Tập
2
Cuốn
30
Chương
42
Giải
Thích: Thiện Căn Cúng Dường
Kinh.
Muốn đem các thiện căn cúng dường, cung kính, tôn trọng,
tán thán chư Phật, được như ý thành tựu, nên học Bát-nhã
ba-la-mật.
Luận:
Bồ-tát đã được không lìa chư Phật, hãy nên cúng dường.
Nếu được gặp Phật mà không cúng dường, thật là chẳng
vui! Như Bồ-tát Tu-ma-đề (Diệu Ý) gặp Phật Nhiên Ðăng
mà không có chi cúng dường, tìm kiếm chung quanh, thấy người
con gái bán hoa, lấy năm trăm tiền vàng, mua được năm hoa
sen xanh để cúng dường Phật. Lại Bồ-tát Tát-đà-ba-luân,
vì cúng dường Thầy, mà bán thịt máu thân mình. Các Bồ-tát
như vậy, đã được thấy Phật, tâm muốn cúng dường. Nếu
không có gì cúng dường, thì tâm có trở ngại, ví như người
dân thường gặp quân trưởng mà không đem lễ tặng, thời
là bất kính. Thế nên các Bồ-tát tìm vật cúng dường để
cúng dường chư Phật. Phật tuy không cần mà tâm Bồ-tát
được đầy đủ, ví như nông phu gặp ruộng tốt mà không
hạt giống, tuy muốn gia công, mà không lấy gì để tung sức,
tâm rất ưu sầu! Bồ-tát cũng như vậy, được gặp chư Phật,
mà không có vật cúng dường, dầu có vật khác, không xứng
ý mình; tâm bèn e ngại.
Các
thiện căn: Quả báo của thiện căn như hoa hương, anh lạc,
y phục, tràng phan, bảo cái, các thứ trân bảo... vì cớ sao?
Vì hoặc có khi lấy nhân nói quả, như nói ngày ăn ngàn lượng
vàng, vàng không thể ăn, nhân vàng được ăn, nên nói ăn
vàng. Hoặc có khi nói lấy quả nói nhân, như thấy bức vẽ
đẹp nói là khéo tay. Thiện căn quả báo cũng như vậy. Do
nhân duyên nghiệp thiện căn mà được đồ cúng dường, gọi
là thiện căn.
Hỏi:
Nếu như vậy, sao không nói ngay hoa hương mà nói nhân của
nó?
Ðáp:
Ðồ cúng dường có hai thứ: 1. Tài cúng dường. 2. Pháp cúng
dường. Nếu chỉ nói cúng dường hoa hương thời không bao
gồm được pháp cúng dường. Nay nói thiện căn cúng dường,
nên biết đã gồm cả tài và pháp.
Cúng
dường: Hoặc thấy hoặc nghe công đức chư Phật, sanh tâm
cung kính tôn trọng, đưa đón hầu hạ, nhiễu quanh, lễ bái,
đứng cúi mình chấp tay, tránh ngồi, yên chỗ, khuyên mời
ăn uống, hương hoa, trân bảo... xưng tán các công đức trì
giới, thiền định, trí tuệ, Phật có thuyết pháp thì tín
thọ lời dạy bảo; thân. ngữ, ý nghiệp lành như vậy, ấy
là cúng dường.
Tôn
trọng: Biết hết thảy chúng sanh không ai có đức quá hơn,
nên nói là tôn; tâm kính sợ hơn kính sợ cha mẹ, sư trưởng,
quân vương, vì sự lợi ích trọng đại, nên nói là trọng.
Cung
kính: Khiêm tốn, sợ sệt nên nói là cung, suy tôn trí đức
của Phật nên nói là kính.
Tán
thán: Khen ngợi công đức là tán, tán chưa đủ, còn xướng
lên nữa gọi là thán.
Tùy
ý thành tựu: Nếu có hoa để cúng dường, hoa liền theo ý,
hoặc cầu được, hoặc không cầu mà được. Có thứ tự
nhiên hiện ra, hoặc biến hóa sanh, cho đến các thứ kỷ nhạc
cúng dường, đều được như vậy.
Hỏi:
Bồ-tát gặp được thứ gì thì cúng dường, cớ sao lại
tìm cầu theo ý?
Ðáp:
Phước đức theo tâm, dùng vật ái trọng đem cúng dường
thì được phước thêm nhiều. Như vua A-dục lúc trẻ nhỏ
dùng đất mà mình quý trọng đem dâng Phật. Quả báo được
làm vua cõi Diêm-phù-đề, trong một ngày dựng tám vạn tháp,
nếu người lớn tuy lấy nhiều đất bỏ vào bát cúng dường
mà không được gì, vì không phải là đất được quí trọng.
Có người quý trọng riêng thứ hoa, đem hoa ấy cúng dường
Phật, được phước thêm nhiều, cho đến bảo vật cũng như
vậy.
Lại
nữa, thích nghi theo thời, nếu lúc lạnh thì nên đem cho cửi
lửa, áo, giày, nhà ấm, mền nệm, và thức ăn uống; lúc
nóng thì nên đem cho nước đá, quạt, lọng, nhà mát, áo mỏng,
đồ ăn ngon, tùy lúc gió mưa đưa đồ cúng dường. Như vậy
tùy thời mà cúng dường.
Lại
thích nghi theo địa phương, tùy theo người lãnh thọ cần
dùng đều đem cúng dường.
Lại
nữa, tùy ý cúng dường là có vị Bồ-tát biết Phật không
cần gì, lại biết các vật hư dối như huyễn, chỉ là nhất
tướng tức là vô tướng, vì giáo hóa chúng sanh nên tùy tài
vật mà chúng sanh và quốc độ quí trọng, dẫn dắt họ cúng
dường.
Lại
có Bồ-tát được thiền định thâm sâu, phát sanh Bồ-tát
thần thông, do sức thần thông nên bay đến trước mười
phương Phật, hoặc nơi nước Phật, nếu cần hoa trời mưa
khắp, hoa liền khắp đầy ba ngàn đại thiên thế giới, đem
cúng dường Phật; hoặc mưa hương Chiên-đàn trời, hoặc
mưa châu ngọc tươi sáng; hoặc mưa bảy báu; hoặc mưa ngọc
Như-ý lớn như núi Tu-di; hoặc mưa kỷ nhạc, âm thanh thanh
thoát; hoặc lấy thân lớn như núi Tu-di làm tim đèn, cúng
dường chư Phật. Như vậy... gọi là tài cúng dường.
Lại
Bồ-tát hành sáu Ba-la-mật, lấy pháp cúng dường chư Phật.
Hoặc có Bồ-tát thực hành một địa pháp cúng dường chư
Phật, cho đến hành mười địa pháp cúng dường. Hoặc có
khi Bồ-tát được vô sanh pháp nhẫn, trừ phiền não cho mình
và cho chúng sanh, ấy là pháp cúng dường. Hoặc có khi Bồ-tát
trú ở mười địa dùng thần lực làm dứt lửa địa ngục,
khiến cho ngả quỷ đạo được no đủ, súc sanh được lìa
sợ hãi, khiến được sanh lên cõi trời cõi người, ở địa
vị bất thối, sức đại công đức như vậy, gọi là pháp
cúng dường.
Vì
vậy nên nói muốn được thiện căn thành tựu, hãy học Bát-nhã
ba-la-mật.
Kinh:
Muốn làm cho hết thảy chúng sanh mãn nguyện về y phục, ăn
uống, đồ nằm, hương xoa, xe ngựa, phòng xá, giường chõng,
đèn đuốc... hãy học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Có thứ lớp gì, khi muốn làm mãn nguyện cho hết thảy
chúng sanh?
Đáp:
Hành nghiệp của Bồ-tát có hai: 1. Cúng dường chư Phật.
2. Ðộ thoát chúng sanh. Do cúng dường chư Phật nên được
vô lượng phước đức, đem phước đức ấy làm lợi ích
chúng sanh, đó là làm mãn nguyện chúng sanh. Như người chủ
buôn vào biển cả tìm châu báu, được an ổn trở về, làm
lợi ích cho người thân thích và quen biết. Như vậy, Bồ-tát
vào trong biển pháp của chư Phật, được vô lượng báu công
đức, làm lợi ích cho chúng sanh. Cũng như tiểu vương cúng
dường đại vương, làm cho hoan hỷ, đưọc ban cho đều sở
nguyện, chức vị, tài của, đem về nước cũ, làm lợi ích
cho mọi người, trừ khổ oán tặc. Bồ-tát cúng dường chư
Phật pháp vương, nên được thọ ký biệt, lấy vô lượng
trân bảo thiện căn, được vô tận trí lực, trở lại trong
chúng sanh, cúng dường người lành, cung cấp vật cần dùng
cho người nghèo, bọn ma dân, tà kiến ngoại đạo thảy đều
tan rã, ấy là cúng dường chư Phật, tiếp đến làm cho chúng
sanh mãn nguyện.
Hỏi:
Bồ-tát thật có thể làm mãn nguyện hết thảy chúng sanh
chăng? Nếu làm mãn nguyện khắp hết chúng sanh, vậy chư Phật
và Bồ-tát khác còn lợi ích gì? Nếu không làm mãn nguyện
tất cả, thì trong đây cớ sao nói muốn làm mãn nguyện hết
thảy chúng sanh, hãy học Bát-nhã ba-la-mật?
Ðáp:
Có hai thứ nguyện: 1. Nguyện thành được. 2. Nguyện không
thành được. Nguyện không thành được là có người muốn
cân lượng hư không cùng tận biên tế, và muốn tìm biên
tế của thời gian, phương hướng, thì chỉ như trẻ con tìm
trăng đáy nước, tượng trong gương. Những nguyện như vậy
thì không thể thành được. Nguyện thành được là như cưa
cây tìm lửa, đào đất tìm nước, tu phước được sanh cõi
người cõi trời và thành A-la-hán, Bích-chi Phật quả, cho
đến được chư Phật pháp vương. Những nguyện như vậy
gọi là nguyện thành được.
Nguyện
thành được có hai thứ: 1. Thế gian. 2. Xuất thế gian. Trong
đây vì nguyện thế gian nên làm mãn nguyện chúng sanh, tại
sao biết? Là vì lấy đồ ăn uống, giường nằm, cho đến
đèn đuốc cần dùng đều cung cấp cho.
Hỏi:
Cớ sao Bồ-tát làm cho chúng sanh mãn nguyện những điều dễ
được, mà không cho những điều khó được?
