vui này thì trái bỏ năm dục, không còn mừng vui theo nó
nữa, nên gọi là bội xả. Nhưng chưa dứt hết lậu hoặc,
trung gian hoặc còn sanh tâm kiết sử, đắm theo tịnh sắc,
nên phải siêng tinh tấn để dứt tâm đắm trước đó, biết
rằng tịnh quán đó từ tâm tưởng phát sanh. Ví như người
chủ làm trò huyễn, xem vật huyễn biết từ mình làm ra, tâm
không sanh ái trước. Có thể không đeo theo sở duyên, nên
bấy giờ bội xả đổi lại gọi là thắng xứ. Đối với
quán tịnh tuy đã cao hơn, nhưng chưa được rộng lớn. Khi
ấy hành giả trở lại thủ lấy tướng tịnh, dùng sức bội
xả và sức thắng xứ thủ lấy tướng đất sạch mà quán,
khiến nó dần dần biến khắp mười phương hư không. Quán
tướng nước, gió, lửa cũng như vậy. Thủ lấy tướng xanh
mà quán, khiến nó dần dần rộng lớn, cũng biến khắp mười
phương hư không; quán tướng vàng, đỏ, trắng cũng như vậy.
Bấy giờ thắng xứ lại đổi gọi là nhất thiết xứ. Ba
việc này cùng một ý nghĩa, mà chuyển đổi làm ba tên.
Hỏi:
Ba bội xả một, hai, ba, tám thắng xứ, mười nhất thiết
xứ ấy, là thật quán hay là đắc giải quán? Nếu là thật
quán thì thân có da có thịt sao chỉ quán thấy bộ xương
người trắng? Do ba mươi sáu vật hợp làm thân cớ sao lại
phân biệt quán rời ra ba? Bốn đại đều có tướng, sao dứt
bỏ ba đại, chỉ quán một địa đại? Bốn màu chẳng phải
là xanh cả, cớ sao đều quán làm màu xanh?
Đáp:
Có thật quán cũng có đắc giải quán. Thân tướng thật bất
tịnh, quán bất tịnh ấy là thật quán, các pháp ngoài thân
có tướng tịnh, các thứ sắc tướng ấy là thanh tịnh thật,
quán tịnh ấy là thật quán. Lấy một ít tịnh ấy mà quán
rộng ra hết thảy đều tịnh, như thủ lấy ít tướng nước,
mà quán khắp tất cả đều là nước, thủ lấy một ít tướng
xanh mà quán khắp tất cả đều xanh, quán như vậy… ấy
là đắc giải quán, chứ chẳng phải thật. Bốn vô sắc bội
xả quán giống như trong bốn vô sắc định. Muốn được
bội xả, trước vào vô sắc định. Vô sắc định là cửa
ban đầu của bội xả. Bội xả sắc (trái bỏ sắc) thì duyên
vô lượng hư không xứ.
Hỏi:
Vô sắc định cũng như vậy, có gì sai khác?
Đáp:
Người phàm phu được vô sắc định ấy, ấy là vô sắc,
còn thánh nhân tâm sâu xa được định vô sắc, một mực
hướng tới không quay lại, ấy gọi là bội xả. Còn lại,
thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ
cũng như vậy. Trái bỏ các tâm số pháp thọ và tưởng, ấy
gọi là diệt thọ tưởng bội xả.
Hỏi:
Sao không gọi vô tưởng định là bội xả?
Đáp:
Người tà kiến không rõ tội lỗi của các pháp, vào thẳng
trong định, bảo đó là Niết-bàn. Khi từ định khởi lại
sanh tâm hối hận, sa vào tà kiến cho nên chẳng phải bội
xả. Diệt thọ tưởng định do nhàm chán tâm tán loạn mà
vào định, được an nghỉ tợ như Niết-bàn dính vào thân,
thân nhận được nên gọi là thân chứng.
Tám
thắng xứ: Trong có tướng sắc ngoài quán sắc ít, hoặc tốt
hoặc xấu, là thắng tri thắng quán về sắc, ấy gọi là
thắng xứ đầu. Trong có sắc tướng ngoài quán sắc nhiều,
hoặc tốt hoặc xấu, là thắng tri thắng quán về sắc, ấy
gọi là thắng xứ thứ hai; thắng xứ thứ ba, thứ tư cũng
như vậy, chỉ do ở trong không sắc tướng ngoài quán sắc
là khác; cùng với trong cũng không sắc tướng, ngoài quán
các sắc xanh, vàng, đỏ, trắng, ấy là tám thứ thắng xứ.
Trong
có sắc tướng ngoài quán sắc ít là nội thân không hoại,
thấy ngoại duyên phần ít, là duyên ít nên gọi ít, vì quán
đạo chưa tăng trưởng nên quán một ít nhân duyên, chứ quán
nhiều sợ khó nhiếp tâm; ví như nai chưa điều phục không
nên thả xa.
Hoặc
tốt hoặc xấu là, kẻ sơ học buộc tâm trong quán duyên,
hoặc ở giữa hai chân mày, hoặc ở trên trán, hoặc ở đầu
chót mũi, quán tướng bất tịnh trong thân, trong thân có tướng
bất tịnh mà quán ra ngoài các sắc, do nghiệp báo thiện gọi
là tốt, do nghiệp báo bất thiện gọi là xấu.
* Lại
nữa, hành giả như theo Thầy lãnh thọ mà quán ngoại duyên
các thứ bất tịnh, ấy gọi là sắc xấu, còn hành giả hoặc
thời quên ức niệm, sanh tịnh tướng, quán tịnh sắc, ấy
gọi là sắc tốt.
* Lại
nữa, hành giả buộc tâm vào một chỗ trong tự thân, quán
sắc trong Dục giới có hai thứ: một là hay sanh dâm dục,
hai là hay sanh sân nhuế. Sắc hay sanh dâm dục là tịnh sắc,
sắc hay sanh sân nhuế là bất tịnh sắc, thế gọi là xấu.
Đối với các duyên tự tại, thắng tri thắng kiến, hành
giả đối với sắc đoan chánh hay làm sanh dâm dục mà không
sanh dâm dục, đối với sắc xấu hay làm sanh sân nhuế mà
không sanh sân nhuế, chỉ quán thấy sắc do bốn đại nhân
duyên hòa hợp sanh, như bọt nước không bền chắc; ấy gọi
là hoặc tốt hoặc xấu.
Thắng
xứ là hành giả ở trong quán môn bất tịnh, dù có các kiết
sử dâm dục, sân thuế đến đều không theo nó, ấy gọi
là thắng xứ, vì là thắng các giặc phiền não đối với
bất tịnh mà điên đảo cho tịnh…
Hỏi:
Hành giả làm sao trong có sắc tướng ngoài quán sắc?
Đáp:
Tám thắng xứ ấy, sâu vào định tâm điều nhu thì có thể
được. Hành giả hoặc thời thấy nội thân bất tịnh, cũng
thấy ngoại sắc bất tịnh. Bất tịnh quán có hai cách: một
là ba mươi sáu vật các thứ bất tịnh, hai là trừ da thịt
trong ngoài ngũ tạng, chỉ quán tướng xương trắng như mã
não, như tuyết; quán ba mươi sáu vật gọi là xấu, quán như
mã não, như tuyết ấy gọi là tốt. Khi hành giả quán trong
ngoài, tâm tán loạn, khó vào thiền, thì trừ tướng tự thân,
chỉ quán sắc bên ngoài. Như trong A-tỳ-đàm nói: hành giả
do được quán giải thoát, thấy thân này chết, chết rồi
đưa đến gò mả, hoặc lửa đốt, hoặc trùng ăn, đều đã
mất hết, bấy giờ chỉ thấy trùng và lửa, không thấy thân,
ấy gọi là trong không tướng sắc ngoài quán sắc. Hành giả
đúng như lời dạy quán thân là bộ xương người, nếu tâm
tán loạn ra ngoài, thì thu nhiếp trở lại vào trong quán duyên
bộ xương người, vì cớ sao? Người ấy ban đầu tập thực
hành, vì chưa thể quán các duyên vi tế, nên gọi là quán
sắc ít, khi quán đạo của hành giả càng sâu xa tăng trưởng,
thì lấy một bộ xương người ấy quán khắp cõi Diêm-phù-đề
đều là bộ xương người, ấy gọi là quán sắc nhiều, do
trở lại nhiếp niệm quán một bộ xương người, do đó gọi
là thắng tri thắng kiến.
