Tập
2
Cuốn
33
Chương
45
Giải
Thích: Ðến Bờ Kia...
Kinh:
Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát muốn đến bờ
kia của hết thảy pháp hữu vi vô vi, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Bờ kia là đối với pháp hữu vi vô vi đến tận bờ mé nó.
Thế
nào là bờ kia? Là dùng đại trí tuệ biết rõ hết thảy
pháp hữu vi, các tướng chung tướng riêng của nó đều biết
rõ. Ðối với pháp vô vi, từ Tu-đà-hoàn cho đến Phật, thảy
đều biết rõ; nghĩa tướng của pháp hữu vi vô vi, như trước
đã nói.
Kinh:
Bồ-tát ma-ha-tát muốn biết quá khứ, vị lai, hiện tại các
pháp như, các pháp tướng, vô sanh tế, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Trên kia đã nói như, sao nay còn nói lại?
Đáp:
Trên chỉ nói ngay các pháp như, nay nói pháp ba đời đều
như; trên nói lược, đây nói rộng; trên nói một, đây nói
ba. Pháp tướng tức là pháp tánh; vô sanh tế tức là chân
tế, quá khứ pháp như, tức là pháp tướng quá khứ, vị
lsi, hiện tại cũng như vậy.
Lại
nữa, quá khứ pháp như, tức là vị lai, hiện tại pháp như,
tức là quá khứ, vị lai pháp như; vị lai pháp như, tức là
quá khứ, hiện tại pháp như, vì cớ sao? Vì tướng “như”
chẳng phải một chẳng phải khác.
Lại
nữa, như trước nói hai thứ như: 1. Thế gian như. 2. Xuất
thế gian như. Dùng thế gian như thì ba đời mỗi mỗi khác;
dùng xuất thế gian như thì ba đời là một.
Lại
nữa, pháp tướng là nghiệp dụng của các pháp, lực tạo
tác, nhân duyên, quả báo của các pháp. Như lửa là tướng
nóng, nước là tướng ướt, như vậy phân biệt các tướng
riêng khác về nhân duyên, quả báo của các pháp; như trong
mục Thị xứ phi xứ lực ở trước nói; ấy gọi là pháp
tướng thế gian. Nếu đối với các pháp ấy truy cầu tầm
cứu nhập vào vô sanh pháp, không còn gì quá hơn nữa; ấy
gọi là vô sanh tế.
Hỏi:
Như, pháp tướng có thể phân biệt có ba đời, còn vô sanh
tế là pháp vị lai, làm sao có quá khứ, hiện tại? Như trong
A-tỳ-đàm nói sanh pháp là quá khứ, hiện tại, vô sanh pháp
là vị lai và pháp vô vi, làm sao muốn khiến cả pháp quá
khứ, hiện tại có vô sanh?
Đáp:
Các đoạn như trước nói phá sanh pháp, thời hết thảy pháp
đều vô sanh, chứ đâu chỉ vị lai vô sanh, như trong chương
giải thích nghĩa chữ Nhất thời đã phá ba đời. Ba đời
một tướng, đó là vô tướng, như vậy là tướng vô sanh.
Lại
nữa, vô sanh là Niết-bàn, vì Niết-bàn không sanh sanh diệt,
Niết-bàn là rốt ráo cuối cùng, không còn sanh trở lại,
mà hết thảy pháp tức là Niết-bàn, nên Phật dạy hết thảy
pháp đều là vô sanh tế.
Kinh:
Lại nữa, Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn ở trước
hết thảy Thanh văn, Bích-chi Phật; muốn hầu hạ chư Phật;
muốn làm nội quyến thuộc của chư Phật; muốn được đại
quyến thuộc; muốn được Bố-tát làm quyến thuộc; muốn
thanh tịnh báo đáp ơn đại thí, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Nếu Bồ-tát chưa sạch hết lậu, làm sao được ở
trước bậc thánh nhân sạch hết lậu?
Đáp:
Bồ-tát khi mới phát tâm đã ở trước hết thảy chúng sanh,
huống gì đã nhiếu kiếp tu hành? Bồ-tát công đức trí tuệ
lớn, nên đời đời thường lớn, có thể làm lợi ích cho
Thanh văn, Bích-chi Phật. Chúng sanh biết ơn Bồ-tát, nên tôn
sùng kính trọng, cho đến ở trong súc sanh cũng là tôn trọng.
Như Bồ-tát kiếp xưa làm nai, màu sắc như vàng, sừng bảy
báu, năm trăm nai tùy tùng kính thờ. Nếu sanh trong loài người,
đời tốt thì làm Chuyển luân thánh vương, đời ác thường
làm Ðại vương, hộ trì Phật pháp, lợi ích chúng sanh. Nếu
xuất gia, gặp đời có Phật pháp, thời làm vị đại độ
sư cho đời, hưng hiển Phật pháp; nếu gặp đời không Phật
pháp, thì làm đại sư ngoại đạo, tu hành bốn vô lượng
tâm. A-la-hán, Bích-chi Phật, tuy được vô lậu mà việc lợi
ích ít; ví như một thăng váng sữa tuy tinh sạch, chẳng bằng
cao sữa đầy nước biển lớn. Bồ-tát tuy trí tuệ hữu lậu
mà đến khi thành thục, thời lợi ích vô lượng.
Lại
nữa, bốn sự cúng dường dụng cụ trợ đạo cho La-hán,
Bích-chi Phật phần nhiều do Bồ-tát mà có được; như kinh
Lăng-nghiêm nói: Văn-thù-sư-lợi bảy mươi hai ức kiếp làm
Bích-chi Phật, giáo hóa người tu pháp Bích-chi Phật khiến
họ được thành đạo. Vì vậy nên Bồ-tát ở trước Thanh
văn, Bích-chi Phật.
Muốn
hầu hạ chư Phật: Thích-ca Văn Phật khi chưa xuất gia, Xa-nặc
hầu hạ, Ưu-đà-da làm trò vui, Cù-tỳ-da, Da-du-đà các thể
nữ làm nội quyến thuộc; khi xuất gia tu khổ hạnh sáu năm,
có năm người hầu hạ. Khi thành đạo có Di-hỷ, La-đà, Tu-na-sát-đa-la,
A-nan, Mật-tích lực sĩ...; ấy là nội quyến thuộc.
Ðại
quyến thuộc: Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ðại-Ca-diếp,
Tu-bồ-đề, Ca-chiên-diên, Phú-lâu-na, A-nâu-nâu-đà các thánh
nhân; và Di-lặc, Văn-thù-sư-lợi, Bạt-đà-bà-la các Bồ-tát
nhân sanh bổ xứ không thối chuyển; ấy gọi là đại quyến
thuộc.
Lại
nữa, Phật có hai thân: 1. Pháp tánh sanh thân. 2. Tùy thế gian
thân. Quyến thuộc của thế gian thân như trước đã nói;
quyến thuộc của pháp tánh sanh thân là vô lượng vô số
Bồ-tát nhất sanh bổ xứ theo hầu, vì cớ sao? Vì như trong
kinh Bất khả tư nghì giải thoát nói: lúc Phật sắp
sanh có 84.000 Bồ-tát nhất sanh bổ xứ ở tiền đạo. Bồ-tát
(Phật) theo sau sanh ra; ví như bóng mây lồng trăng.