Ðáp:
Nguyện có hạ, trung, thượng. Hạ nguyện là làm nhân duyên
cho được cái vui đời nay. Trung nguyện là làm nhân duyên
cho được cái vui đời sau. Thượng nguyện là làm nhân duyên
cho được cái vui Niết-bàn. Thế nên, trước cho hạ nguyện,
thứ đến trung nguyện, vậy sau thượng nguyện.
Lại
nữa chúng sanh phần nhiều đắm cái vui đời nay, ít cầu
cái vui đời sau, cái vui Niết-bàn càng ít cầu hơn nữa. Nếu
nói nhiều là đã gồm có ít trong ấy.
Lại
nữa, kinh này trước sau phần nhiều nói đến cái vui Niết-bàn
đời sau, ít nói đến cái lợi đời nay.
Pháp
của Bồ-tát là cho hết thảy chúng sanh đủ thứ lợi ích,
không nên bỏ một ai, vì sao? Vì tâm ban đầu chỉ muốn dạy
chúng sanh tu Ðại thừa pháp, nhưng vì chúng sanh không kham
thọ hóa, nên tiếp đó dạy cho pháp Thanh văn, Bích-chi Phật.
Nếu cũng không kham nữa, thì sẽ dạy cho mười điều thiện,
bốn phạm hạnh, khiến tu phước đức. Nếu chúng sanh vẫn
không ưa, cũng không nên bỏ rơi chúng sanh ấy, mà nên cho
họ sự lợi ích đời này là ăn uống...
Lại
nữa, người phàm phu tuy có thể cho người khác ăn uống...,
làm mãn nguyện người kia, đều có nhân duyên, hoặc việc
đời này, hoặc việc đời sau. Thanh văn, Bích-chi Phật, không
có nhân duyên làm mãn nguyện chúng sanh, nên sự lợi ích rất
ích, còn đại Bồ-tát do nhân duyên thực hành Bố thí ba-la-mật
nên được làm quốc vương, đại trưởng giả, giàu có vô
lượng, chúng sanh bốn phương, nều đến cầu xin đều được
đầy đủ. Như cư sĩ Tân-đầu, làm vị đại đàn-việt,
ngồi giường lớn bảy báu, kim cương làm chân, trải nệm
trời, màn giăng xích chân châu; người hầu hạ hai bên, mỗi
bên có 84.000, toàn trang sức kỳ diệu, mở bốn cửa lớn,
tự do cho người đến xin. Ngày đêm sáu thời đánh trống,
lại phóng ánh sáng. Mười phương vô lượng chúng sanh nghe
tiếng trống, ánh sáng chạm thân, thảy đều đi đến, muốn
được các thứ ăn uống. Trưởng giả thấy các người ấy
nhóm lại, liền im lặng chiêm ngưỡng hư không, khi ấy trong
hư không mưa xuống thức trăm vị, đều được theo ý. Nếu
chúng sanh không tự lấy được, thì người hai bên lấy chia
cấp cho, đầy đủ mới thôi. Ai cần ăn uống, y phục, ngọa
cụ, bảo vật... đều cũng như thế. Cho chúng sanh tự do theo
ý muốn xong, vậy sau nói pháp, khiến xa lìa bốn cách ăn (đoàn
thực, xúc thực, tư thực, thức thục – N.D) đều an trú
trong địa vị bất thối chuyển. Như vậy Bồ-tát do lực
thần thông nên hay làm cho chúng sanh mãn nguyện.
Hỏi:
Lúc Phật ở đời chúng sanh còn có đói khát, trời không
mưa, chúng sanh khốn tệ mà Phật còn không thể cho hết thảy
chúng sanh mãn nguyện, huống Bồ-tát làm sao cho chúng sanh mãn
nguyện?
Ðáp:
Bồ-tát trú ở thập địa; vào Thủ-lăng-nghiêm Tam-muội,
ở tại ba ngàn đại thiên thế giới, hoặc có khi hiện làm
người mới phát tâm hành sáu Ba-la-mật, hoặc hiện làm người
ở địa vị bất thối chuyển, hoặc hiện làm vị nhất sanh
bổ xứ, ở cõi trời Ðâu-xuất, thuyết pháp cho chư thiên.
Hoặc từ trời Ðâu-xuất hạ sanh vào cung vua Tịnh-phạn.
Hoặc hiện xuất gia thành Phật. Hoặc hiện Chuyển pháp luân
ở giữa đại chúng, độ vô lượng chúng sanh. Hoặc hiện
vào Niết-bàn, dựng tháp bảy báu, ở khắp các quốc độ,
để chúng sanh cúng dường Xá-lợi, khi Phật pháp diệt hết.
Khi đang làm Bồ-tát mà lợi ích như vậy, huống chi khi thành
Phật. Phật thân có hai thứ: 1. Chơn thân. 2. Hóa thân. Chúng
sanh thấy được Phật chân thân, không nguyện gì không thỏa
mãn.
Phật
chân thân đầy khắp hư không, ánh sáng chiếu khắp mười
phương, âm thanh thuyết pháp cũng khắp mười phương, đại
chúng đầy trong vô lượng hằng hà sa thế giới, thảy đều
nghe pháp, thuyết pháp không dứt, trong một khoảng thời gian,
mỗi mỗi tùy chỗ nghe mà đặng giải ngộ. Như kiếp tận
rồi, do hành nghiệp của chúng sanh nên có mưa lớn đổ xuống,
liên tục không dứt, ba đại kia không thể ngăn được, chỉ
có gió của kiếp tận mười phương nổi lên, xúc đối nhau
mà duy trì nước mưa ấy.
Như
vậy, pháp tánh thân Phật thuyết pháp, trừ hàng thập trụ
Bồ-tát, hàng tam thừa không thể duy trì được; chỉ có hàng
thập trụ Bồ-tát với năng lực phương tiện trí không thể
nghĩ bàn là nghe lãnh thọ được. Chúng sanh nào thấy được
pháp thân Phật thời không có ba độc, và các phiền não,
các khổ rét, nóng cùng lúc diệt hết, không nguyện gì không
thỏa mãn. Như ngọc như ý còn luôn cho chúng sanh được tùy
nguyện, huống gì ngọc Phật, cho hết thảy được mãn nguyện
thế gian, mãn nguyện xuất thế gian. Nếu nói Phật không thể
làm cho chúng sanh mãn nguyện, lời ấy không đúng.
Lại
nữa, đức Phật Thích-ca Mâu-ni, thọ thân ở cung vua, hiện
chịu theo phép tắc con người, có lạnh, nóng, đói, khát,
ngủ nghỉ, chịu lời phỉ báng, già, bệnh, chết... mà nội
tâm trí tuệ thần đức không khác với chân Phật chánh giác,
muốn làm thỏa mãn sở nguyện của chúng sanh, đều thỏa
mãn được, mà không mãn là vì từ vô số kiếp lại thường
làm cho chúng sanh mãn nguyện về ăn mặc mà không khỏi hết
khổ, cho nên nay chỉ lấy Niết-bàn vô vi thường lạc làm
lợi ích nó, như thương người thân không cho đồ ăn ngon,
có lẫn độc. Như vậy nguyện về thế gian chỉ làm sanh các
kiết sử, lại khi xa lìa các kiết sử thì tâm sanh đại khổ,
cho nên không lấy đó để hứa hẹn.
Lại
nữa, có người nói đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã làm cho
chúng sanh mãn nguyện mà chúng sanh tự không nhận được,
như trong kinh Tỳ-ma-la-cật nói: Phật lấy ngón chân ấn xuống
đất, tức thời quốc độ được trang nghiêm bảy báu, Phật
quốc độ của Ta cũng như vậy, con người nhiều oán hại
thì hiện thấy Phật quốc khác hơn.
Lại
như vua rồng, tâm bình đẳng mưa xuống, mà ở người thì
là nước mà trên thân ngạ quỷ thì là lửa than.
Hỏi:
Nếu có thể làm cho hết thảy chúng sanh mãn nguyện, thời
chúng sanh hữu biên, không còn ai chịu khổ đói rét nữa,
vì cớ sao? Vì hết thảy chúng sanh đều đã mãn nguyện lìa
khổ được vui?
Đáp:
Mãn nguyện hết thảy, là danh tự hết thảy, chứ không phải
thật hết thảy, như kệ Pháp cú nói:
“Hết
thảy đều sợ chết,
Hết
thảy sợ gậy đánh,
Suy
bụng ta ra người,
Chớ
giết chớ đánh gậy”.
Tuy
nói hết thảy sợ gậy đánh đau, nhưng như chúng sanh ở cõi
Vô sắc, không thân, thời không có gậy đánh đau. Chúng sanh
ở cõi Sắc, tuy có thể có thân cũng không có gậy đánh đau.
Chúng sanh ở cõi Dục cũng có người không bị gậy đánh
đau, nhưng nói “hết thảy” là chỉ những người đáng
bị gậy đánh mà nói, chẳng phải thật hết thảy. Vì vậy
nên Bồ-tát làm cho hết thảy chúng sanh mãn nguyện. Nhưng
tâm Bồ-tát không có giới hạn, quả báo phước đức cũng
vô lượng, chỉ vì chúng sanh bị tội chướng sâu dày từ
vô lượng vô số kiếp, nên không thể được, như đệ tử
của Xá-lợi-phất là Tỳ-kheo La-tần-châu (Lasoka) đi khất
thực sáu ngày liền mà không được chi, cho đến ngày thứ
bảy, mạng sắp muốn dứt, có người đồng đạo khất thực
đem cho, liền bị chim dựt lấy tha đi. Bấy giờ Xá-lợi-phất
nói với Mục-kiền-kiên: Thầy có thần lực lớn, giữ hộ
thức ăn ấy đưa cho La-tần-châu được ăn. Mục-kiền-liên
liền đem thức ăn đến cho, thức ăn sắp đưa đến miệng,
liền biến thành bùn. Lần sau Xá-lợi-phất khất thực đem
cho, thì miệng tự ngậm lại. Cuối cùng Phật đi đến đưa
thức ăn cho, nhờ phước đức vô lượng của Phật nên làm
cho La-tần-châu ăn được. Tỳ-kheo ấy ăn xong, tâm sanh hoan
hỷ, càng tin kính gấp bội.
Phật
bảo Tỳ-kheo La-tần-châu: Các pháp hữu vi đều là khổ, và
nói Tứ đế cho nghe, ngay khi ấy Tỳ-kheo được lậu hết,
ý giải, chứng đắc đạo quả A-la-hán.
