Tập
2
Cuốn
24
Chương
36
Giải
Thích: Mười Lực
Kinh:
Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát Ma-ha-tát muốn biết khắp mười
lực, bốn không sợ, bốn trí vô ngại, mười tám pháp không
chung, đại từ, đại bi của Phật, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Mười lực, bốn không sợ... là pháp vô thượng của Phật,
lẽ phải nói trước, cớ sao trên đây nói chín tưởng, tám
niệm trước?
Ðáp:
Sáu Ba-la-mật là pháp ứng dụng của Bồ-tát, trước đã
nói. Ba mươi bảy đạo phẩm cho đến ba vô lậu căn, là pháp
của Thanh văn. Bồ-tát thực hành sáu Ba-la-mật đắc lực
rồi muốn vượt qua địa vị Thanh văn, Bích-chi Phật và muốn
giáo hóa hạng người hướng về Thanh văn, Bích-chi Phật khiến
họ vào Phật đạo, cho nên chê trách đó là pháp Tiểu thừa,
bỏ rơi chúng sanh, không có lợi ích. Hoặc các người Thanh
văn nói lại rằng: Oâng là phàm phu, chưa dứt kiết sử, không
thực hành pháp Thanh văn, nên chỉ chê trách suông. Do vậy
Phật bảo Bồ-tát phải đầy đủ ba mươi bảy đạo phẩm
của Thanh văn. Tuy thực hành các pháp này mà vì không có gì
được và vì chúng sanh hành tà hạnh, nên Bồ-tát thực hành
chánh hạnh này mãi mãi không bỏ. Các pháp ấy là không, không
có gì được, nên cũng không mau thủ chứng Niết-bàn. Nếu
Bồ-tát không hiểu không hành pháp Tiểu thừa mà chỉ chê
trách thì ai chịu tin cho; ví như đức Phật Thích-ca Mâu-ni
nếu trước không hành khổ hạnh sáu năm mà chê khổ hạnh
là phi đạo, thời không ai tin thọ. Do vậy, Phật tự hành
khổ hạnh hơn người khác, nên khi thành Phật đạo, chê trách
lối khổ hạnh, thì ai cũng tin chịu. Thế nên tiếp sau sáu
Ba-la-mật nói hành pháp Thanh văn.
Lại
nữa, đây không phải chỉ là pháp Thanh văn, mà trong pháp
này có hòa hợp với ý không bỏ rơi chúng sanh, đầy đủ
hết thảy Phật pháp, do vì có không trí, thấy không có gì
được, nên gọi là pháp Bồ-tát.
Hỏi:
Nếu Bồ-tát đầy đủ ba mươi bảy đạo phẩm, tại sao không
chứng nhập vào địa vị theo pháp Thanh văn?
Ðáp:
Ðầy đủ là đầy đủ quán biết mà không thủ chứng, vì
quán biết rõ ràng nên gọi là đầy đủ, như Phật dạy:
Hết thảy sợ gậy đau, hết thảy đều tiếc mạng, lấy
mình để làm dụ, gậy chớ đánh chúng sanh. Tuy nói hết thảy
sợ gậy đánh, nhưng chúng sanh ở cõi Vô sắc không có thân,
ở cõi Sắc tuy có thân mà không có roi gậy, ở cõi Dục các
đức Phật. Chuyển luân thánh vương, trời Dạ-xoa trở lên,
đều không sợ roi gậy; song vì sợ gặp chỗ roi gậy cho nên
nói “hết thảy”. Nói đầy đủ cũng như vậy, không vì
mong cầu thủ chứng mà đắm trước pháp nên nói là “đầy
đủ”.
Lại
nữa, trước đây tôi nói không bỏ rơi chúng sanh là vì có
không trí bất khả đắc hòa hợp, nên không đọa vào địa
vị Thanh văn.
Hỏi:
Từ sáu Ba-la-mật cho đến ba vô lậu căn chỉ nói phải đầy
đủ; từ đó về sau, cớ sao đều nói muốn được, muốn
biết việc ấy hãy tập hành Bát-nhã ba-la-mật?
Ðáp:
Pháp Thanh văn có lượng có hạn nên nói “phải đầy đủ”,
từ đó trở đi là các Phật pháp, thẳm sâu vô lượng, Bồ-tát
chưa được, nên nói “muốn được việc ấy hãy học Bát-nhã
ba-la-mật”.
Lại
nữa, pháp Thanh văn dễ được dễ biết nên nói “đầy đủ”,
pháp Bồ-tát, pháp Phật khó hiểu khó biết nên nói “hãy
nên học”.
Lại
nữa, tướng tổng quát trong pháp Thanh văn là chỉ biết khổ,
biết nguyên nhân khổ, biết khổ hết, biết đạo hết khổ.
Ví như hai hạng thầy thuốc: hạng thứ nhất chỉ biết bệnh,
biết nguyên nhân bệnh, biết bệnh lành, biết thuốc chữa
lành bệnh, mà không biết tất cả bệnh, không biết tất
cả nguyên nhân bệnh, không biết tất cả bệnh lành, không
biết tất cả thuốc chữa lành bệnh. Hoặc chỉ biết trị
bệnh người, không biết trị bệnh súc sanh. Hoặc chỉ có
thể trị bệnh một quốc độ mà không thể trị bệnh ở
các quốc độ khác; có thể trị vài mươi thứ bệnh, không
thể biết hết 404 bệnh. Ðối với nguyên nhân bệnh, bệnh
lành, thuốc lành bệnh cũng như vậy. Hạng thứ hai, đối
với bốn thứ bệnh, nguyên nhân bệnh, bệnh lành, thuốc lành
bệnh đều khắp biết, khắp biết thuốc, khắp biết bệnh.
Người Thanh văn như thầy thuốc nhỏ, không thể khắp biết,
đại Bồ-tát như thầy thuốc lớn, không bệnh gì không biết,
không thuốc gì không hay. Do vậy nên pháp Thanh văn phải đầy
đủ, pháp Bồ-tát hãy nên học.
Mười
lực của Phật: 1. Trí lực như thật biết có lẽ ấy, không
có lẽ ấy. 2. Trí lực biết các nghiệp, các lãnh thọ, biết
chỗ tạo nghiệp, biết nhân duyên; biết quả báo của chúng
sanh trong quá khứ, vị lai, hiện tại. 3. Trí lực như thật
biết tướng sai biệt các thiền, giải thoát, tam-muội, định,
cấu uế, thanh tịnh. 4. Trí lực như thật biết tướng các
căn cao thấp của chúng sanh. 5. Trí lực biết các thứ dục
lạc của chúng sanh. 6. Trí lực biết vô số tính của thế
gian chúng sanh. 7. Trí lực biết tướng nơi đạt tới của
hết thảy đạo. 8. Trí lực biết tướng chung, nhân duyên
chung các đời trước, một đời, hai đời cho đến trăm ngàn
đời, kiếp ban sơ, tận cùng, ta ở trong chúng sanh kia có họ,
tên, ăn uống, khổ, vui, thọ mạng dài, ngắn như vậy, như
vậy. Chết trong kia sanh trong đây, chết trong đây lại sanh
trong đây, có họ tên, ăn uống, khổ, vui, thọ mạng, dài,
ngắn cũng như vậy. 9. Trí lực Phật có thiên nhãn thanh tịnh
hơn con mắt của trời, người, thấy rõ chúng sanh khi chết
khi sanh, đoan chánh hay xấu xa, hoặc lớn hoặc nhỏ, hoặc
đọa ác đạo, hoặc đọa thiện đạo, nhân duyên thọ báo
như vậy. Các chúng sanh ấy thành tựu thân nghiệp ác, thành
tựu khẩu nghiệp ác, thành tựu ý nghiệp ác; phỉ báng thánh
nhân, tà kiến, thành tựu nghiệp tà kiến, do nhân duyên ấy,
khi thân hoại chết sa vào đường ác, sanh trong địa ngục;
còn các chúng sanh ấy thành tựu thân nghiệp thiện, khẩu
nghiệp thiện, ý nghiệp thiện, không phỉ báng thánh nhân,
chánh kiến, thành tựu nghiệp chánh kiến, do nhân duyên ấy,
khi thân hoại chết, sanh vào đường lành, sanh cõi trời. 10.