Lại
như kinh Pháp Hoa nói: các Bồ-tát từ đất vọt lên, đều
là nội quyến thuộc, đại quyến thuộc.
Bồ-tát
làm quyến thuộc: có đức Phật lấy thuần Bồ-tát làm quyến
thuộc, có đức Phật lấy thuần Thanh văn làm quyến thuộc;
có đức Phật lấy cả Bồ-tát và Thanh văn xen lộn làm quyến
thuộc, cho nên nói chỉ muốn lấy Bồ-tát làm quyến thuộc,
nên học Bát-nhạ ba-la-mật.
Quyến
thuộc có ba hạng: thượng, trung, hạ. Hạ quyến thuộc thuần
Thanh văn; trung quyến thuộc lẫn lộn Thanh văn Bồ-tát, thượng
quyến thuộc thuần là Bồ-tát.
Thanh
tịnh báo đáp ơn đại trí: có người nói Bồ-tát chứa nhiều
phước, nhưng chưa trừ hết phiền não, lãnh thọ của người
tín thí, chưa thể thanh tịnh báo đáp. Phật dạy: Bồ-tát
tu hành Bát-nhã ba-la-mật, thấy các pháp đều không, không
thể có được, huống gì các kiết sử. Bồ-tát vào trong
pháp tánh, không thủ chứng thật tế, cho nên có thể thanh
tịnh báo đáp phước thí chủ.
Lại
nữa, công đức Bồ-tát rộng lớn, từ khi phát tâm lại đây,
muốn thay thế hết thảy chúng sanh chịu mọi sự khổ, muốn
đem hết thảy công đức cho hết thảy chúng sanh, vậy sau
mới cầu Phật đạo cho mình, nhưng việc ấy không thể được,
nên mới tự thành Phật, để độ hết thảy chúng sanh.
Lại
chí nguyện Bồ-tát không ràng buộc theo vô số kiếp; cũng
như thế gian như, pháp tánh, thật tế, hư không trụ lâu,
tâm Bồ-tát trụ thế gian làm lợi ích chúng sanh cũng lâu
như thế, không có cùng tận. Bồ-tát như vậy mà không thể
thanh tịnh báo đáp phước thí chủ thì ai có thể thanh tịnh
báo đáp? Như cha mẹ tuy có kiết sử các ác, vì một đời
làm lợi ích cho con, nên nhận sự cúng dường của nó, khiến
nó được đại phước; huống gì Bồ-tát không có các kiết
sử, mà trụ vô lượng đời làm lợi ích chúng sanh mà không
thanh tịnh báo đáp?
Lại
nữa, Bồ-tát chỉ có bi tâm, không có Bát-nhã mà còn có thể
lợi ích; huống gì tu hành Bát-nhã ba-la-mật.
Hỏi:
Nếu Bồ-tát không còn kiết sử, tại sao còn thọ sanh ở
thế gian?
Đáp:
Trước đã nói: Bồ-tát được vô sanh pháp nhẫn, được
pháp tánh sanh thân, nơi nơi biến hóa để độ chúng sanh,
trang nghiêm thế giới; do công đức ấy nên tuy chưa thành
Phật, mà có thể thanh tịnh báo đáp phước thí chủ.
Kinh:
Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát muốn không khởi
tâm xan lẫn, tâm phá giới, tâm sân nhuế, tâm giải đãi,
tâm tán loạn, tâm si, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Sáu thứ tâm xấu này làm chướng ngại sáu Ba-la-mật; như
khi Bồ-tát tu hành bố thí, nếu có tâm xan lẫn nổi lên,
thời làm cho việc bố thí không thanh tịnh, tức là không
thể đem vật tốt thí; hoặc cho vật tốt, không thể cho nhiều;
hoặc cho vật ngoài, không thể cho vật trong; hoặc có thể
cho vật trong, không thể cho hết; đều do tâm xan lẫn. Bồ-tát
tu hành Bát-nhã ba-la-mật biết hết thảy pháp không ta, không
của ta, các pháp đều không, như mộng như huyễn, đem thân,
đầu, mắt, xưuơng, tủy bố thí như thí cỏ cây. Bồ-tát
tuy chưa đắc đạo mà muốn thường không khởi tâm xan lẫn,
nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Các
người khác lìa dục đắc đạo, nên không sanh tâm phá giới,
Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật nên không thấy sự phá giới,
vì cớ sao? Vì giới là trú xứ của hết thảy công đức
thiện; ví như đất là chỗ nương tựa của muôn vật, phá
giới còn không được các đạo quả khác, huống được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì vậy nên không khởi tâm
phá giới. Lại nghĩ rằng, pháp của Bồ-tát là an lạc chúng
sanh, nếu phá giới là não loạn tất cả, vì vậy Bồ-tát
còn không khởi tâm phá giới huống gì phá giới.
Hàng
Tiểu thừa và phàm phu còn không nên khởi tâm tức giận,
huống gì Bồ-tát phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác;
thân là đồ chứa khổ, đúng pháp phải tự chịu khổ não;
ví như người phạm tội, tự chịu hình giết, tự làm tự
chịu, không nên oán người. Chỉ nên tự thủ hộ tâm, đừng
cho khởi niệm ác; ví như người gặp gió mưa, nóng, rét,
cũng không nổi giận. Lại nghĩ rằng, Bồ-tát cầu Phật đạo,
lấy tâm đại bi làm gốc; nếu ôm lòng sân hận, thời tiêu
mất chí nguyện. Người sân hận còn không được cái vui
thế gian, huống gì cái vui của đạo; người sân hận tự
không được vui, làm sao có thể đem vui cho người.
Người
giải đãi còn không thể thành được việc tốt thế gian,
huống gì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; ví như dùi cây
lấy lửa mà thường ngưng nghỉ, thời không hẹn được lúc
có lửa; tâm tán loạn, ví như đèn giữa gió, đèn tuy có
sáng mà không thể chiếu vật. Trí tuệ ở giữa loạn tâm
cũng như vậy. Trí tuệ là cội gốc của hết thảy thiện
pháp, nếu muốn thành tựu trí ấy, trước phải nhiếp tâm,
vậy sau mới thành được; ví như người cuồng say, việc
tự lợi, lợi tha, tốt xấu đều không hay biết; tâm tán
loạn cũng như vậy. Việc tốt thế gian còn không thể biết
rõ, huống gì pháp xuất thế gian.