* Lại
nữa, tùy ý vượt thắng được tướng nam nữ, tướng tịnh
khiết của trong ngũ dục, nên gọi là thắng xứ. Ví như người
dũng kiện cỡi ngựa đánh giặc, phá được giặc gọi là
thắng, lại chế ngự đươc con ngựa, cũng gọi là thắng.
Hành giả cũng như vậy, có thể đối với tướng bất tịnh,
quán ít đến nhiều, quán nhiều trở lại ít, ấy gọi là
thắng xứ, cũng có thể phá giặc ngũ dục, ấy cũng gọi
là thắng xứ.
Bên
trong chưa thể hoại thân, bên ngoài quán sắc hoặc nhiều
hoặc ít, hoặc tốt hoặc xấu, ấy là thắng xứ đầu và
thứ hai. Bên trong hoại thân không sắc tướng, bên ngoài quán
sắc hoặc nhiều hoặc ít, hoặc tốt hoặc xấu, ấy là thắng
xứ thứ ba thứ tư. Nhiếp tâm sâu vào trong định, hoại nội
thân, quán ngoại sắc thanh tịnh, duyên xanh quán sắc xanh,
duyên vàng, đỏ, trắng quán sắc vàng, đỏ, trắng, ấy là
bốn thắng xứ sau cùng.
Hỏi:
Bốn thắng xứ sau cùng ấy với bốn xứ xanh, vàng, đỏ,
trắng trong mười nhất thiết xứ có gì sai khác?
Đáp:
Nhất thiết xứ xanh… có thể duyên khắp tất cả vật khiến
đều xanh; thắng xứ này hoặc nhiều hoặc ít tùy ý quán,
không để tâm khác chiếm đoạt, quán vượt thắng duyên ấy,
gọi là thắng xưí như Chuyển luân thánh vương thắng
khắp cả bốn thiên hạ, còn vua Diêm-phù-đề chỉ thắng
một thiên hạ mà thôi. Nhất thiết xứ thắng khắp hết thảy
cảnh duyên, còn thắng xứ chỉ quán một ít sắc mà thắng
được, chứ không thể thắng khắp hết tất cả cảnh duyên.
Như
vậy, lược nói tám thắng xứ
Mười
nhất thiết xứ: Bội xả và thắng xứ đã nói rồi, ở đây
vì duyên khắp tất cả nên gọi là nhất thiết xứ.
Hỏi:
Tại sao Vô sở hữu xứ, Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ
không gọi là nhất thiết xứ?
Đáp:
Ấy là tâm được liễu giải, an ổn khoái lạc, quảng đại
vô lượng vô biên hư không xứ, đó là lời Phật dạy. Trong
nhất thiết xứ đều có thức, có thể mau chóng duyên khắp
hết thảy pháp, trong hết thảy pháp đều thấy có thức.
Do đó Không vô biên xứ và Thức vô biên xứ được lập
làm hai nhất thiết xứ. Còn trong Vô sở hữu xứ, không có
vật gì để có thể mở rộng, cũng không được khoái lạc,
Phật cũng không nói Vô sở hữu xứ là vô biên vô lượng.
Ơi hữu tưởng phi vô tưởng xứ thì tâm ám độn, khó
thủ được tướng để làm cho quảng đại.
* Lại
nữa, hư không xứ gần với Sắc giới, cũng có thể duyên
sắc; thức xứ thì năng duyên, duyên sắc. Lại từ thức xứ
khởi lên có thể siêu nhập vào đệ Tứ thiền, từ đệ
Tứ thiền khởi lên có thể siêu nhập vào thức xứ. Còn
Vô sở hữu xứ, Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ ở xa Sắc
giới, không có nhân duyên của sắc, nên chẳng phải nhất
thiết xứ.
Ba
pháp là bội xả, thắng xứ và nhất thiết xứ ấy đều
thực hành được thắng xứ.
Nhất
thiết xứ là hữu lậu. Ba bội xả đầu và bội xả thứ
bảy, tám là hữu lậu, các bội xả còn lại hoặc hữu lậu
hoặc vô lậu.
Hai
bội xả đầu, bốn thắng xứ đầu nhiếp vào Sơ thiền,
Nhị thiền. Tịnh bội xả, bốn thắng thứ sau, tám nhất
thiết xứ, nhiếp vào trong đệ Tứ thiền. Hai nhất thiết
xứ chính tên gọi không xứ thì nhiếp vào không xứ, thức
xứ thì nhiếp vào thức xứ.
Ba
bội xả đầu, tám thắng xứ, tám nhất thiết xứ, đều
duyên Dục giới. Bốn bội xả sau duyên Vô sắc giới, và
vô lậu pháp. Các công đức thù diệu, ở trong căn bản, vì
căn bản thiện Vô sắc không duyên hạ địa. Diệt thọ tưởng
định chẳng phải tâm tâm số pháp nên không duyên, Phi hữu
tưởng phi vô tưởng xứ bội xả chỉ duyên bốn ấm Vô sắc
và pháp vô lậu.
Chín
thứ đệ định: Từ tâm Sơ thiền khởi lên lần lượt thứ
lớp vào đệ Nhị thiền, không để cho tâm khác xen vào, hoặc
thiện hoặc cấu, như vậy cho đến diệt thọ tưởng định
thứ chín.
Hỏi:
Các công đức khác cũng có thứ lớp lần lượt, cớ sao chỉ
gọi có chín thứ đệ định?
Đáp:
Các công đức khác đều có dị tâm xen lẫn phát sanh, cho
nên chẳng phải thứ đệ. Còn ở trong này tâm sâu xa, trí
tuệ lanh lợi, hành giả tự thử tâm mình, từ Sơ thiền tâm
khởi lên, tiếp vào Nhị thiền, không để cho dị niệm xen
vào, nó đối với công đức tâm được nhu nhuyến, khéo dứt
pháp ái, làm cho tâm tâm được nối tiếp nhau. Chín thứ đệ
định này, hai thuộc hữu lậu, bảy hoặc hữu lậu hoặc
vô lậu. Thiền trung gian và vị đáo địa, không bền chắc,
lại là sở đắc của thánh nhân, lại đại công đức này
không ở biên địa, cho nên không có thứ đệ.
Như
vậy tám bội xả, tám thắng xứ, mười nhất thiết xứ,
chín thứ đệ định trong pháp Thanh văn đã lược nói xong.
Chương
32
Giải
Thích: Chín Tưởng
Kinh:
Chín tưởng là tưởng sình, tưởng hoại, tưởng máu chảy,
tưởng mủ thúi rả, tưởng bầm xanh, tưởng trùng ăn, tưởng
tan rã, tưởng xương trắng, tưởng đốt cháy.
Luận.
Hỏi: Nên phải trước tiên tu tập chín tưởng để lìa dục,
vậy sau được các thiền, cớ sao sau khi nói các thiền định
mới nói đến chín tưởng?
Đáp:
Trước tiên ngợi khen quả báo làm cho tâm hành giả vui, chín
tưởng tuy là bất tịnh, nhưng vì người tham quả báo thiền
định nên chắc chắn tập hành theo.
Hỏi:
Hành giả làm thế nào để quán chín sự, là sình trướng…
?
