Tập
2
Cuốn
26
Chương
38
Giải
Thích: Mười Tám Pháp Không Chung
Mười
tám pháp không chung là: 1. Các đức Phật thân không lỗi.
2. Miệng không lỗi. 3. Niệm không lỗi. 4. Không có dị tưởng.
5. Không có tâm bất định. 6. Không có điều không biết đã
bỏ. 7. Dục không giảm. 8. Tinh tấn không giảm. 9. Niệm không
giảm. 10. Tuệ không giảm. 11. Giải thoát không giảm. 12. Giải
thoát tri kiến không giảm. 13. Tất cả thân nghiệp hành theo
trí tuệ. 14. Tất cả khẩu nghiệp hành theo trí tuệ. 15. Tất
cả ý nghiệp hành theo trí tuệ. 16. Trí tuệ biết đời quá
khứ vô ngại. 17. Trí tuệ biết đời vị lai vô ngại. 18.
Trí tuệ biết đời hiện tại vô ngại.
Hỏi:
Ba mươi sáu pháp (Mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại
trí, mười tám pháp không chung) đều là Phật pháp, sao chỉ
có mười tám pháp là không chung (chỉ riêng Phật có)?
Ðáp:
Trong mười tám pháp trước, hàng Thanh văn, Bích-chi Phật có
phần, trong mười tám pháp sau này, hàng Thanh văn, Bích-chi
Phật vô phần. Như Xá-lợi-phất hay phân biệt các pháp, diễn
nói một câu, thông suốt không ngại, Phật khen rằng: khéo
thông pháp tánh, còn A-nê-lô-đậu thì mắt trời bậc nhất.
Các Thanh văn đều có phần như vậy. Ðối với bốn việc
không sợ có phần là, như Phật nói trong hàng đệ tử người
có thể rống tiếng rống sư tử thì Tân-đầu-lô-phả-la-đỏa-thệ
là bậc nhất. Xá-lợi-phất cũng tự thề rằng: ta trong bảy
ngày bảy đêm có thể diễn nói một nghĩa khiến cho không
cùng tận. Bốn phân biết tuệ, các A-la-hán, Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên, Phú-lâu-na, A-nan, Ca-chiên-diên... cũng biết
được nghĩa, tên gọi, ngữ ngôn, và vui nói. Do vậy mười
tám pháp trước chẳng gọi là không chung.
Hỏi:
Sao Phật không có thân lỗi, không có miệng lỗi?
Ðáp:
Trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp Phật trì giới thanh tịnh
nên thân nghiệp, khẩu nghiệp không lỗi. Còn các A-la-hán
như Xá-lợi-phất trì giới không lâu, cực nhiều là 60 kiếp
cho nên có lỗi. Phật trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp nhóm
các giới thanh tịnh được thành tựu, thường hành thiền
định rất sâu, được tất cả trí tuệ vi diệu, khéo tu
tâm đại bi, cho nên không lỗi.
Lại
nữa, Phật nhổ hết các nhân duyên gốc tội, cho nên không
lỗi. Nhân duyên gốc tội có bốn: 1. Nhân duyên tham dục.
2. Nhân duyên sân nhuế. 3. Nhân duyên sợ hãi. 4. Nhân duyên
ngu si. Nhân duyên và tập khí gốc tội đều đã nhổ. A-la-hán,
Bích-chi Phật tuy nhổ nhân duyên tội mà tập khí đang còn,
nên hoặc thời có lỗi. Phật đối với hết thảy pháp thường
thành tựu trí tuệ biết khắp viên mãn. Nếu không biết nên
có lỗi, như Xá-lợi-phất với 500 Tỳ-kheo du hành đến một
ngôi chùa vắng ở lại đêm, lúc ấy gặp ngày thuyết giới,
không biết việc nội giới ngoại giới thế nào, mới bạch
Phật, Phật dạy tại trú xứ chỉ ở một đêm rồi bỏ,
thời không có giới. Lại một lúc khác, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên
cùng với 500 Tỳ-kheo lúc trở về lại, to tiếng ồn ào, Phật
đuổi đi ra ngoài, ấy là miệng có lỗi. Lại như Xá-lợi-phất
không biết phép ăn bình đẳng nên Phật quở ông ăn đồ
bất tịnh (trái pháp). Như vậy là thân, miệng có lỗi. Các
phiền não tập khí Phật sạch hết, cho nên không có lỗi
như vậy.
Lại
nữa, hết thảy thân nghiệp, khẩu nghiệp của Phật đều
hành theo trí tuệ cho nên thân không lỗi, miệng không lỗi.
Do các nhân duyên như vậy nên thân không lỗi, miệng không
lỗi.
Niệm
không lỗi: Tâm khéo tu bốn niệm xứ suốt ngày đêm, khéo
tu thiền định thâm sâu, tâm không tán loạn, khéo dứt dục
ái và pháp ái, đối các pháp tâm không nhiễm trước, được
chỗ tâm an ổn đệ nhất, nếu tâm bồn chồn vội vàng thì
niệm có chỗ quên mất. Tâm Phật không có được mất, vì
vậy nên không lỗi. Phật có Túc mạng thông, ba minh, mười
lực, ba thứ trang nghiêm niệm, nên niệm được thành tựu
không lỗi, vì niệm phần nhiều dụng ở quá khứ.
Lại
nữa, niệm căn niệm lực vô biên vô tận nên niệm không
lỗi.
Lại
nữa, hết thảy ý nghiệp của Phật hành theo trí tuệ nên
niệm không lỗi. Mỗi mỗi niệm đều theo ý hành. Như vậy
gọi là niệm không lỗi, như trong kinh Trời hỏi nói:
“Người
nào không lỗi lầm?
Người
nào không mất niệm?
Người
nào thường nhất tâm?
Làm
được việc đáng làm,
Chánh
biết hết thảy pháp,
Thoát
hết tất cả chướng,
Thành
tựu các công đức,
Chỉ
có một mình Phật”.
Không
dị tưởng: Phật đối với chúng sanh không có phân biệt,
không có tưởng xa gần dị biệt: người ấy quí có thể
nói cho, người kia hèn không thể nói cho. Như mặt trời xuất
hiện chiếu khắp vạn vật, ánh sáng đại bi của Phật bình
đẳng thương xót cứu độ hết thảy chúng sanh, người cung
kính, người không cung kính, oán, thân, quí, tiện, tất cả
đều bình đẳng, như người hốt phân tên Ni-đà, Phật cũng
hóa độ cho thành đại A-la-hán, như cư sĩ Ðức Hộ, làm
hầm lửa, bỏ độc vào đồ ăn muốn để hại Phật, liền
trong ngày ấy được trừ ba độc, diệt lửa tà kiến. Như
vậy là không có tưởng dị biệt.
Lại
nữa, đối với Xá-lợi-phất, Di-lặc Bồ-tát... thuận theo
Phật pháp tu hành, Phật cũng không thiên ái, đối với Ðề-bà-đạt-đa,
Phú-la-na ngoại đạo, lục sư tà kiến... Phật cũng không
ghét, ấy là Phật huân tu tâm trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp,
nên là báu ở giữa chúng sanh, như chơn kim không thể làm
cho biến khác được.
Lại
nữa, Phật dùng Phật nhãn ngày đêm sáu thời quán hết thảy
chúng sanh ai có thể độ, không bỏ mất thời. Phật bình
đẳng quán chúng sanh, nên không có tưởng dị biệt.
Lại
nữa, Phật dùng các nhân duyên, khen thiện pháp chê bất thiện
pháp, tâm cũng không tăng giảm đối với thiện ác, chỉ vì
độ chúng sanh, nên mới có sự phân biệt, ấy là không có
tưởng dị biệt.
Lại
nữa, như trong kinh Nhất thiết bất hành nói: Phật quán hết
thảy chúng sanh như thân mình, việc cần làm đã làm xong,
không đầu, không giữa, không cuối, ấy gọi là không có
tưởng dị biệt.
Lại
nữa, Phật quán hết thảy chúng sanh và các pháp, từ xưa
lại nay không sanh không diệt, thường thanh tịnh như Niết-bàn;
ấy gọi là không có tưởng dị biệt.
Lại
nữa, vào cửa pháp bất nhị là cửa các pháp thật tướng.
Dị tướng tức là hai pháp, hai pháp tức là tà đạo. Phật
là người không dối pháp, không nên hành dối pháp, thường
hành vào cửa pháp bất nhị. Dối pháp tức là dị tướng.
Như vậy gọi là không có tưởng dị biệt.
Không
có tâm bất định: Ðịnh là nhất tâm không loạn, trong tâm
loạn không thể thấy được sự thật, như nước dậy sóng
không thể trông thấy mặt, như đèn giữa gió không thể soi
tỏ. Do vậy nói Phật không có tâm bất định.
Hỏi:
Ðịnh là từ Vị đáo địa cho đến Diệt tận định. Vào
trong các định không thể khởi thân nghiệp, khẩu nghiệp.
Nếu Phật thường định, không có lúc nào tâm không định,
thời làm sao du hành các nước, đủ bốn oai nghi, vì đại
chúng dùng đủ nhân duyên, thí dụ mà thuyết pháp? Việc như
vậy, tâm thuộc Dục giới và ở Phạm thế không vào định,
mới có thể có việc ấy?
Ðáp:
Không có tâm bất định có nhiều nghĩa. Ðịnh là thường
nhiếp tâm ở trong thiện pháp, Phật định ở trong các pháp
thật tướng, không thối không mất, ấy gọi là không có
tâm bất định.
Lại
nữa, ở trong Dục giới có định, vào trong định ấy có
thể thuyết pháp. Vì vậy nên trong A-tỳ-đàm nói: hệ thuộc
Dục giới, có các công đức thù diệu là bốn thánh chủng,
bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm
lực, Vô tránh tam-muội, nguyện trí, bốn trí vô ngại. Phật
vào định ở trong Dục giới nên gọi là không có tâm bất
định. Các Thanh văn, Bích-chi Phật từ định khởi dậy, thì
hoặc lại vào vô ký tâm hoặc vào thiện tâm, hoặc thối
lui vào cấu tâm, còn Phật từ định khởi dậy liền vào
định Dục giới, không hề có lúc nào tâm tán loạn, do vậy
nên gọi là không có tâm bất định.
Lại
nữa, như ở trong pháp Thanh văn, hóa nhân thuyết pháp thì
hóa chủ không thuyết, hóa chủ thuyết pháp thì hóa nhân không
thuyết. Phật thời không như vậy, hóa chủ hóa nhân đều
có thể đồng thời thuyết pháp. Tâm định cũng có thể khác.
Thanh văn vào định thời không thuyết, Phật ở trong định
cũng có thể thuyết pháp, cũng có thể du hành, như tâm mật
trong kinh Mật Tích nói: chư Phật tâm thường ở trong định,
tâm cũng có thể thuyết pháp.
Lại
nữa, pháp làm tâm tán loạn là các kiết sử, nghi, hối, Phật
không có các thứ đó. A-la-hán tuy không còn nghi đối với
lý Tứ đế, nhưng đối hết thảy pháp chỗ chỗ có nghi,
Phật đối với hết thảy pháp, thường định không nghi,
vì không có trí tuệ bất định.
Lại
nữa, Thanh văn còn có các phiền não tập khí, có thối pháp
cho nên tán loạn, Phật đối với chỗ nhất thiết trí, trí
viên mãn cho nên không loạn; như trong bình nước đầy, thời
không động không tiếng.
