Tập
2
Cuốn
23
Chương
34
Giải
Thích: Mười Tưởng
Kinh:
Mười tưởng là tưởng vô thường, tưởng khổ, tưởng vô
ngã, tưởng ăn đồ bất tịnh, tưởng tất cả thế gian không
thể vui, tưởng chết, tưởng bất tịnh, tưởng dứt, tưởng
lìa dục, tưởng tận.
Luận.
Hỏi: Hết thảy pháp hành trì ấy sao có khi gọi là trí, có
khi gọi là niệm, có khi gọi là tưởng?
Ðáp:
Bắt đầu nhóm thiện pháp, vì để không mất nên chỉ gọi
là niệm; có thể chuyển tướng và chuyển tâm nên gọi là
tưởng; quyết định biết không còn nghi ngờ, gọi là trí.
Quán
hết thảy pháp hữu vi vô thường, tướng ấy tương ưng với
trí tuệ, ấy gọi là vô thường tưởng.
Hết
thảy pháp hữu vi vô thường là vì sanh diệt mới mãi, vì
thuộc nhân duyên, vì chẳng chứa thêm được.
Lại
nữa, khi sanh không chỗ đến, diệt không chỗ đi, cho nên
gọi là vô thường.
Lại
nữa, hai thứ thế gian vô thường, nên nói vô thường, ấy
là chúng sanh vô thường và thế giới vô thường, như nói:
“Ðại
địa cỏ cây đều tiêu diệt,
Tu-di
biển cả cũng lỡ khô,
Chỗ
ở chư thiên đều cháy hết,
Bấy
giờ thế giới vật gì thường?
Mười
phương Thế Tôn thân sáng đủ,
Trí
tuệ chiếu sáng cũng vô lượng,
Ðộ
thoát hết thảy các chúng sanh,
Tiếng
tăm lan khắp cả mười phương,
Ngày
nay trống rổng đâu còn gì?
Ðâu
có người trí không cảm thương”.
Như
vậy các thánh nhân Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề...,
Chuyển luân thánh vương, các quốc vương, thiên vương thường
vui và các trời, bậc thánh đức tôn quí đều cùng tận diệt,
ngọn lửa sáng lớn bỗng bị tắt, thế gian chuyển hoại
như đèn giữa gió, như cây ở bờ hiểm, như đồ lủng đựng
nước, không lâu bị khô trống. Như vậy hết thảy chúng
sanh và chỗ ở của chúng sanh, đều vô thường nên gọi là
vô thường.
Hỏi:
Bồ-tát vì sao thực hành tưởng vô thường ấy?
Ðáp:
Vì chúng sanh đắm theo điên đảo chấp thường, chịu các
khổ, không khỏi sống chết, hành giả có được tưởng vô
thường nên giáo hóa chúng sanh rằng: các pháp đều vô thường,
các ngươi chớ đắm theo điên đảo chấp thường, mất thời
giờ hành đạo. Pháp thượng diệu của chư Phật là bốn
chân đế. Trong bốn đế, khổ đế đứng đầu, trong bốn
hành tướng của khổ đế, hành tướng vô thường đứng
đầu. Do vậy nên Bồ-tát thực hành tưởng vô thường.
Hỏi:
Có người thấy việc vô thường đến, lại càng đắm trước,
như phu nhân Bảo nữ của quốc vương từ đất sanh ra, bị
quỉ La-sát mười đầu bắt mang đi qua biển cả, vua rất
ưu sầu. Bề tôi có trí can ngăn rằng: trí lực của Bệ hạ
đầy đủ, phu nhân trở lại không lâu, cớ sao ôm lòng ưu
sầu? Vua đáp: Trẫm không lo sợ Trẫm không thể sống được,
chỉ sợ thời trai tráng dễ qua. Cũng như người ưa hoa ra
quả, thấy thời giờ sắp trôi qua bèn càng sanh tâm đắm
trước. Như vậy biết vô thường lại sanh các kiết sử,
chứ sao nói biết vô thường có thể khiến tâm nhàm chán,
phá các kiết sử?
Ðáp:
Thấy vô thường như vậy, là biết vô thường một phần
ít, là không đầy đủ, chẳng khác gì cầm thú thấy vô thường.
Vì vậy Phật bảo Xá-lợi-phất hãy đầy đủ tu vô thường
tưởng.
Hỏi:
Thế nào là đầy đủ tu vô thường tưởng?
Ðáp:
Quán pháp hữu vi niệm niệm sanh diệt, như gió thổi bụi,
như nước chảy trên núi, như ngọn lửa tắt, hết thảy pháp
hữu vi không bền chắc, không thể thủ, không thể đắm,
như huyễn hóa, dối gạt kẻ phàm phu, nhân vô thường ấy
mà được vào cửa Không. Trong Không ấy tất cả pháp đều
không thể có được, vô thường cũng không thể có được,
vì cớ sao? Vì trong một niệm, tướng sanh, trụ, diệt là
không thể có được, khi sanh không thể có được trụ, diệt,
khi trụ không có được sanh, diệt, khi diệt không có được
sanh, trụ. Tướng sanh, trụ, diệt, tánh nó trái nhau cho nên
không. Vì tướng ấy không, cho nên vô thường cũng không.
Hỏi:
Nếu không có vô thường, cớ sao trong Khổ đế Phật dạy
vô thường?
Ðáp:
Người phàm phu sanh tà kiến cho thế gian là thường, Phật
vì dứt trừ thường kiến ấy nên nói vô thường, chứ không
phải vì vô thường là thật có nên nói.
Lại
nữa, lúc Phật chưa ra đời, người phàm phu chỉ dùng thế
tục đạo, ngăn các phiền não, nay muốn nhổ hết gốc rễ
phiền não nên nói vô thường.
Lại
nữa, pháp của các ngoại đạo chỉ do thân hình lìa năm dục
cho là giải thoát. Phật dạy đó là do tà tướng nên bị
trói buộc, quán vô thường chánh tướng nên được giải
thoát.
Lại
có hai lối quán tướng vô thường: 1. Hữu dư, 2. Vô dư. Như
Phật dạy hết thảy người vật đều diệt tận chỉ còn
lại cái tên, ấy là hữu dư; nếu người vật diệt tận,
cái tên cũng diệt, ấy gọi là vô dư.
Lại
có hai lối quán tướng vô thường: 1. Thân chết diệt tận,
2. Sanh diệt mới mãi.
Lại
nữa, có người nói trì giới là trọng, vì sao? Vì nương
giới mà thứ lớp sạch hết lậu.
Có
người nói: đa văn là trọng, vì sao? Vì nương trí tuệ nên
có chỗ sở đắc.
Có
người nói: thiền định là trọng, như Phật nói định có
thể đắc đạo.
Có
người nói: mười hai hạnh đầu đà là trọng, vì sao? Vì
hay làm cho giới hạnh thanh tịnh.
Như
vậy mỗi mỗi cho sở hành là quý, không còn cần cầu Niết-bàn.
Phật
dạy: các công đức ấy đều là phần đưa đến Niết-bàn,
còn nếu quán các pháp vô thường ấy mới là chơn đạo đưa
đến Niết-bàn. Do các nhân duyên như vậy, các pháp tuy không
mà nói là vô thường tưởng.
Lại
nữa, vô thường tưởng tức là tên khác của thánh đạo.
Phật dạy đạo với nhiều tên, hoặc nói là bốn niệm xứ,
hoặc nói bốn đế, hoặc nói vô thường tưởng. Như trong
Kinh nói: Khéo tu vô thường tưởng, có thể dứt hết thảy
dục ái, sắc ái, vô sắc ái, trạo cử, kiêu mạn, vô minh
hết sạch, có thể trừ kiết sử ba cõi, do vậy nên gọi
là đạo.