Có
những chúng sanh phước mỏng, tội nặng hơn đây, Phật không
cứu được.
Lại
vì biết chúng sanh là không thể có được, rõ thấu pháp
tánh, nên chư Phật không có ức tưởng phân biệt là người
có thể hay không có thể độ, tâm thường vắng lặng, ý
không thêm bớt. Vì vậy nên dù Bồ-tát có muốn làm cho hết
thảy chúng sanh mãn nguyện, nhưng vì chúng sanh tội nặng,
nên không thể được, Bồ-tát không có lỗi.
Uống,
ăn: Ăn lược có hai thứ là thô và tế. Bánh, cơm, thức ăn
trăm vị. Tuy kinh nói do bốn cách ăn mà chúng sanh được tồn
tại, nhưng nơi đây chỉ nói cách đoàn thực (ăn đồ vật
có khối lượng nắm cầm được – ND) còn ba cách ăn kia
là không có sắc chất, không thể đem cho. Nếu nói cho đoàn
thực, thời đã cho ba cách ăn kia, vì sao? Vì nhân đoàn thực
nên tăng ích ba cách thực kia. Như Kinh nói: Ðàn-việt thí
đồ ăn, thời cho người lãnh thọ năm việc lợi ích.
Uống,
tổng quát có hai thứ: 1. Rượu cây cỏ, đó là rượu nho,
mía, lúa... 2. Nước cây cỏ đó là nước mía, nước nho,
nước đường, nước thạch lựu, nước quả lê, mít, nước
quả ba-lô-sa... và nước các thứ lúa, như vậy hòa hợp làm
thức uống ăn trong loài người. Và các thức uống ăn của
trời là vị Tu-đà cam lồ, hoa quả trời... nước Ma-đầu-ma-đà-bà...
mỗi loại chúng sanh ăn hoặc ăn lúa, hoặc ăn thịt, hoặc
ăn đồ sạch, đồ nhơ, đều đưa đến no đủ.
Y phục:
Y có hai thứ, hoặc lấy từ thân chúng sanh làm ra, như tơ
lụa, lông, da... Hoặc lấy từ cây cỏ làm ra như vãi, bông,
cỏ cây... có y của trời, không có đường ngang dọc, tự
nhiên từ cây sinh ra, màu sáng nhẹ mềm.
Ngọa
cụ: Giường chỏng, mền nệm, màn, trướng, gối...
Hương
xoa: Có hai thứ: 1. Cây Chiên-đàn, xoa thân. 2. Hương tạp các
thứ cây, giả nát thành bột lấy xoa thân và ướp chăn áo,
hoặc bôi trên đất, trên vách.
Thừa
là voi ngựa.
Xa
là xe.
Phòng
xá là đất, cây, bảo vật làm thành lầu, gác, điện, nhà,
cung, quán... để ngăn rét, nóng, gió, mưa, đạo tặc.
Ðèn
đuốc là dầu, mỡ, sáp ong, ngọc sáng...
Các
vật là tất cả những vật cần dùng của chúng sanh không
thể nói đủ, cho nên lược nói là “các vật”.
Hỏi:
Trong đây cớ sao không nói hương đốt, hoa đẹp?
Đáp:
Nói “các vật” là đều đã gồm trong đó.
Hỏi:
Nếu như vậy, chỉ nên lược nói ba thứ: ẩm thực, y phục
và đồ trang nghiêm?
Đáp:
Các vật này là vật nhu yếu, nếu thương niệm chúng sanh
thì trước cho ẩm thực, tiếp đến y phục, rồi hương xoa
trừ thân nhơ thúi, kế cho ngọa cụ, rét lạnh cần phòng
xá, tối tăm cần đèn đuốc.
Hỏi:
Hương hoa cũng có thể trừ thúi, vì cớ sao không nói?
Đáp:
Hoa chẳng phải có thường, cũng chóng héo tàn, lợi ích ít
cho nên không nói. Hương đốt khi lạnh mới cần, khi nóng
đáng sợ. Hương xoa thì thông dụng cả khi lạnh khi nóng.
Khi lạnh trộn với trầm thủy, khi nóng thì trộn với Chiên-đàn
để xoa thân, vì vậy chỉ nói hương xoa.
Hỏi:
Nếu thực hành Bố thí ba-la-mật, được vô lượng quả báo,
có thể làm cho hết thảy chúng sanh mãn nguyện, cớ sao nói
muốn làm cho hết thảy chúng sanh mãn nguyện, hãy học Bát-nhã
ba-la-mật?
Đáp:
Trước đã nói, do có Bát-nhã ba-la-mật hòa hợp nên gọi
là Ðàn-ba-la-mật. Nay sẽ nói lại: Chúng sanh có thể được
mãn nguyện, không phải chỉ trong một quốc độ, một Diêm-phù-đề,
mà đều muốn làm mãn nguyện chúng sanh trong sáu đường khắp
mười phương thế giới, nên không phải chỉ bố thí mà có
thể làm được, phải do Bát-nhã ba-la-mật, phá tướng xa
gần, phá tướng hết thảy chúng sanh, tướng phi hết thảy
chúng sanh, trừ hết các ngại, trong khoảnh khắc gãy móng
tay, hóa ra vô lượng thân, khắp đến mười phương, mới
có thể làm mãn nguyện cho hết thảy chúng sanh.
Thần
thông lợi ích như vậy phải từ Bát-nhã xuất sanh, vì vậy,
Bồ-tát muốn làm mãn nguyện hết thảy chúng sanh, hãy học
Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Lại nữa, Xá-lợi-phất: Bồ-tát ma-ha-tát muốn khiến chúng
sanh trong hằng hà sa thế giới, an lập nơi Bố thí ba-la-mật,
an lập nơi trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
Bát-nhã ba-la-mật, hãy học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Nghĩa ấy có thứ lớp, vì nhân duyên gì?
Đáp:
Lợi có ba thứ: lợi đời này, lợi đời sau, lợi rốt ráo.
Vui có ba thứ: vui đời này, vui đời sau, vui xuất thế. Trước
kia nói lợi vui đời nay, ở đây nói lợi vui đời sau và
xuất thế. Vì vậy nên khiến chúng sanh an trú sáu Ba-la-mật.
Bồ-tát thương nhớ chúng sanh quá hơn cha mẹ nhớ con. Tâm
từ bi thấu đến xương tủy, trước lấy ăn uống làm no
đủ thân nó, trừ khổ đói khát, kế lấy y phục trang nghiêm
thân nó, làm cho thọ vui. Nhưng tâm Bồ-tát không mãn túc,
lúc suy nghĩ rằng chúng sanh đã được cái vui đời nay, còn
nghĩ làm sao cho được cái vui đời sau. Nếu đem sáu Ba-la-mật
thế gian dạy cho thời được cái vui cõi người cõi trời,
lâu sau trở lại luân hồi sanh tử, nên lại đem sáu Ba-la-mật
xuất thế gian dạy cho, khiến được cái vui vô vi thường
hằng.
Lại
nữa, trước lấy y phục hoa hương trang nghiêm thân nó, nay
lấy công đức trang nghiêm tâm nó. Nếu có ba thứ trang nghiêm
thời đầy đủ không còn chi hơn: 1. Y phục bảy báu. 2. Phước
đức. 3. Ðạo pháp. Bồ-tát muốn đầy đủ ba thứ trang nghiêm
chúng sanh, nên trước nói quả báo công đức, nay nói nhân
duyên công đức.
Lại
nữa, trước nói tuy có đại bố thí mà vì chúng sanh tội
nặng không thể hưởbg được tất cả. Như trong kinh Ngạ
quỷ nói: tuy cho nó đồ ăn mà nó không ăn được, biến thành
vật bất tịnh, lửa than.
Lại
Bồ-tát không bỏ chúng sanh, nên tạo phương tiện để khiến
chúng sanh được lợi ích cơm áo, cho nên dạy tu phước nghiệp,
tự làm tự hưởng, Bồ-tát khéo biết nhân duyên, không thể
cưỡng ép có được, nên dạy khiến tu để được hưởng.
Vì vậy nên tiếp dạy chúng sanh an trú sáu Ba-la-mật.
Hỏi:
Chí nguyện của Bồ-tát là khiến hết thảy chúng sanh mười
phương an trú sáu Ba-la-mật, cớ sao chỉ nói chúng sanh trong
thế giới như cát sông Hằng?
Đáp:
Vì người nghe pháp đã nghe nói cát sông Hằng. Lại đối
với Bồ-tát mới phát tâm thì cho vô biên vô lượng là nhiều,
nhiều thì rối loạn. Nếu đại Bồ-tát thời không kể số
cát sông Hằng.
Lại
nữa, nói như cát sông Hằng là nói số vô biên vô lượng,
như trong phẩm nói sau.
Lại
nữa, như cát sông Hằng là đã nói mười phương các thế
giới, trong đây cũng không nói một cát sông Hằng, không nên
vấn nạn. Vì vậy nói thế giới như cát sông Hằng, không
có lỗi. Nghĩa thế giới như cát sông Hằng như trước đã
nói.
Chúng
sanh là đối với 5 uẩn, 18 giới, 12 xứ, 6 nhập, 12 duyên...
nhiều pháp, giả danh chúng sanh: là trời, là người, là trâu,
là ngựa. Chúng sanh có hai thứ: động và tịnh. Ðộng thì
phát sanh thân khẩu nghiệp, tịnh thời không thể. Chúng sanh
có sắc, chúng sanh không sắc, chúng sanh không chân, hai chân,
bốn chân, nhiều chân, chúng sanh thế gian, xuất thế gian,
lớn, nhỏ, hiền, thánh, phàm phu, tà định, chánh định, bất
định, vui, khổ, không khổ, không vui, chúng sanh vui thượng,
trung, hạ; chúng sanh học, vô học, phi học phi vô học. Chúng
sanh có tưởng, không tưởng, Phi hữu tưởng phi vô tưởng.
Chúng sanh cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc.
Chúng
sanh cõi Dục có ba hạng: thiện căn có thượng, trung, hạ.
Thượng là trời Lục dục, trung là hạng giàu sang trong loài
người, hạ là thấp hèn trong loài người. Vì bộ mặt không
đồng loại nhau nên có bốn châu thiên hạ khác nhau (Nam thiệm
bộ châu, Bắc cu-lô châu, Ðông thắng thần châu, Tây ngưu
hóa châu – N.D).
Bất
thiện có ba bậc: thượng là địa ngục, trung là súc sanh,
hạ là ngạ quỷ.