Đáp:
Hành giả trước tiên giữ giới thanh tịnh, khiến tâm không
hối tiếc, nên dễ lảnh thọ phép quán, có thể phá các giặc
phiền não dâm dục. Quán người khi mới chết, nói lời trối
trăn, thở ra không trở lại bỗng liền đã chết. Cả nhà
kinh động, gào khóc kêu trời, nói mới đó mà đã đi đâu
rồi! Khi dứt thân lạnh, không còn biết gì. Đó là đáng
sợ nhất, không nơi nào có thể tránh khỏi. Ví như lúc kiếp
tận lửa đốt cháy, không có gì sót lại, như nói:
"Chết
đến không giàu nghèo,
Không
siêng tu thiện ác,
Không
sang cũng không hèn,
Già
trẻ không ai khỏi,
Không
cầu xin cứu được,
Dối
trá cũng không khỏi,
Chống
đỡ cũng không xong,
Không
nơi nào thoát khỏi".
Chết
là nơi vĩnh viễn lìa ân ái, tất cả kẻ có sống rất ghét,
tuy rất ghét mà không ai thoát được. Thân ta không bao lâu,
ắt phải như vậy, đồng như cây đá, không hay biết gì.
Ta nay không nên tham đắm ngũ dục, thình lình chết đến,
đồng như trâu dê, trâu dê là cầm thú, tuy trông thấy con
khác chết, vẫn chạy nhãy kêu rống, không tự giác tri, còn
ta đã được làm thân người, phân biệt biết tốt xấu,
hãy nên tìm cầu pháp cam lồ bất tử, như nói:
"Thân
sáu căn đầy đủ,
Trí
soi cũng sáng lanh,
Mà
không cầu Đạo pháp,
Luống
thọ thân Trí tuệ,
Cầm
thú đều cũng biết,
Dục
lạc để tự vui,
Mà
không biết phương tiện,
Vì
Đạo tu thiện sự,
Đã
được làm thân người,
Mà
chỉ tự buông lung,
Không
biết tu thiện sự,
Với
cầm thú khác gì,
Chúng
sanh ba đường ác,
Không
được tu thiện đạo,
Đã
được thân người đây,
Hãy
gắng tự ích lợi".
Hành
giả đi đến thây chết, thấy thây chết sình trướng, như
đảy da đựng gió, khác với tướng cũ, tâm sanh nhàm sợ
rằng, thân ta cũng sẽ như vậy, không khỏi đều đó. Thức
làm chủ trong thân, sai khiến thân này thấy, nghe, nói năng,
tạo tội, tạo phước, do đó tự phóng túng để đi về đâu,
mà nay chỉ thấy nhà trống còn đó! Thân này tướng tốt,
da mịn mày ngài, mắt dài mũi thẳng, trán ngang mày cao, dáng
đẹp như vậy, khiến tâm người mê lầm, mà nay chỉ thấy
phình chướng, đẹp ở chỗ nào? Tướng nam hay nữ, cũng không
thể biết. Quán như vậy rồi, mắng trách tâm đắm dục,
cái đảy phân thúi này, sình trướng đáng ghét, đâu đủ
để tham trước. Thây chết bị gió nóng lớn dần lên, rã
hoại ra trên đất, năm tạng, phân nước tiểu, máu mủ chảy
ra, hiện bày tướng xấu. Hành giả thủ lấy tướng rã hoại
ấy để so với thân mình rằng ta cũng như thế, đều có
các vật ấy, không khác gì đây. Ta thật rất ngu, bị cái
đảy phân da mỏng này dối gạt, như con thiêu thân vào lửa,
chỉ vì tham ánh sáng không biết cháy thân; đã bị rã hoại,
tướng nam nữ tiêu. Điều ta đắm trước cũng đều giống
như vậy; thây chết đã hoại, thịt máu tràn lan; hoặc bị
gậy đánh chết, xanh bầm vàng đỏ, hoặc mặt trời nóng
bầm đen. Lấy đủ các tướng ấy, để quán điều ta đắm
trước như những sắc đỏ trắng tịnh khiết đoan chính,
có khác gì với đây? Đã thấy xanh bầm vàng đỏ, chim thú
chẳng ăn, chẳng chôn chẳng dấu, thì chẳng bao lâu tiêu rã,
các trùng rúc ăn. Hành giả thấy như vậy rồi, nghĩ thây
chết ấy, vốn có sắc đẹp, hương tốt xoa thân, mặc đồ
y phục cao quí, trang sức lụa hoa, mà nay chỉ thúi hôi, tiêu
mục bôi bẩn, đây mới là phần đúng thật, còn sự trang
sức trước kia, đều là giả mượn. Nếu không đốt không
chôn mà đem bỏ đồng trống, bị chim thú ăn, chim móc mắt,
chó xé tay chân, cọp sói moi bụng, rách nát, bừa bải trên
đất, có cái hết có cái chưa hết. Hành giả thấy rồi,
tâm sanh ý tưởng nhàm gớm, suy nghĩ thây ấy khi chưa biến
hoại, là chỗ người ta ưa đắm, mà nay bại hoại, không
còn tướng cũ, chỉ thấy bừa bãi, làm chỗ chim thú ăn, rất
đáng ghét sợ!
Cầm
thú đi rồi, gió thổi mặt trời đốt, gân cốt đứt lìa,
mỗi thứ mỗi chỗ. Hành giả suy nghĩ, vốn thấy thân do hòa
hợp mà có thân tướng, đều có thể phân biệt nam nữ, nay
đã ly tán, mỗi thứ mỗi nơi, không còn hòa hợp, thân tướng
cũng không, đều khác với cũ, chỗ đáng ưa đắm, nay ở
nơi đâu?
Thân
đã lìa tan, nơi nơi còn xương trắng, chim thú đã ăn hết,
chỉ còn lại xương. Quán người xương ấy, ấy gọi là cốt
tưởng. Cốt tưởng có hai cách: một là người xương gân
xương liền nhau, hai là xương gân chia lìa. Quán gân xương
liền nhau là phá tướng nam nữ, dài ngắn, sắc đẹp, mịn
trơn. Quán gân xương chia lìa là phá thật tướng căn bản
về chúng sanh. Cốt tưởng lại có hai thứ: một là tịnh,
hai là bất tịnh. Tịnh là lâu ngày xương trắng sạch, không
máu không mỡ, sắc trắng như tuyết. Bất tịnh là máu thừa
bôi bẩn, mỡ cao chưa hết.
Hành
giả đi đến trong rừng thây, hoặc thấy cỏ cây chất đống,
thiêu đốt tử thi, bụng vỡ mắt lồi, da sắc cháy đen, rất
đáng ghét sợ. Trong giây lát biến thành tro than. Hành giả
thủ lấy ý tưởng về tướng cháy ấy, suy nghĩ khi thân này
chưa dứt, tắm rửa xoa hương đeo hoa, năm dục vui thích, nay
bị lửa đốt, quá hơn binh đao, thây này khi mới chết, hình
còn giống người, bị lửa đốt giây lát, tướng củ đều
biến mất.
Hết
thảy đã có thân, đều trở về vô thường, ta cũng như thế.
Quán chín tưởng ấy thì dứt các phiền não, đối với việc
dứt dâm dục là pháp hay hơn cả. Vì để dứt dâm dục nên
nói chín tưởng ấy.
Hỏi:
Nói mười tưởng là tưởng vô thường, tưởng khổ, tưởng
vô ngã, tưởng ăn bất tịnh, tưởng chết, tưởng bất tịnh,
tưởng đoạn, tưởng ly dục, tưởng tận, để dứt trừ
việc gì?
Đáp:
Cũng để dứt ba độc dâm dục…
Hỏi:
Nếu như vậy giữa hai tưởng có gì sai khác?