Vô
thường tưởng này hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu. Chính thức
được vô thường là vô lậu, khi mới học vô thường là
hữu lậu. Trong pháp Ðại thừa, các Bồ-tát có tâm quảng
đại, đủ các cách giáo hóa chúng sanh, thì vô thường tưởng
ấy cũng hữu lậu cũng vô lậu. Nếu vô lậu thì ở tại
chín địa, nếu hữu lậu thì ở tại mười một địa, duyên
ba cõi, năm thọ uẩn, tương ưng bốn căn, trừ khổ căn, phàm
phu và thánh nhân đều được. Do các nhân duyên như vậy,
nói các công đức của vô thường tưởng.
Khổ
tưởng: Hành giả nhớ nghĩ rằng, hết thảy pháp hữu vi vô
thường nên khổ.
Hỏi:
Nếu pháp hữu vi vô thường nên khổ, thời pháp hữu vi vô
lậu của các bậc hiền thánh cũng phải nên khổ?
Ðáp:
Các pháp tuy vô thường, mà ưa đắm mới sanh khổ, không ưa
đắm gì thì không khổ.
Hỏi:
Có vị thánh nhân tuy không ưa đắm gì cũng đều có khổ,
như Xá-lợi-phất bị phong nhiệt làm đau khổ, Tất-lăng-già-bà-ta
bị bệnh mắt làm đau khổ. La-bà-na-bạt-đề (âm thanh đệ
nhất) bị bệnh trỉ làm đau khổ, cớ sao nói không khổ?
Ðáp:
Có hai thứ khổ: 1. Thân khổ, 2. Tâm khổ. Các thánh nhân ấy
do sức trí tuệ nên không còn tâm khổ ưu sầu, tật đố,
sân giận; nhưng đã chịu thân tứ đại tạo thành do nghiệp
đời trước, thời phải chịu các khổ về thân già, bệnh,
đói, khát, lạnh, nóng, nhưng về thân khổ cũng mỏng ít,
như người đã biết rõ mắc nợ người khác nên phải trả
lại, không cho là khổ. Nếu người không nhớ đã mắc nợ,
bị chủ nợ cưởng đoạt thì sân não mà sinh khổ.
Hỏi:
Khổ thọ là pháp của tâm tâm số, còn thân như cây cỏ,
lìa tâm thời không tri giác, làm sao nói thánh nhân chỉ thọ
thân khổ?
Ðáp:
Người phàm phu khi thọ khổ tâm sanh sầu não, bị kiết sử
sân sai khiến, tâm chỉ hướng theo năm dục. Như Phật nói:
người phàm phu trừ năm dục ra không biết còn có cách ra
khỏi khổ, trong khi thọ vui thì bị kiết sử tham dục sai
khiến, trong khi thọ không khổ không vui thì bị kiết sử
vô minh sai khiến. Người phàm phu khi thọ khổ, bên trong chịu
ba thứ độc khổ, bên ngoài chịu lạnh, nóng, roi, gậy khổ,
như người bên trong bị nóng lạnh, bên ngoài cũng bị nóng
lạnh. Như Kinh nói: người phàm phu bị mất vật yêu quý thì
thân tâm đều chịu khổ, như hai mũi tên cùng bắn vào, còn
các hiền thánh không có cái khổ ưu sầu, chỉ có thân khổ
chứ không còn khổ gì khác.
Lại
nữa, cái khổ tương ưng với năm thức và cái khổ do ngoại
duyên roi, gậy, lạnh, nóng đưa đến, ấy là thân khổ, tàn
dư của khổ ấy gọi là tâm khổ.
Lại
nữa, tôi nói pháp hữu vi vô lậu, vì không ưa đắm nên không
khổ. Thánh nhân còn có thân là hữu lậu, pháp hữu lậu thời
khổ, có lỗi gì đâu. Ðó là thân cuối cùng chịu khổ, cũng
chút ít thôi.
Hỏi:
Nếu vô thường tức là khổ, thì đạo cũng là khổ, làm
sao lấy khổ để lìa khổ?
Ðáp:
Vô thường tức là khổ, là vì năm thọ uẩn, còn đạo tuy
là pháp tạo tác nên vô thường, nhưng không gọi là khổ,
vì cớ sao? Vì nó hay dứt khổ, không làm sanh ra tâm ưa đắm,
cùng với trí không, vô ngã hòa hợp. Chỉ là vô thường mà
chẳng khổ. Như các A-la-hán khi đắc đạo nói:
“Chúng
ta không tham sống,
Mà
cũng không ưa chết,
Nhất
tâm và trí tuệ,
Chờ
thời đến thì đi”
Lúc
Phật vào Niết-bàn, các vị chưa ly dục như A-nan, vì chưa
khéo tu tám chánh đạo nên đều than khóc ưa sầu. Các vị
A-na-hàm đã ly dục thì kinh ngạc, các vị lậu tận A-la-hán
thì tâm không biến đổi, chỉ nói: “Con mắt thế gian diệt
mau quá”. Do sức đắc đạo, nên tuy theo Phật được lợi
ích lớn, biết trọng công đức vô lượng của Phật mà không
sanh ra khổ. Do vậy, biết “đạo” tuy vô thường mà chẳng
phải nhân duyên sanh ra khổ, nên không gọi là khổ, chỉ có
thân năm thọ uẩn là khổ, vì sao? Vì ưa đắm, vì vô thường
bại hoại, như nghĩa chữ khổ đã nói ở đoạn nói về thọ
niệm xứ.
Lại
nữa, khổ; có thân thường là khổ, vì ngu si nên không biết,
như nói:
“Vì
cỡi xe mệt mõi,
Tìm
cầu chỗ đứng dừng,
Vì
đứng dừng mệt mõi,
Tìm
cầu chỗ ngồi nghỉ,
Ngồi
lâu bị mệt mõi,
Tìm
cầu chỗ nằm yên,
Mệt
mõi do động tác,
Mới
đầu vui sau khổ,
Xem
ngó, thở ra vào,
Co,
duỗi, ngồi, nằm, dậy,
Ði
đứng và qua lại,
Việc
ấy đều là khổ”.
Hỏi:
Năm thọ uẩn ấy tất cả đều là khổ, hay vì quán tưởng
khổ nên khổ? Nếu tất cả đều khổ, tại sao Phật dạy
có ba thứ thọ là thọ khổ, thọ vui, thọ không khổ không
vui? Nếu do quán tưởng khổ nên khổ, tại sao Phật nói khổ
đế là thật khổ?
Ðáp:
Năm thọ uẩn tất cả đều khổ, người phàm phu do bốn điên
đảo, bị dục bức bách, lấy năm dục làm vui, như người
bôi ghẻ lỡ, cái đau đớn tạm ngưng nên cho là vui, chứ
ghẻ lỡ chẳng phải là vui. Phật dạy ba thứ thọ là vì
theo thế gian, chứ trong Phật pháp chẳng phải là vui. Nếu
trong năm thọ uẩn thật có vui, cớ sao Phật dạy dứt năm
thọ uẩn gọi là vui.
Lại
nữa, tùy chỗ ưa thích, tâm vui thời sanh vui, không nhất định.
Cái vui nếu là có thật nhất định, thì không cần chờ có
tâm ưa đắm, như lửa thật nóng thì không đợi ưa đắm
nó vẫn nóng. Vì cái vui không nhất định, cho nên gọi là
khổ.
Lại
nữa, cái vui điên đảo của thế gian hay mắc phải vô lượng
quả báo khổ đời này đời sau, cho nên gọi là khổ, thí
như trong biển nước lớn chỉ bỏ vào một ít độc, không
làm cho nước đổi khác, cũng như vậy, cái vui theo độc điên
đảo của thế gian không hiện ra giữa biển nước tất cả
đại khổ, như nói:
“Khi
từ trời sanh xuống địa ngục,
Nhớ
việc hoan lạc ở trên trời,
Cung
quán, thể nữ đầy trước mắt,
Vườn
hoa, ao tắm để vui thích,
Lại
thấy lửa ngục đến đốt thân,
Tợ
như lửa lớn đốt rừng tre,
Khi
ấy tuy thấy vui trên trời,
Luống
tự cảm tiếc không ích gì”.