Lại
nữa, chúng sanh cõi Dục có mười thứ: ba ác đạo, người,
trời Lục dục.
Ðịa
ngục có ba thứ: địa ngục nóng, địa ngục lạnh, địa
ngục hắc ám.
Súc
sanh có ba hạng: đi trên không, đi trên bộ, đi trong nước,
đi ngày, đi đêm, đi ngày đêm.
Quỉ
có hai hạng: quỉ xấu tệ, quỉ đói. Quỉ tệ hưởng vui
như trời, chỉ khác là ở chung với quỉ đói, làm chủ nó.
Quỉ đói thì bụng như hang núi, cổ nhỏ như kim, thân thể
chỉ có ba việc: da đen, xương gân vố số, trăm năm không
nghe đến danh từ ăn uống, huống chi được thấy. Lại có
loài quỉ lửa từ miệng tuôn ra, lấy loài phi nga nhảy vào
lửa làm thức ăn. Hoặc ăn gân, ăn máu mủ, đờm giãi, đồ
dư thừa rửa bỏ. Hoặc được cúng tế, hoặc ăn đồ sanh
đẻ bất tịnh.
Trời
Lục dục là bốn thiên vương... ở giữa trời Lục dục lại
riêng có các trời Mang anh lạc, trời Hý vong, trời Tâm sân,
trời Chân chim, trời Ưa thấy. Các trời này đều nhiếp vào
sáu trời.
Có
người nói: chúng sanh cõi Dục có mười một thứ: trước
nói năm đạo, nay nói thêm A-tu-la đạo.
Hỏi:
A-tu-la tức nhiếp vào năm đạo, A-tu-la chẳng phải trời,
chẳng phải người, ở địa ngục khổ nhiều, ở súc sanh
hình khác. Như vậy nên nhiếp vào ngạ quỉ phải hơn?
Đáp:
Không đúng! Lực A-tu-la ngang bằng trời Ba mươi ba, vì sao?
Vì hoặc bị chư thiên phá, hoặc phá chư thiên, như trong Kinh
nói: Thích-đề-hoàn nhơn bị A-tu-la đánh phá. Bốn thứ binh
chúng của A-tu-la chui vào cọng sen để tự dấu mình, hưởng
thụ năm dục lạc tương tợ như trời, làm đệ tử Phật.
Có oai lực như vậy, đâu được nhiếp vào ngạ quỉ. Vì
vậy nên phải có sáu đạo.
Lại
nữa, như A-tu-la, Chân-đà-la, Càn-thát-bà, Cưu-bàn-trà, Dạ-xoa,
La-sát, Phù-đà các đại thần này là A-tu-la thuộc trời.
A-tu-la hưởng vui ít hơn chư thiên, có oai đức biến hóa tùy
ý. Vì thế có người nghi rằng đó là A-tu-la chẳng phải
tu-la? Tu-la (Trung Hoa dịch là lớn, có nghĩa là trời), có người
nói A-tu-la ấy chẳng phải Tu-la. A-tu-la đạo là tên có được
ban đầu, ngoài ra đều đồng một đạo.
Hỏi:
Kinh nói có năm đạo, cớ sao nói sáu đạo?
Đáp:
Cách Phật lâu xa, Kinh pháp lưu truyền năm trăm năm sau, có
nhiều dị biệt, kinh bộ không đồng, hoặc nói năm đạo,
hoặc nói sáu đạo. Nếu người nói năm đạo, thời xoay văn
trong kinh Phật. Lại nói năm, nếu người nói sáu đạo thời
xoay văn trong kinh Phật lại nói sáu.
Lại
trong Ðại thừa như kinh Pháp Hoa nói có sáu thứ chúng sanh,
xem các ý nghĩa nên có sáu đạo.
Lại
nữa, phân biệt thiện ác nên có sáu đạo: thiện có thượng,
trung, hạ, nên có ba đường thiện, là trời, người, A-tu-la.
Ác có thượng, trung, hạ nên có ba đường ác là địa ngục,
súc sanh, ngạ quỉ. Nếu không như vậy thời ác có ba hạng
quả báo mà thiện chỉ có hai hạng quả báo, việc ấy mâu
thuẩn. Nếu có sáu đạo, đối nghĩa không trái.
Hỏi:
Thiện pháp cũng có ba quả: hạ làm người, trung làm trời,
thượng là Niết-bàn?
Đáp:
Trong đây không nói đến Niết-bàn, chỉ nên phân biệt quả
báo về trú xứ của chúng sanh. Niết-bàn không phải quả
báo.
Thiện
pháp có hai thứ: 1. Ba mươi bảy đạo phẩm có thể đưa đến
Niết-bàn. 2. Có thể sanh cái vui đời sau. Nay chỉ nói thiện
pháp được thọ thân, không nói thiện pháp đưa đến Niết-bàn.
Thế
gian thiện có ba bậc: do thiện thượng phần nên được quả
báo cõi trời, do thiện trung phần nên được quả báo cõi
người, do thiện hạ phần nên được quả báo cõi A-tu-la.
Hỏi:
Ông tự nói A-tu-la oai lực ngang với trời, hưởng vui không
khác trời, sao nay lại nói thiện hạ phần được quả báo
A-tu-la?
Đáp:
Ở trong loài người, có thể được xuất gia thọ giới, cho
đến đạt đạo, ở cõi A-tu-la kiết sử che tâm, đắc đạo
rất khó. Chư thiên tuy theo kiết sử mà có tâm thẳng tin đạo,
còn A-tu-la tâm nhiều tà vạy, không thường gần đạo. Vì
vậy nên A-tu-la tuy giống trời mà vì khó gần đạo nên lại
dưới người. Như rồng chúa, chim Kim sí, thế lực tuy lớn,
hay biến hóa mà vẫn ở trong súc sanh đạo, A-tu-la đạo cũng
như vậy.
Hỏi:
Nếu rồng chúa, chim kim sí, thế lực tuy lớn mà vẫn thuộc
súc sanh đạo, vậy A-tu-la cũng thuộc vào ngạ quỉ đạo,
vì sao lại làm ra sáu đạo?
Đáp:
Rồng chúa, chim kim sí, tuy được thọ vui, mà vì thân hình
đi ngang như súc sanh nên nhiếp thuộc súc sanh đạo. Ðịa
ngục, ngạ quỉ thân hình tuy giống người mà vì nó quá khổ,
nên không nhiếp vào nhân đạo. A-tu-la thế lực đã lớn,
mà thân hình giống người, trời, nên lập riêng sáu đạo;
ấy là lược nói chúng sanh cõi Dục.
Chúng
sanh cõi Sắc, cõi Vô sắc, như trong phẩm sau sẽ nói.
An
lập Bố thí ba-la-mật: Bồ-tát nói với chúng sanh hãy tu hạnh
bố thí. Nghèo là khổ lớn, không nên vì nghèo mà phải làm
ác phải đạo ba đường dữ. Làm các hạnh ác, đọa ba đường
dữ, thời không thể cứu. Chúng sanh nghe rồi bỏ tâm xan tham,
thực hành Bố thí ba-la-mật, như trong phẩm sau nói rộng.
Lại
nữa, Bồ-tát ở trước chúng sanh, dùng các nhân duyên, các
thí dụ mà thuyết pháp, chê bai lòng xan tham, người xan tham,
ngay việc cần cho bản thân còn tiếc không dám dùng, thấy
ai đến hỏi xin thì tâm đục sắc biến, liền hiện ra thân
sắc âm thanh hung ác xấu xí, gieo nghiệp ác cho đời sau, nên
chịu thân hình xấu xí. Trước không gieo nhân duyên bố thí
nên thọ thân đời này nghèo hèn, tham đắm tài vật, cầu
nhiều không ngưng, mở cửa tội ác, chuyên làm việc ác, đọa
trong đường ác.
Lại
nữa, nghiệp lợi ích trong vòng sanh tử luân chuyển, không
cho hơn bố thí, đời nay đời sau thường được theo ý, các
việc tiện lợi cho thân, đều từ bố thí mà được. Bố
thí là thiện đạo sư, hay mở ra ba vui: vui cõi trời, vui cõi
người, vui Niết-bàn, vì cớ sao? Vì người ưa bố thí, tiếng
tăm lan truyền, tám phương tin vui, không ai không ái kính; ở
giữa đại chúng, không có sợ hãi, khi chết không hối hận.
Người ấy tự nghĩ: Ta đem tài vật gieo vào ruộng phước
tốt, chắc chắn ta được cái vui cõi người cõi trời và
mở cửa Niết-bàn, vì cớ sao? Vì bố thí phá kiết sử tham,
thương nghĩ người lãnh thọ; diệt trừ sân não, dứt tâm
tật đố; cung kính người lãnh thọ; thời trừ kiêu mạn;
tâm quyết định bố thí, lưới nghi tự phá; biết quả báo
bố thí, thời trừ tà kiến, vô minh. Các phiền não bị phá
như vậy, thời cửa Niết-bàn được mở ra.
Lại
nữa, không chỉ mở ra ba cái vui mà còn mở ra vô lượng Phật
đạo, chỗ của Thế Tôn, vì cớ sao? Vì sáu Ba-la-mật là
Phật đạo, mà bố thí là cánh cửa đầu, các hạnh khác
đều đi theo. Như vậy bố thí có vô lượng công đức. Vì
nhân duyên ấy nên khiến chúng sanh an lập nơi Bố thí ba-la-mật,
như trong chương bố thí trước đã nói.
An
lập Trì giới ba-la-mật: Bồ-tát ở trước chúng sanh tán
thán việc trì giới rằng: Chúng sanh các ngươi, nên học trì
Giới. Công đức của trì giới nhổ khỏi ba đường ác và
kiếp hạ tiện trong loài người, khiến được loài người
loài trời tôn quí cho đến được Phật đạo. Giới là căn
bản của hết thảy sự vui, ví như kho tàng lớn, xuất ra
các trân bảo. Giới là sự bảo hộ lớn, hay diệt mọi sợ
hãi, ví như đại quân phá giặc. Giới làm trang nghiêm, như
đeo anh lạc. Giới là thuyền lớn, hay đưa qua biển lớn sanh
tử. Giới là xe lớn, hay chở châu báu quí trọng đi đến
thành Niết-bàn. Giới là thuốc hay, hay phá bệnh kiết sử.