Lại
nữa, chỉ một mình Phật là không dối pháp, tối thượng
giữa ba hạng người kiên cố, khổ vui tâm không đổi khác,
tướng nhất, tướng dị, tướng sanh diệt, tướng đoạn
thường, tướng đi lại, các pháp tướng như vậy, đều là
pháp hư dối, pháp hòa hợp hư vọng làm ra, Phật an trú trong
các pháp thật tướng, nên tâm không có bất định. Không
bất định nên tâm không đổi khác.
Lại
nữa, trong năm pháp không thể nghĩ bàn (chúng sanh nhiều ít,
nghiệp lực, long lực, thiền định lực, Phật pháp lực –
N.D), Phật lại rất không thể nghĩ bàn. Mười tám pháp không
chung ấy là tạng thậm thâm của Phật, ai có thể nghĩ bàn
được. Do vậy, Phật không có tâm bất định, việc chắc
chắn phải như vậy.
Phật
tuy thường nhập định, không có thô tâm giác quán, nhưng
có trí tuệ không thể nghĩ bàn, cho nên cũng có thể thuyết
pháp; ví như nhạc trời, tùy theo trời muốn, các tiếng ứng
ra, cũng là vô tâm, cũng là pháp vô thức, do nhân duyên phước
đức của chư thiên nên có được như vậy. Như nhạc trời
vô tâm, vô thức mà hay cảm ứng vật, huống Phật hữu tâm
mà không thuyết pháp. Do vậy nói Phật không có tâm bất định.
Không
có điều không biết đã xả: Chúng sanh có ba thọ là thọ
khổ, thọ vui, thọ không khổ không vui. Thọ khổ sanh sân,
thọ vui sanh ái, thọ không khổ không vui sanh ngu si. Ba thọ
ấy thọ khổ sanh khổ, ở trong khổ thì mất vui, thọ vui
sanh vui, ở trong vui thì mất khổ, còn thọ không khổ không
vui thì không biết là khổ, không biết là vui, những người
độn căn phần nhiều biết thọ khổ thọ vui, còn đối với
thọ không khổ không vui, không hay không biết mà chỉ có tâm
xả, ấy là bị kiết sử ngu si sai khiến. Phật đối với
thọ không khổ không vui biết rõ khi nó sanh, biết rõ khi nó
trụ, biết rõ khi nó diệt. Do vậy nói Phật không có tâm
không biết đã xả.
Hỏi:
Trong đây thế nào gọi là xả? Không khổ không vui tức là
xả? hay xả giác chi trong bảy giác chi? hay xả trong bốn tâm
vô lượng gọi là xả?
Ðáp:
Không khổ không vui tức là xả. Xả trong hai chỗ kia cũng
như vậy, vì sao? Vì các người khác đối với thọ không
khổ không vui, trong mỗi niệm khi sanh, khi trụ, khi diệt, thật
lâu mới rõ, còn Phật trong mỗi niệm đều biết rõ; xả
giác chi trong bảy giác chi, nếu tâm chánh đẳng không trầm
không động, lúc ấy là xả. Nếu khi trầm thì hành tinh tấn
tưởng, nếu khi động thì hành nhiếp tâm tưởng. Các Thanh
văn, Bích-chi Phật hoặc có khi nhiếp tâm sai, tâm rung động
chưa được bình đẳng liền xả, còn Phật ở trong mỗi niệm
tâm thô, tế cạn sâu đều biết hết, biết rồi mới xả.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao Phật vì Nan-đà nói, bảo các Tỳ-kheo rằng:
Nan-đà đối với các thọ khi sanh giác biết, khi trụ giác
biết, khi diệt giác biết. Các tưởng các giác cũng như vậy?
Ðáp:
Giác biết có hai: 1. Giác biết trong tâm khổ thọ sanh biết
khổ thọ sanh, khổ thọ trụ biết khổ thọ trụ, khổ thọ
diệt biết khổ thọ diệt; lạc thọ sanh biết lạc thọ sanh,
lạc thọ trụ biết lạc thọ trụ, lạc thọ diệt biết lạc
thọ diệt. Bất khổ bất lạc thọ cũng như vậy. Chỉ biết
được tướng tổng quát không biết được tướng riêng biệt.
2. Trong mỗi niệm có khổ thọ, lạc thọ, bất khổ bất lạc
thọ đều giác đều biết. Tâm số pháp trong mỗi niệm, không
đều gì không biết mà bỏ qua. Do vậy nói Phật không có
điều không biết đã xả.
Lại
nữa, có khi Phật bỏ chúng sanh, để vào thiền định thậm
thâm một tháng hai tháng. Có người nghi: Phật vì độ chúng
sanh mà ra đời, cớ sao thường nhập định? Phật nói: Ta
có đủ nhân duyên biết rồi nên xả, chứ chẳng phải không
biết đã xả.
Hỏi:
Thế nào là nhân duyên biết rồi mới xả?
Ðáp:
Ðối với đại chúng mệt nhọc mhàm chán nên tạm nghỉ.
Lại
nữa, Phật đời đời thường ưa hạnh viễn ly, khi Bồ-tát
ở trong thai mẹ, mẹ cũng ưa hạnh viễn ly, đi khỏi thành
bốn mươi dặm ở trong vườn Lâm-tỳ-ni đản sanh, khi thành
đạo, tại trong rừng Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela) một mình ở
dưới cây thành Phật, lúc ban đầu Chuyển pháp luân cũng
ở tại rừng Nai chỗ tiên nhân ở, lúc vào Niết-bàn thì
ở dưới cây Ta-la song thọ, mãi mãi ưa hành hạnh viễn ly.
Do vậy nên Phật vào thiền định.
Lại
nữa, Phật thường thành tựu tâm xả, cho nên vào thiền định.
Lại
nữa, Phật thường xa lìa chỗ ồn ào tạp ngữ, tự quán
công đức tạng của chư Phật, hưởng thọ cái vui thanh tịnh
đệ nhất, cho nên vào thiền định.
Lại
nữa, khi Phật thuyết pháp xong, thường dạy các Tỳ-kheo nên
tọa thiền, để sau khỏi hối hận, miệng nói và thân cũng
tự làm như vậy, cho nên vào thiền định.
Lại
nữa, chán ghét cùng dường, biết chúng sanh kẻ đáng được
độ, vào thiền định làm hóa nhân đi đến độ.
Lại
nữa, có chúng sanh định ít tuệ nhiều, nên thân thị hiện
hành thiền để giáo hóa.
Lại
nữa, có người vì thường thấy Phật nên sanh tâm nhàm chán,
Phật tạm xa lánh để khiến họ khao khát trông thấy.
Lại
nữa, Phật muốn thuyết pháp cho chư thiên, nên ở chỗ nhàn
tịnh.
Lại
nữa, Phật muốn làm phép tắc cho đời sau, cho nên tọa thiền.
Lại
Phật tự Chuyển pháp luân xong, đem việc ấy giao phó lại
cho đệ tử, nên vào thiền định.
Lại
nữa, thị hiện hai đạo để nhiếp hóa chúng sanh: 1. Thiền
định, 2. Trí tuệ. Phật thuyết pháp ở giữa đại chúng,
là thị hiện trí tuệ; ở chỗ vắng nhiếp tâm là thị hiện
thiền định.
Lại
nữa, chúng sanh đối với sáu trần có ba cách hành xử: Thấy
sắc đẹp sanh vui mừng, thấy sắc xấu sanh ưu khổ, thấy
sắc không đẹp không xấu sanh xả tâm, cho đến ý biết pháp
cũng như vậy. Phật đối với sáu trần rất tự tại, ở
chỗ vui mừng ưu khổ đều sanh xả tâm, như được nói trong
đoạn Thánh như ý.
Như
vậy, do các nhân duyên nên vào thiền định, chẳng phải không
biết đã xả.
Dục
không giảm: Phật biết cái ân của thiện pháp, nên thường
muốn nhóm các thiện pháp, ham muốn ấy không giảm sút. Tu
tập các thiện pháp, tâm không biết nhàm đủ, ấy là dục
không giảm. Thí như một Trưởng lão Tỳ-kheo mù mắt, tự
vá áo Tăng-già-lê, xâu kim không được, nói với mọi người
rằng: ai ham muốn phước đức, hãy xâu kim dùm tôi. Bấy giờ
Phật hiện ở trước mặt, nói rằng: Ta là người ham muốn
phước đức không biết nhàm đủ, hãy đưa kim ông đây. Tỳ-kheo
ấy cố gắng thấy được ánh sáng của Phật, lại biết
âm thanh của Phật, bạch Phật rằng: biển công đức của
Phật vô lượng, đều tận cùng biên tế, cớ sao không biết
nhàm đủ?
Phật
bảo Tỳ-kheo: quả báo công đức rất sâu, không có ai như
Ta biết phần ân công đức. Ta tuy đã tận cùng biên tế công
đức, mà vốn vì Tâm ta ham muốn không nhàm đủ nên được
thành Phật, thế nên nay vẫn ham không ngừng. Tuy không có
tướng công đức khả đắc, mà tâm ham muốn của Ta cũng
không dừng.
Chư
thiên, người đời kinh ngạc, tỉnh ngộ, Phật đối với
công đức còn không biết nhàm đủ, huống gì người khác.
Phật
nói pháp cho Tỳ-kheo ấy, bấy giờ mắt thịt sáng ra, tuệ
nhãn được thành tựu.
Hỏi:
Như Phật tướng, đã dứt ham muốn đối với hết thảy thiện
pháp, cớ sao nay nói ham muốn không giảm?
Ðáp:
Nói dứt ham muốn đối với hết thảy thiện pháp là chưa
được muốn được, được rồi muốn tăng ích, Phật không
có ham muốn như vậy, hết thảy công đức Phật đã đầy
đủ, không có công đức gì không được, cũng không tăng
ích. Nay nói ham muốn là như trước nói, Phật tuy có đủ
hết thảy công đức mà tâm ham muốn công đức cũng không
thôi; ví như ngựa báu, tuy đi đến nơi mà tâm ham muốn đi
không ngừng, đến chết không bỏ. Phật bảo cũng như vậy.
Lại
nữa lửa lớn lúc kiếp tận, đốt cháy hết tam thiên đại
thiên thế giới, mà thế lửa vẫn không ngừng, lửa trí tuệ
của Phật cũng như vậy, đốt cháy hết phiền não, chiếu
rõ các pháp rồi mà lòng ham muốn tương ưng với trí tuệ
vẫn không tận.
Lại
nữa, Phật đầy đủ hết thảy công đức thiện pháp, mà
chúng sanh chưa độ hết, nên tâm muốn độ không ngừng nghĩ.
Hỏi:
Nếu Phật muốn độ chúng sanh chưa ngừng nghĩ, cớ sao Ngài
vào Niết-bàn?
Ðáp:
Ðộ chúng sanh có hai lối: hoặc có người hiện tiền đắc
độ, hoặc có người sao khi Phật Niết-bàn đắc độ. Như
trong kinh Pháp Hoa nói: thầy thuốc chế thuốc đưa cho các
đứa con, các con bỏ không dùng, vì thế nên vào Niết-bàn.
Lại
nữa, có chúng sanh căn độn đức mỏng, không thành đại
sự được, chỉ có thể gieo nhân duyên phước đức, vì thế
nên vào Niết-bàn.