Trí lực chư Phật sạch hết lậu hoặc, tâm vô lậu giải
thoát, trí tuệ vô lậu giải thoát, ngay trong hiện tại tự
biết rõ sự thọ sanh của ta đã hết, việc trì giới đã
làm xong, không còn tái sanh đời sau, như thật biết.
Hỏi:
Mười trí lực ấy Bồ-tát chưa được, Thanh văn, Bích-chi
Phật không thể được, nay vì sao nói?
Ðáp:
Người Thanh văn tuy không thể được, nhưng nếu nghe được
công đức mười trí lực này thời liền nghĩ: Phật có công
đức lớn như vậy, nên tự mừng rằng: Chúng ta được thiện
lợi, mong ích không ít, rồi sanh lòng tin thanh tịnh mà vào
đạo, diệt tận khổ. Còn các Bồ-tát nghe được, lo siêng
tu Bồ-tát đạo, để được quả báo đại công đức mười
trí lực như vậy.
Lại
nữa, có hàng Thanh văn và Bồ-tát, tu niệm Phật tam-muội,
không phải chỉ nhớ nghĩ Phật thân, còn phải nhớ nghĩ các
công đức pháp thân của Phật, nên nhớ nghĩ Phật vì hiểu
rõ hết thảy chủng, hết thảy pháp nên gọi bậc Nhất thiết
trí; vì khéo như thật phân biệt nói hết thảy nên gọi là
bậc Thấy hết thảy; vì hiện tiền biết hết thảy pháp
nên gọi là bậc Biết thấy vô ngại; vì tâm bình đẳng đối
với hết thảy chúng sanh nên gọi là bậc Ðại từ bi; vì
có đại từ bi nên gọi là bậc Cứu thế; vì như thật đạo
mà đi đến nên gọi là Như Lai; vì ứng hợp lãnh thọ sự
cúng dường của tất cả thế gian nên gọi là bậc Ứng cúng;
vì thành tựu trí tuệ không điên đảo nên gọi là bậc Chánh
biến tri; vì thành tựu giới định trí tuệ nên gọi là bậc
Minh hạnh túc; vì không trở lại, nên gọi là bậc Thiện
thệ; vì biết tướng chung tướng riêng của thế gian nên
gọi là bậc Thế gian giải; vì khéo nói đạo ra khỏi thế
gian được yên ổn nên gọi là bậc Vô thượng sĩ Ðiều
ngự sư; lấy ba thứ giáo pháp độ chúng sanh nên gọi là
bậc Thiên nhân sư; vì có thể tự giác cũng giác tĩnh người
khác về phiền não ngủ ngầm của hết thảy thế gian nên
gọi là bậc Giác ngộ; vì đầy đủ mọi sở nguyện nên
gọi là bậc Có đức; vì thành tựu mười trí lực nên gọi
là bậc Kiên thệ; vì được bốn điều không sợ nên gọi
là đấng Sư tử trong loài người; vì được trí sâu thẳm
vô lượng nên gọi là Biển đại công đức; vì hết thảy
ký thuyết vô ngại nên gọi là như Gió; vì không yêu ghét
đối mọi sự tốt xấu nên gọi là như Ðất; vì đốt cháy
hết thảy củi kiết sử nên gọi là như Lửa; vì khéo dứt
hết thảy tập khí phiền não nên gọi là đầy đủ Giải
thoát; vì trú xứ tối thượng nên gọi là Thế Tôn. Phật
có các thứ công đức như vậy, cho nên niệm Phật.
Do
vậy, Bồ-tát ma-ha-tát muốn được mười trí lực, bốn điều
không sợ, mười tám pháp không chung của Phật, hãy nên học
Bát-nhã ba-la-mật.
Lại
nữa, Phật trong núi Kỳ-xà-quật ở thành Vương xá, khi nói
Bát-nhã ba-la-mật này, bốn độ chúng của Phật và các ngoại
đạo, tại gia, xuất gia, trời, rồng, quỷ thần... các loại
đại chúng đều tập hội. Phật vào Tam-muội vương tam-muội;
phóng ánh sáng lớn, chiếu khắp thế giới nhiều như cát
sông Hằng, quả đất rung động sáu cách, Phật dạy: Bát-nhã
ba-la-mật, sáu ba-la-mật cho đến ba vô lậu căn này. Trong
đó có chúng sanh nghi vì có lực gì, có bao nhiêu thứ lực
mà có thể làm cho cảm động lợi ích không thể nghĩ nghì
như vậy? Vì Phật biết tâm chúng sanh nghi như vậy, nên nói
Ta có trí lực, biết thật tướng các pháp, trí lực ấy có
mười thứ, dùng mười thứ trí lực ấy nên có thể làm
cho cảm động biến hóa như vậy, cũng có thể làm quá hơn
nữa. Do vậy, nên nói muốn được mười trí lực, hãy nên
học Bát-nhã ba-la-mật.
Lại
nữa, đệ tử Phật đời đời gieo trồng căn lành, mà vì
một ít tội duyên nên đọa vào ngoại đạo. Các ngoại đạo
thường nói Phật không phải thật có lực công đức, mà
đó là lực huyển thuật dối hoặc lòng người. Ðệ tử
Phật đọa vào ngoại đạo tâm sanh nghi, nếu như vậy thì
Phật không phải là đại nhân! Vì muốn dứt lời phỉ báng
ác đó nên Phật dạy: Ta thật có mười trí lực, bốn điều
không sợ, nên độ chúng sanh chứ không phải huyển dối.
Lại
nữa, các Bồ-tát tu Bồ-tát đạo, theo việc khổ hạnh khó
thành tựu muốn giải đãi ngưng bỏ, nên Phật dạy: Thực
hành mười trí lực này, sẽ được quả báo vô lượng; ví
như người chủ buôn ủy dụ các thương nhân rằng: Các ngươi
cẩn thận chớ mệt mõi, hãy tinh cần nỗ lực đi đến được
núi báu, sẽ được bảy báu như ý bảo châu. Phật cũng như
vậy, an ủi các Bồ-tát rằng: Không được mệt mõi nhàm
chán, hãy siêng tinh tấn, tu Bồ-tát đạo, hành mười trí
lực này, sẽ được quả báo vô lượng. Do nhân duyên về
các lợi ích như vậy, nên nói mười lực...
Hỏi:
Phật có vô lượng lực, cớ sao chỉ nói mười lực?
Ðáp:
Phật tuy có vô lượng lực, vì nhân duyên độ người nên
chỉ nói mười trí lực, là đủ để thành việc. Lấy trí
lực biết có lẽ ấy không có lẽ ấy mà phân biệt trù lượng
chúng sanh là có thể độ hay không có thể độ; lấy trí
lực nghiệp báo mà phân biệt trù lượng người ấy có nghiệp
chướng, người ấy có báo chướng, người ấy không có chướng;
lấy trí lực thiền định giải thoát tam-muội mà phân biệt
trù lượng người ấy đắm vị, người ấy không đắm vị;
lấy trí lực thượng hạ căn mà phân biệt trù lượng trí
lực của chúng sanh nhiều hay ít; lấy trí lực chủng chủng
dục mà phân biệt trù lượng chỗ lạc dục của chúng sanh;
lấy trí lực chủng chủng tánh mà phân biệt trù lượng chỗ
thâm tâm hướng đến của chúng sanh; lấy trí lực “chí
xứ đạo” mà phân biệt trù lượng cửa giải thoát của
chúng sanh; lấy trí lực Túc mạng mà phân biệt trù lượng
trước từ đâu đến; lấy trí lực sanh tử mà phân biệt
trù lượng chúng sanh chỗ tốt xấu; lấy trí lực Lậu tận
mà phân biệt trù lượng chúng sanh đắc Niết-bàn.
Phật
dùng mười trí lực ấy để độ thoát chúng sanh, xét kỷ
không lầm, đều được đầy đủ. Do vậy, tuy Phật có vô
lượng lực, mà chỉ nói mười trí lực ấy.