Tâm
người ngu si, tất cả việc thành bại, đều không biết nỗi,
huống gì nghĩa lý vi diệu sâu xa; ví như người không có
mắt, thời hoặc sa hầm hố, hoặc vào đường quấy. Người
vô trí cũng lại như vậy. Không còn mắt trí tuệ nên thọ
nhận say đắm tà pháp, không lãnh thọ chánh kiến. Người
như vậy, việc thế gian gần còn không thành được, huống
gì Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bồ-tát
do lực tu hành Bát-nhã ba-la-mật, nên có thể chướng ngăn
sáu tệ ấy, và thanh tịnh sáu Ba-la-mật. Do vậy nên nói nếu
muốn không khởi lên sáu tệ, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn khiến
hết thảy chúng sanh, an lập nơi chỗ phước bố thí, chỗ
phước trì giới, chỗ phước tu định, chỗ phước khuyến
đạo; muốn khiến chúng sanh an lập nơi chỗ phước tài của,
phước giáo pháp, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Thế nào gọi là chỗ phước?
Đáp:
Trong A-tỳ-đàm nói: phước là nghiệp thân, khẩu, ý hữu
lậu thiện. Lại có người nói: phước là vô phú vô ký,
vì cớ sao? Vì là quả báo do nghiệp hữu lậu thiện nên được
vô phú vô ký. Phước là quả báo, cũng gọi là phước, như
người thế gian thành được đại sự, làm nên nhiều việc,
gọi đó là người phước đức. Phước này lược nói có
ba thứ là bố thí, trì giới, tu định.
Thế
nào là bố thí? Có người đem y phục, đồ nằm, uống ăn,
hoa hương, chuỗi ngọc... cho người; ấy gọi là bố thí.
Hỏi:
Vật ẩm thực... là bố thí, hay còn có sự bố thí?
Đáp:
Vật ẩm thực chẳng phải bố thí, mà khi lấy vật ẩm thực...
đem cho, trong tâm phát sanh một pháp gọi là xả bỏ, trái
ngược với tâm xan lẩn; ấy gọi là phước đức bố thí,
nó hoặc là hữu lậu, hoặc là vô lậu, thường là tâm số
pháp thiện, tương ưng với tâm, theo tâm hành, cùng với tâm
sanh; không sắc không hình; hay làm duyên, tương ưng với nghiệp,
theo nghiệp hành, cùng nghiệp sanh, chẳng phải quả báo của
nghiệp trước; được tu, hành tu, tuệ chứng, thân chứng,
người phàm phu được và thánh nhân được.
Có
người nói: Tư tương ưng với pháp xả, ấy gọi là phước
đức bố thí, vì cớ sao? Vì nghiệp hay sanh quả báo. Tư tức
là nghiệp, thân miệng không gọi là nghiệp; từ tư tâm sở
sanh, nên được gọi là nghiệp.
Bố
thí có hai thứ: 1. Tịnh, 2. Bất tịnh. Bất tịnh là chỉ
cho thẳng mà thôi. Hoặc sợ mất của nên cho; hoặc sợ trách
mắng nên cho; hoặc không cần dùng nên đem cho; hoặc thân
ái nên cho; hoặc vì cầu thế nên cho, vì cho nên đưa đến
nhiều thế viện; hoặc chết gần kề nên cho; hoặc cầu tiếng
khen nên cho; hoặc cầu ngang danh, hơn danh kẻ quý nên cho; hoặc
đố kỵ ganh ghét nên cho; hoặc kêu mạn nên cho, nghĩ rằng
tiểu nhân ngu hèn còn cho được, huống ta là đại nhân quý
trọng, làm sao không cho; hoặc vì chú nguyện phước đức
nên cho; hoặc cầu tốt trừ xấu nên cho; hoặc tìm vào bạn
đảng nên cho; hoặc không nhất tâm, không cung kỉnh, khinh
hèn người thọ nhận mà cho. Các nhân duyên như vậy, là vì
đời nay nên cho; vì ngược lại với tịnh, nên gọi là bất
tịnh.
Tịnh
thí là như trong Kinh nói: vì đối trị tâm nên cho; trang nghiêm
ý nên cho; vì được đệ nhất lợi nên cho; sanh tâm thanh
tịnh hay phân biệt và giúp Niết-bàn nên cho; ví như hoa tươi
chưa héo, sắc đẹp lại thơm. Tịnh tâm bố thí cũng như
vậy; như nói chư thiên, tâm không thanh tịnh bố thí, thời
ánh sáng cung điện mỏng ít; nếu bố thí với tâm thanh tịnh
thời ánh sáng thêm rộng lớn. Nghiệp bố thí ấy tuy quá
khứ cho đến ngàn vạn đời không mất, thí như bằng khoáng
giao ước.
Hỏi:
Phước bố thí ấy làm sao tăng trưởng?
Đáp:
Ðúng thời bố thí được phước tăng trưởng; như Kinh nói:
thí lúc đói khát, được phước tăng nhiều; thí cho người
đi xa, người qua đường hiểm, đường vắng hoặc thường
bố thí không dứt; hoặc thường nhớ bố thí, nên bố thí
được tăng trưởng. Như trên nói về niệm xả trong sáu niệm.
Hoặc thí lớn nên được phước nhiều; hoặc thí cho người
tốt; hoặc thí cho Phật; hoặc người thí người thọ đều
thanh tịnh; hoặc tâm quyết định thí; hoặc tự lực làm
ra của thí; hoặc tùy của có nhiều ít có thể thí hết;
hoặc giao hẹn đem vật thí; hoặc đem ruộng vườn, người
giúp việc thí... bố thí như vậy chỉ có Bồ-tát lấy thâm
tâm mới thực hành nỗi. Như Bồ-tát Vỹ-la-ma trong mười
hai năm bố thí đã nghiêm sức bát bảy báu, đựng sữa bò,
thể nữ, mỗi thứ tám vạn bốn ngàn, cùng các vật ẩm thực
khác không kể số.
Lại
như Bồ-tát Tu-đề-lệ-noa (Tu-đại-noa) đem voi trắng thiện
thắng thí cho kẻ oan gia, rồi vào ở núi sâu, đem hai đứa
con yêu quý thí cho Bà-la-môn Thập Nhị Xú; lại đem vợ và
con mắt thí cho Bà-la-môn – hóa thân của trời Ðế-thích.
Bấy giờ đất rung động mạnh, trời sấm chớp, ở giữa
hư không mưa hoa.
Lại
như Tát-bà-đạt-đa vương tự trói thân thí cho Bà-la-môn.
Lại
như vua Tỳ-thi (Si-bi) vì một chim bồ câu mà tự đem thân
mình đổi mạng cho nó.
Lại
như Bồ-tát từng làm thân thỏ, tự nướng thịt mình thí
cho tiên nhân.
Các
việc như vậy, trong kinh Bồ-tát bổn sanh nói đủ.
Lại
có người Thanh văn bố thí; như Tỳ-kheo-ni Tu-di-đà, cùng
với hai bạn đồng học làm tinh xá cho Ca-na-già Mâu-ni Phật,
mà được làm Chuyển luân thánh vương và phước vua trời
trong vô lượng ngàn vạn đời.
Lại
như Bà-la-môn Thi-bà đem một bát cao sữa thí Tăng, mà đời
đời thọ vui, nay được thân A-la-hán, thọ vui nhất trong
những người thọ vui.