Giới là thiện tri thức, đời đời theo dõi không hề xa trái,
khiến tâm an ổn; ví như đào giếng đã thấy bùn ướt, vui
mừng sung sướng, không còn lo sợ. Giới hay thành tựu các
hạnh lợi ích, ví như cha mẹ nuôi lớn các con. Giới là thang
trí, hay đưa vào vô lậu. Giới hay làm các kiết sử kinh sợ,
ví như sư tử, hay làm cho bầy thú nhiếp phục. Giới là gốc
của hết thảy các đức, ách yếu của xuất gia. Người tu
tịnh giới, sở nguyện được theo ý; ví như ngọc Như ý,
mọi sự đều được ứng theo niệm.
Như
vậy nhiều cách tán thán công đức của giới, làm cho chúng
sanh hoan hỷ, phát tâm an trú Trì giới ba-la-mật.
An
trú Nhẫn nhục ba-la-mật: Bồ-tát ở trước chúng sanh, tán
thán nhẫn nhục rằng: Nhẫn là sức mạnh của người xuất
gia, hay dẹp các ác, có thể hiện việc kỳ lạ giữa chúng.
Nhẫn nhục thủ hộ làm cho thí, giới không làm cho bị hủy
hoại. Nhẫn là áo giáp lớn, các quân binh không gia hại. Nhẫn
là thuốc hay, hay trừ ác độc. Nhẫn là khéo hơn, giữa đường
hiểm sanh tử, an ổn không lo. Nhẫn là kho tàng lớn, thí báu
rất lớn cho người thiện nghèo. Nhẫn là thuyền lớn hay
đưa qua khỏi sanh tử bờ này, đạt đến Niết-bàn bờ kia.
Nhẫn là kính sáng hay làm sáng tỏ các đức, nếu người
đến gia ác thì như leo dẫm núi vàng, càng làm phát ánh sáng
của nó. Lợi khí để cầu Phật đạo, độ chúng sanh; nhẫn
là tối diệu. Hành giả nên nghĩ rằng: nếu ta lấy sân hận
đáp lại kia thời là tự hại. Lại nghĩ ta đời trước có
tội ấy mà không được như ý, chắc phải nên bồi thường
lại. Nếu với người này không nhẫn chịu, các người khác
cũng hại ta, đều không tránh được, cớ sao nổi giận?
Lại
nữa, chúng sanh bị phiền não lôi kéo, gây các việc ác, không
được tự tại; ví như người bị kẻ quỷ ám hại, mà mắng
nhiếc lương y, lương y lúc ấy chỉ lo trừ quỷ, mà không
hiềm kẻ mắng. Hành giả cũng như vậy, chúng sanh đưa ác
đến mình, không hiềm nó giận dữ, chỉ do trừ kiết sử.
Lại
nữa, người tu nhẫn, xem kẻ đến mạ nhục như cha mẹ xem
con nhỏ, khi nó mạ nhục lại càng thương xót hơn, yêu nó
sâu hơn.
Lại
tự nghĩ rằng: người kia đưa ác đến ta, ấy là do nghiệp
đã tạo ra đời trước, nay phải chịu; nếu lấy giận đáp
trả, lại tạo thêm khổ về sau, biết lúc nào giải thoát
được! Nếu nay nhẫn nhục, thì vĩnh viễn lìa khổ. Vì vậy
không nên nổi giận. Các nhân duyên như vậy, chê sân giận,
sanh từ bi, vào “chúng sanh nhẫn” (gọi tắt là sanh nhẫn
– N.D).
Vào
sanh nhẫn rồi, suy nghĩ mười phương chư Phật thuyết pháp
đều nói không có ngã, cũng không ngã sở, chỉ do các pháp
hòa hiệp giả danh chúng sanh, như máy chuyển động người
gỗ, tuy động tác mà bên trong vô chủ; thân này cũng như
vậy, chỉ có da thịt giữ nhau, chuyển theo gió tâm, niệm
niệm sanh diệt vô thường, không tịch, không người làm,
không người mắng, cũng không người lãnh thọ; vì gốc ngọn
rốt ráo không, chỉ là điên đảo hư dối, tâm phàm phu chấp
trước. Suy nghĩ như vậy rồi, thời không tướng chúng sanh.
Không tướng chúng sanh rồi, các pháp không thuộc về đâu,
chỉ do nhân duyên hòa hợp, không có tự tánh. Như chúng sanh
hòa hợp, cưỡng gọi là chúng sanh; pháp cũng như vậy, tức
được vào “pháp nhãn”. Ðược sanh nhẫn, pháp nhẫn rồi
nên còn có thể được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
huống chi các lợi ích khác.
Chúng
sanh nghe như vậy rồi, an trú trong Nhẫn ba-la-mật.
An
lập Tinh tấn ba-la-mật: Bồ-tát dạy chúng sanh rằng: Ngươi
chớ giải đãi. Nếu tinh tấn thời các công đức lành đều
được dễ dàng; nếu giải đãi, thời thấy cây có lửa,
còn không gây lên được, huống chi việc khác, vì vậy khuyên
phải tinh tấn. Nếu người theo phương tiện tinh tấn thời
không nguyện gì không thành. Phàm được pháp thù thắng gì,
chẳng phải không nhân duyên, mà đều do tinh tấn phát sanh.
Tinh
tấn có hai: 1. Hay chứa nhóm, phát sanh các thiện pháp, 2. Hay
trừ các ác pháp.
Lại
có ba tướng: 1. Muốn làm, 2. Tinh tấn làm, 3. Không ngưng nghỉ.
Lại
có bốn tướng: Ác đã sanh tinh tấn diệt trừ; ác chưa sanh
tinh tấn không cho sanh; thiện chưa sanh tinh tấn làm cho phát
sanh, thiện đã sanh tinh tấn làm cho tăng trưởng, như vậy
gọi là tướng tinh tấn.
Tinh
tấn nên có thể giúp thành hết thảy thiện pháp; ví như
lửa được gió giúp, ngọn mới cháy bừng. Lại như người
dũng kiện ở thế gian, có thể vượt núi qua biển. Ðạo
pháp tinh tấn, cho đến Phật đạo còn được, huống chi việc
khác. Chúng sanh nghe như vậy rồi, đều an lập Tinh tấn ba-la-mật.
Lại
nữa, Bồ-tát thấy người chưa phát Bồ-đề tâm, tán thán
pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là pháp tối đệ nhất
trong hết thảy pháp, rất là tôn quí, hay lợi ích tất cả,
làm cho ngộ được thật tướng không hư dối của các pháp,
có đại từ bi, đủ nhất thiết trí, tướng thân kim sắc,
đệ nhất vi diệu, 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình, vô lượng
ánh sáng, vô lượng giới, định, tuệ, giải thoát, giải
thoát tri kiến, ba đạt minh vô ngại, vô ngại giải thoát
đối với hết thảy pháp. Ðược như vậy, thì rất là tối
thượng giữa hết thảy chúng sanh, đáng lãnh thọ sự cúng
dường của hết thảy thế gian. Nếu người chỉ chuyên tâm
niệm Phật, còn được vô lượng vô tận phước đức, huống
chi tinh tấn bố thí, trì giới, cúng dường, hầu hạ, lễ
bái...
Bồ-tát
nói với chúng sanh rằng: Phật sự như vậy, ngươi nên phát
tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, siêng tu tinh tấn, thực
hành được pháp như vậy, không khó. Chúng sanh nghe rồi, liền
phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nhưng không thể
chỉ phát tâm suông mà được, nên thực hành Bố thí ba-la-mật,
tiếp thực hành Trì giới ba-la-mật, Nhẫn nhục ba-la-mật,
Thiền Ba-la-mật, Bát-nhã ba-la-mật. Thực hành năm Ba-la-mật
ấy là Tinh tấn ba-la-mật. Nếu không phát tâm Ðại thừa,
thì dạy tu đạo Bích-chi Phật, nếu không tu Bích-chi Phật,
thì dạy tu đạo Thanh văn. Nếu không tu đạo Thanh văn, thì
dạy lìa sắc, tu định vô sắc, tịch diệt an lạc. Nếu không
tu định vô sắc, thì dạy khiến lìa dục, hướng theo các
thứ vui thiền định ở cõi Vô sắc. Nếu không tu thiền,
thì dạy khiến tu mười thiện nghiệp đạo, hưởng thụ thứ
vui cõi người, cõi trời, chớ giải đãi, luống chẳng được
gì, nghèo cùng hà tiện, chịu đủ cần khổ, thật rất đáng
lo!
Giải
đãi là đều rất tệ ác, phá hoại đạo lành ích lợi đời
này đời sau. Chúng sanh nghe rồi, nhóm các thiện pháp, siêng
tu tính tấn.
An
lập Thiền ba-la-mật: Bồ-tát ở trước chúng sanh tán thán
cái vui thiền định thanh tịnh; là cái vui bên trong, vui tự
tại, vui lìa tội lỗi, vui đời này đời sau, vui các bậc
thánh, vui của Phạm thiên vương, vui thọ khắp thân, vui thâm
hậu vi diệu. Chúng sanh các ngươi sao cứ đắm theo cái vui
ngũ dục bất tịnh, cùng thọ cái vui tội cấu đồng với
súc sanh, mà bỏ cái vui vi diệu này. Nếu ngươi bỏ cái vui
nhỏ thời được cái vui lớn. Ngươi không thấy kẻ nông
phu bỏ hạt giống nhỏ, sau thu hoạch quả lớn, như người
hiến cho vui vật nhỏ, mà được thưởng lớn, như chút mồi
nhỏ đầu lưỡi câu mà được cá to. Bỏ đi rất ít mà được
rất nhiều. Người trí cũng như vậy, hay bỏ cái vui thế
gian, được khoái lạc của thiền định thâm sâu. Ðược
cái vui này rồi, trở lại xem cái vui ngũ dục, rất là bất
tịnh, như từ ngục ra khỏi, như bệnh được chữa lành,
không còn tìm thuốc.
Lại
nữa, thiền định là cửa ban đầu của thật trí, làm cho
trí tuệ đứng lặng, có thể soi chiếu các pháp; như đèn
trong nhà kín, ánh sáng nó đắc dụng. Nếu tu thiền định,
thời bốn tâm vô lượng, tám bội xả, tám thắng xứ, năm
thần thông, bốn biện tài... các công đức thậm thâm, đều
được đầy đủ, có thể làm cho ngói đá biến thành ngọc
Như ý, huống chi các việc khác. Tùy ý muốn làm, không điều
chi không làm được. Vào đất như nước, đi trên nước như
đất, tay cầm mặt trời mặt trăng, thân không cháy, lạnh,
hóa làm thân các cầm thú, mà không chịu chuyện cầm thú.