Lại
nữa, trí lực biết có lẽ ấy không có lẽ ấy, quyết định
biết từ nhân duyên ấy sanh ra quả báo ấy; trong đó tổng
nhiếp chín trí lực, vì muốn độ chúng sanh, nên ở trong
trí lực đầu phân biệt ra chín thứ, vì cớ sao? Vì chúng
sanh thế gian này hiện tiền thấy lúa từ giống lúa sanh ra
mà còn không biết được, huống là nhân duyên và quả báo
của tâm tâm số pháp. Phật đối với nhân duyên quả báo
trong ngoài khắp biết rõ ràng, cho nên gọi là lực..
Phật
biết chúng sanh ấy do nghiệp phiền não nên bị trói buộc,
do tịnh thiền định tam-muội giải thoát nên được giải
thoát. Ba thứ nghiệp, các phiền não, nhẹ, nặng, sâu, cạn,
thô tế của chúng sanh trong ba đời, Phật đều biết khắp
cho nên gọi là lực.
Các
thiền định, giải thoát tam-muội và nhân duyên giải thoát
lớn, nhỏ, cạn, sâu của hết thảy chúng sanh, Phật đều
biết khắp cho nên gọi là lực.
Chúng
sanh độn căn vì thân đời sau nên gây nhân duyên tội phước;
người lợi căn thì vì muốn được không tái sanh nên nhóm
các nghiệp, Phật đều biết tướng trạng căn cao, thấp,
tốt, xấu ấy, cho nên gọi là lực.
Biết
các chúng sanh có hai thứ dục lạc làm nhân duyên cho căn cao
thấp. Hai thứ dục lạc lành và dữ khác nhau nhiều thứ,
Phật đều biết khắp cho nên gọi là lực.
Vì
hai thứ dục do hai chủng tánh làm nhân duyên nên biết khắp
chỗ thâm tâm đến đâu của chúng sanh, cho nên gọi là lực.
Hết
thảy chúng sanh do các chủng tánh nên hành hai đạo là thiện
đạo và ác đạo, chỗ đi đến của các pháp môn, Phật đều
biết khắp cho nên gọi là lực.
Nhân
duyên quả báo trong đời quá khứ, vị lai, trí tuệ biết
vô ngại, ấy là trí lực về kiếp trước sống chết. Biết
nhân quả quá khứ, vị lai rồi, rõ biết phương tiện diệt
hoại sự tương tục của nhân duyên quả báo; ấy là trí
lực lậu tận. Phật biết hai thứ nhân duyên trong ba đời,
phân biệt trù lượng căn cơ dục tánh của chúng sanh, vì
làm cho họ dứt hết lậu hoặc mà thuyết pháp, ấy là trí
lực lậu tận.
Hỏi:
Thế nào là lực biết có lẽ ấy, không có lẽ ấy?
Ðáp:
Phật biết định tướng nhân duyên quả báo của hết thảy
pháp. Từ nhân duyên ấy sanh quả báo như vậy, từ nhân duyên
ấy không sanh quả báo như vậy, vì cớ sao? Vì như trong kinh
Ða tánh nói tướng trạng có lẽ ấy không có lẽ ấy.
Như
nữ thân làm Chuyển luân thánh vương không có lẽ ấy; vì
sao? Vì hết thảy nữ nhân đều hệ thuộc nam tử, không được
tự tại. Nữ nhân còn không được làm Chuyển luân thánh
vương huống là làm Phật. Nếu nữ nhân được giải thoát
Niết-bàn cũng nhân nơi nam tử mà được, không có tự nhiên
đắc đạo.
Hai
Chuyển luân thánh vương cũng ra đời một lúc, không có lẽ
ấy; vì sao? Vì không có oán nghiệp. Hai Chuyển luân thánh
vương còn không đồng thời, huống gì hai Phật?
Aùc
nghiệp mà được hưởng quả báo vui, không có lẽ ấy. Aùc
nghiệp còn không thể được cái vui thế gian, huống là cái
vui xuất thế gian. Nếu ác nghiệp mà được sanh lên cõi trời,
không có lẽ ấy. Aùc nghiệp còn không thể được sanh cõi
trời huống gì là được Niết-bàn.
Bị
năm triền cái ngăn che, tâm tán loạn, lìa bỏ việc tu bảy
giác phần mà đắc Niết-bàn, không có lẽ ấy. Bị năm triền
cái ngăn che, tâm tán loạn, lìa bỏ việc tu bảy giác phần
còn không được Thanh văn đạo; huống là Phật đạo. Tâm
không bị che lấp, thì Phật đạo còn có thể được; huống
chi Thanh văn đạo. Các việc có lẽ ấy không có lẽ ấy như
vậy, như Phật đã dạy ở trong kinh Ða tánh. Các luận nghị
sư nương theo lời Phật giảng rộng ý nghĩa “có lẽ ấy,
không có lẽ ấy” như: Nếu nói Phật còn có tội lỗi, khuyết
thất; hoặc các hiền thánh mà cầu học với thầy ngoại
đạo, hoặc các hiền thánh tự nói ta là Phật, hoặc các
hiền thánh mà đọa vào ác đạo, hoặc kiết sử đã bị
dứt nhờ thấy lý Tứ đế mà còn phát sanh lại, hoặc các
hiền thánh còn che dấu tội, hoặc Tu-đà-hoàn mà còn thuộc
trong hai mươi lăm hữu (25 cõi). Tất cả đều không có lẽ
ấy, như phân biệt nói rộng trong mục Hiền thánh.
Người
phạm tội ngũ nghịch, năm hạng người bất hoàn môn (phi
nam, phi nữ) chúng sanh đọa bốn đường ác, người châu Uất-đa-la-việt,
quyến thuộc ma, người bị ba chướng ngăn che. Nếu nói những
người ấy đắc đạo, không có lẽ ấy.
Khinh
người thuyết pháp, khinh pháp, tự khinh, phá giới, ngu si,
nếu nói họ được đầy đủ thiện pháp, thì không có lẽ
ấy.
Tự
nói ta là Phật, đem thân miệng không sám hối mà mong thấy
Phật, hoặc có tội phá Tăng không sám hối mà mong thấy Phật,
tà định vào chánh định, chánh định vào tà định, chánh
định vào bất định, ngoài Phật pháp riêng có người thật
đắc đạo, thân ưng đắc đạo, thân ưng đắc đạo hoặc
bị chết, đều không có lẽ ấy.
Trừ
nhân duyên sanh thức, ra ngoài danh và sắc còn có pháp, không
có lẽ ấy.
Phật
sai sứ giả, việc chưa thành hoặc bị ngăn ngại, không có
lẽ ấy.
Nhập
vào Từ tâm tam-muội mà hoặc do nhân duyên khác làm chết,
nhập vào Diệt tận định, ở trong địa vị Kiến đế đạo
mà hoặc bị chết, đều không có lẽ ấy.
Hoặc
hại Phật và Phật mẫu, không có lẽ ấy.
Con
gái báu, voi báu, vị thần chủ kho tàng, vị thần chủ quân
binh Chuyển luân thánh vương, mà hoặc bị chết ở trong thai,
mẹ con chết yểu, đều không có lẽ ấy.
Người
ở châu Uất-đa-la-việt, nữ bảo, Phật mẫu, mạng chung thân
sau đọa vào đường ác, đều không có lẽ ấy.
Hữu
vi thường, Niết-bàn vô thường, kẻ phàm phu có thể dứt
kiết sử của cõi Phi hữu tưởng phi vô tưởng, tu thánh đạo
trong hết thảy thiền định thủ tướng, vô lậu đạo làm
nhân cho hữu lậu, hoặc đất tướng ướt, nước tướng
cứng, lửa tướng lạnh, gió tướng đứng yên, đều không
có lẽ ấy.
Vô
minh không thể sanh các hành, cho đến sanh không thể sanh già
chết, không có lẽ ấy.
Hai
tâm cùng một lúc phát sanh, năm thức thân có thể phân biệt
thủ tướng, hoặc dính, hoặc lìa, có thể khởi lên thân
nghiệp, khẩu nghiệp, hoặc ngủ, hoặc vào thiền định, đều
không có lẽ ấy.
Chỉ
năm thức tương tục sanh, không sanh ý thức; chỉ năm thức
thân đắm hữu tương tục, chỉ năm thức thân có thể duyên
danh, có thể duyên tướng, có thể duyên vô sắc pháp, có
thể duyên quá khứ, vị lai, có thể duyên pháp lìa ba đời;
chỉ năm thức thân có cảm xúc ghét, cảm xúc sáng. Tu Thiền
định, hoặc lãnh thọ luật nghi (giới) thiện, luật nghi bất
thiện, hoặc ưu hỷ, hoặc có không giác không quán, hoặc
tăng ích các căn, đều không có lẽ ấy.