Lại
như phu nhân Mạt-lợi, cúng dường Tôn-giả Tu-bồ-đề, nên
đời nay quả báo được làm vợ vua Ba-thi-na-thi (Ba-tư-nặc).
Lại
như Thi-bà cúng dường ông Ca-chiên-diên nên quả báo đời
này được làm vợ vua Chiên-đà-ba-châu-đà.
Lại
như Cư sĩ Uất-già-đà cúng dường Xá-lợi-phất và năm trăm
A-la-hán nên ngay trong ngày được quả báo; là có năm trăm
khách buôn được đồ ăn thừa kia, mỗi người đều lấy
hạt châu anh lạc tặng cho ông, bỗng được giàu to; bèn gọi
là Tốt-uất-già-đà.
Bố
thí như vậy được báo ngay trong đời nay. Nên biết, luận
nghị về bố thí nói không hết được.
Chỗ
phước trì giới: Phật nói về phước của năm giới.
Hỏi:
Thế nào là tướng tội sát?
Đáp:
Biết đó là chúng sanh mà cố ý cướp mạng sống, mắc tội
sát; chẳng phải không cố ý, tâm khoái trá an ổn, mắc tội
sát; chẳng phải tâm tán loạn si cuồng, cướp mạng sống
mắc tội sát; chẳng phải chỉ làm bị thương, chết rồi
mắc tội sát; chẳng phải chưa chết, thân nghiệp làm là
tội sát; chẳng phải miệng bảo; thân làm là tội sát, chẳng
phải chỉ tâm sanh niệm ác. Các tội như vậy, ngưng không
làm, la tướng trạng thiện của giới thứ nhất.
Hoặc
có người nói: đó là vô phú vô ký; hoặc hệ thuộc cõi
Dục; hoặc không hệ thuộc; hoặc chẳng phải tâm; chẳng
phải tâm số pháp; chẳng phải tâm tương ưng; chẳng phải
theo tâm hành; hoặc cùng với tâm sanh; hoặc không cùng tâm
sanh; chẳng phải tương ưng với nghiệp; chẳng phải theo nghiệp
hành; hoặc cùng nghiệp sanh; hoặc chẳng cùng nghiệp sanh;
chẳng phải quả báo của nghiệp trước, được tu, hành tu,
thân chứng, tuệ chứng; hoặc tư duy đoạn; hoặc chẳng đoạn;
khi xa lìa tham dục của cõi Dục được đoạn biến tri, phàm
phu và thánh nhân cùng có; ấy gọi là tướng trạng giới
không sát sanh. Các giới khác cũng như vậy, tùy nghĩa mà phân
biệt.
Luận
nghị tán thán các giới, như đã nói trong mục Thi-la ba-la-mật.
Chỗ
phước tu định: Tuy trong Kinh nói tu từ là phước tu định,
cũng nói thiền định hữu lậu có thể sanh quả báo, tổng
quát gọi là phước tu định. Vì ở cõi Dục sân nhiều, tán
loạn nhiều nên trước nói từ tâm là phước tu định. Ðược
phương tiện từ, nguyện cho chúng sanh vui, sau thật sự thấy
chúng sanh thọ vui, pháp tương ưng với tâm ấy; gọi là pháp
từ. Pháp ấy hoặc hệ thuộc cõi Sắc, hoặc không hệ thuộc,
ấy là chơn từ; còn phương tiện từ, hệ thuộc cõi Dục,
thường theo tâm hành, theo tâm sanh; vô hình vô đối hay duyên
pháp; chẳng phải nghiệp, tương ưng với nghiệp mà theo nghiệp
hành, cùng nghiệp sanh; chẳng phải quả báo của nghiệp trước,
đắc tu, hành tu, thân chứng, tuệ chứng; hoặc tư duy đoạn;
hoặc chẳng đoạn. Xa lìa tham dục của cõi Sắc được đoạn
biến tri; có giác có quán; cũng không giác có quán; cũng không
giác không quán; hoặc có mừng, hoặc không có mừng; hoặc
có hơi thở, hoặc không có hơi thở, phàm phu và thánh nhân
cũng được. Hoặc tương ưng với thọ khổ; hoặc tương ưng
với thọ không khổ không vui; trước duyên được tướng
liễu giải, sau duyên thật nghĩa. Ở trong bốn thiền căn bản,
hoặc quá bốn thiền; nương bốn thiền mà được thì có
sức bền chắc.
Từ
nên gọi là nhân ái, vì không oán không tranh nên gọi là thân
ái; hay duyên vô lượng chúng sanh, nên gọi là vô lượng;
hay lợi ích chúng sanh; hay lìa dục nên gọi là phạm hạnh.
Các luận nghị khác về từ tâm, như đã nói trong chương
Bốn vô lượng tâm.
Hỏi:
Trong phước tu định, cớ sao Phật chỉ nói từ tâm mà không
nói các tâm khác?
Đáp:
Trong bốn vô lượng, từ tâm vô lượng hay sanh phước đức
lớn; bi tâm vì ưa sầu nên bỏ phước đức; hỷ tâm vì tự
nhớ công đức nên phước đức chẳng sâu; xả tâm vì phóng
xả nên phước cũng ít.
Lại
nữa, Phật dạy từ tâm có năm điều lợi, không nói tâm
khác. Những gì là năm? 1. Ðao không làm thương, 2. Ðộc không
làm hại, 3. Lửa không làm cháy, 4. Nước không chìm, 5. Hết
thảy chúng sanh sân nộ ác độc thấy đều hoan hỷ.
Bi
tâm... không có các việc như vậy, nên chỉ nói phước của
tu định là từ. các tâm khác đi theo. Và các định hữu lậu
có thể sanh quả báo.
Chỗ
phước khuyến đạo: nếu Tỳ-kheo không tọa thiền, không
tụng kinh, mà giáo hóa khuyến đạo người tu lập phước
đức; hoặc có Tỳ-kheo hay tọa thiền, tụng kinh, thấy các
Tỳ-kheo áo cơm thiếu thốn, đem sức dẫn dắt, và tu hành
khuyến đạo, và các Bồ-tát thương xót chúng sanh, lấy nhân
duyên phước đức để khuyến cáo họ.
Lại
người xuất gia, nếu cầu tài của, đối với giới bị mất
cho nên khuyến đạo làm nhân duyên. Phước về tài của là
y phục, ẩm thực, đồ nằm, thuốc thang, vàng bạc, xe ngựa,
ruộng nhà.
Hỏi:
Trên nói chỗ phước bố thí, ở đây nói phước về tài
của, có gì sai khác?
Đáp:
Bố thí, là tổng quát hết thảy thí. Tài thí, pháp thí, tục
thí, đạo thí; nay muốn phân biệt pháp thí, tài thí.