Đáp:
Chín tưởng là để ngăn khỏi bị dâm dục che lấp, khi chưa
được thiền định. Còn mười tưởng là có thể trừ diệt
ba độc dâm dục… chín tưởng như trói giặc, mười tưởng
như chém giết. Chín tưởng là sơ học, mười tưởng là thành
tựu.
* Lại
nữa, trong mười tưởng ấy, bất tịnh tưởng thu nhiếp cả
chín tưởng. Có người nói: trong mười tưởng, tưởng bất
tịnh, tưởng ăn đồ bất tịnh, tưởng thế gian không thể
vui đã gồm đủ chín tưởng.
* Lại
có người nói: mười tưởng, chín tưởng đồng để lìa
dục, đều vì Niết-bàn, vì cớ sao? Vì tưởng chết đầu
là trong giây lát động chuyển nói năng bổng nhiên đã chết,
thân thể sình trướng tiêu hoại phân tán, mỗi mỗi đổi
khác, ấy là tưởng vô thường, nếu đắm trước pháp ấy,
khi vô thường tiêu hoại, tức là đau khổ. Nếu vô thường
khổ, không được tự tại, ấy thời vô ngã. Bất tịnh,
vô thường, khổ, vô ngã, thời không thể vui.
Quán
thân như vậy, đồ ăn tuy ở miệng, nước dãi từ óc chảy
xuống, cùng nươc miếng hòa hợp thành vị, mà nuốt với
nhả như nhau, khi xuống vào trong bụng, tức đó là tưởng
về ăn bất tịnh.
Do
chín tưởng này, quán thấy thân thường biến đổi, tiêu
diệt trong từng niệm, tức là tưởng về tướng chết.
Do
chín tưởng này mà nhàm chán cái vui thế gian, biết phiền
não dứt thời an ổn tịch diệt, tức là tưởng về tướng
dứt.
Do
chín tưởng này mà người ngăn ngừa các phiền não, tức
là tưởng về tướng xa lìa.
Do
chín tưởng này mà nhàm chán thế gian, biết thân ngũ uẩn
này diệt rồi không còn sanh trở lại, chỗ ấy an ổn, tức
là tưởng tận.
* Lại
nữa, chín tưởng là nhân, mười tưởng là quả. Do đó nên
chín tưởng trước, mười tưởng sau.
* Lại
nữa, chín tưởng là cửa ngoài, mười tưởng là cửa trong.
Thế nên Kinh nói hai cửa cam lồ: một là cửa bất tịnh,
hai là cửa An-na-bát-na (Anapanasati: niệm hơi thở ra vào).
Chín
tưởng này trừ bảy thứ nhiễm trước của con người: hoặc
có người nhiễm trước sắc, hoặc đỏ hoặc trắng, hoặc
đỏ trắng, hoặc vàng hoặc đen. Hoặc có người không nhiễm
trước sắc, chỉ nhiễm trước hình dung, da mịn, ngón tay
thon, mắt dài, mày cao. Hoặc có người không nhiễm trước
sắc, dung, chỉ nhiễm trước oai nghi tới, dừng, ngồi, dậy,
đi, ở, lễ bái, cúi ngước, dương mày, nhíu mi, gần gủi,
đè xoa. Hoặc có người không nhiễm trước dung sắc oai nghi,
chỉ nhiễm trước cách nói năng, tiếng êm, lời đẹp, tùy
thời mà nói, hợp ý, vâng theo ý chỉ, hay động lòng người.
Hoặc có người không nhiễm trước dung sắc, oai nghi, tiếng
êm, chỉ nhiễm trước sự xúc chạm mịn trơn, da dịu, cơ
mềm, lúc nóng thân mát, lúc lạnh mình ấm. Hoặc có người
nhiễm trước cả năm điều trên. Hoặc có người không nhiễm
trước năm điều trên, chỉ nhiễm trước tướng người hoặc
nam hoặc nữ, dầu có được sáu thứ dục nhiễm trên, mà
không gặp được người mình ưa đắm, nhưng không giải được,
bèn bỏ hết năm thứ dục lạc ái trọng của thế gian, mà
chết theo người đó.
Tưởng
về tướng chết thì phần nhiều trừ được tâm ưa đắm
về oai nghi, nói năng. Tưởng về tướng sình trướng, tướng
tiêu hoại, tướng trùng ăn, tướng phân tán, thì phần nhiều
trừ được tâm ưa đắm về hình dung. Tưởng về tướng
huyết khô, tướng bầm xanh, tiêu mục, thì phần nhiều trừ
được tâm ưa đắm sắc. Tưởng về tướng xương trắng,
đốt cháy, thì phần nhiều trừ được tâm ưa đắm mịn
trơn. Cả chín tưởng thì trừ được cả các thứ ưa đắm
hỗn tạp và người mình ưa thích. Tưởng về tướng trùng
ăn, tướng phân tán, tướng xương trắng, thì khắp trừ được
tâm ưa đắm người. Vì trong tướng trùng ăn dư tàn xương
trắng ly tán ấy, không thấy có người để có thể ưa đắm.
Do
chín tưởng quán ấy mà xa lìa tâm ái nhiễm, sân và si cũng
mỏng bớt. Trong bất tịnh điên đảo tưởng là tịnh, vì
si nên đắm trước thân. Nay lấy chín tưởng này, chia chẻ
trong thân, thấy rõ thân tướng, nên tâm ngu si mỏng, tâm ngu
si mỏng thời tham dục mỏng, tham dục mỏng thời sân cũng
mỏng, vì cớ sao? Người vì tham thân nên sanh sân, nay quán
thân bất tịnh, tâm nhàm chán nên không còn tham thân, không
tham thân nên không còn sanh sân. Ba độc mỏng nên hết thảy
chín mươi tám núi kiết sử rung động, dần dần tăng tấn
cách tu đạo này, dùng Kim cang tam-muội xô nát núi kiết sử.
Chín
tưởng tuy là bất tịnh quán, mà nương nó có thể thành đại
sự; ví như thây thúi giữa biển cả, người bị chìm nương
lấy đó được lên bờ.
Hỏi:
Chín tưởng này có tính gì? có duyên gì? nhiếp vào xứ nào?
Đáp:
Có tính thủ tưởng, duyên thân ở Dục giới, nhiếp sắc
tưởng uẩn, cũng là ít phần của thân niệm xứ, hoặc nhiếp
vào Dục giới, hoặc Sơ thiền, Nhị thiền, Tứ thiền. Người
tâm tán loạn chưa ly dục mà tu đắc thời hệ thuộc Dục
giới, người tâm ly dục tu đắc, thời hệ thuộc Sắc giới.
Tám tưởng như sình trướng… thì nhiếp thuộc Dục giới,
Sơ thiền, Nhị thiền. Tưởng xương sạch thì nhiếp vào Dục
giới, Sơ thiền, Nhị thiền, Tứ thiền. Trong đệ Tam thiền
thì vui nhiều, nên không có chín tưởng này. Chín tưởng này
là cửa mở ra cho thân niệm xứ, thân niệm xứ là cửa mở
ra cho ba niệm xứ kia. Bốn niệm xứ này là cửa mở ra ba
mươi bảy đạo phẩm, ba mươi bảy đạo phẩm là cửa mở
ra thành Niết-bàn. Vào Niết-bàn thì lìa hết thảy các khổ
ưu não, vì dứt hết ngũ uẩn nhân duyên nên thọ hưởng Niết-bàn
thường lạc.
Hỏi:
Người Thanh văn quán như vậy, thời nhàm chán lìa dục, mau
vào Niết-bàn. Bồ-tát thương xót hết thảy chúng sanh, tập
hết thảy Phật pháp, độ hết thảy chúng sanh, không cầu
mau vào Niết-bàn mà vẫn quán chín tưởng ấy, sao không rơi
vào chỗ chứng quả Nhị thừa?