Tỷ
thức, thiệt thức, là hữu phú vô ký, thức thứ sáu của
kẻ phàm phu, xa lìa ngã hành, không có lẽ ấy. Như vậy có
vô lượng việc “không có lẽ ấy, có lẽ ấy” cũng như
vậy.
Phật
biết có lẽ ấy không có lẽ ấy, phân biệt trù lượng để
thuyết pháp cho người có thể độ, và làm nhân duyên cho
người không thể độ; ví như thầy thuốc giỏi biết bệnh
trị được, bệnh không trị được, Thanh văn, Bích-chi Phật
sự biết còn ít, vì ít cho nên hoặc muốn độ người mà
không thể độ, như Thủ-la đáng độ mà không độ, như người
không được Xá-lợi-phất độ. Phật không có việc ấy,
không thể phá hoại, không thể hơn, vì Phật biết cùng khắp.
Ðó là trí lực đầu.
Nghiệp
báo trí lực: Tác nghiệp của thân miệng, và vô tác nghiệp
từ nó sanh ra, nghiệp thọ giới, nghiệp ác, nghiệp sanh ra
theo ngày đêm, nghiệp dụng sanh tội phước, nghiệp ấy Phật
lược nói nhiếp vào ba chỗ; ấy gọi là hết thảy nghiệp
dụng. Phật biết hết thảy chúng sanh có nghiệp ở quá khứ,
quả báo cũng ở quá khứ; có nghiệp ở quá khứ, mà quả
báo ở hiện tại; có nghiệp ở quả quá khứ; quả báo ở
vị lai; có nghiệp ở quá khứ, mà quả báo ở quá khứ, hiện
tại; có nghiệp ở quá khứ; quả báo ở quá khứ, vị lai;
có nghiệp ở quá khứ; quả báo ở hiện tại, vị lai; có
nghiệp ở quá khứ, quả báo ở quá khứ, vị lai, hiện tại.
Nghiệp hiện tại cũng như vậy.
Lại
nữa, trong thiện tâm thọ nghiệp báo thiện, bất thiện, vô
ký; trong bất thiện tâm, vô ký tâm cũng như vậy.
Lại
nữa, do nhân duyên nghiệp vui nên thọ quả báo vui, nhân duyên
nghiệp khổ nên thọ quả báo khổ, nhân duyên nghiệp không
khổ không vui, nên thọ quả báo không khổ không vui. Nhân
duyên của nghiệp hiện báo nên thọ quả báo hiện tại, nhân
duyên của nghiệp sanh báo nên thọ quả báo khi sanh ra ở đời
kế tiếp, nhân duyên của nghiệp hậu báo nên thọ quả báo
khi sanh ra ở các đời sau đó. Do nhân duyên của nghiệp bất
tịnh nên thọ quả báo khổ não, nhân duyên của nghiệp tịnh
nên thọ quả báo không khổ não, nhân duyên của nghiệp lẫn
lộn nên thọ quả báo lẫn lộn.
Lại
nữa, có hai thứ nghiệp là nghiệp chắc chắn thọ báo và
nghiệp không chắc chắn thọ báo. Nghiệp chắc chắn thọ
báo thì không thể xa lìa, hoặc đợi thời, đợi người,
đợi chỗ mà thọ báo, như người có phước nên cùng với
Chuyển luân thánh vương thọ phước, đợi lúc đời tốt
Chuyển luân thánh vương xuất hiện, lúc ấy mới thọ báo,
ấy là đợi thời. Ðợi người, người tức Chuyển luân
thánh vương. Ðợi chỗ là chỗ Chuyển luân thánh vương xuất
hiện.
Lại
nữa, nghiệp chắc chắn thọ báo ấy, không đợi kỷ năng,
công huân, hoặc xấu, hoặc tốt, không cầu nó tự đến,
như người sanh cõi trời, phước lạc tự đến, người sanh
địa ngục, tội khổ tự đến, không đợi nhân duyên, vì
nghiệp này sâu nặng vậy.
Lại
nữa, nghiệp chắc chắn thọ báo, như quân của vua Tỳ-lưu-ly
giết bảy vạn hai ngàn người đắc đạo, và vô số Ưu-bà-tắc
thọ ngũ giới, dù có đại thần thông như Mục-liên cũng
không cứu được, như Bạt-câu-la bị mẹ kế quăng vào trong
lửa, trong nước sôi, trong nước mà không chết. Như Phật
du hành các nước, tuy xuất gia đi khất thực, không cần cúng
đồ ăn, mà năm trăm cỗ xe chở đồ ăn của vua, do nghiệp
mà hiện sanh ra gạo cứng, khi ăn đủ trăm vị. Các nghiệp
thiện ác như vậy chắc chắn thọ báo, ngoài ra không chắc
thọ báo.
Cõi
Dục là chỗ thọ ba thứ nghiệp báo là nghiệp thọ quả báo
vui, nghiệp thọ quả báo khổ, nghiệp thọ quả báo không
khổ không vui. Cõi sắc là chỗ thọ hai thứ nghiệp báo là
nghiệp thọ quả báo vui, nghiệp thọ quả báo không khổ không
vui. Cõi Vô sắc là chỗ thọ một thứ nghiệp báo là nghiệp
thọ quả báo không khổ không vui.
Hoặc
đợi việc là nương nơi việc ấy mà được thọ quả báo,
như trong ao của vua Phất-ca-la-bà, sanh hoa sen sắc vàng ngàn
cánh, lớn như bánh xe, nhân đó mở đại hội vui chơi mà
có nhiều người xuất gia đắc đạo.
Phật
biết chỗ tất cả chúng sanh tạo nghiệp, hoặc ở cõi Dục,
cõi Sắc, cõi vô sắc. Ơû cõi dục, thì ở đạo nào; nếu
thiên đạo thì ở trời nào; nếu trong nhân đạo thì thiên
hạ nào; nếu ở châu Diêm-phù-đề thì ở quốc độ nào;
nếu ở nước ấy thì ở thành nào; tụ lạc nào; nếu ở
thành ấy thì ở làng nào; xóm nào; nhà nào; chỗ nào. Biết
nghiệp ấy lúc nào làm. Quá khứ một đời, hai đời cho đến
trăm ngàn vạn đời, quả báo của nghiệp ấy bao nhiêu đã
thọ, bao nhiêu chưa thọ, bao nhiêu chắc chắn thọ, bao nhiêu
không chắc chắn thọ. Biết sử dụng sự vật thiện hay bất
thiện, đó là đao gậy, dạy bảo giết; tự tay giết, sai
người giết, các nghiệp ác khác cũng như vậy, nghiệp lành
cũng như vậy. Biết bố thí, trì giới, tu thiện như vậy.
Trong sự bố thí, bố thí những gì, đất đai, phòng xá, y
phục, uống ăn, thuốc thang, đồ nằm, tài vật bảy báu.
Trong sự trì giới, tự nhiên giới, giới từ tâm sanh, giới
miệng nói, một hành giới, ít phần giới, nhiều phần giới,
mãn phần giới, giới một ngày, bảy giới thiện đạo, mười
giới, giới Cụ túc, giới Ðịnh cọng.
Trong
phước lành tu Sơ thiền, Nhị, Tam, Tứ thiền, từ tâm, bi,
hỷ, xả tâm. Như vậy là những nhân duyên của thiện nghiệp.
Nếu xan tham, nếu sân hận, nếu sợ hãi, nếu tà kiến, nếu
ác tri thức... là những nhân duyên của ác nghiệp; nhân duyên
của phước nghiệp là hoặc tin, hoặc thương xót, hoặc cung
kỉnh, hoặc thiền định, hoặc trí tuệ, hoặc thiện tri thức,
đó là những nhân duyên của thiện nghiệp. Các nghiệp ấy
tự tại, hết thảy trời người không thể chuyển đổi các
nghiệp ấy, trong ức ngàn vạn đời nó thường theo dõi chúng
sanh không rời, như chủ nợ theo người mắc nợ, khi có đủ
nhân duyên liền cho quả báo, như hạt giống trong đất khi
đủ nhân duyên thời tiết hòa hợp liền sanh. Nghiệp ấy
khiến chúng sanh thọ sanh trong sáu đường nhanh như tên bắn.