Hỏi:
Sau khi Phật diệt độ, cũng có người chứng được A-la-hán,
cớ sao nói chỉ có thể gieo nhân duyên phước đức?
Ðáp:
Tuy có người chứng được A-la-hán, nhưng ít nên không nói.
Như lúc Phật còn ở đời, một lần thuyết pháp, có vô số
chúng sanh trong mười phương đắc đạo, sao khi Phật diệt
độ thời không như vậy, ví như nước lớn đi chinh phạt,
tuy được chút ít thì không gọi là được. Vậy nên, tuy
chúng sanh chưa độ hết, mà Phật vào Niết-bàn.
Lại
nữa, trong kinh Ðại thừa Thủ-lăng-nghiêm nói: Phật ở thế
giới trang nghiêm, sống lâu 700 A-tăng-kỳ kiếp, độ thoát
chúng sanh. Do vậy nên nói Phật có ham muốn không giảm.
Tinh
tấn không giảm: Như nói nghĩa ham muốn ở trong phần nói
về dục không giảm ở trên, chính là tinh tấn.
Hỏi:
Nếu như vậy thời không có mười tám pháp không chung. Lại
nữa, dục và tinh tấn là hai tâm số khác nhau, cớ sao nói
dục chính là tinh tấn?
Ðáp:
Dục là mới khởi hành, dục tăng trưởng gọi là tinh tấn.
Như Phật nói: hết thảy pháp, dục là căn bản. Dục như
người khát muốn được uống, tinh tấn như nhân duyên phương
tiện, tìm cầu được uống. Dục là tâm muốn được, tinh
tấn là thành được việc ấy. Dục thuộc ý nghiệp, tinh
tấn thuộc ba nghiệp. Dục là trong, tinh tấn là ngoài. Sai
khác nhau như vậy.
Lại
nữa, tinh tấn là điều chư Phật ưa, như đức Thích-ca Mâu-ni
Phật do sức tinh tấn mà vượt được chín kiếp, mau chứng
đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Lại
nữa, như nói một lần Phật bảo A-nan: ông hãy thuyết pháp
cho các Tỳ-kheo, Ta đau lưng tạm nghỉ một lát. Rồi Thế
Tôn gấp y Uất-đa-la-tăng thành bốn lớp trải dưới, lấy
y Tăng-già-lê gối đầu nằm. Khi ấy A-nan thuyết về ý nghĩa
bảy giác phần, đến tinh tấn giác phần, Phật nghe bỗng
ngồi dậy nói với A-nan: ông tán thán tinh tấn ư? A-nan thưa:
tán thán! Như vậy nói ba lần.
Phật
khen: lành thay! lành thay! khéo tu tinh tấn, cho đến Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác còn chứng được, huống gì đạo quả
khác. Do nghĩa ấy, Phật tinh tấn không giảm. Lúc bệnh còn
không nghỉ, huống là không bệnh.
Lại
nữa, Phật vì độ chúng sanh nên bỏ cái vui trong thiền định
thậm thâm, dùng các loại thân, các loại ngữ ngôn, các loại
phương tiện để độ thoát chúng sanh, có khi đi qua đường
hiểm ác, có khi ăn đồ ăn xấu, có khi chịu lạnh, nóng,
có khi gặp kẻ tà kiến nạn vấn, miệng dữ mắng nhiếc,
vẫn nhẫn chịu không chán. Phật, Thế Tôn tuy đã tự tại
đối với các pháp, mà hành việc ấy không giải đãi, như
Phật độ chúng sanh xong, ở giữa rừng Sa-la nằm dưới cây
song thọ. Phạm-chí Tu-bạt-đà-la nói với A-nan: tôi nghe đấng
nhất thiết trí, sẽ Niết-bàn đêm nay, tôi muốn gặp Phật.
A-nan ngăn lại nói: Phật thuyết pháp cho mọi người, đang
mệt lắm.
Phật
từ xa nghe tiếng bảo: A-nan để cho ông Tu-bạt-đà vào, đây
là đệ tử cuối cùng của Ta.
Tu-bạt-đa
được vào, hỏi Phật chỗ nghi, Phật theo ý thuyết pháp,
Tu-bạt-đà dứt nghi, được đạo, nhập Vô dư Niết-bàn trước
Phật.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật rằng: Thế Tôn rất là hy hữu, cho đến
cuối cùng còn thương xót Phạm-chí ngoại đạo, mà cùng nói
năng.
Phật
dạy: Ta chẳng phải chỉ đời này lúc cuối cùng còn hóa
độ, mà đời trước khi chưa đắc đạo, lúc cuối cùng cũng
hóa độ. Vô lượng A-tăng-kỳ kiếp quá khứ, có rừng cây
lớn, có nhiều cầm thú, lửa nội đến đốt cháy, ba phía
lửa đỏ, chỉ còn một phía mà lại cách một dòng nước,
cầm thú cùng quẩn bức bách, không nơi chốn mạng. Ta lúc
bấy giờ là con nai thân to sức mạng, lấy chân trước gác
qua một bờ, chân sau chống một bờ, khiến các cầm thú đạp
trên lưng mà đi qua, da thịt ta rã hết, vì sức từ bi nên
nhẫn chịu cho đến chết, sau chót một con thỏ đi đến,
khí lực Ta đã kiệt, tự gắng nỗ lực, khiến nó qua được,
qua xong, lưng Ta gãy, rơi xuống nước mà chết. Việc như vậy
có từ lâu, chứ chẳng phải chỉ có ngày nay. Những con thú
qua trước là các đệ tử hiện nay, còn con thỏ qua cuối
cùng là Tu-bạt-đà vậy.
Phật
đời đời vui tinh tấn nay vẫn không ngừng, do vậy nên nói
tinh tấn không giảm.
Niệm
không giảm: Hết thảy trí tuệ tương ưng với pháp của chư
Phật ba đời, nên niệm đầy đủ không giảm.
Hỏi:
Trước đã nói niệm không lỗi, nay lại nói niệm không giảm.
Niệm không lỗi, niệm không giảm là một hay khác? Nếu một
thì sao nay còn nói lại, nếu khác thì khác thế nào?
Ðáp:
Thất niệm là sai lầm, giảm niệm là chẳng kịp. Thất niệm
là sai lầm trong các oai nghi cúi ngước đi lại, niệm không
giảm là trú trong thiền định thần thông, niệm quá khứ,
hiện tại, thông suốt không chướng ngại.
Hỏi:
Cớ sao niệm không giảm chỉ riêng Phật có?
Ðáp:
Thanh văn, Bích-chi Phật, khéo tu bốn niệm xứ nên niệm được
kiên cố, niệm tuy kiên cố nhưng cũng còn giảm thiểu, chướng
ngại không thông suốt, như trong đoạn trí lực túc mạng
nói: Thanh văn, Bích-chi Phật, niệm về túc mạng thật nhiều
trong tám vạn kiếp, đối với rộng lớn thì có giảm, cũng
như đối với người kiến đế đạo, không thể mỗi niệm
phân biệt, còn Phật ở trong mỗi niệm đều phân biệt rõ
ba tướng. Tâm Phật không có một pháp nào đi qua mà không
nghĩ nhớ, vì vậy nên chỉ riêng Phật có niệm không giảm.
Lại
nữa, trí lực túc mạng theo niệm mà biết, Phật đối với
việc ấy có lực, Thanh văn, Bích-chi Phật còn không có niệm
lực ấy huống gì người khác!
Lại
nữa, Phật do có nhất thiết trí vô ngại giải thoát thủ
hộ niệm, cho nên niệm không giảm. Do các nhân duyên như vậy,
Phật có niệm không giảm.
Tuệ
không giảm: Phật được hết thảy trí tuệ nên tuệ không
giảm. Trí tuệ ba đời vô ngại nên tuệ không giảm.
Lại
nữa, mười lực, bốn việc không sợ, bốn trí vô ngại thành
tựu, nên niệm không giảm.
Lại
nữa, ví như dầu đầy, tim đèn tốt, thời ánh sáng mạnh
tỏ, Phật cũng như vậy, dầu Tam-muội vương các tam-muội
thiền định, tim đèn niệm trong sạch không giảm, nên ánh
sáng trí tuệ vô lượng không giảm.
Lại
nữa, từ sơ phát tâm trong vô lượng, vô số kiếp chứa nhóm
hết thảy trí tuệ, thâm tâm vì pháp, đầu mắt tủy não,
bỏ hết vật sở hữu trong ngoài mà bố thí, nhảy vào lửa,
gieo xuống núi, lột da cắt thân, như vậy không có khổ gì
không nhẫn chịu, nhất tâm vì chứa nhóm trí tuệ nên tuệ
không giảm.
Lại
nữa, trí tuệ của Phật nhờ hết thảy công đức trì giới,
thiền định giúp thành, nên tuệ không giảm.
Lại
nữa, đời đời tìm hết thảy kinh sách, pháp đời, pháp
Phật, thô tế, thiện bất thiện đều học biết hết, nên
tuệ không giảm.
Lại
nữa, từ chỗ mười phương vô lượng chư Phật, nghe pháp,
tụng đọc, tư duy, tu tập, vấn nạn, nên tuệ không giảm.
Lại
nữa, vì hết thảy chúng sanh, vì tăng ích hết thảy thiện
pháp, phá hết thảy vô minh, nên tuệ không giảm.
Lại
nữa, trí tuệ ấy thật biết tướng các pháp không sanh không
diệt, không sạch, không nhơ, không tác, không hành, không phân
biệt là trí chẳng phải trí, biết các pháp nhất tướng
bình đẳng, thanh tịnh như hư không, không nhiễm, không trước,
không dùng hai pháp, nên được pháp tướng bất nhị nhập.
Pháp tướng bất nhị nhập vô lượng vô biên, thế nên tuệ
không giảm. Các nhân duyên như vậy, tuệ không giảm.
Giải
thoát không giảm: Giải thoát có hai: hữu vi giải thoát và
vô vi giải thoát. Hữu vi giải thoát là giải thoát tương
ưng với trí tuệ vô lậu. Vô vi là giải thoát là hết thảy
tập khí phiền não đều dứt hết không còn. Phật đối với
hai giải thoát không giảm, vì cớ sao? Vì Thanh văn, Bích-chi
Phật trí tuệ không lớn, không nhạy bén, phiền não không
dứt hết, nên trí tuệ có giảm, còn Phật trí tuệ nhạy
bén đệ nhất, tập khí phiền não dứt sạch vĩnh viễn không
còn, cho nên giải thoát không giảm.
Lại
nữa, như trong đoạn lậu tận lực nói, giải thoát của Phật
và Thanh văn, có khác nhau. Phật được lực lậu tận nên
giải thoát không giảm, nhị thừa không có lực ấy nên giải
thoát có giảm.
Giải
thoát tri kiến không giảm: Phật đối với các giải thoát,
trí tuệ thanh tịnh vô biên vô lượng, gọi là giải thoát
tri kiến không giảm.
Hỏi:
Phật đối với hết thảy pháp không giảm, cớ sao chỉ trong
sáu việc không giảm?
Ðáp:
Ðối với hết thảy việc tự lợi, lợi tha, bốn việc có
thể làm cho đầy đủ: Dục cội gốc của việc mong cầu
hết thảy thiện pháp. Tinh tấn khả năng thật hành. Niệm
khả năng thủ hộ, như người giữ cửa, người thiện cho
vào, người ác ngăn lại. Tueä soi hết thảy pháp môn, dứt
hết thảy phiền não. Dùng bốn pháp ấy, việc được thành
tựu.