Pháp
thí như lấy tâm đại từ, bắt đầu Chuyển pháp luân, vô
lượng chúng sanh đắc đạo, sau Xá-lợi-phất theo Phật Chuyển
pháp luân. Các thánh nhân khác tuy chẳng phải Chuyển pháp
luân, cũng vì chúng sanh thuyết pháp, làm cho họ đắc đạo,
cũng gọi là pháp thí.
Lại
có Bồ-tát Biến Cát, Quán Thế Âm, Ðắc Ðại Thế, Văn-thù-sư-lợi,
Bồ-tát Di-lạc... dùng hai lực thần thông là quả báo thần
thông, tu đắc thần thông; trụ trong đó lấy các nhân duyên
về phước đức, lực phương tiện, hào quang, thần túc...
để khai độ chúng sanh, cũng gọi là pháp thí.
Các
Bích-chi Phật bay lên giữa hư không, nói một bài kệ dẫn
đạo chúng sanh, khiến gieo trồng thiện căn, cũng gọi là
pháp thí.
Lại
đệ tử Phật chưa đắc thánh đạo, ngồi thiền, tụng kinh,
không phá hoại pháp tướng, giáo hóa đệ tử, đều gọi
là pháp thí.
Các
thứ như vậy, gọi là tướng trạng của pháp thí. Vì vậy
nên nói: muốn an lập chúng sanh nơi sáu phước thí, nên học
Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn được
năm mắt, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Năm mắt là mắt thịt, mắt trời, mắt tuệ, mắt pháp, mắt
Phật. (Mười ba chữ này nguyên ở trong văn kinh, nay y theo
Ðại chánh tạng đưa vào trong văn luận).
Mắt
thịt thấy gần không thấy xa; thấy trước không thấy sau;
thấy ngoài không thấy trong; thấy ngày không thấy đêm; thấy
trên không thấy dưới, vì bị chướng ngại như vậy nên
cầu mắt trời.
Ðược
mắt trời, xa gần đều thấy, trước sau, trong ngoài, ngày
đêm, trên dưới đều thấy không chướng ngại. Nhưng mắt
trời chỉ thấy vật giả danh do nhân duyên hòa hợp sanh, không
thấy được thật tướng là không, vô tướng, vô tác, vô
sanh, vô diệt; như trước, giữa, sau cũng như vậy. Vì thật
tướng nên cầu mắt tuệ.
Ðược
mắt tuệ, không thấy chúng sanh, diệt hết tướng một, khác;
lìa bỏ các chấp trước, không thọ nhận hết thảy pháp,
trí tuệ phân biệt tự diệt bên trong; ấy gọi là mắt tuệ.
Nhưng mắt tuệ không thể độ chúng sanh, vì cớ sao? Vì không
còn phân biệt, vì vậy nên cầu mắt pháp.
Mắt
pháp khiến cho người ấy tu hành pháp ấy, chứng được đạo
ấy, biết hết thảy chúng sanh và dùng các môn phương tiện
khiến cho họ được chứng đạo. Nhưng mắt pháp không thể
biết khắp đạo phương tiện độ sanh; vì vậy nên cầu mắt
Phật.
Mắt
Phật không việc gì không biết, thấy biết tất cả sự che
kín; việc đối người khác rất xa, đối với phật rất
gần; đối với người khác tối tăm, đối với Phật sáng
tỏ; đối với người khác nghi ngờ, đối với Phật quyết
định; đối với người khác vi tế, đối với Phật thô
thiển; đối với người khác rất sâu, đối với Phật rất
cạn. Mắt Phật ấy không gì không nghe; không gì không thấy;
không gì không biết; không việc gì khó; không suy nghĩ gì;
đối với mọi pháp, mắt Phật thường soi sáng. Nghĩa năm
mắt, phần sau sẽ nói rộng.
Kinh:
Bồ-tát ma-ha-tát muốn dùng mắt trời thấy chư Phật trong
mười phương thế giới nhiều như cát sông Hằng, muốn dùng
tai trời nghe mười phương chư Phật thuyết pháp, muốn biết
tâm chư Phật, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Ðúng nghĩa thì mắt trời được không quá ba ngàn đại thiên
thế giới; nay do lực Bát-nhã ba-la-mật nên thấy chư Phật
trong mười phương thế giới nhiều như cát sông Hằng, vì
cớ sao? Vì trong Bát-nhã ba-la-mật, thì không gần không xa,
không có gì chướng ngại.
Hỏi:
Như kinh Ban châu nói: do lực Ban châu tam-muội, nên tuy chưa
được mắt trời vẫn thấy được chư Phật hiện tại trong
mười phương, với ở đây Bồ-tát dùng mắt trời thấy mười
phương chư Phật có gì khác nhau?
Đáp:
Mắt trời này thuộc vô phú vô ký, Ban châu tam-muội, người
lìa dục, người chưa lìa dục đều được, còn mắt trời
chỉ người lìa dục có được. Ban châu tam-muội, nhớ tưởng
phân biệt, thường tu thường tập cho nên thấy; còn mắt
trời tu thần thông được con mắt sắc trần do bốn đại
của cõi Sắc tạo nên, thấy bốn phía khắp tướng sáng;
ấy là khác Ban châu tam-muội. Công của mắt trời dễ; ví
như mặt trời mọc, thấy sắc không khó; công của tam-muội
khó; ví như ban đêm đốt đèn, thấy sắc không dễ; tai trời
cũng như vậy.
Biết
tâm chư Phật. Hỏi: Như ở thượng địa mà độn căn còn
không biết được tâm lợi căn hạ địa. Bồ-tát còn không
biết được tâm một đức Phật, huống gì biết được tâm
chư Phật trong mười phương nhiều như cát sông Hằng?
Đáp:
Do thần lực của Phật làm cho Bồ-tát biết; như Kinh nói:
Hết thảy không ai biết được tâm Phật; nếu Phật dùng
thần lực làm cho biết, thì cho đến côn trùng cũng biết
được. Vì vậy nên biết, Phật dùng thần lực làm cho Bồ-tát
biết tâm Phật.
Lại
nữa, Bát-nhã ba-la-mật, không có tướng ngăn ngại, thô tế,
sâu cạn, ngu thánh, đều không sai khác. Tâm chư Phật như,
tâm Bồ-tát như, nhất như không sai khác. Bồ-tát theo “như”
ấy, nên biết được tâm chư Phật.
Lại
nữa, việc khó hiếm có, không thể biết mà biết, vì vậy
nên nói: muốn được như vậy nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Muốn nghe mười phương chư Phật thuyết pháp, nghe rồi cho
đến khi chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vẫn
không quên, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Pháp của một đức Phật nói còn khó ghi nhớ; huống
gì pháp của vô lượng chư Phật nói mà muốn ghi nhớ không
quên?
Đáp:
Bồ-tát do lực của Văn trì Ðà-la-ni nên thọ trì được;
do lực của đà-la-ni ức niệm bền chắc nên không quên.
Lại
nữa, trong đây nói lực của Bát-nhã ba-la-mật, rốt ráo thanh
tịnh không dính mắc; ví như biển lớn hàm thọ các dòng.