Sự
nhiếp và duyên của khổ tưởng này cũng giống vô thường
tưởng. Các cách phân biệt khổ như vậy, gọi là khổ tưởng.
Vô
ngã tưởng: Khổ thời là vô ngã, vì cớ sao? Vì trong năm
thọ uẩn đều là khổ, khổ tưởng là không có tự tại,
nếu không tự tại ấy thời là vô ngã, nếu có ngã tự tại
thời không thể làm cho thân có khổ, như nói:
“Có
các người vô trí,
Chấp
thân tâm là ngã,
Vừa
gần đính chắc cứng,
Không
biết pháp vô thường,
Thân
này không ai làm,
Cũng
không có người thọ,
Thân
này là vô chủ,
Mà
làm đủ các việc,
Duyên
nơi sáu căn trần,
Sáu
thức được sanh ra,
Do
ba sự hòa hiệp,
Làm
duyên sanh ra xúc,
Do
xúc làm nhân duyên,
Có
thọ niệm nghiệp sanh,
Như
mặt trời, gương cỏ;
Hòa
hiệp sanh ra lửa,
Căn,
trần,
thức hòa hiệp,
Thành
sự nghiệp tạo tác,
Tương
tục tương tợ có,
Như
giống có mầm, cành”.
Lại
nữa, ngã tướng là không thể có được, cho nên vô ngã.
Hết thảy pháp vì có tướng nên biết là có, như thấy khói,
cảm giác nóng nên biết có lửa. Ðối với năm trần mỗi
mỗi khác biệt, nên biết có căn, suy nghĩ trù lượng các
pháp nên biết có tâm tâm số pháp. Còn ngã này không có tướng,
cho nên biết vô ngã.
Hỏi:
Có hơi thở ra vào, thời đó là tướng ngã. Xem ngó, tâm thọ
mạng, khổ vui, thương ghét, tinh cần... ấy là tướng ngã.
Nếu vô ngã thì ai có hơi thở ra vào, xem ngó, tâm thọ mạng,
khổ vui, thương ghét, tinh cần... đó, cho nên có ngã ở bên
trong lay động phát sanh vậy. Tâm thọ mạng cũng là ngã, nếu
vô ngã thì như trâu không chế ngự, có ngã mới có thể chế
ngự tâm vào pháp, không cho phóng dật. Nếu vô ngã thì ai
chế ngự tâm. Thọ khổ vui là ngã, nếu vô ngã thì như cây
cỏ, không thể phân biệt khổ vui. Thương ghét, tinh cần cũng
như vậy. Ngã tuy vi tế, không thể dùng năm căn biết được,
chỉ nhân nơi tướng có thể biết là có?
Ðáp:
Các tướng ấy đều là tướng của thức. Có thức thời
có hơi thở ra vào, xem ngó, thọ mạng... nếu thức lìa thân
thời không có các việc ấy. Cái ngã của các ông là thường
hằng và biến khắp, vậy người chết cũng nên có sự xem
ngó, hơi thở ra vào và thọ mạng...
Lại
nữa, hơi thở ra vào... là sắc pháp, theo sức gió của tâm
lay động phát sanh, đó là tướng của thức, không phải tướng
của ngã. Thọ mạng là tâm bất tương ưng hành pháp, cũng
là tướng của thức.
Hỏi:
Nếu vào vô tâm định, hoặc khi ngủ không mộng, cũng có
hơi thở ra vào, có thọ mạng, tại sao nói đều là tướng
của thức?
Ðáp:
Trong vô tâm định, tuy thức tạm không, nhưng không lâu phát
sanh lại, vì thức không bỏ rời thân, lúc có thức (hoạt
động) nhiều, lúc không có thức (hoạt động) ít, cho nên
gọi là tướng của thức, như người ra đi, không thể nói
nhà ấy vô chủ. Các thứ khổ vui, thương ghét, tinh cần...
là pháp tương ưng với tâm, cùng chung sở duyên, theo tâm hành
động, nên tâm có thì liền có, tâm không thì liền không.
Do vậy biết đó là tướng của thức chứ chẳng phải tướng
của ngã.
Lại
nữa, nếu có ngã, ngã có hai thứ là hoặc thường hoặc vô
thường, như nói:
“Nếu
ngã là thường,
Thời
không thân sau,
Vì
thường, không sanh,
Cũng
không giải thoát,
Không
quên, không làm,
Do
vậy cho nên biết,
Không
kẻ làm tội phước,
Cũng
không có kẻ thọ,
Bỏ
ngã và ngã sở,
Vậy
sau được Niết-bàn,
Nếu
mà thật có ngã,
Không
nên bỏ ngã tâm,
Nếu
ngã là vô thường,
Thời
nên theo thân diệt,
Như
bờ lớn sa nước,
Cũng
không có tội phước”.
Như
vậy, ngã và kẻ biết, kẻ không biết, kẻ làm, kẻ không
làm, như đã nói trong đoạn Ðàn ba-la-mật. Vì không có được
ngã tướng nên biết hết thảy pháp vô ngã. Nếu biết hết
thảy pháp vô ngã thời không nên sanh tâm chấp ngã. Nếu không
tâm chấp ngã và ngã sở. Ngã, ngã sở xa lìa, thời không
có trói buộc, nếu không trói buộc thời là Niết-bàn, thế
nên hành giả nên thực hành vô ngã tưởng.
Hỏi:
Vô thường, khổ, vô ngã là một sự hay ba sự? Nếu là một
thì không nên nói ba, nếu ba cớ sao Phật dạy vô thường
tức là khổ, khổ tức là vô ngã?
Ðáp:
Chỉ là một, đó là thọ thuộc pháp hữu lậu, vì phân biệt
theo mặt quan sát nên có ba thứ sai khác nhau. Tương ưng với
hành tướng vô thường, ấy là vô thường tưởng, tương
ưng với hành tướng khổ, ấy là khổ tưởng; tương ưng
với hành tưởng vô ngã, ấy là vô ngã tưởng. Vô thường,
không làm cho rơi vào ba cõi; khổ, làm cho biết tội lỗi trong
ba cõi; vô ngã, thời xả ly ba cõi.
Lại
nữa, vô thường thì sanh tâm nhàm chán, khổ thì sanh sợ hãi,
vô ngã thì kéo ra khiến cho giải thoát. Vô thường là Phật
nói năm thọ uẩn là vô thường, khổ là Phật dạy vô thường
thời là khổ, vô ngã là Phật dạy khổ tức là vô ngã. Vô
thường là Phật chỉ thị tướng diệt tận của năm thọ
uẩn, khổ là Phật chỉ thị như mũi tên găm vào tâm, vô
ngã là Phật chỉ thị tướng xả ly. Vô thường là chỉ thị
dứt ái, khổ là chỉ thị dứt tập khí ngã mạn, vô ngã
là chỉ thị dứt tà kiến. Vô thường thì ngăn kiến chấp
thường, khổ thì ngăn kiến chấp vui Niết-bàn hiện tại,
vô ngã thì ngăn chỗ chấp trước. Vô thường là chỗ pháp
thường của thế gian chấp trước, khổ là chỗ vui của thế
gian chấp trước, vô ngã là chỗ chấp ngã kiên cố của thế
gian; ấy là tướng phân biệt giữa ba tưởng. Vô ngã tương
duyên và nhiếp giống như đã nói trong khổ tưởng.