Đáp:
Bồ-tát sanh tâm thương xót đối với chúng sanh, biết chúng
sanh do ba độc nên phải thọ thân đời này, đời sau, tâm
thống khổ. Ba độc ấy không bao giờ tự diệt, cũng không
thể do lẽ gì khác mà diệt được, mà chỉ quán tưởng thân
trong ngoài đang đắm trước, vậy sau mới có thể trừ. Do
lẽ ấy, Bồ-tát muốn diệt độc dâm dục ấy nên quán chín
tưởng. Như người thương kẻ bệnh mà hòa hiệp các vị
thuốc để chữa. Bồ-tát cũng như vậy, vì chúng sanh đắm
sắc nên dạy tưởng tướng bầm xanh…, tùy theo chỗ đắm
trước mà phân biệt các tướng, như trước đã nói, ấy
là Bồ-tát thực hành quán chín tưởng.
* Lại
nữa, Bồ-tát lấy tâm đại từ bi, tu hành chín tưởng này
với suy nghĩ rằng: ta chưa đầy đủ tất cả Phật pháp,
không vào Niết-bàn, đây là một pháp môn, ta không nên ở
an trong một pháp môn này, ta sẽ học hết thảy pháp môn.
Vì thế nên Bồ-tát tu hành quán chín tưởng, không trở ngại.
* Bồ-tát
tu hành chín tưởng này, có khi khởi tâm nhàm chán, nghĩ rằng
thân bất tịnh như vầy đáng ghét đáng sợ, muốn mau vào
Niết-bàn. Bấy giờ Bồ-tát liền nghĩ rằng: mười phương
chư Phật thuyết hết thảy pháp tướng không, trong không,
còn không có vô thường, huống gì có bất tịnh? Chỉ vì
muốn phá vọng tưởng điên đảo về tịnh, nên tập hành
quán bất tịnh, biết bất tịnh này đều do nhân duyên hòa
hiệp sanh, không có tự tánh, đều trở về tướng không,
nay ta không nên chấp thủ pháp bất tịnh do nhân duyên hòa
hiệp sanh vô tự tánh ấy, để muốn mau vào Niết-bàn. Trong
Kinh cũng có dạy: nếu trong sắc không có tướng vị ngọt
thì chúng sanh không nên đắm trước sắc, nhưng vì trong sắc
có mùi vị ngọt nên chúng sanh khởi tâm đắm trước. Nếu
sắc không có tội lỗi, thì chúng sanh cũng không ai nhàm chán
sắc, nhưng vì sắc thật có tội lỗi, cho nên quán sắc thời
nhàm chán. Nếu trong sắc không có tướng xuất ly, thời chúng
sanh cũng không thể giải thoát đối với sắc, nhưng vì sắc
có tướng xuất ly, nên chúng sanh được giải thoát đối
với sắc. Mùi vị là nhân duyên của tướng tịnh, vì thế
nên Bồ-tát không chìm ở trong bất tịnh, để sớm vào Niết-bàn.
Nghĩa
của chín tưởng đã phân biệt xong.
Chương
33
Giải
Thích: Tám Niệm
Kinh:
Niệm Phật, niệm pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Xả,
niệm Thiên, niệm hơi thở ra vào, niệm chết.
Luận.
Hỏi: Tại sao tiếp theo chín tưởng có tám niệm?
Đáp:
Phật đệ tử ở chỗ yên vắng, nhà trống, gò mả, núi rừng,
đồng nội, khéo tu chín tưởng, quán thân trong ngoài bất
tịnh, chán lo thân mình mà suy nghĩ rằng: cớ sao ta cứ mang
theo mình cái đảy phân nước dãi bất tịnh hạ liệt này?
Bỗng nhiên kinh sợ, lại còn bị ác ma lấy các thứ việc
dữ đến khủng bố muốn làm cho thối lui. Vì vậy nên tiếp
theo nói tám niệm, như trong Kinh nói: Phật bảo các Tỳ-kheo,
nếu ở chỗ yên vắng, nhà trống, gò mả, núi rừng, đồng
trống, trong lúc tư duy nếu có sợ hãi, lông tóc dựng đứng,
bấy giờ nên niệm Phật, Phật danh hiệu là Như Lai, Ứng
cúng, Chánh đẳng giác cho đến Thế tôn, thời sự sợ hãi
liền tiêu diệt. Nếu không niệm Phật, hãy nên niệm Pháp.
Vì Phật pháp thanh tịnh, khéo nói lời hay, được quả báo
hiện tại, chỉ thị mở bày, người có trí, có tâm lực
hiểu được, niệm Pháp như vậy thời trừ sợ hãi. Nếu
không niệm Pháp, thời hãy niệm Tăng. Chúng đệ tử Phật,
tu chánh đạo, hành theo Pháp. Trong Tăng có bậc A-la-hán hướng,
A-la-hán, cho đến Tu-đà-hoàn hướng, Tu-đà-hoàn. Bốn đôi
tám bậc đệ tử Phật ấy là phước điền vô thượng của
thế gian, họ đáng được cúng dường, chắp tay cung kính,
lễ bái, đưa đón. Niệm Tăng như vậy, thời dứt hết sợ
hãi.
Phật
bảo các Tỳ-kheo: Đề-hoàn nhân (trời Đế-thích) đánh với
A-tu-la, trong lúc giữa trận, bảo các chúng trời rằng: trong
khi các ngươi đánh với A-tu-la, giả sử có sợ hãi, hãy niệm
đến tràng thất bảo của Ta, thời sự sợ hãi dứt. Nếu
không niệm tràng của Ta, thì hãy niệm tràng báu của thiên
tử Y-xá-na (Thiên vương ở phía trái Đế-thích) thời sự
sợ hãi trừ. Nếu không niệm tràng báu của Y-xá-na thời
hãy niệm tràng báu của Thiên vương Bà-lâu-na (Thiên vương
ở phía phải Đế-thích) thời sự sợ hãi trừ. Do thế, biết
vì nhân duyên dứt trừ sợ hãi nên tiếp theo nói tám niệm.
Hỏi:
Trong Kinh nói: do ba niệm trừ sợ hãi, năm niệm làm sao còn
có thể trừ sợ hãi?
Đáp:
Tỳ-kheo tự niệm đến công đức trì giới và bố thí, cũng
trừ sợ hãi, vì cớ sao? Nếu tâm phá giới thời sợ đọa
địa ngục, nếu tâm xan tham thời sợ đọa vào ngạ quỷ
và chỗ bần cùng. Tự nghĩ ta có tịnh giới, bố thí, nếu
khi nghĩ đến tịnh giới, nghĩ đến bố thí thời tâm hoan
hỷ, nói rằng: nếu mạng ta chưa hết thì nên tăng tiến tu
công đức nữa, nếu đang khi mạng chung, không sợ đọa ác
đạo. Do vậy, nên niệm giới, niệm thí cũng có thể làm
cho sợ hãi không sanh.
* Niệm
chư thiên ở trên cõi trời đều là báo quả của tịnh giới
và bố thí. Chư thiên ấy do nhân duyên phước đức mà được
sanh cõi kia, ta cũng có phước đức ấy, do vậy niệm thiên
cũng có thể làm cho sợ hãi không sanh.
Khi
niệm hơi thở ra vào theo 16 đề tài:
* Bốn
về thân:
Thở
vô dài, tôi rõ biết tôi thở vô dài; thở ra dài, tôi rõ
biết tôi thở ra dài.
Thở
vô ngắn, tôi rõ biết tôi thở vô ngắn; thở ra ngắn, tôi
rõ biết tôi thở ra ngắn.
Cảm
giác toàn thân tôi sẽ thở vô; cảm giác toàn thân, tôi sẽ
thở ra.
An
tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô; an tịnh thân hành, tôi sẽ
thở ra.
* Bốn
về thọ:
Cảm
giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô; cảm giác hỷ thọ tôi sẽ
thở ra.
Cảm
giác lạc thọ tôi sẽ thở vô; cảm giác lạc thọ, tôi sẽ
thở ra.