Hết
thảy chúng sanh đều có phần nghiệp báo như cha mẹ để
lại tài sản, các con đều có phần thích đáng. Khi quả báo
của nghiệp ấy đến nơi, không thể ngăn dứt được, như
ngọn lửa lúc kiếp tận, tùy chỗ chúng sanh đáng được
sanh đến, an trí mọi nơi, như vua nước lớn tùy người xứng
đáng mà ban cho chức quan. Khi mạng chung nghiệp ấy đến phủ
kín tâm người ấy, như núi lớn ánh lên mọi vật.
Nghiệp
ấy hay cho các loại thân, như thợ vẽ, vẽ các hình tượng.
Nếu người nào lấy chánh hạnh chế ngự nghiệp, thiện pháp
nuôi dưỡng, thời cho quả báo tốt. Nếu lấy tà hạnh chế
ngự nghiệp, bất thiện nuôi dưỡng, thì cho quả báo xấu.
Như người thờ vua, tùy việc mà được đáp báo.
Như
vậy là phân biệt quả báo của các nghiệp tướng.
Lại
nữa, như trong kinh Phân Biệt Nghiệp, Phật bảo A-nan: Người
làm ác sanh chỗ tốt, người làm lành sanh chỗ xấu. A-nan
thưa: Việc ấy thế nào? Phật dạy: Người ác tội nghiệp
đời này chưa chín, mà nghiệp lành đời trước đã chín,
do nhân duyên đó, mà đời này tuy ác lại sanh chỗ tốt; hoặc
khi sắp chết, tâm tâm số pháp lành phát sanh, do nhân duyên
ấy cũng được sanh chỗ tốt. Người làm lành sanh chỗ xấu,
vì nghiệp lành đời này chưa chín mà nghiệp ác đời trước
đã chín, do nhân duyên ấy mà đời này làm lành lại sanh
chỗ xấu; hoặc khi sắp chết tâm tâm số pháp bất thiện
phát sanh, do nhân duyên ấy nên cũng sanh chỗ xấu.
Hỏi:
Nghiệp chín chưa chín có thể như vậy, còn tâm phát sanh trong
thời gian ngắn ngủi khi sắp chết làm sao thắng được nghiệp
lực gây ra suốt cả đời?
Ðáp:
Tâm ấy tuy trong thời gian khoảnh khắc, mà tâm lực mãnh lợi,
như lửa, như chất độc tuy ít có thể thành đại sự. Tâm
trong khi sắp chết ấy, quyết định mãnh kiện cho nên thắng
nghiệp lực tạo ra trong trăm năm. Tâm tối hậu ấy gọi là
đại tâm, vì việc bỏ thân và các căn cấp bách, như người
vào trận, không tiếc thân mạng, gọi là dũng kiện. Như A-la-hán
xả bỏ thân ái trước ấy nên được A-la-hán. Như vậy các
thứ nghiệp báo, chuyển báo tội phước cũng nên biết như
vậy.
Người
Thanh văn chỉ biết tội báo của ác nghiệp, phước báo của
thiện nghiệp, chứ không thể phân biệt tinh tế như vậy.
Phật đều biết khắp nghiệp và nghiệp báo ấy với thế
lực trí tuệ vô ngại vô tận, không thể phá hoại, không
thể hơn. Ðây là trí lực thứ hai.
Trí
lực phân biệt thiền định, giải thoát, tam muội, cấu, tịnh:
Thiền là bốn thiền. Phật biết thiền ấy trợ giúp đạo
pháp, phân biệt danh, tướng, nghĩa phần, thứ lớp huân tu,
hữu lậu, vô lậu, học, vô học, tịnh, cấu, vị, không vị,
cạn, sâu...
Tám
giải thoát: như trong chương Thiền ba-la-mật đã phân biệt
danh tướng. Nói thiền là gồm tất cả định cõi Sắc, nói
giải thoát là gồm tâát cả định, Thiền ba-la-mật tức
là các giải thoát.
Thiền,
định, giải thoát, tam-muội đều gọi là định.
Ðịnh
là tâm không tán loạn.
Cấu
là các phiền não ái, kiến, mạn...
Tịnh
là chơn thiền định, không lẫn lộïn các phiền não ái,
kiến, mạn, như vàng thật.
Phân
biệt là trong các định có một tâm hành, không một tâm hành,
thường hành, không thường hành, khó vào, dễ vào, khó ra
dễ ra, lấy tướng chúng, lấy tướng riêng, chuyển đối
trị, không chuyển đối trị. Chuyển đối trị là như người
dâm dục mà tu từ tâm, người sân hận mà quán bất tịnh,
người ngu si mà tư duy biên vô biên, người dao động mà dùng
trí tuệ phân biệt các pháp, người hôn trầm mà muốn nhiếp
tâm (phải chuyển đổi người dâm dục thì phải tu quán bất
tịnh; người sân hận thì phải tu từ tâm v.v.. mới đối
trị được – ND). Nếu không như vậy, gọi là không chuyển
đối trị.
Trong
định ấy nên phân biệt thời và trú xứ. Nếu thân gầy
ốm là không phải lúc hành thiền. Như Bồ-tát trong khi khổ
hạnh suy nghĩ rằng: ta nay không thể phát sanh thiền định.
Hoặc chỗ có nhiều người cũng không phải chỗ hành thiền.
Lại
nữa, Phật biết thiền định ấy là sai, thiền ấy là trụ,
thiền ấy là tăng ích, thiền ấy là đạt đến Niết-bàn.
Lại
nữa, Phật biết người ấy khó vào định khó ra định, dễ
vào định dễ ra định, dễ vào định khó ra định, khó vào
định dễ ra định. Phật biết người ấy có thể được
thiền như vậy, biết người ấy mất thiền hưởng thọ năm
dục, biết người ấy hưởng thọ năm dục rồi trở lại
được thiền, nương thiền ấy được A-la-hán.
Như
vậy hết thảy các thiền định giải thoát, tức là tam-muội.
Thiền định ấy Phật dùng trí tuệ thẳm sâu biết hết,
không thể phá hoại, không thể hơn. Ðây là trí lực thứ
ba.
Trí
lực biết căn cao thấp của chúng sanh: Phật biết chúng sanh
lợi căn, độn căn, trung căn. Lợi trí gọi là cao, độn trí
gọi là thấp, Phật dùng trí lực biết căn cao thấp ấy mà
phân biệt hết thảy chúng sanh là lợi căn, là trung căn, là
độn căn. Người ấy có căn như vậy, đời này chỉ có thể
được Sơ quả, không thể được các quả khác nữa. Người
ấy chỉ được quả thứ hai, ba, tư. Người ấy chỉ có thể
được Sơ thiền, người ấy chỉ có thể được thiền thứ
hai, ba, tư, cho đến được Diệt tận định cũng như vậy.
Biết
người ấy sẽ được chứng thời giải thoát, người ấy
sẽ được chứng bất thời giải thoát. Người ấy có thể
được làm người bậc nhất trong hàng Thanh văn, người ấy
có thể được làm người bậc nhất trong hàng Bích-chi Phật.
Người ấy đầy đủ sáu Ba-la-mật; có thể chứng được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Biết như vậy rồi hoặc
nói lược việc đắc độ, hoặc nói rộng việc đắc độ.
Hoặc nói lời êm dịu để giáo hóa, hoặc nói lời gay gắt
để giáo hóa, hoặc nói lời vừa êm dịu vừa gay gắt để
giáo hóa.
Phật
cũng phân biệt người ấy có các căn khác, nên làm cho sanh
thêm tín căn, người ấy nên làm cho sanh tinh tấn, niệm, định,
tuệ căn. Người ấy dùng tín căn mà vào chánh vị, người
ấy dùng tuệ căn mà vào chánh vị. Người ấy lợi căn mà
bị kiết sử ngăn che như Ương-quật Lê-ma-la... Người ấy
lợi căn, không bị kiết sử ngăn che, như Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên...
biết người căn tuy độn mà không bị ngăn che như Châu-lợi
Bàn-đà-già, có người căn độn mà bị ngăn che.