Bồ-tát theo mười phương chư Phật nghe pháp, do khí cụ Bát-nhã
ba-la-mật lớn, nên có thể thọ lãnh vô lượng pháp, giữ
mãi không quên.
Lại
nữa, Bát-nhã ba-la-mật không thể ví dụ; như hư không; như
lúc lửa kiếp tận đốt sạch, mưa lớn đầy dẫy, trận
mưa ấy trừ hư không ra không chỗ nào có thể dung chứa.
Mưa pháp của chư Phật mười phương, từ miệng Phật tuôn
ra, trừ Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật, không còn có ai
lãnh thọ được, vì vậy nên nói: muốn nghe pháp của mười
phương chư Phật nói, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Lại nữa, này Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát muốn thấy
thế giới của chư Phật quá khứ, vị lai và thấy thế giới
của mười phương chư Phật hiện tại, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Nếu thấy mười phương Phật là đã thấy thế giới,
nay cớ sao nói muốn thấy thế giới?
Đáp:
Bồ-tát khi chưa thiền định vào sâu, nếu thấy mười phương
thế giới, núi sông, cây cỏ, thời tâm tán loạn, nên chỉ
xem thấy chư Phật; như đã nói trong chương nói về niệm
Phật. Hành giả chỉ xem chư Phật, không xem đất nước, núi
sông, cây cỏ, khi được lực thiền định thì tùy ý xem rộng.
Lại
nữa, cõi Phật thanh tịnh khó thấy, cho nên nói muốn thấy
thế giới của chư Phật, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Lại
một đức Phật có vô lượng trăm ngàn thứ thế giới; như
trước nói có thế giới nghiêm tịnh; có thế giới không
nghiêm tịnh; có thế giới xen tạp; có thế giới rốt ráo
thanh tịnh khó thấy, do lực Bát-nhã ba-la-mật mà thấy được
cả; ví như thiên tử khi ngồi ở điện nghe chính sự, thời
người ngoài thấy rõ mà người ở thâm cung nội điện không
thấy được.
Hỏi:
Thế giới hiện tại trong mười phương có thể thấy; còn
thế giới của chư Phật quá khứ, vị lai làm sao thấy?
Đáp:
Bồ-tát có thứ tam-muội thấy quá khứ vị lai, khi vào tam-muội
ấy thì thấy việc quá khứ vị lai; như thấy việc trong mộng.
Lại
nữa, Bồ-tát có thứ tam-muội không diệt trừ, khi vào tam-muội
ấy, không thấy có chư Phật có diệt mất.
Hỏi:
Hai pháp ấy chẳng phải mắt làm sao thấy được?
Ðáp:
Ðây chính là trí tuệ, giả gọi là mắt.
Lại
nữa, như trong kinh Chuyển pháp luân, đối với bốn đế được
nhãn, trí, minh, giác.
Lại
nữa, Bồ-tát thấy thế giới Phật hiện tại trong mười
phương, chắc chắn biết thế giới chư Phật trong quá khứ;
vị lai cũng như vậy, vì cớ sao? Vì hết thảy chư Phật công
đức đồng nhau; việc ấy như trước đã nói.
Lại
nữa, trong Bát-nhã ba-la-mật, giống như hiện tại, quá khứ
vị lai bình đẳng không khác; vì một như, một pháp tánh,
vì thế không nên nạn.
Kinh:
Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát muốn nghe mười
hai bộ kinh của mười phương chư Phật nói là Tu-đa-la, Kỳ-dạ,
Thọ-ký, Già-đà, Ưu-đà-na, Nhân duyên, A-ba-đà-na, Như thị
ngữ, Bổn sanh, Phương quảng, Vị tằng hữu, Luận nghị,
mà hàng Thanh văn nghe, cũng chẳng nghe, đều muốn đọc tụng
thọ trì tất cả, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Trước nói muốn nghe hết thảy pháp của mười phương chư
Phật thuyết, nên học Bát-nhã ba-la-mật. Pháp chư Phật thuyết
tức đây nói mười hai bộ kinh.
Trong
các Kinh, những lời nói thẳng gọi là Tu-đa-la, đó là bốn
bộ A-hàm, và các kinh Ðại thừa, kinh Hai trăm năm mươi giới,
ngoài ba tạng ấy cũng có kinh khác, đều gọi là Tu-đa-la
(Sutra: khế kinh).
Các
bài kệ trong các Kinh gọi là Kỳ-dạ (Geya – Trùng tụng).
Chúng
sanh trong chín đạo là ba thừa và sáu thú được Thọ-ký
(Vyàkurana – Ký biệt) rằng: người ấy trải bấy nhiêu vô
số kiếp sẽ được làm Phật; hoặc thọ ký hàng Thanh văn
đời này hoặc đời sau đắc đạo; thọ ký hàng Bích-chi
Phật chỉ đời sau đắc đạo; thọ ký chúng sanh trong sáu
thú (sáu đường) đời sau chịu báo. Pháp của chư Phật khi
muốn thọ ký cho chúng sanh trước đều mĩm cười, vô lượng
hào quang từ bốn cái răng phóng ra, đó là hào quang xanh, vàng,
đỏ, trắng, tía... từ hai răng trên phóng ra chiếu ba đường
ác; từ hào quang đó diễn vô lượng pháp, nói hết thảy
pháp tạo tác là vô thường, hết thảy pháp vô ngã, Niết-bàn
an ổn. Chúng sanh gặp được hào quang cùng nghe thuyết pháp
ấy, thân tâm an lạc, được sanh cõi người cõi trời; từ
nhân duyên ấy đều được hết khổ. Hào quang từ hai răng
dưới phóng ra chiếu lên cõi người cõi trời, cho đến cõi
thiền Hữu đỉnh; hoặc kẻ đui mù, câm họng, bệnh cuồng
đều được trừ khỏi. Trời Lục dục và A-tu-la thọ vui
ngũ dục, gặp hào quang của Phật và nghe tiếng thuyết pháp,
đều sanh nhàm chán dục lạc, thân tâm an lạc. Chư thiên ở
cõi Sắc, khi thọ cái vui thiền định, gặp hào quang của
chư Phật và nghe tiếng thuyết pháp, cũng sanh nhàm chán, mà
đi đến chỗ Phật.
Các
hào quang lại đến mười phương chiếu khắp sáu đường
làm Phật sự xong, trở lại nhiểu quanh thân Phật bảy vòng.
Nếu thọ ký địa ngục, thì hào quang từ dưới chân mà vào;
nếu thọ ký cho súc sanh, thì hào quang từ đùi chân vào; nếu
thọ ký cho ngạ quỷ, thì hào quang từ vế vào; nếu thọ
ký cho nhân đạo, thì hào quang từ rún vào; nếu thọ ký cho
thiên đạo, thì hào quang từ ngực vào; nếu thọ ký cho Thanh
văn thì hào quang từ miệng vào; nếu thọ ký Bích-chi Phật,
thì hào quang từ tướng giữa hai mi vào; nếu thọ ký được
thành Phật, thì hào quang ấy từ đỉnh vào; nếu muốn thọ
ký thời trước tiên hiện tướng ấy, vậy sau các đệ tử
như A-nan... phát ra lời hỏi.