Cảm
giác tâm hành, tôi sẽ thở vô; cảm giác tâm hành, tôi sẽ
thở ra.
An
tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô; an tịnh tâm hành, tôi sẽ
thở ra.
* Bốn
về tâm:
Cảm
giác về tâm, tôi sẽ thở vô; cảm giác về tâm, tôi sẽ
thở ra.
Với
tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô; với tâm hân hoan, tôi sẽ thở
ra.
Với
tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô; với tâm định tĩnh, tôi
sẽ thở ra.
Với
tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô; với tâm giải thoát, tôi
sẽ thở ra.
* Bốn
về pháp:
Quán
vô thường, tôi sẽ thở vô; quán vô thường, tôi sẽ thở
ra.
Quán
ly tham, tôi sẽ thở vô; quán ly tham, tôi sẽ thở ra.
Quán
đoạn diệt, tôi sẽ thở vô; quán đoạn diệt, tôi sẽ thở
ra.
Quán
từ bỏ, tôi sẽ thở vô; quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.
Niệm
hơi thở như vậy thời giác tưởng vi tế còn dứt, huống
là giác tưởng sợ hãi thô sơ?
Niệm
chết: Niệm thân ngũ uẩn sanh diệt trong mỗi niệm, từ khi
sanh đến nay thường đi đôi với chết, sao nay lại sợ chết?
Năm
niệm trên, Phật tuy không nói, cũng có thể trừ sợ hãi,
vì cớ sao? Niệm công đức của người khác để trừ sợ
hãi thì khó, tự niệm việc mình để trừ sợ hãi thì dễ,
do vậy nên Phật không nói.
Hỏi:
Thế nào là niệm Phật?
Đáp:
Hành giả nhất tâm niệm Phật, là bậc đã được thành tựu
trí tuệ như thật và đại từ đại bi, cho nên nói ra không
sai lầm, thô tế, nhiều ít, sâu cạn, đều chân thật. Vì
đều là chân thật, nên hiệu là Như Lai (Tathagata).
Lại
cũng như chư Phật trong mười phương ba đời, đối với chúng
sanh, khởi tâm đại bi, hành sáu Ba-la-mật, ngộ được các
pháp tướng, đi đến trong Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Đức Phật đây cũng đi như vậy, nên hiệu là Như Lai.
Lại
như chư Phật trong ba đời mười phương thân phóng hào quang
lớn, chiếu khắp mười phương, phá các hắc ám, tâm xuất
ánh sáng trí tuệ, phá vô minh hắc ám cho chúng sanh, công đức
và tiếng tăm lan khắp mười phương, đi đến Niết-bàn. Đức
Phật đây cũng như vậy, cho nên cũng hiệu là Như Lai.
Do
có các công đức như vậy nên xứng đáng lãnh thọ sự cúng
dường tối thượng của tất cả Chư thiên, người đời,
thế nên hiệu là Ứng cúng (Arhat).
Hoặc
có người nói: vì cớ sao chỉ có Phật nói như thật, đến
như vậy, đi như vậy, nên xứng đáng lãnh thọ sự cúng dường
tối thượng?
Vì
Phật được trí tuệ chánh biến vậy. Chánh gọi là các pháp
tướng không động không hoại. Biến gọi là không chỉ một
pháp hai pháp mà hết thảy pháp đều biết rõ hết không còn
thừa, ấy hiệu là Chánh đẳng Chánh giác (Samyak-sam buddha
– Chánh biến tri).
Trí
tuệ chánh biến ấy, không từ vô nhân mà được, cũng không
từ trời mà được, song do nương trí tuệ và trì giới đầy
đủ mà được chánh biến trí tuệ. Trí tuệ là trí tuệ
tương ưng với Bồ-tát từ lúc mới phát tâm cho đến địa
vị Kim cang tam muội. Trì giới là Bồ-tát từ lúc mới phát
tâm cho đến địa vị Kim cang Tam-muội, thân nghiệp khẩu
nghiệp luôn thanh tịnh hành động theo ý, thế nên hiệu là
Minh hành túc (Vidya Caransampana).
Nếu
hành hai hành ấy thì được khéo đi, như xe có hai bánh. Khéo
đi là như chỗ Phật trước đã đi, Phật cũng đi như vậy,
nên hiệu là Thiện thệ (Sugata).
Hoặc
có người nói: Phật tự tu pháp ấy, mà không biết được
việc chúng ta, do vậy nên Phật biết thế gian, biết nguyên
nhân thế gian, biết thế gian diệt tận, biết đạo diệt
tận thế gian, do vậy nên hiệu là Thế gian giải (Lokavid).
Biết
thế gian rồi, điều phục chế ngự chúng sanh, ở trên hết
các bậc thầy, nên hiệu là Vô thượng sĩ Điều ngự trượng
phu (Anutara Purasadamusarathi).
Thường
lấy ba đạo dứt ba độc, dạy chúng sanh tu ba thừa đạo,
do vậy nên hiệu là Thiên nhân sư (Sasta Deva-manusyanam).
Hoặc
có người nói: do việc gì nên được tự lợi ích vô lượng
lại làm cho người khác lợi ích vô lượng? Vì Phật thành
tựu tất cả trí tuệ, hết thảy thế gian quá khứ, hiện
tại, vị lai, tận bất tận, động bất động, điều biết
rõ ràng, nên hiệu là Phật Đà (Buddha).
Được
chín danh hiệu ấy, có danh xưng lớn, lan khắp mười phương,
thế nên hiệu là Thế Tôn (Lokanatha).
Trong
Kinh Phật tự nói: các danh hiệu như vậy, hãy nên niệm Phật
cách ấy.
* Lại
nữa, tất cả các thứ công đức đều có đủ nơi Phật.
Trong kiếp sơ, Phật thuộc dòng Chuyển luân thánh vương Ma-ha
Tam-ma-đà (Mahà Sammata Mahàràjà tức Đại đẳng ý, vua đại
bình đẳng) có oai đức trí tuệ trong cõi Diêm-phù-đề. Sanh
trong các hàng Thích tử, dòng quý tánh là Kiều-đàm. Khi sanh
ra ánh sáng chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, Phạm
thiên vương cầm lọng báu, Thích-đề-hoàn nhân dùng áo thiên
bảo thừa tiếp, Long vương A-na-bà-đạp-đa, Long vương Bà-gia-đa
lấy nước hương thơm tắm rửa. Khi sanh ra quả đất rung
chuyển sáu cách, bước đi bảy bước, khoan thai như voi chúa,
nhìn xem bốn phương, cất lên tiếng rống sư tử rằng: "Đây
là thân cuối cùng của Ta, sẽ độ hết thảy chúng sanh".
Tiên nhân A-tư-đà (Asita) xem tướng nói với vua Tịnh Phạn
rằng: "Người này dưới chân có tướng bánh xe ngàn căm,
giữa ngón tay có mạng lưới hợp, sẽ tự lập bình an ở
trong pháp, không ai làm lay động phá hoại được, chữ đức
ở giữa tay, mạng lưới trang nghiêm, sẽ dùng tay ấy an ủi
chúng sanh, làm cho không sợ hãi". Như vậy cho đến tướng
thịt xương, búi tóc, như đỉnh núi báu xanh, ánh sáng sắc
xanh từ bốn phía xuất ra, tướng chót đỉnh trên đầu không
thể thấy được, hoặc trời hoặc người, không ai hơn được,
lông trắng ở giữa hai chân mày, ánh sáng trong hơn pha lê,
con mắt trong dài rộng, sắc xanh biếc, mũi cao thẳng đẹp,
rất đáng ưa thích. Trong miệng có 40 răng trong sạch mướt
đẹp, trên bốn răng to màu trắng, ánh sáng rất hơn, môi
trên môi dưới bằng nhau không lớn không nhỏ, không dài không
ngắn. Lưỡi mỏng mà to, mềm mại sắc đỏ hồng, như hoa
sen trời, âm thanh trong suốt sâu xa, người nghe vui thích, nghe
hoài không chán. Thân sắc tốt đẹp hơn vàng Diêm-phù-đề,
ánh sáng lớn khắp thân, đủ các màu sắc, đẹp không gì
sánh bằng. Với 32 tướng đầy đủ như vậy, người này
không bao lâu sẽ xuất gia, được nhất thiết trí thành Phật.