Quả
báo của bốn pháp ấy có hai: 1. Giải thoát. 2. Giải thoát
tri kiến. Nghĩa giải thoát như trước đã nói. Còn nghĩa giải
thoát tri kiến là dùng giải thoát tri kiến ấy biết hai tướng
giải thoát ấy là hữu vi và vô vi giải thoát.
Biết
các tướng giải thoát, đó là thời giải thoát, bất thời
giải thoát, tuệ giải thoát, câu giải thoát, hoại giải thoát,
bất hoại giải thoát, tám giải thoát, bất khả tư nghị
giải thoát, vô ngại giải thoát... Phân biệt các tướng giải
thoát bền chắc không bền chắc, ấy gọi là giải thoát tri
kiến không giảm. Như trong đoạn nói về niệm Phật, Phật
thành tựu năm vô lậu uẩn, giải thoát tri kiến uẩn, trong
đây đã có nói rộng.
Hỏi:
Giải thoát tri kiến, chỉ nói biết, sao còn nói kiến?
Ðáp:
Nói biết, nói kiến, sự được bền chắc; ví như hai giây
hiệp làm một thời bền chắc.
Lại
nữa, nếu chỉ nói biết, thời không thu nhiếp hết thảy
tuệ, như Luận tạng nói, Tuệ có ba thứ: có thứ biết chẳng
phải thấy, có thứ thấy chẳng phải biết, có thứ cũng
thấy cũng biết. Biết chẳng thấy là tận trí, vô sanh trí,
trí tương ưng năm thức. Thấy chẳng phải biết là tám nhẫn
(Khổ pháp nhẫn, tập pháp nhẫn, diệt pháp nhẫn, đạo pháp
nhẫn, khổ loại nhẫn, tập loại nhẫn, diệt loại nhẫn,
đạo loại nhẫn – N.D chú), thế gian chánh kiến, năm tà
kiến. Cũng biết cũng thấy là các tuệ còn lại. Nếu nói
biết thời không bao gồm thấy, nếu nói thấy thời không
thu nhiếp biết, vì vậy nói tri kiến thời đầy đủ.
Lại
nữa, như tụng đọc, phân biệt, trù lượng theo người gọi
là biết, tự mình chứng được gọi là thấy, ví như tai
nghe việc ấy, vẫn còn hồ nghi, ấy là biết, chính tự mắt
thấy, rõ ràng không nghi, ấy là thấy. Biết và thấy đối
với giải thoát cũng sai khác như vậy.
Lại
nữa, có người nói: A-la-hán còn nghi đối với giải thoát
của chính mình, không thể tự biết rõ là A-la-hán hay chẳng
phải là A-la-hán. Phật vì phá tà kiến ấy nên nói các thánh
nhân đối với giải thoát cũng biết cũng thấy. Các A-la-hán
tuy được giải thoát tri kiến, mà giải thoát trí kiến có
giảm vì không được nhất thiết trí, vì không thành tựu
trí tuệ căn thượng thượng, vì không phân biệt được biệt
tướng các pháp khi sanh khi diệt trong mỗi niệm; còn Phật
thành tựu trí tuệ căn thượng thượng, biết biệt tướng
các pháp sanh diệt trong mỗi niệm, nên giải thoát tri kiến
không giảm.
Lại
nữa, thành tựu đầy đủ pháp nhãn thanh tịnh như đã nói
ở trong nghĩa pháp nhãn. Biết chúng sanh ấy do cửa Không giải
thoát vào Niết-bàn, chúng sanh do cửa Vô tướng giải thoát
vào Niết-bàn, chúng sanh ấy do cửa Vô tác giải thoát vào
Niết-bàn; biết chúng sanh ấy do cửa Quán năm uẩn, mười
hai nhập, mười tám giới, do các pháp môn như vậy được
giải thoát.
Phật
đối với giải thoát tri kiến biết hết biết khắp, thế
nên nói. Phật giải thoát tri kiến không giảm.
Hết
thảy thân nghiệp, hết thảy khẩu nghiệp, hết thảy ý nghiệp,
hành theo trí tuệ: Phật hết thảy thân, khẩu, ý nghiệp trước
biết rồi sau theo chỗ biết mà hành. Thân, khẩu, ý nghiệp
của chư Phật, mọi hành động đều lợi ích chúng sanh, cho
nên gọi là trước biết rồi sau theo trí tuệ mà hành. Như
trong Kinh nói: chư Phật cho đến thở vào thở ra còn lợi
ích chúng sanh, huống gì thân, khẩu, ý nghiệp cố làm mà
không lợi ích? Các chúng sanh oán ác nghe hương khí hơi thở
ra vào của Phật, đều được tín tâm thanh tịnh, ưa vui nơi
Phật: chư thiên nghe hương khí hơi thở của Phật cũng đều
bỏ năm dục, mà phát tâm tu thiện. Do vậy, nói thân, khẩu,
ý nghiệp hành theo trí tuệ. Thanh văn, Bích-chi Phật không
có việc ấy. Tâm cố làm thiện rồi sau thân, khẩu nghiệp
mới thiện, mà ý nghiệp có khi vô ký, không theo trí tuệ
mà tự sanh, huống gì người khác, như Tỳ-kheo Kiều-phạm-ba-đề
tuy chứng được A-la-hán mà tự nhã đồ ăn rồi nhai lại;
nghiệp ấy không theo trí tuệ.
Lại
như Tỳ-kheo A-la-hán Ma-đầu Ba-tư-đà nhảy trên xà nhà, gác,
trên vách, cây.
Lại
như Tỳ-kheo Tất-lăng-già-bà-ta mắng nữ thần sông Hằng
rằng “Con bé”. Như vậy là thân khẩu nghiệp trước không
có trí tuệ cũng không theo trí tuệ mà hành. Phật không có
việc ấy.
Hỏi:
Nếu như vậy sao Phật có khi thân khẩu nghiệp in tuồng không
theo trí tuệ hành, vì sao? Vì là khi Phật vào trong chúng ngoại
đạo thuyết pháp mà họ đều không tín thọ?
Lại
có lần Phật ở giữa đại chúng thuyết pháp, bày ngực cho
Ni-kiền- tử thấy? Lại vì một người nghi không thấy hai
tướng mà Phật ở giữa đại chúng bày tướng lưỡi và
tướng âm tàng? Lại mắng các đệ tử, các ngươi là người
ngu cuồng! mắng Ðề-bà-đạt-đa ngươi là người cuồng,
người chết, người nhổ mửa! Phật kết giới không cho phép
giữ tám thứ bình bát, chỉ cho Tỳ-kheo dùng hai thứ bình
bát hoặc bằng sành hoặc bằng thiết, mà Phật lại tự dùng
bát đá? Có khi ngoại đạo nạn vấn, Phật im lặng không
trả lời?
Lại
Phật ở chỗ này nói hữu ngã, chỗ kia nói vô ngã; chỗ này
nói các pháp có, chỗ kia nói các pháp không. Như vậy thân
khẩu nghiệp của Phật in tuồng không theo trí tuệ mà hành.
Thân khẩu nghiệp không lìa ý nghiệp, ý nghiệp cũng phải
có khi không theo trí tuệ hành, vậy cớ sao nói Phật thường
theo trí tuệ hành?
Ðáp:
Nói như vậy không đúng. Ðối với các việc ấy đều trước
có trí tuệ, rồi sau các nghiệp theo trí tuệ mà hành, vì
cớ sao? Vì Phật vào giữa chúng ngoại đạo, tuy biết đời
này họ không tin không thọ, mà vì để gieo nhân duyên lớn
cho đời sau. Lại để ngăn ngoại đạo phỉ báng nói Phật
tự cao mạng, vì vậy Phật tự đi vào trong chúng đó. Lại
ngoại đạo nói: Phật tự nói có tâm đại bi tế độ khắp
tất cả, mà chỉ vì bốn chúng thuyết pháp, còn chúng ta đây
cũng là người xuất gia cầu đạo mà không thuyết cho! Lại
như trong kinh Bát-nhã này nói: Phật đi đến giữa chúng ngoại
đạo thuyết pháp, họ không nói là không tín thọ. Phật từ
xa trông thấy ngoại đạo đại hội, lớn tiếng luận nghị,
định đến nơi khác, lại quay trở lại đi vào đây. Các
luận nghị sư từ xa thấy Phật đi đến, tự mình nói với
nhau rằng: các ngươi hãy im lặng! Phật là người ưa tịch
tịnh, thấy các người im lặng, Ngài có thể đến đây.
Cả
chúng liền im lặng. Phật đi vào giữa chúng ấy thuyết ba
đế cho Bà-la-môn, chúng ngoại đạo đều im lặng. Phật nghĩ
rằng bọn người cuồng bị ác ma che lấp, pháp này vi diệu,
mà cho đến không có một người thử làm đệ tử. Nghĩ vậy,
rồi từ tòa đứng dậy đi, những người ấy thoát khỏi
ma che, liền tự nghĩ: chúng ta được nghe pháp mầu, tại sao
không lấy làm tự lợi, liền cùng đi đến chỗ Phật, làm
đệ tử Phật, đắc đạo, lìa khổ.
Lại
nữa, đệ tử ngoại đạo lo sợ thầy họ, nên không dám
đến Phật, cho nên Phật tự đi vào giữa chúng ấy thuyết
pháp, họ được nghe pháp tin thọ kiên cố, không còn la sợ
thầy họ, lại được làm đệ tử Phật, hoặc đắc dấu
đạo. Có các nhân duyên trí tuệ như vậy, nên đi vào chúng
ngoại đạo.
Lại
nữa, Tát-giá-kỳ-ni-kiền-tử lấy lá đồng bịt bụng, tự
thề rằng: không có người nào bị ta nạn vấn mà không toát
mồ hôi bại hoại. Voi lớn cho đến cỏ cây sành đá, nghe
tiếng nạn vấn của ta cũng đều toát mồ hôi! Thề như vậy
rồi đi đến chỗ Phật; luận nghị với Phật. Phật gạn
hỏi, đều không đáp được, mồ hôi đổ xuống đất, cả
mình như ngâm. Phật bảo Ni-kiền, trước ông thề rằng, không
người nào nghe ta nạn vấn mà không đổ mồ hôi, nay chính
ông đổ mồ hôi xuống đất. Oâng thử xem Phật, thấy có
mồ hôi chăng? Khi ấy Phật cởi y Uất-đa-la-tăng chỉ cho
ông và hỏi: mồ hôi chỗ nào?
Lại
nữa, có người nói, hoặc có người đầu đổ mồ hôi thân
không đổ mồ hôi, Phật tuy đầu không đổ mồ hôi mà thân
chắc có mồ hôi, vì vậy Phật cỡi y Uất-đa-la-tăng bày
thân ra, nhân đó ngoại đạo rất tin tướng Phật, đều vào
trong Phật pháp, ấy là nhân duyên trí tuệ, thân nghiệp hành
theo.