Hết
thảy kệ gọi là Kỳ-dạ, sáu câu, ba câu, năm câu; mỗi câu
nhiều ít không nhất định, cũng gọi là Kỳ-dạ, cũng gọi
là Già-đà (Gàthà – Phúng tụng – Cô khởi).
Ưu-đà-na
(Udàna - Tự thuyết) là có pháp Phật cần phải nói nhưng
không có ai hỏi, Phật lược mở mối cho hỏi; như Phật ở
thành Xá-bà-đề, trên nhà Tỳ-xá-khư, đi kinh hành chỗ tối,
tự nói Ưu-đà-na, đó là “vô ngã, vô ngã sở, việc ấy
lành thay”. Bấy giờ một Tỳ-kheo chấp tay bạch Phật rằng:
bạch Thế Tôn! Thế nào là vô ngã, vô ngã sở, việc ấy
lành thay? Phật bảo Tỳ-kheo: người phàm phu chưa được vô
lậu đạo, điên đảo che tâm, nên đối với lý vô ngã, vô
ngã sở, tâm rất kinh sợ; còn nếu Phật và đệ tử Phật
nghe pháp hay thời hoan hỷ phụng hành, không điên đảo, nên
không còn tạo nghiệp trở lại. Những điều như vậy, trong
Tạp A-hàm nói rộng.
Lại
như trong phẩm Bát-nhã ba-la-mật, các thiên tử tán thán của
Tu-bồ-đề nói rằng: lành thay! lành thay! Hy hữu Thế Tôn!
Hy hữu Thế Tôn! ấy gọi là Ưu-đà-na.
Lại
như sau khi Phật Niết-bàn, các đệ tử sưu tập những bài
kệ thiết yếu, những bài kệ nói về vô thường, gom lại
thành phẩm Vô thường, cho đến những bài kệ nói về Bà-la-môn
gom lại thành phẩm Bà-la-môn, cũng gọi là Ưu-đà-na, sưu
tập các việc tốt đều gọi là Ưu-đà-na. Như vậy gọi
là Ưu-đà-na kinh (cũng gọi là Vô vấn tự thuyết).
Ni-đà-na
(Nidàna – Nhân duyên) là nói nhân duyên chính khởi nói Phật
pháp. Vì nhân gì Phật nói việc ấy. Trong Tu-đa-la, có người
hỏi nên Phật nói việc ấy. Trong luật vì có người phạm
việc ấy nên Phật kiết giới ấy. Việc duyên khởi của
hết thảy lời Phật dạy, đều gọi là Ni-đà-na.
A-ba-đà-na
(Avađàna – Thí dụ): tương tợ với lời nói thô thiển nhu
nhuyến của thế gian, như kinh Trường A-la-đà-na trong Trung
A-hàm; kinh Ðại A-ba-đà-na trong Trường A-hàm, Ức nhĩ A-ba-đà-na,
Nhị thập ức A-ba-đà-na ở trong Luật; Dục A-ba-đà-na nhất
bộ trong kinh Giải nhị bách ngũ thập giới, Bồ-tát A-ba-đà-na
xuất ra một bộ, như vậy có vô lượng A-ba-đà-na.
Như
thị ngữ (Itivataka – Y-đế-mục đa-già - Bổn sự): có hai:
1. Là lời kết cú, rằng trước ta hứa nói nay đã nói xong.
2. Là ngoài ba tạng và đại thừa, còn có kinh tên gọi là
Nhất Mục-đa-ca, có người nói là Mục-đa-ca. Tên Mục-đa-ca
ở cả ba tạng và Ðại thừa, là thế nào? Như Phật dạy:
vua Tịnh-phạn bắt buộc những người trong dòng họ Thích
xuất gia làm đệ tử Phật. Phật chọn năm trăm người có
thể đắc đạo, đem đến thành Xá-bà-đề, vì cớ sao? Vì
họ chưa lìa dục; nếu ở gần bà con, sợ họ phá giới,
nên đem đến thành Xá-bà-đề bảo Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên
giáo hóa. Ðầu đêm cuối đêm chuyên tinh không ngủ, siêng
tu tinh tấn, nên được đạo. Ðược đạo rồi Phật đem
họ trở về bản quốc, cùng với đại hội các thiên chúng
ở trong rừng tiên nhân thuộc thành Ca-tỳ-la-bà (Ca-tỳ-la-vệ).
Rừng này cách thành Ca-tỳ-la-bà 50 dặm, đó là vườn dạo
chơi của người họ Thích. Các Tỳ-kheo Thích tử này khi còn
ở thành Xà-bà-đề, đầu đêm, cuối đêm chuyên tinh không
ngủ, nên thấy đêm dài; từ trong rừng đi vào trong thành
khất thực, mới biết dặm đường dài xa. Bấy giờ đức
Phật biết tâm họ, nhân có một con sư tử đi đến lễ dưới
chân Phật, rồi sang một bên, Phật lấy ba nhân duyên ấy
nói kệ rằng:
“Không
ngủ, đêm dài,
Mỏi
mệt, đường dài,
Ngu,
sanh tử dài,
Không
biết chánh pháp”.
Phật
bảo Tỳ-kheo: khi các người chưa xuất gia, tâm kia phóng dật
ngủ nghỉ nhiều nên không biết đêm dài; nay đầu đêm, cuối
đêm, chuyên tinh cầu đạo, tỉnh giảm ngủ nghỉ nên thấy
đêm dài. Rừng Ca-tỳ-la-bà này trước các ngươi vốn cỡi
xe dạo chơi, nên không biết xa; nay các ngươi mặc y ôm bát,
đi bộ mệt mỏi, nên biết đường xa. Còn con sư tử này,
từ thời đức Phật Tỳ-bà-thi, làm vị thầy Bà-la-môn, thấy
phật thuyết pháp, đi đến chỗ Phật. Bấy giờ vì đại
chúng đang nghe pháp, không cùng nói năng, sư tử mới nghĩ
ác, phát lời ác mắng rằng: bọn trọc này, khác gì súc sanh,
không biệt người tốt, không biết nói năng. Vì nghiệp ác
khẩu ấy, nên từ thời đức Phật Tỳ-bà-thi cho đến nay,
91 kiếp, thường ra vào súc sanh. Người ấy lúc đó đáng
lẽ đắc đạo, song vì ngu si mà tự làm cho sanh tử lâu dài.
Nay ở chỗ Phật, vì tâm thanh tịnh nên sẽ được giải thoát.
Các
Kinh như vậy gọi là xuất nhân duyên. Từ chỗ nào xuất?
Từ trong ba tạng và Ðại thừa xuất ra, nên gọi là xuất.
Sao gọi là nhân duyên? Là gốc của ba sự ấy (không ngủ,
mỏi mệt, ngu không biết Chánh pháp) nên gọi là Nhân duyên
Kinh.