Phật
thân có công đức như vậy, hãy nên niệm Phật.
* Lại
nữa, Phật thân có công đức thần lực hơn mười vạn voi
báu bạch hương, đây là di thể của cha mẹ. Nếu là sức
của thần thông công đức thì vô lượng vô hạn.
Phật
thân có 32 tướng, 80 vẻ đẹp trang nghiêm, do bên trong có
Phật pháp công đức vô lượng, cho nên xem không chán. Thấy
Phật thân thì quên năm dục ở đời, muôn việc chẳng nhớ.
Nếu thấy một chỗ nơi thân Phật ưa thích không chán, không
thể đổi xem chỗ khác. Phật thân có công đức như vậy,
hãy nên niệm Phật.
* Lại
nữa, Phật trì giới đầy đủ thanh tịnh, từ khi mới phát
tâm tu giới, dồn chứa vô lượng, cùng với tâm thương xót,
không cầu quả báo, không xu hướng đạo Thanh văn, Bích-chi
Phật, không xen tạp các kiết sử, chỉ vì tự tâm thanh tịnh,
không não hại chúng sanh, đời đời trì giới. Do vậy khi
chứng được Phật đạo, giới được đầy đủ. Hãy nên
niệm đến giới uẩn của Phật như vậy.
* Lại
nữa, định uẩn của Phật đầy đủ.
Hỏi:
Việc trì giới do thân nghiệp khẩu nghiệp thanh tịnh nên
có thể biết; trí tuệ do phân biệt thuyết pháp, trừ hết
chúng nghi nên có thể biết, còn về định, thì chính các
người khác tu định, còn không thể biết, huống là Phật
định làm sao biết được?
Đáp:
Do Phật có đại trí tuệ đầy đủ, nên biết thiền định
chắc chắn đầy đủ, ví như thấy hoa sen lớn, ắt biết
ao cũng sâu lớn. Lại như đèn sáng lớn, ắt biết dầu cũng
nhiều. Cũng do Phật có sức thần thông biến hóa vô lượng,
không thể so sánh nên biết sức thiền định cũng đầy đủ.
Lại như thấy quả lớn, ắt biết nhân cũng phải lớn.
* Lại
nữa, có khi Phật tự nói cho người biết tướng thiền định
của Ngài rất thâm sâu, như trong Kinh nói: Phật ngồi dưới
rừng cây của nước A-đầu-ma mà vào thiền định. Khi đó
trời mưa, sấm chớp, sét đánh, có bốn con trâu đực và
hai người đi cày, nghe tiếng sợ mà chết. Chốc lát mưa tạnh,
Phật từ thiền định dậy đi kinh hành. Có một cư sĩ đi
đến lễ dưới chân Phật, rồi đi theo sau Phật, bạch rằng:
vừa rồi sấm, chớp, sét đánh, có bốn con trâu đực và
hai người đi cày nghe tiếng sợ mà chết, Thế Tôn có nghe
chăng?
Không
nghe.
Lúc
đó Phật ngủ chăng?
Không
ngủ.
Ngài
nhập định vô tâm tưởng chăng?
Không.
Ta có tâm tưởng, nhưng nhập định vậy.
Cư
sĩ nói: thật là điều chưa từng có. Chư Phật thiền định
rất thậm thâm, có tâm tưởng ở thiền định, tiếng sét
lớn như vậy, tỉnh giác mà không nghe.
Như
trong Kinh khác Phật bảo các Tỳ-kheo: Phật vào và ra các định,
chính Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên còn không nghe tên, huống
là biết được, ấy là thế nào? Như Tam-muội vương tam-muội,
Sư tử du hý tam-muội… Phật nhập vào tam-muội ấy thì có
thể khiến mười phương thế giới rung động sáu cách, phóng
ánh sáng lớn, hóa làm vô lượng Phật, khắp cùng mười phương,
như A-nan có một lúc sanh tâm nghĩ rằng: "Lúc đức Phật Nhiên
Đăng trong đời quá khứ, bấy giờ đời tốt đẹp, người
sống lâu, dễ hóa độ còn nay trong đời đức Phật Thích-ca
Mâu-ni cõi đời xấu ác, người sống ngắn, khó giáo hóa,
Phật sự chưa xong mà Ngài vào Niết-bàn chăng?"
Sáng
sớm đem việc ấy đến bạch Phật. Bạch xong mặt trời mọc.
Lúc ấy Phật nhập vào Nhật xuất tam-muội, như mặt trời
phát ánh sáng chiếu cõi Diêm-phù-đề. Từ lỗ chân lông khắp
nơi thân Phật phát ánh sáng, chiếu khắp mười phương hằng
hà sa thế giới. Trong mỗi mỗi ánh sáng xuất sanh hoa sen bảy
báu có ngàn cánh, trên mỗi mỗi hoa đều có Phật ngồi, mỗi
mỗi đức Phật đều phóng ra vô lượng ánh sáng, trong mỗi
mỗi ánh sáng đều xuất sanh hoa sen bảy báu có ngàn cánh,
trên mỗi mỗi hoa đều có Phật ngồi. Các Phật ấy cùng
khắp mười phương hằng hà sa thế giới, giáo hóa chúng sanh,
hoặc có vị thuyết pháp, hoặc có vị im lặng, hoặc đi kinh
hành, hoặc thần thông biến hóa, thân xuất ra nước lửa,
các thứ phương tiện như vậy, độ thoát chúng sanh trong mười
phương năm đường. A-nan nương oai thần của Phật, thấy
đủ các sự ấy.
Phật
thâu nhiếp thần túc từ tam-muội khởi dậy, hỏi A-nan có
thấy sự ấy chăng? Nghe sự ấy chăng?
A-nan
đáp: nhờ oai thần của Phật, con đã thấy, đã nghe.
Phật
dạy: Phật có năng lực như vậy, thì có thể làm trọn vẹn
Phật sự chăng?
A-nan
thưa: bạch Thế Tôn! Nếu chúng sanh đầy trong mười phương
hằng hà sa thế giới, Phật chỉ sống một ngày, dùng năng
lực như đây, hẳn có thể làm trọn vẹn mọi Phật sự.
A-nan
tán thán: thật là việc chưa từng có, bạch Thế Tôn! Pháp
của chư Phật vô lượng không thể nghĩ bàn, do vậy nên biết
Phật đầy đủ thiền định.
* Lại
nữa, Phật đầy đủ tuệ uẩn, từ khi mới phát tâm, trong
A-tăng-kỳ kiếp, không pháp môn gì không tu, đời đời tập
hợp các công đức, nhất tâm chuyên tinh, không tiếc thân
mạng, để cầu trí tuệ, như Bồ-tát Đà-ba-luân (Thường
đề Bồ-tát).
* Lại
nữa, do khéo tu đại bi và trí tuệ nên đầy đủ tuệ uẩn,
các người khác không có đại bi nên tuy có trí tuệ mà không
được đầy đủ. Do tâm đại bi muốn độ chúng sanh nên
cầu các thứ trí tuệ và dứt pháp ái, dứt 62 tà kiến, không
rơi vào nhị biên, hoặc hưởng thọ năm dục lạc, hoặc tu
thân theo lối khổ hạnh, hoặc đoạn diệt, hoặc chấp thường,
hoặc chấp có chấp không… các pháp nhị biên như vậy.