Hoặc có khi biến thân đầy khắp hư không, hoặc có khi thân
như vi trần, hoặc nhẹ như lông hồng, hoặc nặng như núi
Thái. Hoặc có khi lấy ngón chân ấn xuống đất, trời đất
rung động mạnh như rung cỏ lá. Năng lực thần thông biến
hóa như vậy, đều từ thiền định mà có được. Chúng sanh
nghe rồi, an lập nơi Thiền ba-la-mật.
An
lập Bát-nhã ba-la-mật: Bồ-tát dạy chúng sanh nên học trí
tuệ. Trí tuệ là sáng suốt, thứ nhất gọi là mắt tuệ.
Nếu không mắt tuệ, tuy có mắt thịt vẫn là đui. Tuy có
mắt mà không khác súc sanh. Nếu có trí tuệ, tự phân biệt
được tốt xấu, không theo lời người khác; nếu không trí
tuệ, theo người dắt đông dắt tây; như trâu, lạc đà bị
xâu mũi đi theo người. Trí tuệ trên hết thảy pháp hữu
vi, được bậc thánh nhân ái, vì hay phá pháp hữu vi. Như
trong Kinh nói: Trong các thứ báu, trí tuệ báu hơn hết. Trong
hết thảy đồ sắc bén, đao trí tuệ sắc bén hơn hết. Ở
đảnh núi trí tuệ, không còn lo sợ, xem các chúng sanh khổ
não, đều thấy tất cả. Lưỡi dao trí tuệ hay cắt đứt
sợi xích phiền não sanh tử vô thỉ. Năng lực trí tuệ còn
làm cho đầy đủ sáu Ba-la-mật, được vô lượng Phật đạo
không thể nghĩ bàn, thành nhất thiết trí, huống chi Thanh
văn, Bích-chi Phật và các việc tốt thế gian. Trí tuệ ấy
tăng trưởng thanh tịnh không thể bị trở hoại, ấy gọi
là Ba-la-mật. Chúng sanh nghe rồi, an trú trong Bát-nhã ba-la-mật.
Lại
nữa, Bồ-tát hoặc có khi không dùng miệng dạy; hoặc hiện
thần thông, ánh sáng, làm cho chúng sanh an trú trong sáu Ba-la-mật;
hoặc hiện các cảnh duyên khác, cho đến trong mộng, làm nhân
duyên khiến chúng sanh giác ngộ mà an trú trong sáu Ba-la-mật.
Thế
nên Kinh nói: muốn làm cho chúng sanh an trú trong sáu Ba-la-mật,
hãy học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Muốn gieo một thiện căn nơi Phật phước điền, cho đến
khi chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà không
tận, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Thiện căn: Ba thiện căn là thiện căn không tham, thiện căn
không giận, thiện căn không ngu si. Hết thảy pháp lành đều
từ ba thiện căn phát sanh và tăng trưởng; như cây thuốc,
cây cỏ, nhờ có gốc mà được sanh thành, tăng trưởng, vì
vậy gọi là các thiện căn.
Nay
nói thiện căn là, đồ cúng dường làm nhân duyên cho thiện
căn là hoa hương, đèn sáng, và pháp cúng dường là trì giới,
tụng kinh... Ðây là trong nhân nói quả, vì sao? Vì hoa hương
không nhất định, khi lấy thiện căn hoa hương cúng dường,
gọi là thiện căn. Bố thí chẳng phải tức là phước, bố
thí chỉ phá xan tham, mở cửa thiện pháp. Thiện căn gọi
là phước; như kim dẫn chỉ may áo, may chẳng phải là kim.
Một
là hoặc hoa, hoặc hương, hoặc đèn sáng, hoặc lễ kính,
hoặc tụng kinh, hoặc trì giới, hoặc thiền định, hoặc
trí tuệ... mỗi mỗi cúng dường, và pháp cúng dường, gieo
vào Phật phước điền.
Phật
phước điền: Mười phương ba đời chư Phật, hoặc Phật
ở đời, hoặc hình tượng, hoặc xá lợi, hoặc chỉ niệm
Phật.
Gieo
là duyên tâm bám chắc.
Hỏi:
Kinh nói các thứ phước điền, cớ sao chỉ nói gieo vào Phật
phước điền?
Đáp:
Tuy có các thứ phước điền, Phật phước điền hơn hết,
vì đầy đủ vô lượng Phật pháp như mười lực, bốn vô
úy, mười tám pháp không chung. Vì vậy chỉ nói gieo vào Phật
phước điền. Pháp bảo tuy là thầy của Phật, nhưng nếu
Phật không thuyết, thời pháp thành vô dụng; như tuy có thuốc
hay, nếu không có lương y, thời thuốc thành vô dụng. Vì
vậy, Pháp bảo tuy trên, mà trước phải nói đến Phật bảo,
huống chi Tăng bảo.
Lại
nữa, Phật phước điền, có thể thu được vô lượng quả
báo, ngoài ra các phước khác, tuy nói vô lượng mà có kém
thua, vì vậy Phật phước điền là bậc nhất.
Không
tận: Chư Phật thành tựu công đức vô tận, nên gieo vào
Phật phước điền, phước cũng không cùng tận.
Lại
nữa, công đức của Phật vô lượng, vô biên, vô số, vô
đẳng, nên người gieo phước, được phước cũng không cùng
tận.
Lại
nữa, lúc Phật còn làm Bồ-tát, duyên hết thảy chúng sanh,
như chúng sanh vô lượng vô biên, thì phước cũng không cùng
tận.
Lại
nữa, Phật phước điền thanh tịnh, nhổ sạch cỏ uế phiền
não tham ái... Tịnh giới là đất bằng, đại từ bi là tươi
tốt, trừ đất muối tà ác, ba mươi bảy đạo phẩm làm
ngòi cảnh, mười lực, bốn vô úy, bốn vô ngại trí... làm
tường vách, hay xuất sanh quả báo Niết-bàn của ba thừa.
Gieo giống vào ruộng vô thượng vô tỷ ấy, được phước
vô tận.
Hỏi:
Hết thảy pháp hữu vi là tướng vô thường, đều trở về
tận diệt, phước từ nhân duyên sanh làm sao được bất tận?
Đáp:
Cũng không nói thường bất tận. Tự nói: cho đến khi chứng
đắc Phật, ở trung gian bất tận.
Lại
nữa, hết thảy pháp hữu vi, tuy niệm niệm sanh diệt, nhưng
tương tục không đoạn, quả báo không mất, nên nói là bất
tận, ví như đốt đèn tuy ngọn lửa sanh diệt mà không gọi
là diệt, khi dầu hết tim lụn, mới gọi là diệt. Phước
điền cũng như vậy, do thâm tâm gieo vào ruộng tốt, cho đến
khi pháp tận mà phước điền cũng không tận.
Lại
nữa, Bồ-tát biết thật tướng các pháp như Niết-bàn bất
tận. Phước đức đưa vào thật tướng các pháp, nên cũng
không tận.
Hỏi:
Nếu như vậy, Niết-bàn bất tận, phước đức cũng lẽ phải
thường bất tận, cớ sao nói cho đến khi thành Phật, ở
khoảng trung gian bất tận?
Đáp:
Phước ấy do lực trí tuệ làm cho công đức ấy như Niết-bàn
rốt ráo không, bất sanh bất diệt; vì vậy nên ví như Niết-bàn,
chứ chẳng phải Niết-bàn. Nếu là Niết-bàn thì không thể
làm ví dụ. Nếu là Niết-bàn cớ sao quả báo thành Phật
mà phước không tận. Ví như ba cửa giải thoát là không,
vô tướng, vô tác; như tướng rốt ráo không giải thoát,
là không giải thoát môn, thời quán thế gian cũng là rốt
ráo không; như tướng vô tướng giải thoát, là vô tướng
giải thoát môn, thời quán thế gian cũng là tướng vô tướng;
như tướng vô tác giải thoát, là vô tác giải thoát môn,
thời quán thế gian cũng là tướng vô tác.
Vì
vậy nên nói: muốn gieo một thiện căn nơi Phật phước điền
cho đến khi chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
mà phước ấy không tận, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn được
mười phương chư Phật xưng tán tên mình, nên học Bát-nhã
ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Bồ-tát nếu quán các pháp rốt ráo không, bên trong không
có ta, tôi, đã phá kiêu mạn, cớ sao còn muốn được chư
Phật xưng tán tên mình? Lại, Bồ-tát theo pháp phải cúng
dường chư Phật, cớ sao lại cầu chư Phật cúng dường mình?
Đáp:
Phật pháp có hai môn: 1. Môn đệ nhất nghĩa. 2. Môn thế tục
pháp. Theo môn thế tục nên muốn được chư Phật tán thán.
Tuy được chư Phật tán thán mà không thấy ta, tôi, không
chấp thủ tướng chúng sanh, vì theo giả danh của thế gian
nên nói. Ông hỏi: cớ sao trở lại cầu Phật cúng dường
mình, như phẩm sau nói Phật tán thán: Bồ-tát được bất
thối chuyển đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nay Bồ-tát ấy muốn được biết chắc chắn mình đã được
bất thối chuyển chăng, vì vậy cầu Phật tán thán, chứ
chẳng phải cầu cúng dường.
Lại
nữa, các người, các chúng sanh khác bị tham dục, sân nhuế,
ngu si che tâm, nên không thể như thật tán thán; vì nếu có
thiên ái thì không thấy thật lỗi, chỉ thấy công đức kia;
nếu có thiên giận thời chỉ thấy lỗi không thấy công đức
kia; nếu ngu si nhiều thời không thể như thật thấy tốt
xấu. Chư thiên và người đời tuy có trí tuệ, ba độc có
mỏng, cũng không thể như thật tán thán vì còn sai lầm, vì
không có nhất thế trí, và kiết sử chưa hết. Thanh văn,
Bích-chi Phật, ba độc tuy hết, cũng không thể như thật tán
thán, vì còn tập khí thừa chưa hết, vả lại vì trí tuệ
không đầy đủ. Chỉ một mình Phật cả ba độc và tập
khí hết vĩnh viễn, thành tựu nhất thế trí, nên có thể
như thật tán thán không thêm không bớt. Vì vậy, hành giả
muốn được chư Phật tán thán, để biết thực đức của
mình, nên không cầu người khác tán thán.