Phật
bày tướng lưỡi, tướng âm tàng là vì có người nghi hai
tướng ấy nơi thân Phật, mà người ấy là người có thể
đắc đạo, chỉ vì nghi nên không đắc, vì vậy Phật bày
hai tướng cho thấy. Lè lưỡi ra phủ cả mặt, lưỡi tuy lớn
mà trở vào trong miệng cũng không chướng ngại , người ấy
thấy rồi hết nghi. Có người thấy tướng lưỡi lè ra, hoặc
sanh tâm khinh mạn, lè lưỡi như con nít, khi thấy lưỡi trở
vào miệng mà thuyết pháp không bị trở ngại, liền khởi
tâm cung kính, khen chưa từng có.
Có
người nghi tướng âm tàng của Phật không hiện. Bấy giờ
Thế Tôn hóa làm voi báu, ngựa báu; có tướng âm tàng, chỉ
cho thấy và nói: tướng âm tàng của Phật không hiện, cũng
giống như vậy. Có người nói, Phật bày tướng âm tàng,
chỉ cho một người thấy để dứt nghi của họ. Các luận
nghị sư nói: Phật có tâm đại từ bi, nếu có người do
thấy tướng âm tàng của Phật mà có thể chứa nhóm thiện
căn, phát tâm đại Bồ-đề và sanh tâm rất vui mừng tín
kỉnh, thì Phật đều làm cho được thấy, dứt nghi tâm của
họ, ngoài ra không ai được thấy!
Phật
vì tâm đại bi độ chúng sanh nên đối ba hạng người trên
tạm bày ra cho họ thấy nhanh như điển chớp, các chúng sanh
ấy thấy rồi, tin Phật có tâm đại bi, chứ Phật đối với
giới pháp Phật không thủ không đắm trước. Do nhân duyên
như vậy nên hiện bày hai tướng, chứ chẳng phải đùa cợt,
chẳng phải không biết hổ.
Phật
nói lời gay gắt với các Tỳ-kheo: các ông là người ngu cuồng.
Lời gay gắt có hai loại: 1. Tâm ô cấu sân giận mắng nhiếc.
2. Vì thương xót chúng sanh muốn giáo hóa.
Người
ly dục còn không có tâm ô cấu sân giận mắng nhiếc, huống
gì Phật! Phật vì thương xót giáo hóa nên nói lời gay gắt.
Có chúng sanh nghe lời giáo huấn êm dịu hiền lành không đưa
vào khuôn phép đạo được, phải nói lời gay gắt thô kịch
mới đưa vào đạo được. Như ngựa hay thấy bóng roi liền
chạy, còn lừa ngu phải quất đau mới đi; cũng như có thứ
ghẻ được thuốc êm dịu, phun thoa liền lành, có thứ ghẻ
phải lấy dao xẻ lấy thịt thúi ra, xức thuốc dữ mới lành.
Lại
nữa, lời gay gắt có năm: 1. Nói thêu dệt. 2. Miệng nói dữ
và cũng thêu dệt. 3. Miệng nói dữ và cũng thêu dệt, vọng
ngữ. 5. Tâm không phiền não mà nói lời gay gắt để giáo
hóa đệ tử, phân biệt đều thiện bất thiện, kéo chúng
sanh ra khỏi đất khổ nạn. Ðủ bốn thứ ác ngữ tội rất
nặng. Aùc ngữ thứ ba, hai, một tội nhỏ nhẹ lần. Hàng
cư sĩ đệ tử Phật chứng đắc đạo quả thứ nhất, thứ
nhì sai khiến nô tỳ với lời nói ác, chẳng phải là đạo
bất thiện.
Nhiếp
luật nghi có hai thứ: hoặc nói thêu dệt, hoặc nói ác và
thêu dệt. A-na-hàm, A-la-hán, không có phiền não khỏi lời
nói ác, chỉ do tịnh tâm, cần nói ác để giáo hóa nên nói
ác và nói thêu dệt. A-na-hàm, A-la-hán còn không có phiền
não khởi lời ác huống gì Phật.
Lại
nữa, nếu Phật có lời nói gay gắt, không nên nghi, không
nên nạn vấn cho là Phật có ác tâm phát ra lời nói gay gắt,
vì cớ sao? Vì ác tâm Phật đã dứt lâu rồi, chỉ vì thân
tâm nghĩ tới chúng sanh như cha lành dạy con, tuy có lời gay
gắt, cũng vì chỉ thành tựu cho con, chẳng phải là ác tâm.
Lúc Phật còn là Bồ-tát, ba độc chưa hết, làm tiên nhân
tên là Sằn-đề bị vua ác cắt tai, mũi, tay, chân mà không
sanh tâm ác, không nói lời ác. Bấy giờ chưa đắc đạo,
còn không có ác tâm, huống gì khi được thành Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, ba độc đã hết, đầy đủ tâm đại
từ bi đối với chúng sanh, sao được nghi Phật có ác tâm,
nói lời gay gắt.
Lại
nữa, nếu Phật nói ngươi là người ngu cuồng, thì ấy là
lời êm dịu, lời nói thật, vì sao? Vì ba độc phát sanh gọi
là ngu cuồng, lại đem việc lành làm lợi ích cho mà không
khấn chịu, không hiểu ý Phật, không lãnh thọ lời Phật,
ấy là ngu cuồng.
Lại
nữa, Phật bên trong thường hành trí tuệ vô ngã, bên ngoài
thường quán các pháp không, như vậy thì làm sao có ác khẩu?
Ðó chỉ do chúng sanh không hiểu tâm Phật, nên tìm chỗ dỡ
nơi lời nói của Phật, nếu chúng sanh hiểu Phật lấy thâm
tâm thương xót, thời giả sử Phật khiến nhảy vào lửa
lớn liền hoan hỷ nhảy vào, như người bị nóng bức nhảy
vào ao nước mát, huống gì Phật chỉ nói mà không chịu lãnh
thọ. Chúng sanh bị ác ma che lấp không biết, nên Phật đem
thâm tâm nghĩ tới, mà không lãnh thọ lời Phật. Vì vậy,
Phật nói ngươi là người ngu cuồng.
Lại
nữa, có người nghe lời nói gay gắt thì vui mừng nói: vì
thương ta nên nói như vậy. Vì vậy, Phật nói ngươi là người
ngu cuồng.
Phật
nói: Ðề-bà-đạt ngươi là người cuồng, người chết, người
súc nhổ. Người cuồng là vì Ðề-bà-đạt tội nặng sẽ
xa vào địa ngục A-tỳ, cho nên nói ba lời gay gắt. Người
chết là tợ như người mà không thể chứa nhóm các điều
thiện. Cũng vì Ðề-bà-đạt cạo đầu mặt áo pháp, tợ
như thánh nhân, mà bên trong không có tuệ mạng, nên gọi là
người chết. Như người chết được trang sức đủ thứ
mà dần dần tiêu hoại, không thể làm cho sống được, Ðề-bà-đạt
cũng như vậy. Phật ngày ngày giáo hóa cho đủ cách mà ác
tâm càng mạnh, pháp ác bất thiện ngày càng tăng, cho đến
gây ba tội nghịch, vì vậy nên gọi là người chết. Người
súc nhổ là vì Ðề-bà-đạt tham lợi dưỡng mà hóa làm đứa
trẻ nít thân trời, ở trong tay ôm của vua A-xà-thế, vua than
miệng ông thúi, nên nhổ nước miếng bảo súc miệng. Vì
vậy gọi là người súc nhổ.
Hỏi:
Ðề-bà-đạt đã được thiền định, đã lìa dục, cớ sao
còn súc miệng bằng nước miếng của người khác?
Ðáp:
Người ấy ác tâm cũng sâu, căn kia cũng nhạy bén, lìa dục
cho nên có thể biến hóa, khi súc nước miếng liền mất,
vì căn nhạy bén nên khi tìm lại liền được, vì vậy nên
gọi là người súc nhổ. Nghĩa cuồng như đoạn trước đã
nói.
Lại
nữa, vì Ðề-bà-đạt bạch Phật: Phật đã già yếu, thường
ưa nhàn tịnh, Ngài có thể vào rừng tự vui, Tăng chúng có
thể giao cho tôi. Phật nói: Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên...
có trí tuệ lớn, là người hiền thiện, nhu hòa, thanh tịnh,
Ta còn không cho nhiếp Tăng, huống gì ngươi là người cuồng,
người chết, người súc nhổ.
Có
các nhân duyên như vậy, Phật đối với các pháp tuy không
nhiễm trước mà vì giáo hóa nên nói lời gay gắt.
Phật
không cho Tỳ-kheo dùng tám thứ bình bát: Những bát châu báu
vàng, bạc... vì vật báu bị người tham, khó kiếm được,
sanh tham đắm, nên không cho cất giữ bảo vật đó, cho đến
không được lấy tay cầm, cũng không được cất giữ các
danh bảo, nếu có làm phép tịnh thí, thời được dùng, vì
giá trị không còn quí. Bát gỗ dùng dễ sanh cấu bẩn, bất
tịnh nên không cho dùng. Ba thứ bát khác (sành, thiết, đá)
không có các việc như vậy.
Hỏi:
Bát sành, thiết cũng dễ bị cấu bẩn không khác bát gỗ,
tại sao cho phép dùng?
Ðáp:
Bát sành, thiết, nếu không hun khói cũng không được phép
dùng, do hun khói nên không bị cấu bẩn. Bát đá có thô, tế.
Ðá mịn láng cũng không bị cấu bẩn cho nên Thế Tôn tự
dùng, nhưng Phật không cho Tỳ-kheo dùng vì nó nặng, sức của
Phật hơn vạn voi trắng, nên không cho là nặng. Vì thương
các Tỳ-kheo nên không cho phép dùng.
Hỏi:
Thị giả La-đà, Du-thiện-ca, Tu-na-sát-la-đa, Na-già-ta-bà-la,
A-nan... thường hầu Phật bưng bình bát, cớ sao Phật không
thương xót?
Ðáp:
Các thị giả tuy bưng bát của Phật, song vì oai đức của
Phật và vì tâm cung kính tôn trọng Phật, nên không biết
nặng. Lại, thân lực A-nan cũng to lớn.
Lại
nữa, vì bát đá mịn láng khó kiếm được, còn thô xám thì
bị dính cấu bẩn, nên không cho phép dùng.
Bát
đá của Phật tự nhiên sanh ở bốn chót núi của bốn vua
trời, các người khác không có bát tự nhiên ấy, nếu tìm
cho có để làm rất khó, bị trở ngại mất công nhiều, nên
Phật không cho phép dùng.
Lại
muốn cho bát của Phật khác với đệ tử, nên Phật dùng
bát đá.
Lại
như quốc vương, được mọi người tôn trọng, thì đồ dùng
để ăn cũng khác. Có người thấy bát của Phật khác với
bát người khác, càng thêm tôn trọng cúng dường, sanh tín
tâm thanh tịnh.
Hỏi:
Nếu bình bát đã phải khác cớ sao y lại đồng?
Ðáp:
Y của Phật cũng khác. Khi Phật mới thành đạo, biết y của
Phật Ca-diếp, thích hợp với Phật mang. Y của Phật Ca-diếp
giá trị mười vạn lượng vàng. Sau đó lương y Kỳ-vức
(Jivaka) dâng cho Phật cái y Thâm-ma-căn-kiết-bá cũng giá trị
mười vạn lượng vàng. Phật dạy A-nan đem y ấy cắt may
thành y Tăng-già-lê. May xong Phật nhận mang, ấy là khác.