* Lại
nữa, Phật tuệ vô thượng, thấy suốt không gì so sánh, do
từ trong thiền định thâm sâu sanh, do các phiền não thô tế
không làm lay động, do khéo tu 37 phẩm, bốn thiền, bốn vô
lượng tâm, bốn vô sắc định, tám bội xả, chín thứ đệ
định. Các công đức, do có mười trí lực, bốn vô sở úy,
bốn vô ngại trí, 18 pháp bất cọng, do được vô ngại bất
tư nghì giải thoát, nên Phật đầy đủ tuệ uẩn.
* Lại
nữa, hay hàng phục các luận nghị sư ngoại đạo, như Ưu-lâu-tần-loa
Ca-diếp, Đại Ca-Diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Tát-giá
Ni-kiền-tử, Bà-ta, Thủ-la, Trường-trão… các đại luận
nghị sư đều hàng phục, cho nên biết tuệ uẩn Phật đầy
đủ.
* Lại
nữa, Phật có ba tạng, 12 bộ kinh, 84.000 pháp tụ, thấy lời
lẽ nhiều như vậy, nên biết trí tuệ của Phật cũng rất
lớn. Ví như cư sĩ, sáng sớm thấy chỗ mưa lớn, nói với
mọi người rằng: đêm qua rồng làm mưa, sức nó rất lớn.
Mọi người nói: sao ông biết? Đáp: tôi thấy đất ướt,
bùn nhiều, núi lở, cây gãy, giết chết chim muôn, do đó nên
biết sức rồng rất lớn. Phật cũng như thế, có trí tuệ
thâm sâu, tuy mắt không thấy được song mưa trận mưa đại
pháp, khiến các đại luận sư và Thích Phạn thiên vương
đều hàng phục, do vậy nên biết Phật trí tuệ rất nhiều.
* Lại
nữa, chư Phật do được vô ngại giải thoát, nên được
trí tuệ đối với hết thảy pháp.
* Lại
nữa, trí tuệ ấy của Phật đều thanh tịnh, vượt lên trên
các quán, không quán các pháp tướng thường, tướng vô thường,
tướng hữu biên, tướng vô biên, tướng có đi, tướng không
đi, tướng có, tướng không, tướng hữu lậu, tướng vô
lậu, tướng hữu vi, tướng vô vi, tướng sanh diệt, tướng
không sanh diệt, tướng không, tướng chẳng không, thường
thanh tịnh vô lượng như hư không, do thế nên vô ngại. Nếu
quán sanh diệt thì không quán được chẳng sanh diệt, quán
chẳng sanh diệt thì không quán được sanh diệt; hoặc chẳng
sanh diệt là thật thì sanh diệt không thật, hoặc sanh diệt
là thật thì chẳng sanh diệt không thật. Như vậy các quán
đều như thế, do được trí vô ngại nên biết Phật tuệ
uẩn đầy đủ.
* Lại
nữa, niệm Phật giải thoát uẩn đầy đủ. Phật giải thoát
khỏi các phiền não và tập khí, nhổ hết gốc rễ, giải
thoát chân thật không thể hư hại, do thành tựu hết thảy
trí tuệ nên gọi là vô ngại giải thoát. Thành tựu tám giải
thoát, khắp được thâm sâu cho nên gọi là đầy đủ giải
thoát.
* Lại
nữa, lìa thời giải thoát và tuệ giải thoát bèn thành tựu
đầy đủ cọng giải thoát. Do thành tựu các giải thoát như
vậy, nên gọi là đầy đủ giải thoát uẩn.
* Lại
nữa, phá ma quân nên được giải thoát, lìa phiền não nên
được giải thoát, lìa các thứ chướng ngăn thiền định
nên được giải thoát, ra vào các thiền định không chướng
ngại.
* Lại
nữa, Bồ-tát ở trong kiến đế đạo (gọi tắc là kiến
đạo) được mười sáu giải thoát thâm sâu: 1. Do khổ pháp
trí tương ưng mà chứng được hữu vi giải thoát. 2. Do dứt
hết mười kiết thuộc khổ đế mà chứng được vô vi giải
thoát. Như vậy cho đến đạo tỷ trí (cũng gọi là đạo
loại trí).
Ơong
tư duy đạo (cũng gọi là tu đạo) chứng được mười tám
giải thoát: 1. Do hoặc tỷ trí hoặc pháp trí tương ưng mà
chứng được hữu vi giải thoát. 2. Do dứt ba tư duy kiết
(cũng gọi là tư hoặc) của cõi Vô sắc mà chứng được
vô vi giải thoát. Như vậy do tận trí thứ 18 tương ưng mà
chứng được hữu vi giải thoát và cho dứt hết thảy kiết
sử mà chứng được vô vi giải thoát.
Các
giải thoát như vậy hòa hợp, gọi là giải thoát uẩn đầy
đủ.
* Lại
nữa, niệm Phật đầy đủ giải thoát tri kiến uẩn. Giải
thoát tri kiến uẩn có hai thứ: 1. Phật đối trong việc giải
thoát các phiền não, dùng tận trí tự chứng biết rằng:
ta đã biết khổ, đã dứt tập, đã chứng diệt, đã tu đạo,
ấy là tận trí giải thoát tri kiến uẩn đầy đủ. Lại
đã biết khổ không còn biết nữa, cho đến đã tu đạo không
còn tu nữa, ấy là vô sanh trí giải thoát tri kiến uẩn đầy
đủ. 2. Phật biết người ấy vào Không môn được giải
thoát, người ấy vào Vô tướng môn mà được giải thoát,
người ấy vào Vô tác môn mà được giải thoát, người ấy
không có phương tiện có thể làm cho giải thoát, người ấy
rất lâu mới có thể được giải thoát, người ấy tức
thời được giải thoát, người ấy do nghe nói lời êm dịu
mà được giải thoát, người ấy do nghe lời dạy bảo khắc
khổ mà được giải thoát, người ấy do nghe tạp ngữ mà
được giải thoát, người ấy do thấy sức thần thông mà
được giải thoát, người ấy do thuyết pháp mà được giải
thoát; người ấy dâm dục nhiều, vì tăng dâm dục mà được
giải thoát như ông Nan-đà (Nan-đà xuất gia mà cứ nhớ vợ
cũ, Phật đưa đến chỗ các thiên nữ cho thấy, ông lại
quên vợ cũ mà ưa các thiên nữ. Nhưng phải đủ phước mới
được sanh cõi trời để gần các thiên nữ, do đó Nan-đà
nổ lực tu tập đến được giải thoát, không còn ý tưởng
dâm dục nữa – N.D). Người ấy sân nhuế nhiều, vì tăng
sân nhuế mà được giải thoát, như rồng Ưu-lâu-tần-loa.
Như
vậy, các thứ nhân duyên được giải thoát, như đã nói trong
sách Pháp nhãn. Ơong các giải thoát ấy, biết thấy rõ
ràng, ấy gọi là giải thoát tri kiến uẩn đầy đủ.
* Lại
nữa, niệm đến nhất thiết trí, nhất thiết kiến, đại
từ, đại bi, mười trí lực, bốn việc không sợ, bốn trí
vô ngại, mười tám pháp bất cọng của Phật. Niệm vô lượng
công đức bất tư nghì như Phật đã biết, ấy gọi là niệm
Phật.
Sự
niệm này, ở tại thất địa hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu.
Hữu lậu thì hữu báo, vô lậu thì vô báo. Tương ứng với
ba căn là lạc, hỷ, xả. Tu hành đắc và cũng quả báo đắc.
Tu hành đắc là như ở trong quốc độ này học Niệm Phật
tam-muội, quả báo đắc là như người ở quốc độ của
Phật vô lượng thọ, khi sanh ra tự nhiên niệm Phật được.
Những
giải quyết như trên đều có phân biệt rộng ở trong Luận
tạng.
(Hết
cuốn 21 theo bản Hán)