Thực
yểm tưởng: Quán đồ ăn từ nhân duyên bất tịnh sanh, như
thịt từ thủy đạo tinh huyết sanh, là chỗ ở của trùng
mủ. Váng sữa, sữa, lạc, do huyết biến thành, không khác
gì mủ thối nát, mồ hôi nhớp của người nhà bếp và các
thứ bất tịnh. Nếu bỏ vào miệng thì từ não bộ có hai
dòng nước dãi thối nát chảy xuống hòa với nước miếng
sau mới thành vị, tướng trạng như mửa, đi vào cửa bụng,
đất duy trì, nước rửa nát, gió chuyển động, lửa rang
nấu, giống như cái chảo nấu chín nhừ, cặn bả lóng xuống
dưới, nước trong nỗi lên trên, ví như gây rượu, phần
cặn bả là phân, phần trong là nước dãi. Eo lưng có ba lỗ,
gió thổi nước béo tan vào trăm mạch, hòa hợp với huyết
sẳn có trước, ngưng đọng biến thành thịt. Từ thịt tươi
sanh mở, xương, tủy, từ trong đó sanh thân căn, từ thịt
mới thịt cũ hợp lại sanh năm căn, từ năm căn sanh năm thức,
năm thức thứ lớp sanh ý thức, phân biệt thủ lấy tướng,
trù lượng tốt xấu, vậy sau mới sanh các phiền não và các
tội nghiệp theo tâm chấp ngã, ngã sở. Quán đồ ăn có nhân
duyên gốc ngọn đủ thứ bất tịnh như vậy, biết rằng
bốn đại bên trong bốn đại bên ngoài không khác nhau, chỉ
vì ngã kiến mà cưỡng cho là có ngã.
Lại
nữa, suy nghĩ đồ ăn này do đào bới cày bừa thu hoạch,
xay, giả, đào thải, thổi nấu mới thành, dụng công rất
nặng. Tính ra một bát cơm so với công sức mồ hôi của nông
phu góp lại thì đồ ăn ít mà mồ hôi nhiều, làm ra đồ
ăn này công phu cay đắng nặng nề như vậy, mà ăn vào miệng
thì liền thành bất tịnh, không chút giá trị, trải qua một
đêm đã biến thành phân nước dãi. Vốn là đồ ngon mà người
ăn vào biến thành bất tịnh, gớm không muốn thấy. Hành
giả tự suy nghĩ: đồ ăn tệ như vậy, nếu ta tham đắm thì
sẽ đọa địa ngục, nuốt hoàn sắt nóng, từ địa ngục
ra khỏi sẽ làm súc sanh trâu, dê, lạc đà, đền trả nợ
cũ, hoặc làm chó heo, thường ăn đồ nhơ. Quán đồ ăn như
vậy thời sanh tư tưởng nhàm chán. Nhân nhàm chán đồ ăn
mà đối năm dục đều nhàm chán, ví như một người Bà-la-môn
tu pháp tinh khiết, có duyên sự đi đến một nước bất tịnh,
tự suy nghĩ ta sẽ làm sao để khỏi thứ bất tịnh này, chỉ
phải ăn đồ khô, mới thanh tịnh được. Thấy một bà già
bán thứ bánh khô tủy trắng, liền nói với bà già rằng:
Tôi có duyên sự ở đây một trăm ngày, bà hãy làm thứ bánh
khô này đem cho tôi, tôi sẽ trả giá nhiều. Bà già mỗi ngày
làm bánh khô đem đến, Bà-la-môn tham đắm, ăn no hoan hỷ.
Bà già làm bánh, lúc đầu trắng sạch, lần về sau không
màu sắc, không hương vị. Bà-la-môn hỏi bà già tại sao như
vậy? Bà già đáp: Nhọt lở đã lành. Bà-la-môn hỏi: Câu
nói ấy nghĩa sao? Bà già đáp: Phu nhân tôi ở chỗ khuất
sanh mụt nhọt, lấy bột gạo vảng sữa đắp vào, mụt nhọt
chín vỡ mủ ra, đem hòa với bánh váng sữa, cứ mỗi ngày
như vậy, lấy làm bánh đem cho ông, vì vậy mà bánh ngon. Nay
phu nhân tôi đã lành mụt, tôi còn biết chỗ nào có được
nữa?
Bà-la-môn
nghe xong, nắm hai tay đánh đầu, đấm ngực nôn khan nói, tại
sao ta phá hỏng pháp thanh tịnh này? Thôi ta hỏng mất rồi!
Liền bỏ duyên sự trở về nước cũ. Hành giả cũng như
vậy, tham đắm ăn uống, hoan hỷ ưa thích, chỉ thấy màu
sắc nó đẹp, mịn trơn, thơm ngon khoái miệng, mà chẳng quán
sát bất tịnh, sau chịu khổ báo, hối tiếc làm sao kịp.
Nếu hay quán xét đồ ăn gốc ngọn như vậy, sanh tâm chán
ghét, nhân đó lìa thực dục mà bốn dục kia đều lìa (tài
dục, sắc dục, danh dục, thụy dục). Lìa bỏ mọi dục lạc
trong cõi Dục, dứt năm dục ấy, thì năm hạ phần kiết cũng
dứt. Do các nhân duyên tội ác như vậy, không còn ưa đắm;
ấy gọi là thực yểm tưởng.
Hỏi:
Vô thường, khổ, vô ngã tưởng tương ưng với trí tuệ vô
lậu, còn bốn tưởng kế tiếp như thực yểm tưởng... tương
ưng với trí tuệ hữu lậu, theo lẽ thứ lớp thì bốn tưởng
này nên nói ở trước chứ tại sao nói ở sau?
Ðáp:
Phật pháp có hai đạo là kiến đạo và tu đạo. Trong kiến
đạo dùng ba tưởng, phá các tà kiến, đắc thánh quả, vẫn
chưa lìa dục. Vì lìa dục nên sau ba tưởng tiếp nói bốn
tưởng là thực yểm tưởng... thời lìa được các phiền
não dâm dục... ba tưởng đầu chỉ thị kiến đế đạo,
bốn tưởng giữa chỉ thị học đạo, ba tưởng chót chỉ
thị vô học đạo. Trong khi bắt đầu tu tập thân niệm xứ,
tuy có thực yểm tưởng, song công dụng ít, cho nên Phật không
dạy. Nay vì bậc Tu-đa-hoàn, Tư-đà-hàm cần phải vượt qua
tham dục, nên tiếp theo vô ngã tưởng nói đến bốn tưởng
là thực yểm tưởng...
Hết
thảy thế gian không thể vui tưởng: Nếu nhớ nghĩ các sự
vui của thế gian như sắc dục, vị ngon, xe ngựa, phục sức,
quán xá, vườn nhà thời sanh lạc tưởng; nếu nhớ nghĩ các
sự ác tội của thế gian thời tâm sanh tưởng nhàm chán.
Các việc ác tội gì? Việc ác có hai: 1. Chúng sanh. 2. Thổ
địa.
Chúng
sanh: bị hoạn nạn về tám khổ là sanh, già, bệnh, chết,
ân ái xa lìa, oán thù gặp gỡ, cầu mong không được, tóm
lại là năm thọ uẩn khổ.
Tội
của chúng sanh là người dâm dục nhiều thì không phân biệt
tốt xấu, không theo lời dạy bảo của cha mẹ sư trưởng,
không biết tàm quý, chẳng khác cầm thú. Người sân nhuế
nhiều thì không phân biệt nhẹ nặng, sân độc cuồng phát,
cho đến không chịu lời Phật, không muốn nghe pháp, không
sợ ác đạo, roi gậy đánh bừa, chẳng biết cái khổ của
người khác, đi vào trong chỗ rất tối không trông thấy gì.
Người ngu si nhiều thì sự mong cầu không theo đạo lý, không
rõ sự duyên, như vắt sừng tìm sữa, bị vô minh che lấp,
tuy mặt trời chiếu sáng mà vĩnh viễn không thấy gì. Người
xan tham nhiều thì nhà nó như mồ hoang, không ai bước tới.