Hỏi:
Phật nhân đó bảo các Tỳ-kheo, từ nay có vị Tỳ-kheo nào
nhất tâm cầu Niết-bàn, trái bỏ thế gian, nếu muốn mặc
y giá trị mười vạn lượng vàng, cũng cho phép ăn đồ ăn
trăm vị. Ðồ ăn khác, y mặc khác mà sau cho phép, sao riêng
bình bát không cho phép?
Ðáp:
Trước tôi đã nói nhân duyên về bát đá, nay nói thêm: Bát
của Phật không thọ nhận từ người. Khi Phật mới Thành
đạo, muốn ăn cần đồ đựng, bốn vua trời biết tâm niệm
Phật, đem bốn bình bát dâng Phật. Phép của Phật ba đời
đều dùng bình bát của bốn vua trời, lúc bấy giờ chưa
có chúng tăng, làm sao nói cho phép, về sau nếu cho phép, lại
không ai cúng cho bát đá. Lại cõi Diêm-phù-đề không ưa bát
đá, cho nên không ai cúng cho.
Lại
nữa, Phật dạy Tỳ-khep thường nên che dấu công đức, nếu
thọ nhận bát đá, người đời sẽ nói bát ấy từ trời
rồng mà có được, nếu bảo người làm thì công phu quá
khó. Lại sợ người ta nói Tỳ-kheo này muốn ngang công với
Phật, vì vậy Phật không cho phép. Còn y, hoặc có người
nói Phật ở giữa Tăng thọ nhận y tốt của đàn-việt để
mặc riêng mà không cho Tỳ-kheo mặc, vì vậy Phật cho phép
mặc. Nhưng Tỳ-kheo cũng tự không mặc, vì người thí khó
có nên người mặc khó được. Nếu Tỳ-kheo không thanh tịnh
thời người ta không cúng, nếu Tỳ-kheo thanh tịnh thì ít
muốn, biết đủ, nên không mặc. Phật dứt nghi hoặc của
người, nên cho phép mặc y, còn đối bình bát thì không có
mong, nên không cho phép dùng.
Hỏi:
Như trong kinh nói: Phật Kim cang thân, không nhờ cậy ăn, thì
cần gì giữ bát?
Ðáp:
Phật pháp có hai đạo: 1. Thanh văn đạo. 2. Phật đạo.
Theo
pháp Thanh văn, Phật tùy theo cách thức thường lệ của con
người có sự ăn dùng, còn theo pháp Ðại thừa, phương tiện
vì người, nên thị hiện có ăn, mà kỳ thật không ăn.
Hỏi:
Thế nào là phương tiện?
Ðáp:
Phật muốn độ người nên thị hiện làm theo cách thức con
người, nếu không như vậy, người ta sẽ nói: Phật chẳng
phải người, chúng ta làm sao thực hành được pháp của Phật.
Lại
nữa, có người nhân bố thí mà đắc độ, vì hạng người
ấy nên Phật thọ nhận đồ ăn của họ, họ liền nghĩ rằng:
Ðồ ăn của chúng ta giúp ích thân Phật, nên tâm họ rất
hoan hỷ, do tâm hoan hỷ mà tín thọ lời Phật dạy, như đại
quốc vương được hạ thần mời ăn, vua tuy không cần, nhưng
vì thâu nhiếp người ấy mà ăn ít nhiều, để cho họ hoan
hỷ. Do các nhân duyên như vậy, Phật thị hiện thọ thực.
Hỏi:
Nếu Phật không ăn thì vật Phật lãnh thọ để ở chỗ nào?
Ðáp:
Phật sự bất khả tư nghì, không nên hỏi.
Lại
nữa, có người được đồ ăn của Phật mà đắc độ, có
Thanh văn thấy sắc, chạm thân, nghe hương mà đắc độ. Người
cần đồ ăn mà đắc độ thì Phật lấy đồ ăn cho. Như
trong kinh Mật Tích Kim cang nói: Phật lấy đồ ăn để trong
miệng, đưa cho vị trời cầu Phật đạo, đem đến mười
phương thí.
Hỏi:
Nếu như vậy, trong đoạn nói về Niệm Tăng trước kia đã
nói, đồ ăn của Phật không có chúng sanh nào có thể ăn,
nghĩa ấy thế nào?
Ðáp:
Phật không cho thì không ai có thể ăn, nay Phật cho nên được
ăn, vì sao biết? Khi Phật ăn mã mạch, đưa đồ ăn cho A-nan,
có Sa-môn Nhị-thập-ức dâng canh ngon cho Phật, Phật lấy
canh thừa cho vua Tần-bà-ta-la, do vậy nên biết Phật thọ
dụng rồi đem cho thời được ăn, không cho thời không thể
tiêu hóa được.
Lại
nữa, vì Phật mà thiết đặt đồ ăn, Phật chưa ăn, người
khác ăn không tiêu hóa được, đồ ăn thừa Phật cho ăn thời
tiêu hóa được. Vì vậy, nên tuy thật Phật không ăn, mà
vì độ người, nên thị hiện thọ thực, cất bình bát.
Phật
không đáp mười bốn nạn vấn: Phật co ù4 cách đáp: 1. Ðáp
bằng cách quyết định chắc chắn. 2. Ðáp bằng cách phân
biệt nghĩa lý rõ ràng. 3. Ðáp bằng cách hỏi ngược lại.
4. Ðáp bằng cách bỏ qua. Mười bốn nạn vấn ấy, đúng
phép nên đáp bằng cách bỏ qua.
Lại
nếu có việc lợi ích thời đáp. Ngoại đạo hỏi không phải
vì Niết-bàn, chỉ tăng trưởng nghi hoặc, cho nên Phật dùng
lối đáp bằng cách bỏ qua. Biết chắc việc có ích thời
phân biệt rõ ràng đáp; còn không có ích thì bỏ qua không
đáp. Do nhân duyên ấy, biết Phật là bậc nhất thiết trí.
Lại
nữa, nếu Phật nói ba loại pháp là pháp hữu vi, pháp vô
vi, pháp bất khả thuyết, thế là đã nói hết thảy pháp.
Lại
nữa, các ngoại đạo ấy, nương dựa thường kiến, nương
dựa đoạn diệt kiến, nên hỏi thường, hỏi đoạn diệt.
Thật tướng không có thường, đoạn, nên Phật không đáp.
Như ngoại đạo thấy thường, không có việc ấy, vì cớ
sao? Chỉ vì ngoại đạo thủ tướng nên vướng vào thường,
đoạn, còn Phật tuy nói thường, nói vô thường, chỉ vì
để đối trị mà dùng thôi.
Lại
nữa, nếu người nói không là có, có là không, người như
vậy là tội lỗi. Phật không đáp thời không lỗi, như mặt
trời chiếu thiên hạ, không thể làm cho chỗ cao thành thấp,
thấp thành cao, chỉ có làm cho hiển hiện mà thôi. Phật cũng
như vậy, không làm gì khác đối với các pháp, các pháp có
thời nói có, không thời nói không, như nói: sanh làm nhân
duyên cho già, chết, cho đến vô minh làm nhân duyên cho hành;
có Phật không Phật, pháp nhân duyên ấy tương tục thường
ở thế gian. Chư Phật ra đời, vì chúng sanh chỉ bày pháp
ấy cho thấy.
Lại
nữa, nếu đáp thường hay đoạn đều có lỗi, như hỏi đứa
con của con gái đá, con của kẻ hoàng môn là cao hay thấp,
đen hay trắng, loại gì? Những câu hỏi ấy không nên đáp.
Mười bốn nạn vấn cũng như vậy, chỉ lấy thường, đoạn
làm gốc để hỏi. Vì thật tướng không thường không đoạn
nên Phật không đáp.
Do
các nhân duyên như vậy, Phật không đáp mười bốn nạn vấn,
không lỗi.
Phật
ở nhiều nơi nói có ngã, nhiều nơi nói không ngã: Nếu với
người hiểu nghĩa Phật pháp, biết giả danh, thời nói có
ngã, nếu với người không hiểu nghĩa Phật pháp không biết
giả danh, thời nói không ngã.
Lại
nữa, Phật vì chúng sanh sắp đọa vào đoạn diệt kiến,
thời nói có ngã chịu quả báo tội phước đời sau. Nếu
người sắp đọa vào thường kiến, thời vì họ nói không
có ngã, không có người làm, không có người chịu, lìa năm
uẩn giả danh, thì không có một pháp gì tự tại.
Hỏi:
Nếu như vậy, thì những gì là thật?
Ðáp:
Vô ngã là thật. Như trong ba pháp ấn nói: hết thảy hành
(tác pháp) vô thường, hết thảy pháp vô ngã, tịch diệt
là Niết-bàn an ổn. Pháp ấn là thật tướng các pháp. Nếu
người thiện căn chưa thuần thục, trí tuệ không lanh lợi,
Phật không nói pháp vô ngã thâm sâu cho họ. Nếu nói họ
liền đọa vào trong đoạn diệt kiến.
Hỏi:
Nếu như vậy, như trong lời Ca-diếp hỏi, Phật nói ngã là
một bên, vô ngã là một bên, lìa hai bên ấy là trung đạo,
sao nay nói vô ngã là thật, có ngã là phương tiện nói?
Ðáp:
Nói vô ngã có hai: 1. Chấp thủ tướng vô ngã, dính mắc vô
ngã. 2. Phá ngã không chấp thủ vô ngã, cũng không dính mắc
vô ngã, tự nhiên lìa bỏ. Như vậy trước nói vô ngã là
một bên, sau nói vô ngã là trung đạo.
Lại
nữa, Phật nói hữu ngã vô ngã có hai nhân duyên: 1. Dùng theo
thế tục thì nói hữu ngã. 2. Dùng theo đệ nhất thật tướng
thì nói vô ngã. Như vậy, nói hữu ngã, vô ngã không lỗi.
Phật
ở nhiều nơi nói các pháp có, ở nhiều nơi nói các pháp
không: Hỏi: Không nên nói riêng các pháp có, không, vì có
tức là có ngã, không tức là không ngã, sao còn nói lại?
Ðáp:
Không phải vậy. Phật pháp có hai thứ không: 1. Chúng sanh
không. 2. Pháp không. Nói vô ngã là nói chúng sanh không. Nói
không có pháp ngã sở là chỉ pháp không. Nói có ngã là chỉ
cho biết có tướng giả danh, đối người không chấp trước
ngã nói có ngã, đối người chấp trước ngã tướng trong
năm uẩn, vì phá cái chấp trước ngã đó nên chỉ nói có
năm uẩn vô thường, khổ, không, vô ngã, tịch diệt Niết-bàn
ấy gọi là có.
Lại
nữa, có hai thứ đoạn kiến: 1. Vì hạng tà kiến cho rằng
không có thọ quả báo tội phước khổ, vui đời sau, nên
nói có ngã từ đời này đến đời sau thọ quả báo tội
phước. 2. Vì hạng tà kiến chấp trước hết thảy trống
không, hư vô, mà nói có hết thảy pháp. Ðó là pháp hữu
vi, vô vi.
Lại
nữa, đối chúng sanh căn không lanh lợi lắm thì nói vô ngã,
đối chúng sanh căn lanh lợi, trí tuệ sâu xa thì nói các pháp
rốt ráo không, vì cớ sao? Vì nếu vô ngã thời bỏ hết các
pháp, như kệ nói:
“Nếu
rõ biết vô ngã,
Có
người như thế ấy,
Nghe
có pháp không mừng,
Nghe
không pháp không lo”.