Biết
người ấy độn căn đối với lậu hoặc do kiến đế đoạn,
mà lợi căn đối với lậu hoặc do tư duy đoạn; biết người
ấy độn căn đối với lậu hoặc do tư duy đoạn mà lợi
căn đối với lậu hoặc do kiến đế đoạn, biết người
ấy hết thảy căn đồng độn đồng lợi; biết người ấy
hết thảy căn không đồng độn không đồng lợi, biết người
ấy nhân trước có sức lớn, người ấy duyên hiện nay có
sức lớn, người ấy muốn trói mà được mở, người ấy
muốn mở mà bị trói, ví như Ương-quật Lê-ma-la muốn giết
mẹ, hại Phật mà lại được giải thoát và như một Tỳ
kheo được Tứ thiền mà vì khởi tâm tăng thượng mạn, nên
trở lại vào địa ngục.
Biết
người ấy chắc đọa đường ác, người ấy khó ra, người
ấy dễ ra, người ấy mau ra, người ấy lâu mới ra.
Như
vậy tướng trạng hết thảy căn cao thấp của chúng sanh,
đều biết khắp, không thể hoại, không thể hơn. Ðây là
trí lực thứ tư.
Trí
lực biết các thứ dục của chúng sanh: Dục là tin, mừng,
ưa, vui. Ưa năm dục như Tôn-đà-la Nan-đà... Ưa tiếng tăm
như Ðề-bà-đạt-đa... Ưa tài lợi thế gian như Tu-di-sát-đa-la...
Ưa xuất gia như Gia-xá... Ưa tin như Bạt-ca-lợi... Ưa trì
giới như La-hầu-la... Ưa bố thí như Ðà-bạt-la... (cháu ngoại
của bà Cam-lộ, cô của Phật). Ưa tu hạnh đầu đà xa lánh
như Ma-ha Ca-diếp. Ưa tọa thiền như Lệ-bạt-đa... Ưa trí
tuệ như Xá-lợi-phất. Ưa đa văn như A-nan. Ưa biết luật
như Ưu-ba-ly... Các đệ tử Phật như vậy, mỗi người có
chỗ ưa. Người phàm phu cũng mỗi người có chỗ mừng, hoặc
có người mừng về dâm dục, có người mừng về sân nhuế.
Lại
nữa, Phật biết người ấy nhiều dục, nhiều sân, nhiều
si.
Hỏi:
Tướng nhiều dục, nhiều sân, nhiều si như thế nào?
Ðáp:
Như trong thiền kinh nói về tướng của ba độc, trong đó
có nói rộng. Biết tướng như vậy rồi, đối người nhiều
dâm dục thì dùng pháp môn quán bất tịnh đối trị, đối
người nhiều sân thì dùng pháp môn quán từ tâm đối trị,
đối người nhiều ngu si thì dùng pháp môn quán nhân duyên
đối trị.
Như
vậy tùy theo chỗ ưa muốn để thuyết pháp, nghĩa là đối
với người có ưa muốn lành thì nói pháp theo tâm họ, như
thuyền thuận dòng, đối với người có ưa muốn dữ thì
dùng lời gay gắt để giáo hóa, như lấy nêm trục nêm. Ðối
với trí biết các thứ dục, Phật đều biết khắp, không
thể hoại, không thể hơn. Ðây là trí lực thứ năm.
Trí
lực biết về tánh: Phật biết các tánh dị biệt của thế
gian. Tánh là tập quán tích tụ, tướng từ tánh sanh, dục
tác hành theo tánh, hoặc có khi từ dục thành tánh, tập quán
dục thành tánh. Tánh là việc làm ô nhiễm tâm, dục là theo
duyên sanh khởi. Ðó là phân biệt dục và tánh.
Thế
gian có các dị biệt là mỗi mỗi tánh, nhiều tánh, vô lượng
không thể đếm, ấy là dị biệt của thế gian.
Có
hai thứ thế gian là thế giới thế gian (khí thế gian) và
chúng sanh thế gian. Trong đây chỉ nói về chúng sanh thế gian.
Phật biết chúng sanh tánh như vậy, dục như vậy, từ chỗ
ấy đến, thành tựu căn lành, căn chẳng lành, có thể độ,
không thể độ, định, bất định, chắc, không chắc, làm
hạnh gì, sanh chỗ nào, ở địa nào.
Lại
nữa, Phật biết chúng sanh ấy có các tánh tướng, nghĩa là
tùy chỗ xu hướng, thiên nhiều như vậy, quí như vậy, sự
nhiễm tâm như vậy, muốn như vậy, nghiệp như vậy, hành
như vậy, phiền não như vậy, lễ pháp như vậy, định như
vậy, oai nghi như vậy, biết như vậy, thấy như vậy, nhớ
tưởng phân biệt như vậy, biết nhiêu kiết sử sanh, bấy
nhiêu kiết sử chưa sanh. Tùy chỗ chấp trước sanh dục, tùy
dục làm nhiễm tâm, tùy nhiễm tâm mà xu hướng, tùy xu hướng
mà quý trọng, tùy quý trọng mà thường giác quán, tùy giác
quán mà sanh hý luận, tùy hý luận mà thường niệm, tùy thường
niệm mà phát ra hành, tùy phát ra hành mà tạo nghiệp, tùy
tạo nghiệp mà thọ quả báo.
Lại
nữa, Phật dùng trí lực biết về chủng chủng tánh, biết
chúng sanh ấy có thể độ, chúng sanh ấy không thể độ,
chúng sanh ấy đời này có thể độ, chúng sanh ấy đời sau
có thể độ, chúng sanh ấy có thể độ ngay, chúng sanh ấy
có thể độ vào lúc khác, chúng sanh ấy hiện tại có thể
độ, chúng sanh ấy mắt không trông thấy có thể độ. Người
ấy Phật có thể độ, người ấy Thanh văn có thể độ,
người ấy có thể chung độ, người ấy chắc có thể độ,
người ấy chắc không thể độ, người ấy nói lược có
thể độ, người ấy nói rộng có thể độ, người ấy nói
rộng nói lược có thể độ, người ấy tán thán có thể
độ, người ấy chiếc phục có thể độ, người ấy tiếp
đón có thể độ, người ấy vứt bỏ có thể độ, người
ấy pháp vi tế có thể độ, người ấy pháp thô thiển có
thể độ, người ấy nói gay gắt có thể độ, người ấy
nói êm dịu có thể độ, người ấy nói gay gắt êm dịu
có thể độ. Người ấy tà kiến, người ấy chánh kiến,
người ấy đắm quá khứ, người ấy đắm vị lai, người
ấy đắm đoạn diệt, người ấy đắm thường, người ấy
đắm hữu kiến, người ấy đắm vô kiến, người ấy tham
dục, người ấy yểm ly sanh, người ấy cầu vui phú quý,
người ấy đắm tà kiến nặng, người ấy nói vô nhân vô
duyên, người ấy nói tà nhân duyên, người ấy nói chánh
nhân duyên, người ấy nói vô tác nghiệp, người ấy nói
tà tác nghiệp, người ấy nói chánh tác nghiệp, người ấy
nói không cầu, người ấy nói tà cầu, người ấy nói chánh
cầu, người ấy nói quí ngã, người ấy quí năm dục, người
ấy quí được lợi, người ấy quí uống ăn, người ấy
quí nói việc vui chơi, người ấy ưa đông, người ấy ưa
ồn ào, người ấy ưa xa lánh, người ấy hành theo ái nhiều,
người ấy hành theo kiến nhiều, người ấy ưa tín, người
ấy ưa tuệ, người ấy nên thủ hộ, người ấy nên bỏ,
người ấy quí trì giới, người ấy quí thiền định, người
ấy quí trí tuệ, người ấy dễ ngộ, người ấy giảng nói
mới ngộ, người ấy có thể dẫn đạo, người ấy hiểu
từng câu, người ấy lợi căn, người ấy độn căn, người
ấy trung căn, người ấy dễ ra dễ cứu vớt, người ấy
khó ra khó cứu vớt, người ấy sợ tội, người ấy trọng
tội, người ấy sợ sanh tử, người ấy không sợ sanh tử,
người ấy nhiều dục, người ấy nhiều sân, người ấy
nhiều si, người ấy nhiều dục sân, người ấy nhiều dục
sân si, người ấy mỏng phiền não, người ấy dày phiền
não, người ấy ít nhơ, người ấy nhiều nhơ, người ấy
tuệ ngăn che, người ấy tuệ sơ lược, người ấy tuệ rộng
lớn, người ấy khéo biết tướng năm ấm, mười hai nhập,
mười tám giới, mười hai nhân duyên. Có lẽ ấy, không có
lẽ ấy, khổ, tập, diệt, đạo. Khéo biết vào định, ra
định, ở định.