Người kiêu mạn nhiều thì không kính hiền thánh, không hiếu
với cha mẹ, kiêu xa phóng dật tự bại hoại, vĩnh viễn không
chút giá trị. Người tà kiến nhiều thì không tin đời này
đời sau, không tin tội phước, không thể ở chung. Các phiền
não như vậy nhiều thì tệ bại không có chút giá trị. Người
ác nghiệp nhiều thì tạo tội vô gián hoặc giết cha mẹ,
hoặc làm thương hại hiền thánh, đón bắt thời cơ vinh quý,
dèm pha làm hại kẻ trung trinh, giết hại thân thích.
Lại
nữa, chúng sanh ở thế gian người lành tốt ít, kẻ tệ ác
nhiều, hoặc tuy có người hành thiện mà bị nghèo hèn bỉ
lậu, hoặc tuy giàu sang đoan chánh mà sở hành bất thiện.
Hoặc tuy ưa bố thí mà nghèo thiếu không tài vật, hoặc tuy
giàu có tài bảo mà lẫn tiếc tham đắm, không chịu bố thí.
Hoặc thấy người trầm lặng suy nghĩ không nói, bèn cho đó
là tự nuôi tánh kiêu mạn cao ngạo, không biết hạ mình tiếp
vật, hoặc thấy người ưa hạ mình tiếp vật, ân huệ nhuần
khắp, bèn cho đó là trang sức dối trá dua nịnh, hoặc thấy
người nói hay luận giỏi, bèn cho đó là ỷ thị tiểu trí
để kiêu mạn; hoặc thấy người chất trực thiện hảo,
bèn cùng dối trá bắt ép, dẫn dắt lôi kéo lấn lướt coi
thường, hoặc thấy người tâm lành nhu nhuyến, bèn cùng khinh
khi lấn lướt chà đạp, không tiếp đãi theo đạo lý. Nếu
thấy người giữ giới thanh tịnh, bèn cho đó là làm việc
kiêu căng kỳ dị, khinh hèn không kể. Các chúng sanh tệ ác
như vậy, không có một điều đáng ưa.
Thổ
địa ác: Hết thảy thổ địa nhiều suy hoại không lành tốt.
Lạnh nóng đói khát, tật bệnh ôn dịch, khí độc xâm hại,
sợ hãi già, bệnh, chết không chỗ nào không có. Chỗ nào
thân đi đến đều có các khổ đi theo, không nơi nào tránh
khỏi. Tuy có quốc độ tốt, giàu vui an ổn, phần nhiều bị
các phiền não bức bách, thời không thể gọi là quốc độ
an lạc. Hết thảy đều có hai thứ khổ là thân khổ và tâm
khổ. Không quốc độ nào không có, như nói:
“Có
quốc độ lạnh nhiều,
Có
quốc độ nóng nhiều,
Có
nước không cứu hộ,
Có
nước nhiều tai ác,
Có
nước thường đói khát,
Có
nước nhiều bệnh tật,
Có
nước không tu phước,
Như
vậy không đâu vui”.
Chúng
sanh và thổ địa có các ác như vậy, suy nghĩ đến thế gian
không một điều chi đáng vui. Aùc sự ở cõi Dục như vậy,
còn ở hai cõi trên, khi chết, khi thối đọa, càng sanh áo
não hơn ở cõi dưới, ví như bị rơi từ chỗ rất cao, tan
nát tiêu hoại!
Hỏi:
Vô thường tưởng, khổ tưởng, vô ngã tưởng, và hết thảy
thế gian bất khả lạc tưởng, có gì sai khác mà nói riêng?
Ðáp:
Có hai cách quán là quán chung và quán riêng. Trước là quán
chung, đây là quán riêng. Lại có hai quán là quán pháp và
quán chúng sanh, trước là quán trách mắng hết thảy pháp,
đây là quán chúng sanh tội ác chẳng đồng.
Lại
nữa trước kia là vô lậu đạo, đây là hữu lậu đạo.
Trước là kiến đế đạo, đây là tư duy đạo. Các thứ
sai khác như vậy, nhiếp vào trong hết thảy địa, và duyên
các pháp trong ba cõi. Aáy gọi là hết thảy thế gian bất
khả lạc tưởng.
Tử
tưởng: Như đã nói ở trong đoạn nói về niệm chết.
Bất
tịnh tưởng: Như đã nói ở trong đoạn nói về thân niệm
xứ.
Ðoạn
tưởng, ly tưởng, tận tưởng: Duyên tướng Niết-bàn, vì
đã dứt các kiết sử nên gọi là đoạn tưởng, vì lìa kiết
sử nên gọi là ly tưởng, vì sạch hết kiết sử nên gọi
là tận tưởng.
Hỏi:
Nếu như vậy thì một tưởng cũng đủ, vì cớ sao nói ba?
Ðáp:
Như trước, một pháp mà có ba cách nói. Vô thường tức là
khổ, khổ tức là vô ngã, đây cũng như vậy. Vì hết thảy
thế gian tội ác sâu nặng cho nên có ba cách trách mắng, giống
như đốn cây to, không thể chặt một lát mà dứt được.
Pháp Niết-bàn vi diệu, từ xưa chưa chứng được cho nên
tán thán nhiều cách gọi là đoạn tưởng, ly tưởng, tận
tưởng.
Lại
nữa, dứt ba độc gọi là đoạn, lìa ái gọi là ly, diệt
hết thảy khổ không còn sanh lại nữa gọi là tận.
Lại
nữa, hành giả ở nơi noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế
đệ nhất pháp, chánh trí tuệ quán sát, xa lìa các phiền
não, ấy gọi là ly tưởng. Chứng đắc vô lậu đạo, dứt
các kiết sử, ấy gọi là đoạn tưởng, khi vào Niết-bàn
dứt năm thọ uẩn, không còn tương tục, ấy gọi là tận
tưởng. Ðoạn tưởng, hữu dư Niết-bàn; tận tưởng, vô
dư Niết-bàn; ly tưởng, là cửa phương tiện của hai Niết-bàn.
Ba tưởng này vì là hữu lậu vô lậu nên nhiếp vào trong
hết thảy địa.
Chương
35
Giải
Thích: Mười Một Trí
Kinh:
Mười một trí là pháp trí, tỷ trí, tha tâm trí, thế trí,
khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí, tận trí, vô sanh
trí, như thật trí.
Luận.
Pháp trí: Trí vô lậu đối với pháp khổ hệ thuộc cõi Dục
(khổ), trí vô lậu đối với pháp nhân hệ thuộc cõi Dục
(tập), trí vô lậu đối với pháp diệt hệ thuộc cõi Dục
(diệt), trí vô lậu đối với đạo đoạn dứt hệ thuộc
cõi Dục (đạo) và trí vô lậu trong pháp trí phẩm.
Tỷ
trí: Trí vô lậu đối với pháp khổ, tập, diệt, đạo hệ
thuộc cõi Sắc cõi Vô sắc, cũng như vậy.
Tha
tâm trí: Trí biết tâm tâm số pháp hiện tại của người
khác hệ thuộc cõi Dục cõi Sắc và một phần tâm tâm số
pháp vô lậu.
Thế
trí: Các trí tuệ hữu lậu.
Khổ
trí: Năm thọ uẩn vô thường, khổ, không, vô ngã, khi quán
thời được vô lậu trí.
Tập
trí: Nhân của pháp hữu lậu có bốn tướng là nhân, tập,
sanh, duyên, khi quán thời được vô lậu trí.
Diệt
trí: Bốn tướng diệt, chỉ, diệu, xuất, khi quán thời được
vô lậu trí.
Ðạo
trí: Bốn tướng đạo, chánh, hành, đạt (hay đạo, như, hành,
xuất) khi quán thời được vô lậu trí.