Hỏi:
Chư Phật ra khỏi ba cõi, không nhiễm trước thế gian, không
có ngã và ngã sở; xem ngoại đạo, ác nhân, đại Bồ-tát,
A-la-hán, bình đẳng không sai khác; cớ sao chỉ tán thán Bồ-tát?
Đáp:
Phật tuy không có ta, tôi, không có ghét thương, đối hết
thảy pháp tâm không nhiễm trước, thương xót chúng sanh, vì
lấy tâm đại từ bi dẫn dắt hết thảy, nên phân biệt người
lành mà có sự tán thán. Và cũng muốn phá hoại sở nguyện
của ác ma, vì Phật tán thán nên vô lượng chúng sanh ưa thích
Bồ-tát, mà cung kính cúng dường, sau đều được thành tựu
Phật đạo; vì vậy nên chư Phật tán thán Bồ-tát.
Hỏi:
Tán thán như thế nào?
Đáp:
Như Phật thuyết pháp ở giữa đại chúng, Ngài muốn khiến
chúng sanh vào pháp thậm thâm, nên tán thán Bồ-tát, như tán
thán Bồ-tát Tát-đà-ba-luân (Sadàpralàpa - Thường-đề Bồ-tát).
Lại
nữa, Phật tán thán Bồ-tát rằng: Bồ-tát ấy hay quán các
pháp rốt ráo không, cũng có tâm đại từ bi đối với chúng
sanh, hay thực hành sanh nhẫn, nên cũng không thấy tướng chúng
sanh; tuy thực hành pháp nhẫn, mà không sanh chấp trước đối
hết thảy pháp, tuy xét việc kiếp trước mà không rơi vào
tà kiến, tuy xem thấy chúng sanh vào Vô dư Niết-bàn mà không
rơi vào biên kiến; tuy biết Niết-bàn là Vô thượng thật
pháp, cũng không khởi thiện nghiệp về thân, khẩu, ý; tuy
đi trong sanh tử mà tâm vui Niết-bàn; tuy trụ ba cửa giải
thoát, hướng nhìn Niết-bàn cũng không dứt bản nguyện và
thiện hành. Các công đức kỳ đặc như vậy rất là khó
có.
Lại
nữa, nếu Bồ-tát chưa được vô sanh nhẫn, chưa được năm
thần thông, ngay nơi nhục thân sanh tử, có tâm đại từ bi,
hay vì chúng sanh, nên có thể thí cho tất cả những gì trong
ngoài đáng quý đáng tiếc. Ngoài là vợ con yêu quý, năm dục
thượng diệu, ngọc Như ý, diệu bảo tối thượng, quốc
độ an ổn... ; trong là thân thể, da thịt, xương máu, đầu,
mắt, tủy não, tai, mũi, chân, tay... Bố thí như vậy rất
là khó có, cho nên chư Phật tán thán đức ấy. Nếu Bồ-tát
đã vào pháp vị, được thần thông, mà thực hành khổ hạnh
thì không là khó. Nhưng vì Bồ-tát ấy còn sanh thân, mắt
thịt, mà chí nguyện rộng lớn, có tâm đại bi, ưa vui Phật
đạo, làm việc như vậy, rất là hy hữu.
Lại
nữa, nếu Bồ-tát trì giới thanh tịnh đầy đủ, không phân
biệt trì giới, phá giới; đối hết thảy pháp rốt ráo bất
sanh, thường nhẫn “không pháp”; tinh tấn không thối không
nghỉ, không đắm không chán, tinh tấn và giải đãi một tướng
không khác, vô lượng vô biên vô số kiếp, siêng tu tinh tấn;
đều muốn lãnh thọ thực hành thiền định thậm thâm, không
nương dựa, định và loạn không khác, không rời khỏi định
mà có thể biến hóa thân vô lượng, cùng khắp mười phương,
thuyết pháp độ người; thực hành trí tuệ sâu xa, quán hết
thảy không sanh không diệt, chẳng phải không sanh chẳng phải
không diệt, cũng chẳng phải không sanh cũng chẳng phải không
diệt, chẳng chẳng phải không sanh chẳng chẳng phải không
diệt; vượt qua các ngôn ngữ, chỗ tâm đi dứt bặt, không
thể hoại không thể phá, không thể thọ nhận, không thể
chấp trước, chỗ chư thánh đi sạch như Niết-bàn, cũng không
chấp trước sự quán sát ấy; ý cũng không mất, hay lấy
trí tuệ tự làm lợi ích. Các Bồ-tát như vậy được chư
Phật tán thán.
Lại
nữa, Bồ-tát chưa được thọ ký, chưa được vô sanh pháp
nhẫn, sanh ra không gặp Phật, không được thấy hiền thánh,
do chánh tư duy nên hay quán thật tướng các pháp. Tuy quán
thật tướng, tâm cũng không dính mắc. Bồ-tát như vậy, được
mười phương chư Phật đều tán thán.
Lại
nữa, Bồ-tát nghe Phật pháp thậm thâm vô lượng vô biên
không thể nghĩ bàn, tuy tự chưa chứng được, trí tuệ chưa
kịp, mà có thể định tâm tin vui, không sanh nghi ngờ hối
hận, nếu ma giả làm Phật đi đến ngụy nói ý nó, tâm cũng
không thêm bớt, Bồ-tát như vậy, được chư Phật tán thán.
Lại
nữa, có các Bồ-tát phát tâm cũng trong một lúc, trong đó
có vị mau thành Phật, thời Phật tán thán, vì có sức tinh
tấn lớn. Như đức Phật Thích-ca Mâu-ni, cùng các Bồ-tát
Di-lặc... đồng thời phát tâm, mà đức Phật Thích-ca Mâu-ni
do sức tinh tấn nên vượt qua chín kiếp.
Lại
nữa, hoặc có Bồ-tát đầy đủ Bồ-tát sự, là mười địa,
sáu Ba-la-mật, mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại trí,
mười tám pháp không chung, và vô lượng Phật pháp thanh tịnh,
nhưng vì rộng độ chúng sanh nên ở lâu trong sanh tử, không
thủ chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Bồ-tát như
vậy, chư Phật tán thán, đó là ai? Là như Văn-thù-sư-lợi,
Tỳ-ma-la-cật (Duy-ma-cật), Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí, Biến
Cát Bồ-tát... là thượng thủ của các Bồ-tát, đã ra khỏi
ba cõi, biến hóa vô số thân, vào trong sanh tử, giáo hóa chúng
sanh. Các việc hy hữu như vậy, đều từ Bát-nhã ba-la-mật
thậm thâm sanh ra.
Vì
vậy nên nói: muốn được chư Phật tán thán tên mình, nên
học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn một lần
khởi ý là đến được mười phương thế giới số như hằng
hà sa, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Bồ-tát được năng lực thân thông biến hóa làm mười phương
hằng hà sa thân một lúc đi đến mười phương hằng hà sa
thế giới.
Hỏi:
Như Kinh nói: Trong khoảng búng ngón tay có sáu mươi niệm,
nếu trong một niệm đi đến hằng hà sa thế giới ở một
phương, còn không thể tin được, huống gì đi đến hằng
hà sa thế giới ở mười phương, thời gian ít mà chỗ đi
đến nhiều?
Đáp:
Kinh nói: Năm việc không thể nghĩ bàn, đó là chúng sanh nhiều
ít, nghiệp quả báo, năng lực người tọa thiền, năng lực
các rồng, năng lực chư Phật. Trong năm việc không thể nghĩ
bàn ấy, năng lực Phật là rất không thể nghĩ bàn, Bồ-tát
vào thiền định phát sanh thần thông không thể nghĩ bàn,
nên trong một niệm đến được thế giới chư Phật trong
mười phương. Như nói trong bốn loại thần thông, chỉ Phật
và Bồ-tát có thần thông chóng đi khắp như ý muốn, như
con của chim Kim si, mới từ vỏ trứng ra, mà đi từ một núi
Tu-di đến một núi Tu-di; các Bồ-tát cũng như vậy, nhờ lực
vô sanh nhẫn, phá vỏ trứng vô minh phiền não, tức thì trong
một niệm hóa ra vô lượng thân, khắp đến mười phương.
Lại
nữa, Bồ-tát đã tiêu diệt hết tội chướng trong vô lượng
đời, nhờ lực trí tuệ nên chuyển được hết thảy pháp;
nhỏ chuyển làm lớn, lớn chuyển làm nhỏ; lấy ngàn vạn
kiếp làm một ngày, lại lấy một ngày làm ngàn vạn kiếp.
Bồ-tát ấy, là chủ thế gian, ưa muốn tự tại, thì có nguyện
gì mà không thành được. Như kinh Tỳ-ma-la-cật nói: Lấy
bảy đêm làm một kiếp sống. Do nhân duyên ấy Bồ-tát nương
lực thần thông, có thể chóng vượt qua mười phương thế
giới.
Hỏi:
Trong năm việc không thể nghĩ bàn nói trước đó không có
Bồ-tát, sao nay nói Bồ-tát không thể nghĩ bàn?
Đáp:
Hoặc có khi trong nhân nói quả, như nói ngày ăn trăm lượng
vàng. Vàng không thể ăn, nhân vàng được ăn, nên nói ăn
vàng, ấy là trong nhân nói quả. Hoặc có khi trong quả nói
nhân, như thấy bức vẽ đẹp nói là khéo tay, ấy là thấy
trong quả nói nhân. Các Bồ-tát cũng như vậy, Bồ-tát là
nhân, Phật là quả; nếu nói Phật lực không thể nghĩ bàn
nên biết là đã nói Bồ-tát.
Vì
vậy nên nói: muốn một lần khởi ý, đã đến được mười
phương hằng hà sa thế giới, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát muốn phát ra
một âm khiến cho mười phương hằng hà sa thế giới đều
nghe tiếng, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Bồ-tát được sáu thần thông, tăng trưởng tướng phạm
âm, vượt qua ba ngàn đại thiên thế giới, đến mười phương
hằng hà sa thế giới.
Hỏi:
Nếu như vậy, thời có khác gì với âm thanh của Phật?
Đáp:
Âm thanh của Bồ-tát có số hạng trong hằng hà sa thế giới,
còn âm thanh Phật đi xa không có hạng số. Như trong kinh Phật
Tích nói: Mục-liên muốn thử âm thanh của Phật, đi đến
tận phương tây, vẫn nghe âm thanh Phật, như đối trước
mặt.
Hỏi:
Nếu như vậy, Phật thường ở tại quốc độ xóm làng, thuyết
pháp giáo hóa, nhưng mà người ở trong cõi Diêm-phù-đề,
không đến bên Phật thời không nghe được, sao biết thế?