Lại
nữa, Phật biết đó là chúng sanh cõi Dục, đó là chúng sanh
cõi Sắc, cõi Vô sắc, đó là địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ,
người, trời; đó là loài sanh từ trứng, sanh từ bào thai,
sanh từ thấp ướt, sanh từ biến hóa. Ðó là loài có sắc,
đó là loài không sắc, đó là loài có tưởng, đó là loài
không tưởng, đó là loài đoản mạng, đó là trường mạng.
Ðó chỉ là người phàm phu chưa lìa dục, đó là người phàm
phu đã lìa dục của cõi dưới, mà chưa lìa dục của cõi
thiền, như vậy cho đến Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Ðó
là hướng đạo, đó là đắc quả, đó là Bích-chi Phật,
đó là chư Phật.
Như
vậy các thứ phân biệt về năm đường, bốn loài sanh, ba
tụ, giả danh, ba chướng, năm thân, mười hai nhập, mười
tám giới, thiện căn, bất thiện căn, các kiết sử, các địa,
nghiệp quả, là có thể độ, là không thể độ, diệt trí
phân biệt.
Do
như vậy phân biệt biết các tánh dị biệt của chúng sanh
thế gian, được giải thoát vô ngại. Như vậy các tánh dị
biệt, Phật đều biết khắp, không thể hoại, không thể
hơn. Ðây là trí lực thứ sáu.
Trí
lực biết nhất thế chí xứ đạo: Có người nói: nghiệp
tức là đạo, vì nghiệp làm nhân duyên đưa đi khắp năm
đường. Có nghiệp có thể dứt, nghiệp có thể có chỗ đến,
đó là ba thánh đạo phần và vô lậu tư. Vì vậy, các nghiệp
là
đường đưa đến mọi nơi.
Lại
nữa, có người nói: năm phần, năm trí, tam-muội trụ, thành
tựu việc lợi ích ở mọi nơi.
Lại
có người nói: chính là thiền thứ tư, vì cớ sao? Vì thiền
thứ tư là chỗ tất cả các thiền tụ đến. Như trong Kinh
nói: Thiện tâm, định tâm, tâm không loạn, nhiếp tâm, đều
vào trong thiền thứ tư.
Lại
nữa, có người nói: như thân niệm xứ tức là “chí xứ
đạo”, là gốc lợi ích của các đạo.
Lại
có người nói: chính là hết thảy thánh đạo; dùng thánh
đạo ấy thời được lợi ích theo ý muốn.
Lại
có luận giả nói: hết thảy thiện đạo, hết thảy ác đạo,
hết thảy thánh đạo, mỗi mỗi biết chỗ đến của các
đạo, như ở trong kinh Mao thụ nói: Phật đều biết khắp,
không thể hoại, không thể hơn. Ðây là trí lực thứ bảy.
Trí
lực biết túc mạng: Túc mạng có ba là có thông, có minh,
có lực. Người phàm phu chỉ có thông, người Thanh văn cũng
thông cũng minh, Phật cũng thông cũng minh, cũng lực, vì cớ
sao? Vì người phàm phu chỉ biết kiếp trước đã trải qua
mà không biết do nghiệp làm nhân duyên tương tục. Vì vậy
người phàm phu chỉ có thông không có minh. Người Thanh văn
biết tập đế nên biết rõ do nghiệp làm nhân duyên tương
tục thọ sanh. Vì vậy người Thanh văn cũng có thông cũng
có minh. Nếu đệ tử Phật khi còn là phàm phu được trí
Túc mạng, khi vào địa vị kiến đế đạo biết nhân duyên
Tập đế, phát sanh tâm vô lậu thứ tám, dứt hết kiến hoặc,
cho nên thông biến thành minh (quán Tứ đế ngang qua mười
sáu tâm, gồm tám vô gián, tám giải thoát, đến tâm thứ
mười sáu là dứt hết kiến hoặc. Tâm thứ mười sáu là
nhằm tâm giải thoát thứ tám, hoặc gọi là tâm vô lậu giải
thoát thứ tám – N.D chú) vì cớ sao? Vì minh là cội gốc
của kiến, nếu đệ tử Phật, trước được thánh đạo,
sau trí Túc mạng phát sanh, cũng có sức biết nhân duyên Tập
đế, cho nên thông lại biến thành minh.
Hỏi:
Nếu khi Phật đang là Bồ-tát, trước được trí Túc mạng,
vì các Bồ-tát trước sạch hết các phiền não sau mới vào
thánh đạo, như vậy vì sao Phật dạy: Ðầu đêm Ta chứng
được Túc mạng minh? (Ý nói khi lậu tận mới gọi là minh,
đầu đêm chưa lậu tận, sao cũng nói là chứng Túc mạng
minh mà không nói là chứng Túc mạng thông? – N.D chú).
Ðáp:
Lúc ấy chẳng phải minh. Nếu Phật ở giữa đại chúng nói
Ta lúc ấy chứng được Túc mạng minh là để khai thị cho
chúng biết rằng, Túc mạng minh ấy đầu đêm chứng được;
ví như quốc vương, khi chưa làm vua mà sanh con, sau khi làm
vua, có người hỏi: Con vua sanh vào lúc nào? Ðáp: Con vua sanh
vào lúc ấy. Khi sanh con thì chưa làm vua, mà vì nay đã làm
vua nên gọi người con kia là con vua rằng: Người con vua ấy
sanh lúc ấy. Phật cũng như vậy, trí Túc mạng sanh, bấy giờ
chưa là minh, chỉ gọi là thông, lúc cuối đêm biết nhân
duyên Tập đế, nên thông lại biến thành minh, sau ở giữa
đại chúng dạy rằng: Ta đầu đêm chứng được Túc mạng
minh.
Hỏi:
Nghĩa của thông và minh như vậy, còn nghĩa lực thế nào?
Ðáp:
Phật dùng minh ấy biết rõ nhân duyên Túc mạng đổi thay
trong vô lượng vô biên đời của mình và của chúng sanh.
Tất cả đều biết khắp, ấy là lực, không thể hoại, không
thể thắng. Ðây gọi là trí lực thứ tám.
Trí
lực biết sanh tử: Phật dùng thiên nhãn thấy chỗ chúng sanh
sanh và chết. Người phàm phu dùng thiên nhãn cùng lắm cũng
chỉ thấy được bốn châu thiên hạ. Người Thanh văn cùng
lắm thấy bề ngang của tiểu thiên thế giới, cũng thấy
khắp trên dưới.
Hỏi:
Ðại Phạm vương cũng có thể thấy ngàn thế giới, vậy
có gì khác?
Ðáp:
Ðại Phạm vương tự đứng giữa ngàn thế giới thì thấy
khắp, còn nếu đứng một bên thời không thấy các bên khác.
Người Thanh văn thời không như vậy, đứng tại chỗ nào
thường vẫn thấy ngàn thế giới. Bích-chi Phật thì thấy
trăm ngàn thế giới, chư Phật thì thấy vô lượng vô biên
thế giới. Trí thiên nhãn của người phàm phu là thông mà
chẳng phải minh, cũng như vậy, chỉ thấy sự việc hiện
ra mà không thể thấy do nghiệp nhân duyên mà thọ sanh, như
nói ở trong Túc mạng trí.
Lại
nữa, vị được thiên nhãn bậc nhất là A-nê-lô-đậu, thiên
nhãn này là nửa phần thanh tịnh của bốn đại tạo sắc
của Sắc giới, còn thiên nhãn của Phật là toàn phần thanh
tịnh của bốn đại tạo sắc. Ðó là chỗ khác nhau.