Tận
trí: Ta đã thấy khổ, đã đoạn tập, đã chứng diệt, đã
tu đạo. Khi ngớ nghĩ như vậy được trí vô lậu là tuệ,
kiến, minh, giác.
Vô
sanh trí: Ta đã thấy khổ không còn thấy nữa, ta đã đoạn
tập không còn đoạn nữa, ta đã chứng diệt không còn chứng
nữa, ta đã tu đạo không còn tu nữa. Khi nhớ nghĩ như vậy,
được trí vô lậu là tuệ, kiến, minh, giác.
Như
thật trí: Như thật biết đúng tướng chung tướng riêng của
hết thảy pháp, không có quái ngại.
Pháp
trí này duyên pháp khổ hệ thuộc cõi Dục và pháp tập hệ
thuộc cõi Dục, pháp diệt hệ thuộc cõi Dục, và pháp đạo
đoạn diệt hệ thuộc cõi Dục. Tỷ trí cũng như vậy. Thế
trí duyên hết thảy pháp. Tha tâm trí duyên tâm tâm số pháp
hữu lậu vô lậu của người khác. Khổ trí, tập trí duyên
năm thọ uẩn. Diệt trí duyên tận diệt. Ðạo trí duyên năm
uẩn vô lậu. Tận trí, vô sanh trí đều duyên bốn đế.
Mười
trí ấy, một hữu lậu, tám vô lậu. Còn một tha tâm trí
thì nên phân biệt: nếu duyên tha tâm hữu lậu là hữu lậu,
duyên tha tâm vô lậu là vô lậu.
Pháp
trí thì thu nhiếp cả pháp trí, tha tâm trí, khổ trí, tập
trí, diệt trí, đạo trí, tận trí và một phần ít vô sanh
trí. Tỷ trí cũng như vậy. Thế trí thì thu nhiếp thế trí
và một phần ít tha tâm trí. Tha tâm trí thì thu nhiếp tha
tâm trí và pháp trí, tỷ trí, thế trí, đạo trí, tận trí
và một ít vô sanh trí. Khổ trí thì thu nhiếp khổ trí và
pháp trí, tỷ trí, tận trí, một phần ít vô sanh trí. Tập
trí, diệt trí cũng như vậy. Ðạo trí thì thu nhiếp đạo
trí và pháp trí, tỷ trí, tha tâm trí, tận trí, một phần
ít vô sanh trí. Tận trí thì thu nhiếp tận trí và pháp trí,
tỷ trí, tha tâm trí, khổ trí, tập trí, diệt trí, một phần
ít đạo trí. Vô sanh trí cũng như vậy.
Chín
trí tương ưng với tám căn (Ý, hỷ, lạc, xả, tín, tấn,
niệm, định căn) trừ tuệ căn, ưu căn, khổ căn. Thế trí
tương ưng với 10 căn (ý, hỷ, lạc, ưu, khổ, xả, tín, tấn,
niệm, định) trừ tuệ căn.
Pháp
trí, tỷ trí, khổ trí tương ưng với Không tam- muội. Pháp
trí, tỷ trí, diệt trí, tận trí, vô sanh trí tương ưng với
Vô tướng tam-muội.
Pháp
trí, tỷ trí, tha tâm trí, khổ trí, tập trí, đạo trí, tận
trí, vô sanh trí tương ưng với Vô tác tam-muội.
Pháp
trí, tỷ trí, thế trí, khổ trí, tận trí, vô sanh trí tương
ưng với vô thường tưởng, khổ tưởng, vô ngã tưởng.
Thế
trí tương ưng với bốn tưởng giữa.
Pháp
trí, tỷ trí, diệt trí, tận trí, vô sanh trí tương ưng với
ba tưởng sau cùng.
Có
người nói: Thế trí hoặc tương ưng với ly tưởng. Pháp
trí duyên chín trí, trừ tỷ trí. Tỷ trí cũng như vậy. Thế
trí, tha tâm trí, tận trí, vô sanh trí duyên mười trí. Khổ
trí, tập trí, duyên thế trí và tha tâm trí hữu lậu. Diệt
trí không duyên trí. Ðạo trí duyên chín trí, trứ thế trí.
Pháp trí, tỷ trí có đủ mười sáu hành tướng, tha tâm trí
có bốn hành tướng. Khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí
mỗi mỗi có bốn hành tướng. Tận trí, vô sanh trí đều
có mười bốn hành tướng, trừ tướng không, tướng vô ngã.
Trong noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế trí có mười
sáu hành tướng, trong thế đệ nhất pháp, thế trí có bốn
tưởng, ngoài ra không có tướng (là quán tướng. Mười sáu
hành tướng cũng gọi là mười sáu thánh hạnh, mười sáu
hạnh).
Mới
bắt đầu vào vô lậu tâm thành tựu một thế trí; qua tâm
thứ hai tăng thêm khổ trí, pháp trí. Ðến tâm thứ tư tăng
thêm tỷ trí; đến tâm thứ sáu tăng thêm tập trí; đến
tâm thứ mười tăng thêm diệt trí; đến tâm thứ mười bốn
tăng thêm đạo trí; nếu lìa dục thì tăng thêm tha tâm trí;
ở vô học đạo thì tăng thêm tận trí; được bất hoại
giải thoát thì tăng thêm vô sanh trí.
Trong
vô lậu tâm đầu không tu trí; trong tâm thứ hai thời hiện
tại và vị lai tu hai trí; trong tâm thứ tư, hiện tại tu hai
trí, vị lai tu ba trí; trong tâm thứ sáu hiện tại và vị
lai tu hai trí; trong tâm thứ tám hiện tại tu hai trí; vị lai
tu ba trí; trong tâm thứ mười hiện tại vị lai tu hai trí;
trong tâm thứ mười hai hiện tại tu hai trí; vị lai tu ba trí;
trong tâm thứ mười bốn hiện tại và vị lai tu hai trí; trong
tâm thứ mười sáu hiện tại tu hai trí, vị lai tu sáu trí;
nếu lìa dục thời tu bảy trí. Tu-đà-hoàn muốn xa lìa kiết
sử cõi Dục, trong mười bảy tâm tu bảy trí; trừ tha tâm
trí, tận trí, vô sanh trí; trong tâm giải thoát thứ chín tu
tám trí, trừ tận trí, vô sanh trí; người ở địa vị tín
giải chuyển được địa vị kiến đắc ở trong vô gián
và giải thoát đạo tu sáu trí, trừ tha tâm trí, thế trí,
tận trí, vô sanh trí; trong khi lìa dục của bảy địa, trong
vô gián đạo tu bảy trí, trừ tha tâm trí, tận trí, vô sanh
trí; trong giải thoát đạo tu tám trí, trừ tận trí, vô sanh
trí. Trong khi lìa dục của cõi Hữu đảnh, trong vô gián đạo
tu sáu trí, trừ tha tâm trí, thế trí, tận trí, vô sanh trí;
trong tám giải thoát đạo tu bảy trí, trừ thế trí, tận
trí, vô sanh trí; người vô học sơ tâm ở giải thoát đạo
thứ chín, và bất thời giải thoát tu mười trí và hết thảy
thiện căn hữu lậu vô lậu. Nếu người được thời giải
thoát thì tu chín thí và hết thảy thiện căn hữu lậu vô
lậu.
Các
loại như vậy như ở trong môn A-tỳ-đàm có phận biệt nói
rộng. Tướng phân biệt theo như thật trí sẽ được nói
rộng ở phẩm chót của kinh Bát-nhã ba-la-mật này.