Nói
ngã là chỗ nương của hết thảy pháp, nếu nói vô ngã là,
hết thảy không có chỗ nương.
Lại
nữa, Phật pháp có hai cách nói: nếu nói rõ ràng thời nói
hết thảy pháp không, nếu phương tiện nói, thời nói vô
ngã. Hai cách thuyết pháp ấy đều đưa vào Bát-nhã ba-la-mật.
Vì vậy trong Kinh Phật nói: con đường đi đến Niết-bàn
đều chung một hướng, không có nẽo khác.
Lại
nữa, có ngã có pháp, phần nhiều nói cho người tại gia,
có cha mẹ, có nghiệp báo tội phước lớn nhỏ, vì người
tại gia phần nhiều không cầu Niết-bàn, nên đắm trước
nơi quả báo đời sau. Ðối người xuất gia, phần nhiều
nói vô ngã vô pháp, vì người xuất gia phần nhiều hướng
đến Niết-bàn. Người cầu Niết-bàn thì không thọ lãnh
hết thảy pháp, tự nhiên tịch diệt ấy là Niết-bàn.
Lại
nữa, có người chưa thành thục các căn tín... trước cầu
được những điều có tướng, vậy sau mới xả. Vì hạng
người đó Phật dạy làm các thiện pháp, bỏ các việc ác.
Những người đó đã thành thục các căn tín... đối với
các pháp họ không cầu được điều có tướng mà chỉ cầu
đạo xa lìa sanh tử. Vì hạng người đó Phật nói các pháp
là không, vô sở hữu. Hai việc đó đều thật, như ngón tay
vô danh cũng dài cũng ngắn, so với ngón tay giữa thì ngắn;
so với ngón tay út thì dài, dài ngắn đều thật, nói có nói
không cũng như vậy. Nói có, có khi là thế tục, có khi là
đệ nhất nghĩa; nói không, có khi là thế tục, có khi là
đệ nhất nghĩa. Phật nói có ngã, không ngã, đều là thật.
Hỏi:
Nếu hai việc ấy đều thật, tại sao Phật phần nhiều tán
thán không mà hủy báng có?
Ðáp:
Không, vô sở hữu, là pháp tạng của mười phương hết thảy
chư Phật, hiền thánh. Như trong phẩm Chúc lụy của kinh Bát-nhã
ba-la-mật nói: Bát-nhã ba-la-mật là pháp tạng của chư Phật
ba đời, mười phương. Bát-nhã ba-la-mật tức là không vô
sở hữu. Có khi Phật nói có, để giáo hóa chúng sanh, lâu
về sau đều sẽ vào trong pháp tạng Vô sở hữu.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao trong kinh Bát-nhã ba-la-mật nói: Nếu quán
năm uẩn không vô sở hữu, chẳng phải là đạo?
Ðáp:
Trong kinh Bát-nhã ba-la-mật ấy nói: có và không đều không.
Như trong kinh Trường Trão Phạm-chí nói có ba thứ tà kiến:
1. Hết thảy có. 2. Hết thảy không. 3. Nửa có nửa không.
Phật
bảo Phạm-chí Trường Trão rằng: hết thảy hữu kiến là
bị dục nhiễm, bị sân nhuế, ngu si trói buộc. Hết thảy
vô kiến, là không nhiễm, không sân, không si, không đắm,
không buộc. Nửa có nửa không, có thời đồng bị buộc như
trên, không thời đồng không bị buộc như trên. Ðối ba thứ
kiến ấy, thánh đệ tử nghĩ rằng: nếu ta chấp thọ hết
thảy hữu kiến, thời cùng với hai hạng người kia tranh,
đó là hạng người chấp hết thảy không và hạng người
chấp nửa có nửa không. Nếu ta chấp thọ hết thảy vô kiến,
cũng cùng với hai hạng người kia tranh, đó là hạng người
chấp hết thảy có và hạng người chấp nửa có nửa không.
Nếu ta chấp thọ nửa có nửa không, cũng cùng với hai hạng
người kia tranh, đó là hạng người chấp hết thảy không
và hạng người chấp hết thảy có. Vì đấu tranh nên phỉ
báng nhau, vì phỉ báng nhau nên gây phiền não. Vì thấy sự
đấu tranh phiền não ấy nên bỏ vô kiến ấy, và các kiến
khác cũng không chấp thọ, không chấp thọ nên liền được
vào đạo.
Nếu
không chấp trước hết thảy các pháp không, thời tâm không
nổi lên đấu tranh, chỉ dứt trừ kiết sử, ấy gọi là
thật trí. Nếu chấp thủ tướng không của các pháp, thời
nỗi lên đấu tránh, không diệt được các kiết sử, nương
dựa trí tuệ ấy, là chẳng phải thật trí. Như Phật nói:
vì độ chúng sanh cho nên có nói pháp, tất cả đều thật,
chỉ vì chúng sanh đối với pháp ấy có chấp trước không
chấp trước nên có thật với không thật.
Do
các nhân duyên như vậy, thân, khẩu, ý nghiệp của Phật không
có tội lỗi. Thế nên nói Phật thân, khẩu, ý trước đã
biết rõ, vậy sau theo trí tuệ đó mà hành.
Hỏi:
Lúc đầu nói Phật thân không lỗi, miệng không lỗi, ý không
lỗi, nay lại nói thân khẩu ý theo trí tuệ mà hành, có nghĩa
gì sai khác?
Ðáp:
Trước nói ba thứ không lỗi, không nói đến nhân duyên, nay
nói nhân duyên vì theo trí tuệ mà hành nên không lỗi; nếu
trước không trù lượng mà khởi lên thân khẩu ý nghiệp
thời có lỗi. Phật trước dùng trí tuệ khởi thân, khẩu,
ý nghiệp nên không lỗi.
Lại
nữa, Phật thành tựu ba thứ tịnh nghiệp; ba thứ tịch tịnh
nghiệp, ba thứ bất hộ nghiệp.
Có
người nghi nói: nhân duyên gì Phật thành tựu nghiệp như
vậy? Vì vậy nên Phật nói: Ta hết thảy thân, khẩu, ý nghiệp
trước do trí tuệ, vậy sau theo trí tuệ đó mà hành.
Phật
lấy trí tuệ biết quá khứ, vị lai, hiện tại, thông suốt
không chướng ngại: Ba thứ trí tuệ ấy đối với ba đời
thông suốt không chướng ngại, nên ba nghiệp theo trí tuệ
mà hành.
Hỏi:
Các pháp quá khứ đã diệt đã tận, không còn có gì; các
pháp vị lai hiện chẳng đến chẳng sanh, chưa hòa hợp; các
pháp hiện tại, cho đến trong một niệm cũng không có lúc
trụ lại, làm sao mà có thể biết ba đời thông suốt không
chướng ngại?
Ðáp:
Phật nói quá khứ, vị lai, hiện tại, thông suốt không chướng
ngại, lời nói đó đâu phải hư dối.
Lại
nữa, nếu không có quá khứ, vị lai, chỉ có khoảnh khắc
một niệm trong hiện tại, thời Phật cũng không thành tựu
được vô lượng công đức. Như mười trí là mười lực,
khi ấy cũng không thể một tâm có mười trí được. Nếu
như vậy, Phật cũng không được đầy đủ mười lực. Do
nhân duyên ấy, biết có quá khứ, vị lai.
Hỏi:
Nếu quá khứ, vị lai, hiện tại đều có, vậy thế nào là
không? Phật nói Bốn đế, về khổ đế quán tướng vô thường...
vô thường là sanh diệt, bại hoại, bất khả đắc. Nếu
pháp quá khứ nay thật có thời không gọi là vô thường,
bại hoại, bất khả đắc.
Lại
nữa, nếu quá khứ, vị lai, hiện tại đều có, thì đọa
vào thường kiến, vì sao? Vì Pháp ấy chắc chắn sẳn có
ở trong vị lai, chuyển từ vị lai đến hiện tại, từ hiện
tại chuyển vào quá khứ, như người từ một phòng đi vào
một phòng, không gọi là mất người?
Ðáp:
Nếu không mất, có lỗi gì?
Hỏi:
Nếu không vô thường, thời không tội không phước, không
sanh không tử, không trói không mở. Tội là mười nghiệp
đạo bất thiện-sát... nếu không vô thường, thời không
có tội sát. Như trong đoạn phân biệt tà kiến nói, lưỡi
dao đi qua giữa bảy phần của thân (Phái ngoại đạo
Pakudha chủ trương bảy yếu tố: đất, nước, gió, không,
khổ vui, linh hồn, hợp thành thân. Bảy yếu tố độc lập
với nhau – ND), không gây não hại. Phước là mười nghiệp
đạo thiện, bất sát... vô thường là phân biệt sanh tử,
nếu không vô thường thời cũng không có sanh tử, cũng không
trói, không mở, như vậy sai lầm vô cùng?
Ðáp:
Các pháp trong ba đời đều có tướng riêng, pháp quá khứ
có tướng quá khứ, pháp vị lai có tướng vị lai, pháp hiện
tại có tướng hiện tại. Nếu pháp quá khứ, vị lai mà có
tướng hiện tại, thì nên có lời nạn vấn ấy. Nay quá khứ,
vị lai, hiện tại đều có tướng riêng.
Lại
nữa, nếu thật không có quá khứ, vị lai thời cũng không
có luật nghi xuất gia, vì cớ sao? Vì nếu hiện tại trụ
trong ác tâm, quá khứ lại không có thọ giới, ấy là chẳng
phải Tỳ-kheo.
Lại
tâm bậc hiền thánh ở trong thế tục, khi ấy lẻ đáng phải
là phàm phu; vì không có đạo ở quá khứ, vị lai, hiện tại.
Như vậy cũng không có tội ngũ nghịch (giết cha, giết mẹ,
giết A-la-hán, làm tổn thương thân Phật, phá hòa hợp Tăng
– ND), vì cớ sao? Vì tội nghiệp ngũ nghịch đã qua đi, khi
người chết đã vào địa ngục, tội ngũ nghịch ấy ở vị
lai không có nghiệp nên không có báo, còn thân hiện tại không
làm tội nghịch. Nếu không có quá khứ thời không có tội
nghịch, nếu không có tội nghịch, thời đâu có tội khác.
Phước cũng như vậy, nếu không tội phước, ấy là tà kiến,
khác gì cầm thú!
Lại
nữa, ta không nói quá khứ, vị lai có như tướng hiện tại
có, ta nói quá khứ tuy diệt mà có thể nhớ tưởng, phát
sanh tâm tâm số pháp, như lửa tắt ngày qua, ngày nay có thể
nhớ tưởng lại, không thể nói vì nhớ tưởng tới được
cho nên lửa liền có. Hoặc thấy chất củi cũng sanh tâm tưởng
nhớ biết sẽ đốt lửa. Lửa ngày mai như lửa đã qua, không
thể vì nay có tâm nghĩ tới lửa mà lửa liền có. Các việc
vị lai cũng như vậy. Tâm hiện tại, tuy không trụ lại trong
một niệm, song tương tục sanh, cho nên có thể biết các pháp.
Bên trong do ý hiện tại làm nhân, bên ngoài do các pháp làm
duyên, từ nhân duyên ấy phát sanh ý thức, dùng ý thức tự
tại biết pháp quá khứ, vị lai, hiện tại, chỉ không tự
biết tâm tâm số pháp hiện tại, ngoài ra đều biết được.