Lại
nữa, người Thanh văn ở trong tam-muội được thiên nhãn,
liền ở trong tam-muội có thể thấy, hoặc tam-muội có giác
có quán, hoặc tam-muội không giác có quán, hoặc tam-muội
không giác không quán, tùy theo Phật nhập ở trong tam-muội
nào mà muốn thấy đều thấy. Nếu nương tam-muội vô giác
vô quán được thiên nhãn, rồi vào tam-muội có giác có quán,
tam-muội không giác có quán cũng thấy được.
Lại
nữa, người Thanh văn khi dùng thiên nhãn thấy, đang ở trong
tam-muội, nếu tâm vào tam-muội khác thời thiên nhãn bị mất,
Phật thời không như vậy, tâm tuy vào tam-muội khác, thiên
nhãn vẫn không mất. Trí tuệ ấy biết khắp chỗ sanh chỗ
tử của hết thảy chúng sanh, không thể hoại, không thể
hơn. Ðây là trí lực thứ chín.
Trí
lực lậu hết: Hỏi: Chín lực trí tuệ phân biệt có sai khác,
còn trí lực lậu hết thì đồng, hết thảy Thanh văn, Bích-chi
Phật với Phật có gì sai khác?
Ðáp:
Tuy lậu hết là đồng mà về mặt trí tuệ phân biệt rất
sai khác. Sức lực lớn của Thanh văn, tư duy đoạn kiết sử
phải qua ba thời là sanh phần, trụ phần, diệt phần. Phật
thời không như vậy, trong một lúc sanh phần đã đoạn hết.
Người Thanh văn thấy Tứ đế đoạn kiết sử thì lúc sanh
đoạn; còn tư duy đoạn kiết phải qua ba thời đoạn. Còn
Phật thời thấy Tứ đế đoạn và tư duy đoạn không có
khác. Người Thanh văn lúc mới vào thánh đạo, lúc nào và
lúc chứng đạt khác nhau, còn Phật thời ngay một tâm cũng
vào cũng chứng đạt, ngay trong một tâm được nhất thiết
trí, ngay một tâm phá hoại hết các chướng, ngay trong một
tâm được hết thảy Phật pháp.
Lại
nữa, các người Thanh văn có hai thứ giải thoát là giải
thoát phiền não, giải thoát pháp chướng, còn Phật có tất
cả giải thoát phiền não, cũng có tất cả giải thoát pháp
chướng. Phật tự nhiên được trí tuệ, còn Thanh văn phải
theo sự giáo đạo tu hành mới được.
Lại
có người nói: Nếu Phật dùng trí tuệ dứt phiền não cho
hết thảy chúng sanh, trí ấy cũng không hao bớt, ví như hoàn
sắc nóng, để trên đó một ít bông, tuy đốt cháy hết bông
mà sức nóng lửa không giảm bớt. Trí tuệ của Phật cũng
như vậy, đốt hết thảy phiền não mà trí lực cũng không
giảm.
Lại
nữa, Thanh văn chỉ biết tự dứt hết lậu hoặc, còn chư
Phật tự biết dứt hết lậu hoặc cũng biết dứt hết lậu
hoặc cho người khác, như trong Tịnh kinh nói.
Lại
nữa, chỉ riêng Phật biết trong tâm chúng sanh phân biệt ra
có 98 sử, 196 triền, trừ Phật không ai biết được. Cũng
chỉ riêng Phật biết trong khổ pháp trí, khổ loại trí dứt
được bấy nhiêu tánh kiết sử, cho đến trong đạo loại
trí cũng như vậy. Về lậu hoặc do tư duy đoạn, trong chín
giải thoát đạo cũng như vậy. (Chín địa là Dục giới địa
và bốn thiền, bốn định, mỗi địa có chín phẩm tư hoặc,
chín địa có tám mươi mốt phẩm tư hoặc. Muốn dứt chín
phẩm tư hoặc trong mỗi địa phải trải qua chín vô gián
đạo và chín giải thoát đạo. – N.D chú). Phật đều biết
khắp việc như vậy của hết thảy chúng sanh. Thanh văn nếu
biết và nói được chút ít đều nói theo Phật. Thế lực
của trí tuệ lậu hết như vậy, không thể hoại, không thể
hơn. Ðây là trí lực thứ mười.
Hỏi:
Mười lực ấy, lực nào hơn cả?
Ðáp:
Mỗi lực đều lớn trong việc của mình, như nước hay thấm,
lửa hay cháy, đều tự có sức.
Có
người nói: lực đầu là lớn, vì gồm cả mười lực. Hoặc
nói lực lậu hết là lớn, vì việc thành tựu được Niết-bàn.
Còn luận giả nói: mười lực ấy đều lấy vô ngại giải
thoát làm căn bản, làm tăng thượng.
Hỏi:
Nếu mười lực ấy là việc riêng của Phật, còn đệ tử
đời nay không ai có được, cớ sao Phật nói?
Ðáp:
Vì để dứt mối nghi của người đối với mười lực, và
làm cho tâm người vô trí được quyết định bền chắc,
khiến cho tứ chúng hoan hỷ nói rằng riêng đại sư của chúng
ta có lực như vậy, không cùng chung với hết thảy chúng sanh.
Lại
các ngoại đạo nói: Sa-môn họ Cù-đàm, thường ở chỗ vắng
lặng, trí tuệ teo mất. Vì vậy Ta nói lên lời chí thành
rằng: Ta an lập đầy đủ mười trí, bốn không sợ, ở giữa
đại chúng, nói chơn trí tuệ, giáo hóa chúng sanh, như tiếng
sư tử rống, Chuyển phạm luân (Pháp luân) mà hết thảy ngoại
đạo, trời, người không ai chuyển được, vì chấm dứt
lời chê bai của ngoại đạo nên nói mười lực này.
Hỏi:
Phép của người tốt, một việc trí tuệ còn không nên tự
khen, huống gì người vô ngã, không dính mắc mà lại tự
khen mười lực của mình? Như nói:
“Khen
mình, chê mình,
Khen
người, chê người,
Bốn
thứ như vậy,
Người
trí không làm”.
Ðáp:
Phật tuy vô ngã, không dính mắc, có vô lượng lực, do tâm
đại bi vì độ chúng sanh nên chỉ nói mười lực, chứ không
phải vì khen mình, ví như người giỏi dẫn đường khách
buôn, thấy ác tặc dối hoặc khách buôn chỉ bày đường
quấy mới vì lòng thương mà nói với khách buôn rằng: ta
là người nói thật, các ngươi chớ nghe theo lời kẻ dối
hoặc. Lại như các thầy thuốc tệ dối hoặc người bệnh,
lương y thương bảo người bệnh rằng: Ta có thuốc hay có
thể trừ bệnh cho ngươi, ngươi chớ tin theo lời dối trá
mà khổ.
Lại
nữa, công đức của Phật sâu xa, nếu Phật không tự nói
ra thì không ai biết được. Vì chúng sanh mà nói ra được
lợi ích rất nhiều. Do vậy, Phật tự nói ra mười lực.
Lại
nữa, gặp người có thể độ, chắc phải nói cho, trong các
điều nên nói, thứ lớp nên nói mười lực, nếu không nói
thời người kia không được độ, vì vậy nên Phật tự nói.
Ví như khi mặt trời mặt trăng mọc, không nghĩ rằng: ta soi
sáng thiên hạ, sẽ có danh xưng. Mặt trời mặt trăng đã
mọc, ắt tự có danh, Phật cũng như vậy; không nghĩ rằng
mình sẽ có danh xưng mà tự nói công đức ra. Phật dùng lời
thanh tịnh thuyết pháp, soi sáng phá ngu tối cho chúng sanh,
tự nhiên có danh xưng lớn. Vì vậy Phật tự nói các công
đức mười lực... mà không có lỗi.
Lực
là có khả năng thành tựu. Dùng mười lực tăng ích trí tuệ
này có thể phá các luận nghị sư, dùng mười lực tăng ích
trí tuệ này có thể giỏi thuyết pháp, dùng mười lực tăng
ích trí tuệ này có thể chiếc phục kẻ không thuận, dùng
mười lực tăng trí tuệ này được tự tại đối với các
pháp, như đại quốc chủ được tự tại đối thần dân
đại chúng. Trên đây là dùng pháp Thanh văn lược nói nghĩa
mười lực xong.
(Hết
cuốn 24 theo bản Hán)