Lại
nữa, có người nói: Pháp trí là biết năm uẩn ở cõi dục
là vô thường, khổ, không, vô ngã, biết các pháp do nhân
duyên hòa hợp sanh, đó là vô minh làm duyên cho hành, cho đến
sanh làm duyên cho già chết, như Phật dạy Phạm-chí Tu-thi-ma
rằng: Trước dùng pháp trí phân biệt các pháp, sau dùng Niết-bàn
trí.
Tỷ
trí thì biết năm thọ uẩn hiện tại, là vô thường, khổ,
không, vô ngã và biết năm thọ uẩn quá khứ, vị lai, và
trong cõi Sắc cõi Vô sắc là vô thường, khổ, không, vô ngã
cũng như vậy; ví như thấy lửa hiện tại hay đốt mà so
sánh biết lửa ở quá khứ, vị lai và ở quốc độ khác
cũng như vậy.
Tha
tâm trí thì biết tâm tâm số pháp của chúng sanh khác.
Hỏi:
Nếu biết cả tâm và tâm số pháp của người khác, cớ sao
chỉ nói là biết tha tâm?
Ðáp:
Tâm là chủ nên chỉ nói biết tha tâm. Nếu nói tâm nên biết
đã nói tâm số pháp trong đó.
Thế
trí là giả trí, thánh nhân biết thật pháp, còn phàm phu chỉ
biết giả danh, vì vậy nên gọi là giả trí, như nóc, đòn
tay, cột, vách gọi là nhà, chỉ biết việc như vậy, chẳng
biết nghĩa thật; ấy gọi là thế trí.
Khổ
trí là dùng khổ tuệ quở mắng năm thọ uẩn.
Hỏi:
Năm thọ uẩn cũng vô thường, cũng khổ, cũng không, cũng
vô ngã, cớ sao chỉ nói khổ trí mà không nói vô thường,
không, vô ngã trí?
Ðáp:
Vì là khổ đế cho nên nói khổ trí, tập đế cho nên nói
tập trí, diệt đế cho nên nói diệt trí, đạo đế cho nên
nói đạo trí.
Hỏi:
Năm thọ uẩn có đủ thứ xấu ác cớ sao chỉ nói nó là
khổ đế, không nói nó là vô thường đế, không, vô ngã
đế?
Ðáp:
Nếu nói nó là vô thường, không, vô ngã đế cũng không phá
hoại pháp tướng; song vì chúng sanh phần nhiều đắm vui,
sợ khổ cho nên Phật chê thế gian hết thảy đều khổ, để
khiến lìa bỏ. Ðối với vô thường, không, vô ngã, chúng
sanh không sợ lắm cho nên Phật không dạy.
Lại
nữa, trong phật pháp năm thọ uẩn còn có tên khác gọi là
khổ (ngũ ấm xí thạnh khổ) vì vậy chỉ nói khổ là khổ
trí. Hoặc hữu lậu hoặc vô lậu, nếu ở tại noãn pháp,
đảnh pháp, nhẫn pháp, thế gian đệ nhất pháp là hữu lậu,
nếu nhập vào kiến đế đạo, là vô lậu, vì cớ sao? Vì
từ noãn pháp đến thế gian đệ nhất pháp có bốn cách quán
khổ. Tập trí, diệt trí, đạo trí cũng như vậy.
Lại
nữa, khổ trí là biết khổ tướng thật không sanh, tập trí
là biết hết thảy pháp lìa nhau, không có hòa hợp, diệt
trí là biết các pháp thường tịch diệt như Niết-bàn, đạo
trí là biết hết thảy pháp thường thanh tịnh, không chánh
không tà; tận trí là biết hết thảy pháp không gì có được,
vô sanh trí là biết hết thảy pháp sanh không thật, không
nhất định nên không sanh. Như thật trí là điều mười trí
kia không biết được, nhờ như thật trí biết được.
Mười
trí có mỗi mỗi tướng, mỗi mỗi duyên, mỗi mỗi sai khác,
mỗi mỗi có quán pháp `riêng, còn trong như thật trí thì không
tướng, không duyên, không sai khác, diệt hết các quán pháp,
cũng không có tâm năng quán. Trong mười trí có pháp nhãn,
tuệ nhãn, trong như thật trí chỉ có Phật nhãn.
Mười
trí thì A-la-hán, Bích-chi Phật và Bồ-tát chung có, còn như
thật trí chỉ riêng Phật có, vì cớ sao? Vì chỉ riêng Phật
có pháp không hư dối, nên biết như thật trí chỉ riêng Phật
có.
Lại
nữa, mười trí khi nhập vào như thật trí thì mất tên gọi
cũ, chỉ còn một thật trí, ví như các dòng nước ở mười
phương đều vào biển cả, bỏ tên gọi cũ, mà chỉ gọi
là nước biển. Như vậy là phân biệt lý nghĩa mười một
trí. Ðây là nói lược.
Kinh:
Ba tam-muội: Tam-muội có giác có quán; tam-muội không có quán;
tam-muội không giác không quán.
Luận:
Hết thảy thiền định nhiếp tâm, đều gọi là Tam-ma-đề.
Trung hoa dịch là Chánh tâm hành xứ (chỗ của chánh tâm đi).
Tâm này từ vô thỉ lại đây, thường quanh co không ngay thẳng,
khi được chỗ chánh tâm đi này thời tâm ngay thẳng, ví như
rắn đi thường cong queo mà khi vào ống tre thời thẳng.
Ba
tam-muội này, ở Dục giới Vị đáo địa và Sơ thiền, thì
tương ưng với giác và quán, nên gọi là có giác có quán.
Ơû thiền trung gian, chỉ tương ưng với quán nên gọi là
không giác có quán; từ đệ Nhị thiền lên đến Hữu đảnh
địa, chẳng tương ưng với giác quán, cho nên gọi là không
giác không quán.
Hỏi:
Tâm số pháp tương ưng với tam-muội có đến hai mươi thứ,
cớ sao đây chỉ nói giác và quán?
Ðáp:
Vì giác quán ấy làm nhiễu loạn tam-muội, cho nên nói hai
sự giác quán tuy là lành, nhưng là giặc của tam-muội, khó
có thể lìa bỏ.
Có
người nói: Tâm có giác quán là không có tam-muội, cho nên
Phật nói tam-muội có giác có quán, chỉ không bền chắc thôi.
Khi sức giác quán bé nhỏ là có thể được có tam-muội;
giác quán ấy có thể sanh tam-muội cũng có thể hoại tam-muội;
ví như gió hay sanh mưa mà cũng có thể làm tan mưa. Ba thứ
giác quán lành có thể phát sanh Sơ thiền, khi được Sơ thiền
phát sanh hoan hỷ lớn, mà vì giác quán nên tâm tán loạn,
trở lại bị mất, vì lẽ đó nên chỉ nói đến giác quán.
Hỏi:
Giữa giác và quán có gì sai khác?
Ðáp:
Tướng trạng tâm thô gọi là giác, tướng trạng tâm tế
gọi là quán. Tướng trạng tâm phát khởi trong khi mới duyên
cảnh là giác, tiếp sau phân biệt trù lượng tốt xấu là
quán.
Có
ba thứ giác thô là giác tham dục, giác sân hận, giác não
hại. Có ba thứ giác lành là giác ra khỏi, giác không sân
hận, giác không não hại. Có ba thứ giác tế là giác về
bà con, giác về quốc độ, giác về không chết. Trong đó
sáu thứ giác làm chướng ngại tam-muội, ba thứ lành có thể
mở cửa tam-muội, nếu giác quán quá nhiều thì trở lại
làm mất tam-muội; như gió có thể đẩy thuyền, mà gió quá
thì làm hư thuyền. Như vậy là các cách phân biệt giác quán.
Hỏi:
Kinh nói ba pháp là pháp có giác có quán, pháp không giác có
quán, pháp không giác không quán. Ðịa vị có giác có quán,
địa vị không giác có quán, địa vị không giác không quán,
sao nay chỉ nói ba thứ tam-muội?