Hỏi:
Trong phẩm Như tướng của kinh Bát-nhã ba-la-mật nói: ba đời
chỉ một tướng, đó là vô tướng, tại sao nói trí tuệ
Phật biết ba đời thông suốt không chướng ngại?
Ðáp:
Chư Phật có hai lối thuyết pháp: trước phân biệt các pháp,
sau nói rốt ráo không. Nếu nói các pháp ba đời, thông suốt
không chướng ngại, ấy là phân biệt nói, nếu nói ba đời
một tướng vô tướng, ấy là nói rốt ráo không.
Lại
nữa, chẳng phải bậc nhất thiết trí, đối với ba đời
trí tuệ có ngại, cho đến các bậc hiền thánh Quán Thế
Âm, Văn-thù-sư-lợi, Di-lặc, Xá-lợi-phất đối với ba đời
trí tuệ đều có chướng ngại. Do nhân duyên ấy, nói trí
tuệ của Phật đối với ba đời thông suốt không chướng
ngại, không vì vô sự mà nói.
Lại
nữa, có người đối với ba đời sanh tà kiến, cho rằng
pháp quá khứ và chúng sanh có ban đầu, không có ban đầu.
Nếu có ban đầu thời có chúng sanh mới sanh. Các pháp cũng
không nhân không duyên mà sanh. Nếu không ban đầu thì cũng
không cuối cùng. Nếu không ban đầu, không cuối cùng thì
đoạn giữa cũng không. Có ban đầu là có giữa, có sau, không
có trước; có cuối cùng là có đầu, có giữa, không có sau;
có giữa là có đầu có sau. Nếu chúng sanh và các pháp không
có ban đầu thời cũng không giữa không sau. Nếu không ba đời,
thời hoàn toàn không có gì.
Lại
nữa, nếu không có ban đầu, làm sao có bậc Nhất thiết trí?
Vì phá các tà kiến như vậy, nên nói các pháp ba đời nhất
tướng, đó là vô tướng; chứ không phá trí tuệ về ba đời
của Phật.
Hỏi:
Vô tướng là hữu biên?
Ðáp:
Nếu vô tướng tức là vô biên, là pháp không thể nói không
thể nạn, làm sao nói là hữu biên.
Nếu
trong vô tướng mà chấp thủ tướng, chẳng phải là vô tướng.
Vô tướng ấy gọi là bất khả đắc không, trong ấy vô tướng
cũng bất khả đắc, không cũng bất khả đắc, thế nên gọi
là bất khả đắc không.
Lại
nữa, Phật có hai đạo: 1. Phước đức đạo. Có người nghe
Phật có mười lực, bốn vô sở úy, bốn trí vô ngại, mười
tám pháp không chung, sanh tâm cung kính tin vui. 2. Trí tuệ đạo.
Có người nghe nói các pháp do nhân duyên hòa hợp sanh, nên
không có tự tánh, liền lìa bỏ các pháp, đối với “không”
tâm không chấp trước, như mặt trăng hay làm thấm vật, mặt
trời hay làm chín vật, nhờ hai nhân duyên ấy vạn vật được
thành. Phước đức và trí tuệ cũng như vậy. Phước đức
đạo hay sanh các công đức, trí tuệ đạo đối với phước
đức đạo hay lìa các tà kiến chấp trước. Vì vậy, Phật
tuy nói rốt ráo không, mà cũng nói thông suốt ba đời không
chướng ngại, mà không bị lỗi.
Như
vậy, đã lược nói nghĩa mười tám pháp không chung của Phật.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao Ca-chiên-diên Ni-tử nói mười lực, bốn
vô sở úy, đại bi, ba ý chỉ không chung, gọi là mười tám
pháp không chung? Nếu trước đó vừa nói mười tám pháp không
chung là nhân nghĩa, thì sao Ca-chiên-diên Ni-tử cũng nói mười
tám pháp không chung như vậy?
Ðáp:
Vì vậy nên gọi là Ca-chiên-diên Ni-tử, còn nếu là Thích
tử thì không nói như vậy. Thích tử nói là nói pháp không
chung thật. Phật pháp vô lượng, ba mươi sáu pháp ấy (10
lực, 4 vô úy, đại bi, ba niệm, 18 pháp không chung – ND) chỉ
là một giọt nước trong biển cả Phật pháp, pháp cũng không
ít, cớ sao trùng số mười tám?
Lại
nữa, các A-la-hán, Bích-chi Phật, Bồ-tát cũng có mười lực
biết được đúng đạo lý không đúng đạo lý, phân biệt
nghiệp quả báo ba đời, các thiền định cho đến lậu tận
trí... cớ sao nói (Ca-chiên-diên-ni-tử nói 18 pháp ấy – ND)
là pháp không chung?
Hỏi:
Thanh Văn, Bích-chi Phật, Bồ-tát không thể biết hết biết
khắp, chỉ có thông và minh, không có lực, riêng Phật mới
biết hết biết khắp, nên nói là không chung, như trong mười
lực nói?
Ðáp:
Phật nói nghĩa mười lực, không nói biết hết biết khắp,
chỉ nói ngay là biết đúng đạo lý không đúng đạo lý.
Nói biết hết biết khắp là các luận nghị sư nói.
Hỏi:
Oâng trước tự nói trong kinh Ðại thừa nói: Phật vì hành
Bồ-tát mà tự nói biết hết biết khắp?
Ðáp:
Trong kinh Ðại thừa nói, ích gì cho ông, ông không tin Ðại
thừa, không nên dẫn làm chứng. Oâng nên tự nói ra pháp Thanh
văn làm chứng.
Lại
nữa, Phật tuy biết hết biết khắp, mà Thanh văn, Bích-chi
Phật có được ít phần, còn mười tám pháp không chung (chỉ
riêng Phật có – ND) thời Thanh văn, Bích-chi Phật trước
sau đều vô phần. Vì vậy nên gọi là pháp không chung thật.
Hỏi:
Mười tám pháp không chung, Nhị thừa cũng nên có phần, chỉ
Phật thân khẩu niệm thường không lỗi, còn Nhị thừa thân
khẩu niệm cũng có khi không lỗi. Như vậy đều nên có phần?
Ðáp:
Không phải, vì cớ sao? Vì thường không lỗi mới gọi là
không chung, không phải chỉ do không lỗi mà gọi là không
chung. Thanh văn, Bích-chi Phật, đối với thường không lỗi,
vô phần.
Lại
nữa, có chỗ nói A-la-hán có lực, không có chỗ nào nói A-la-hán
có pháp không chung, ông không tin Ðại thừa nên không thọ
nhận mười tám pháp không chung thật, mà lại nói trùng con
số mười lực... việc ấy không thể được. Như 80 vẻ đẹp
của ông tin, trong Tam tạng không có, cớ sao không nói lại?
Hỏi:
Chúng tôi phân biệt mười tám pháp không chung, không trùng
số. Những gì là mười tám? 1. Biết thật tướng các pháp,
gọi là nhất thiết trí. 2. Tướng các công đức của Phật
khó hiểu, nên công đức vô lượng. 3. Thâm tâm thường nghĩ
đến chúng sanh, nên gọi là đại bi. 4. Ðược trí không ai
sánh bằng, nên trí tuệ tự tại. 5. Khéo hiểu tâm thường,
nên định tự tại. 6. Ðược có phương tiện độ chúng sanh,
nên biến hóa tự tại. 6. Ðược có phương tiện độ chúng
sanh, nên biến hóa tự tại. 7. Khéo biết nhân duyên các pháp,
nên ký biệt vô lượng. 8. Nói thật tướng các pháp, nên
ký biệt không hư dối. 9. Phân biệt trù lượng mới nói,
nên nói không lỗi. 10. Thành tựu được mười lực, nên trí
tuệ không giảm. 11. Trong hết thảy pháp hữu vi, chỉ quán
pháp tụ vô ngã, nên thường tu hạnh phóng xả. 12. Khéo biết
phải thời không phải thời, an lập nơi tam thừa vì thường
quán chúng sanh. 13. Thường nhất tâm, nên không thất niệm.
14. Thiện tâm sâu xa trong vô lượng A-tăng-kỳ kiếp nên không
có tập khí phiền não. 15. Ðược trí chân tịnh, nên không
ai có thể đúng như pháp chỉ lỗi được. 16. Ðời đời
kính trọng bậc tôn quý nên có tướng đảnh không thể thấy.
17. Tu tâm đại từ bi, nên an tường để chân, dưới chân
như nhuyến, chúng sanh gặp được liền được vui. 18. Ðược
Thần thông ba-la-mật nên chuyển tâm chúng sanh làm cho hoan
hỷ đắc độ; như khi đi vào thành, hiện lực thần biến?
Ðáp:
Mười tám pháp không chung như vậy, chẳng phải trong Tam tạng
nói, mà các Kinh khác cũng không nói. Vì có người tìm kiếm
pháp ấy, nên các luận nghị sư Thanh văn lượm lặc chỗ
nọ, chỗ kia soạn tập lại, tán thán công đức Phật. Như
nói: nói không lỗi, tuệ không giảm, niệm không mất, đều
là từ mười tám pháp không chung trong Ðại thừa dẫn ra để
luận nghị. Tuy có tướng đảnh không thể thấy, dưới chân
nhu nhuyến, như vậy rất nhiều, không nên để ở trong mười
tám pháp không chung. Pháp không chung đều lấy trí tuệ làm
ý nghĩa. Thân lực của Phật như lực mười vạn bạch hương
tượng và lực thần thông đều không nói, vì vậy nên biết
trong mười tám pháp không chung, chỉ nói đến công đức trí
tuệ, không nói đến quả báo tự nhiên.
Lại
nữa, mười tám pháp không chung ấy, trong A-tỳ-đàm phân biệt
thu nhiếp vào năm uẩn. Thân, miệng không lỗi, thân miệng
theo trí tuệ hành, thì nhiếp vào sắc uẩn. Không dị tưởng
thì nhiếp vào tưởng uẩn, không có tâm bất định thì nhiếp
vào thức uẩn, còn lại thì nhiếp vào hành uẩn, đều ở
trong bốn thiền. Phật ở trong bốn thiền đắc đạo, đắc
Niết-bàn.
Có
người nói: bốn pháp không chung thuộc sắc pháp (Thân không
lỗi, miệng không lỗi, thân nghiệp, khẩu nghiệp theo trí
tuệ hành – ND) thì nhiếp vào Sắc giới, Dục giới, các
pháp không chung khác thì nhiếp vào chín địa; đều là thiện;
đều là pháp vô lậu. Bốn pháp thuộc sắc do nhân duyên và
tăng thượng duyên sanh, các pháp còn lại do bốn duyên sanh;
bốn pháp không duyên, mười bốn pháp có duyên. Bốn pháp
theo tâm hành, không tương ưng với tâm, mười ba pháp tương
ưng với tâm cũng theo tâm hành, một pháp không tương ưng
với tâm cũng không theo tâm hành. Các nghĩa như vậy đều
có phân biệt trong A-tỳ-đàm.
Ban
đầu phân biệt như vậy, khi vào trong Bát-nhã ba-la-mật, thật
tướng các pháp thảy đều một tướng, đó là vô tướng,
vào tâm Phật tất cả tướng đều diệt.
(Hết
cuốn 26 theo bản Hán)