Kinh
Bổn sanh (Jataka – Xà-già-đà): nói về sự tích của Bồ-tát
ở quá khứ, như xưa Bồ-tát từng làm con sư tử ở trong
rừng, cùng với một con khỉ kết bạn thân, khỉ đem hai con
gởi cho sư tử. Khi ấy có con chim ó, đói đi kiếm mồi, gặp
sư tử đang ngủ, cố bắt sư tử con đem đi, đậu ở trên
cây. Sư tử tỉnh dậy tìm khỉ con không được, thấy chim
ó bắt đem trên cây, nói với chim ó: Ta nhận khỉ gởi hai
đứa con, giữ không cẩn thận, để ngươi bắt đem đi, phụ
lòng tin của khỉ, xin ngươi cho ta lại. Ta là chúa trong loài
thú, ngươi là chúa trong loài chim, thế lực quý trọng ngang
nhau, ngươi nên trả lại.
Chim
ó nói: Ngươi không biết thời, ta nay đang đói, đâu cần
luận đồng hay khác.
Sư
tử biết nói vô ích, tự lấy móng sắc bén móc thịt ở
vế đùi mình để đổi lấy khỉ con.
Lại
trong đời quá khứ, nhân dân nhiều người mắc bệnh liệt,
nóng da vàng trắng. Bấy giờ Bồ-tát làm thân cá đỏ, tự
lấy thịt mình bố thí cho người bệnh, để cứu khổ họ.
Lại,
xưa Bồ-tát làm thân một con chim, trú ở trong rừng, thấy
một người đi vào trong nước sâu, không phải chỗ của người
đi, bị vướng lưới của thủy thần. Theo phép lưới thủy
thần, đã vướng, thì không thể nào gỡ được. Chim biết
cách gỡ, liền bay đến núi hương, lấy một cành cỏ thuốc,
đặt trên lưới kia, giây liền tiêu hoại, người được
thoát khỏi.
Vô
lượng việc đời trước cứu giúp như vậy; ấy gọi là
Bản sanh kinh.
Kinh
Phương Quảng (Vaipulya - Tỳ-phật-lược): gọi là Ðại thừa,
đó là kinh Bát-nhã ba-la-mật; kinh sáu Ba-la-mật; kinh Hoa thủ;
kinh Pháp Hoa; kinh Phật bản khởi nhân duyên; kinh Vân; kinh
Pháp vân; kinh Ðại văn; vô lượng vô số các kinh như vậy,
vì để chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên
gọi là Tỳ-phật-lược.
Vị
tằng hữu (Adbhuta-dharma – A-phù-đà-đạt-ma): như Phật hiện
các thần thông, chúng sanh lấy làm lạ cho là việc chưa từng
có. Ðó là lúc Phật sanh ra, thân phóng hào quang lớn, chiếu
ba bgàn đại thiên thế giới và chỗ u ám; lại chiếu ba ngàn
đại thiên thế giới của vô lượng chư Phật trong mười
phương. Bấy giờ trước Phật mẫu có ao đẹp thanh tịnh,
để tắm cho Bồ-tát, Phạm vương cầm lọng, Ðế-thích tắm
thân, hai rồng phun nước.
Lại
lúc mới sanh, không cần phò trì mà tự đi bảy bước, chỗ
dấu chân đi đều có hoa sen, và cất tiếng nói: Ta là người
độ hết thảy chúng sanh khỏi khổ, già, bệnh, chết. Ðất
chấn động mạnh, trời mưa các hoa, cây phát âm thanh, trổi
kỷ nhạc trời. Vô lượng việc hy hữu như vậy: ấy gọi
là kinh Vị tằng hữu.
Kinh
Luận nghị (Upadesa, Upatisa – Ưu-ba-đề-xá): đáp các câu
hỏi, giải thích lý do. Lại nói rộng các nghĩa như Phật
nói bốn đế, thế nào là bốn? Ðó là Bốn thánh đế. Những
gì là bốn? Ðó là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo thánh đế; ấy
gọi là luận nghị. Thế nào là Khổ thánh đế? Ðó là tám
khổ, là sanh khổ... Thế nào là sanh khổ? Ðó là các chúng
sanh nơi chỗ sanh ra chịu khổ. Hỏi đáp như vậy, giải rộng
nghĩa kia; ấy gọi là Ưu-ba-đề-xá (luận nghị). Như trong
Ðại thừa, Phật dạy sáu Ba-la-mật: Những gì là sáu? Ðó
là Ðàn ba-la-mật cho đến Bát-nhã ba-la-mật. Thế nàp là
Ðàn ba-la-mật? Ðàn ba-la-mật có hai: 1. Ðầy đủ. 2. Không
đầy đủ. Thế nào là đầy đủ? Bố thí hợp cùng với
Bát-nhã ba-la-mật cho đến Bồ-tát Thập trụ thành tựu được,
gọi là đầy đủ. Không đầy đủ là Bồ-tát mới phát tâm,
chưa được vô sanh pháp nhẫn, chưa hợp cùng với Bát-nhã
ba-la-mật; ấy gọi là không đầy đủ. Cho đến Thiền ba-la-mật
cũng như vậy.
Bát-nhã
ba-la-mật đầy đủ là có năng lực phương tiện lớn, chưa
đầy đủ là không có năng lực phương tiện.
Lại
nữa, Phật nói Luận nghị kinh, Ðại Ca-chiên-diên giải thích
Khế kinh, cho đến trong đời tượng pháp, kẻ phàm phu đúng
như pháp mà thuyết; ấy gọi là Ưu-ba-đề-xá.
Pháp
hàng Thanh văn không nghe được là pháp Phật chỉ nói cho Bồ-tát,
không có hàng Thanh văn nghe.
Lại
nữa, Phật dùng lực thần thông, biến hóa thân vô số khắp
mười phương thế giới nhất thừa nói pháp.
Lại
nữa, Phật vì trời Dục giới, trời Sắc giới nói pháp không
có các đệ tử, cho nên không được nghe.
Hỏi:
Các A-la-hán được sáu thần thông, nếu lúc Phật thuyết
pháp, tuy không ở tại tòa, mà dùng tai trời, mắt trời có
thể nghe được thấy được; nếu dùng Túc mạng thông, thời
biết luôn cả việc quá khứ, cớ sao nói không nghe được?
Đáp:
Chỗ thần thông lực của Thanh văn không đến kịp, cho nên
không nghe được.
Lại
nữa, Phật vì các đại Bồ-tát nói kinh bất khả tư nghì
giải thoát, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên ở hai bên Phật
mà không nghe được, vì không gieo nhân duyên nghe pháp tu hành
Ðại thừa ấy; ví như người tọa thiền, khi vào định nhất
thiết xứ, có thể quán hết thảy đều là nước, đều là
lửa, mà người khác không trông thấy. Như trong kinh Bất Khả
Tư Nghì Giải Thoát nói rộng.
Muốn
thọ trì hết là nghe mà phụng hành là thọ, lâu dài không
quên mất là trì.
(Hết
cuốn 33 theo bản Hán)