Ðáp:
Khéo, hay mà dùng được thì lấy.
Pháp
có giác có quán, là pháp tương ưng với giác quán ở tại
Dục giới, Vị đáo địa và Sơ thiền, hoặc thiện, hoặc
bất thiện, hoặc vô ký.
Pháp
không giác không quán, là pháp tương ưng với quán ở tại
thiền trung gian (ở giữa Sơ thiền và Nhị thiền) hoặc thiện,
hoặc vô ký.
Pháp
không giác không quán, là pháp lìa hết thảy giác quán, hết
thảy sắc tâm bất tương ưng hành và pháp vô vi.
Ðịa
vị có giác có quán là Dục giới, Vị đáo địa và Phạm
thế (Sơ thiền Phạm thiên). Ðịa vị không giác có quán là
thiền trung gian, khéo tu thì làm vua Ðại phạm ở địa vị
này.
Ðịa
vị không giác không quán là hết thảy cõi trời Quang-âm,
hết thảy cõi trời Biến-tịnh, trời Quảng-quả (Vô tưởng),
hết thảy cõi trời Vô sắc. Trong đây thượng diệu là pháp
tam-muội.
Những
tam-muội gì? Từ không, vô tướng, vô tác ba tam-muội cho đến
Kim cang, các tam-muội của A-la-hán, Bích-chi Phật, tam-muội
quán mười phương Phật, cho đến tam-muội Thủ-lăng-nghiêm,
từ tam-muội đoạn tất cả nghi cho đến tam-muội của chư
Phật như Tam-muội vương tam-muội... Các cách phân biệt như
vậy, đã lược nói nghĩa của ba tam-muội.
Kinh:
Ba căn là căn chưa biết muốn biết, căn biết, căn đã biết.
Luận:
“Căn chưa biết muốn biết” là chín căn vô lậu hòa hợp.
Người pháp hành ở trong kiến đế đạo gọi là căn chưa
biết muốn biết, gồm chín căn vô lậu là năm căn tín, tấn,
niệm, định, tuệ và hỷ, lạc, xả căn, ý căn. Người tín
giải và kiến đắc ở trong tư duy đạo thì chín căn này
chuyển thành “căn biết”. Ơû trong vô học đạo thì chín
căn này gọi là “căn đã biết”.
Hỏi:
Tại sao trong hai mươi hai căn chỉ chọn lấy ba căn ấy? (22
căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, nam căn, nữ căn, mạng
căn, ưu, khổ, hỷ, lạc, xả căn, ý căn, tín, tấn, niệm,
định, tuệ căn, căn chưa biết muốn biết, căn biết, căn
đã biết – ND).
Ðáp:
Có tướng trạng lanh lợi hiểu biết rõ ràng tự tại gọi
là căn. Mười chín căn kia vì căn tướng không đầy đủ,
nên không lấy, còn ba căn này lanh lợi, có thể vào thẳng
đến Niết-bàn, là chủ trong các pháp hữu vi, được tự
tại, hơn các căn kia.
Lại
nữa, mười căn đầu chỉ là hữu lậu tự được, không
có lợi ích, chín căn giữa thì bất định hoặc hữu lậu
hoặc vô lậu, cho nên không nói Bồ-tát phải đầy đủ các
căn đó.
Hỏi:
Mười tưởng trên kia cũng là hữu lậu vô lậu, cớ sao nói
phải đầy đủ?
Ðáp:
Mười tưởng đều là pháp trợ đạo để cầu Niết-bàn.
Còn năm căn tín... tuy là thiện pháp, nhưng không phải đều
để cầu Niết-bàn, như trong A-tỳ-đàm nói: Ai thành tựu
tín căn... là người không đoạn thiện căn.
Lại
nữa, nếu năm năm thanh tịnh thời đã biến thành vô lậu
và đã nhiếp vào trong ba căn vô lậu rồi. Trong ba căn này
chắc có ý căn, trong ba thọ (khổ, lạc, xả) chắc có một
thọ. Vì vậy nên chỉ nói ba căn.
Lại
nữa, hai mươi hai căn có thiện có bất thiện, có vô ký lẫn
lộn, cho nên không nói phải đầy đủ. Ba căn này nhiếp vào
thọ uẩn, hành uẩn, thức uẩn. “Căn chưa biết muốn biết”
ở tại sáu địa, “căn biết, căn đã biết” ở tại chín
địa. Ba căn duyên bốn đế, tương ứng với sáu tưởng.
Căn chưa biết muốn biết làm nhân cho ba căn; căn biết làm
nhân cho hai căn; căn đã biết chỉ làm nhân cho căn đã biết.
Căn chưa biết muốn biết thứ lớp sanh hai căn; căn biết
thứ lớp hoặc sanh căn hữu lậu, hoặc sanh căn biết, hoặc
sanh căn đã biết; căn đã biết hoặc sanh hữu lậu, hoặc
sanh căn đã biết. Như vậy là theo môn A-tỳ-đàm phân biệt
nói rộng.
Lại
nữa, căn chưa biết muốn biết là đối với thật tướng
các pháp, vì chưa biết muốn biết nên sanh năm căn tín...
sức của năm căn này có thể biết được thật tướng các
pháp, như người khi mới vào bào thai, có được hai căn là
thân căn và mạng căn. Bấy giờ như cục thịt, chưa đủ
các căn, chưa thể biết được gì. Khi năm căn thành tựu
mới biết được năm trần. Bồ-tát cũng như vậy, khi mới
phát tâm muốn làm Phật, chưa đầy đủ năm căn ấy, tuy có
nguyện muốn biết thật tướng các pháp, nhưng không thể
biết được. Bồ-tát khi phát sanh năm căn tín... thời có
thể biết thật tướng các pháp, như con mắt, do bốn đại
và bốn đại tạo sắc hòa hợp gọi là mất, lúc đầu tuy
có bốn đại, bốn đại tạo sắc mà vì chưa thanh tịnh nên
không gọi là nhãn căn. Người không dứt thiện căn, tuy có
tín mà chưa thanh tịnh nên không gọi là căn.
Nếu
Bồ-tát được năm căn tín... thời bấy giờ có thể tin các
pháp tướng là bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, phi
hữu phi vô, phi thủ, phi xả, chân tịnh như hư không, không
thể chỉ, không thể nói, vượt qua mọi thứ ngôn ngữ, ra
ngoài hết thảy tâm tâm số pháp, sở hành như Niết-bàn;
ấy là Phật pháp.
Bồ-tát
do sức tín căn nên hay lãnh thọ; do sức tinh tấn căn nên
siêng tu không thối chuyển; do sức niệm căn nên không để
cho pháp bất thiện xen vào, thu nhiếp các pháp thiện; do sức
định căn nên khi tâm tán loạn vào năm dục có thể thu nhiếp
lại vào trong thật tướng; do sức tuệ căn nên đối với
trí tuệ Phật có được nghĩa vị ít nhiều, không thể bị
hư hoại.
Năm
căn nương nơi ý căn, chắc cùng với thọ hoặc hỷ, hoặc
lạc, hoặc xả. Nương căn ấy mà vào Bồ-tát vị, cho đến
khi chưa được quả vị vô sanh pháp nhẫn, ở trong giai đoạn
ấy gọi là căn chưa biết muốn biết. Trong đó biết thật
tướng các pháp rõ ràng nên gọi là biết. Từ đó chứng
được quả vô sanh pháp nhẫn ở địa vị bất thối chuyển,
được thọ ký, cho đến mãn mười địa, ngồi đạo tràng,
được Kim cang tam-muội, ở trong giai đoạn đó gọi là căn
biết. Dứt hết thảy tập khí phiền não, chứng được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, trí tuệ biết khắp hết thảy
pháp khả tri; ấy gọi là căn đã biết.
(Hết
cuốn 23 theo bản Hán)