Vì có nhiều người từ phương xa đi đến muốn nghe Phật
thuyết pháp?
Đáp:
Âm thanh Phật có hai thứ: 1. Âm thanh mật. 2. Âm thanh không
mật. Âm thanh mật trước đã nói, âm thanh không mật, thời
đến bên Phật mới nghe. Cũng có hai hạng đệ tử: 1. Xuất
thế thánh nhân. 2. Thế gian phàm phu. Xuất thế thánh nhân
như Mục-kiền-liên... nghe được âm thanh vi mật; còn người
phàm phu theo chỗ nó đến gần mới nghe.
Lại
nữa, chư Bồ-tát được vào chánh vị, lìa thân sanh tử,
được chân thân pháp tánh, thấy được vô lượng thân Phật
mười phương và ánh sáng chiếu khắp, cũng nghe được sáu
mươi thứ âm thanh cực xa vô lượng của chư Phật. Các đại
Bồ-tát tuy chưa đầy đủ âm thanh như vậy, nhưng đối âm
thanh của Phật cũng được một phần.
Âm
thanh của Phật Bồ-tát có ba thứ: 1. Do đời trước gieo âm
thanh lành nên trong cổ họng có được tứ đại vi diệu,
phát ra các thứ âm thanh diệu hảo xa gần một dặm, hai dặm,
ba dặm, mười dặm, trăm ngàn dặm, cho đến âm thanh lan khắp
ba ngàn đại thiên thế giới. 2. Là do lực thần thông mà
tứ đại trong cổ họng phát ra tiếng lan khắp ba ngàn đại
thiên thế giới, và mười phương hằng hà sa thế giới. 3.
Là âm thanh Phật thường lan khắp mười phương hư không.
Hỏi:
Nếu âm thanh Phật thường lan khắp, sao nay chúng sanh không
được thường nghe?
Đáp:
Chúng sanh vô lượng kiếp lại đây, vì nghiệp đã gây che
lấp, nên không được nghe, ví như sấm chớp giông bảo, mà
người điếc không nghe, tiếng sấm không giảm. Phật cũng
như vậy, thường vì chúng sanh thuyết pháp, như rồng rung
tiếng sấm lớn, mà chúng sanh vì tội nghiệp, tự không nghe
được. Như nay người tinh tấn trì giới, trong lúc niệm Phật
tam-muội, tâm đắc định, không bị tội chướng ngại, thì
liền được thấy Phật, nghe Phật thuyết pháp, âm thanh rõ
ràng. Bồ-tát đối với ba thứ âm thanh ấy, muốn được
hai thứ, hai thứ âm thanh ấy rất khó, hy hữu, còn như âm
thanh của nghiệp quả thì tự nhiên có được.
Vì
vậy nên nói: Bồ-tát ma-ha-tát muốn dùng một âm thanh khiến
cho mười phương hằng hà sa thế giới nghe tiếng, nên học
Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn làm cho
thế giới chư Phật không dứt, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Phật thế giới không dứt là Bồ-tát làm cho mỗi nước kế
tiếp nhau đều khiến chúng sanh phát tâm làm Phật.
Hỏi:
Nói kế tiếp nhau là mỗi nước trước sau kế tiếp, hay là
mười phương thế giới kế tiếp? Nếu mỗi một nước kế
tiếp nhau, thì tâm đại bi là trùm khắp hết thảy chúng sanh,
cớ sao không trùm đến nước khác? Còn nếu mười phương
thế giới kế tiếp nhau, thời các Phật Bồ-tát khác có lợi
ích gì?
Đáp:
Tâm nguyện Bồ-tát muốn khiến hết thảy thế giới đều
làm Phật, đại tâm rộng xa, không bị giới hạn, lấy tâm
chứa nhóm các trí tuệ, và vô lượng phước đức thần thông
lực, lại tùy chúng sanh gieo nhân duyên làm Phật, Bồ-tát
đều khiến làm. Nếu hết thảy thế giới đều gieo nhân
duyên làm Phật, thời các Phật, Bồ-tát khác chẳng phải
có ích. Nhưng việc ấy không đúng.
Lại,
mười phương thế giới vô lượng vô biên, không lẽ một
Bồ-tát được biến khắp hết các thế giới, khiến Phật
chủng không dứt, mà các Bồ-tát khác tùy theo nhân duyên đều
có phần trong đó. Vì tâm đại bi rộng lớn nên nguyện cũng
vô lượng, tâm lợi ích không có giới hạn. Chủng loại chúng
sanh vô lượng, nên chẳng phải một Phật một Bồ-tát có
thể độ hết được.
Hỏi:
Nếu việc không xứng tâm, cớ gì lại phát nguyện?
Ðáp:
Vì muốn khiến tâm nguyện rộng lớn thanh tịnh, như tu Từ
tam-muội, tuy không thể khiến chúng sanh lìa khổ, chỉ tự
muốn làm cho tâm rộng lớn thanh tịnh, thành tựu nguyện lợi
ích, như lực của chư Phật đại Bồ-tát, đều có thể độ
thoát hết thảy, nhưng chúng sanh phước duyên chưa nhóm, chưa
có trí tuệ, nhân duyên chưa tụ hội, nên không được độ,
như nước biển cả, hết thảy chúng sanh lấy dùng, mà nước
không khô kiệt, chỉ vì chúng sanh không thể được dùng;
như chúng sanh ngạ quỉ, do tội mình, nên không được thấy
nước, giả sử được thấy, nước liền khô kiệt, hoặc
biến thành nước đồng sôi, hoặc thành máu mủ. Phật cũng
như vậy, có đại từ bi trí tuệ vô lượng vô biên, có thể
làm đầy đủ cho chúng sanh, nhưng chúng sanh vì tội nghiệp,
nên không gặp Phật, giả sử được gặp Phật, thì cũng
giống như người khác, hoặc sanh sân nhuế, hoặc nổi lên
phỉ báng. Vì nhân duyên ấy nên không thấy được oai tướng
thần lực của Phật; tuy được gặp Phật mà không có lợi
ích.
Lại
nữa, hai nhân hai duyên phát sanh chánh kiến, đó là nội nhân
ngoại duyên. Phật là nhân duyên bên ngoài đầy đủ, có 32
tướng tốt, 80 vẻ đẹp tùy hình, vô lượng ánh sáng trang
nghiêm Phật, các thứ thần lực, các thứ âm thanh, tùy ý
thuyết pháp, dứt mọi nghi lầm. Chỉ vì chúng sanh nhân duyên
bên trong không đầy đủ, trước không gieo thiện căn thấy
Phật, không tin kính, không tinh tấn trì giới, độn căn sâu
dày, đắm vào cái vui thế gian, vì vậy nên không có lợi
ích, chứ không phải lỗi tại Phật. Phật hóa độ chúng
sanh, thần khí lợi dụng, thảy đều đầy đủ; ví như mặt
trời mọc, có mắt thời thấy, mắt mù không thấy, giả sử
có mắt mà không có mặt trời, thời không thấy chi, thế
nên mặt trời không có lỗi; Phật cũng như vậy.
Hỏi:
Thế nào là nhân duyên khiến Phật thế giới không dứt?
Ðáp:
Bồ-tát đối với chúng sanh, dùng các cách tán thán Phật
đạo, khiến chúng sanh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, dần dần hành sáu Ba-la-mật, vậy sau mỗi mỗi làm Phật
ở các thế giới. Nếu nơi mỗi nước kế tiếp làm Phật,
hoặc ở nước khác mỗi tự làm Phật, ấy gọi là không
dứt nước Phật.
Lại
nữa, Bồ-tát chóng nhóm trí tuệ đầy đủ, làm Phật độ
vô lượng chúng sanh, khi sắp vào Niết-bàn, thọ ký Bồ-tát
rằng: Sau khi Ta diệt độ, ngươi kế tiếp làm Phật, triển
chuyển đều như vậy, khiến không đoạn tuyệt. Nếu Phật
không thọ ký Bồ-tát thời Phật quốc bị đoạn, ví như
vua lập thái tử, triển chuyển như vậy, quốc độ không
dứt.
Hỏi:
Cớ sao quí trọng thế giới có Phật, mà khinh hèn quốc độ
không có Phật?
Ðáp:
Việc ấy không nên hỏi. Phật là vị chủ trang nghiêm mười
phương thế giới, huống chi một quốc độ. Nếu lìa quốc
độ có Phật thời tuy hưởng cái vui cõi người cõi trời,
mà không biết là do ơn Phật gây nên, thời không khác gì
súc sanh. Nếu các đức Phật không ra đời, thời không có
con đường đến tam thừa Niết-bàn, thường nhốt trong ngục
ba cõi, vĩnh viễn không ngày ra khỏi. Nếu đời có Phật,
thời chúng sanh được ra khỏi lao ngục ba cõi; ví như giữa
hai quốc độ, một nơi không có mặt trời, trong đó chúng
sanh từ tối tăm sanh ra, từ tối tăm chết đi. Nếu lúc có
Phật ra đời, có ánh sáng dần soi, mỗi mỗi trông thấy nhau,
cho đến thấy các chúng sanh được ánh mặt trời mặt trăng
chiếu đến mà biết kia là đại phước, còn chúng ta có tội.
Như vậy, hoặc có khi Phật lấy ánh sáng chiếu khắp các
Phật quốc, chúng sanh ở nước không có Phật, thấy ánh sáng
của Phật chiếu đến, thì rất hoan hỷ, nghĩ rằng: chúng
ta đây tối tăm, còn nơi kia sáng suốt.
Lại
nữa, quốc độ có Phật, thì chúng sanh biết có tội phước,
có người thọ Tam quy Ngũ giới, Bát quan trai giới và xuất
gia năm chúng, có các thứ thiện pháp như thiền định, trí
tuệ sâu xa, có bốn quả Sa-môn, hữu dư Niết-bàn... vì nhân
duyên ấy nên Phật quốc là quí. Nếu chúng sanh ở quốc độ
có Phật, tuy không thấy Phật, mà gặp được Kinh pháp, tu
thiện trì giới, bố thí, lễ kính... gieo nhân duyên Niết-bàn,
cho đến súc sanh cũng có thể gieo nhân duyên phước đức.
Nếu quốc độ không có Phật, thí cho đến trời người,
cũng không thể làm thiện.
Vì
vậy, nên Bồ-tát phát nguyện muốn khiến Phật quốc không
dứt.
(Hết
cuốn 30 theo bản Hán)