Tập
2
Cuốn
34
Chương
46
Giải
Thích: Tín Trì
Kinh.
Chính pháp của chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai trong
hằng hà sa thế giới ở mười phương đã nói, nay nói, sẽ
nói, nghe được rồi đều muốn tín thọ, giữ gìn, thực
hành và nói cho người khác, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Trên đã nói, đối với pháp của mười phương chư
Phật muốn nhớ giữ không quên, nên học Bát-nhã ba-la-mật,
sao nay còn tín thọ giữ gìn pháp của chư Phật ba đời?
Đáp:
Trên nói muốn nhớ giữ pháp của chư Phật mười phương
chưa biết là pháp gì, nên nói mười hai bộ kinh là pháp Phật
và pháp mà hàng Thanh văn không nghe được. Trên chỉ nói chư
Phật trong thế giới số như hằng hà sa, nay nói pháp của
chư Phật ba đời số như hằng hà sa. Trên chỉ nói thọ trì
không quên, không nói thọ trì lợi ích, nay nói vì mình cũng
vì người thuyết giảng, thế nên nói lại.
Kinh:
Lại Xá-lợi-phất, Bồ-tát ma-ha-tát đối với pháp chư Phật
quá khứ đã nói, chư Phật vị lai sẽ nói, muốn nghe, nghe
rồi, tự làm lợi mình cũng lợi người, nên học Bát-nhã
ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Ðối với pháp của Phật hiện tại trong mười phương
nói, có thể thọ, có thể trì, còn pháp quá khứ đã diệt,
vị lai chưa có, làm sao nghe được?
Đáp:
Nghĩa ấy trước đã đáp, nay lại nói thêm, Bồ-tát có tam-muội
gọi là tam-muội Quán chư Phật ba đời, Bồ-tát vào trong
tam-muội ấy đều thấy chư Phật ba đời, nghe Ngài thuyết
pháp, ví như thần tiên ngoại đạo, đối việc đời vị
lai chưa có dấu hình, chưa có nói năng, mà do lực trí tuệ
cũng thấy cũng nghe.
Lại
nữa, lực của các Bồ-tát không thể nghĩ bàn, đời vị
lai tuy chưa có hình, chưa có nói năng, mà có thể thấy được,
nghe được. Hoặc do năng lực đà-la-ni, hoặc lấy việc nay
so sánh biết việc quá khứ, vị lai. Vì vậy nên nói: muốn
được việc này, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Kinh:
Muốn đem ánh sáng chiếu khắp những chỗ tối tăm, mặt trời
mặt trăng không chiếu đến được trong hằng hà sa thế giới,
nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Bồ-tát từ trời Ðâu-suất muốn giáng thần vào thai mẹ,
bấy giờ thân phóng hào quang chiếu khắp hết thảy thế giới,
và chỗ u tối ở thế gian, sau khi sanh ra, hào quang cũng chiếu
khắp như vậy. Lúc mới Thành đạo, lúc Chuyển pháp luân,
lúc Bát Niết-bàn cũng phóng hào quang lớn như vậy. Và vào
các lúc khác hiện đại thần thông, phóng hào quang lớn; như
lúc sắp nói Bát-nhã ba-la-mật, hiện đại thần thông, lấy
hào quang lớn chiếu khắp chỗ u ám trong thế gian. So sánh
như vậy, nơi nơi trong kinh nói đến thần thông, hào quang.
Hỏi:
Ðó là thần lực của Phật, cớ sao nói là Bồ-tát?
Đáp:
Nay nói Bồ-tát muốn được điều ấy, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Các đại Bồ-tát có được năng lực ấy, như Bồ-tát Biến
cát, Quán Thế Âm, Ðắc Ðại Thế, Minh Võng, Vô Lượng Quang...
có được năng lực ấy, thân phóng ra vô lượng hào quang,
chiếu khắp mười phương thế giới số như hằng hà sa.
Lại
như trong thế giới Phật A-di-đà, các Bồ-tát thân phóng ra
thường quang, chiếu mười vạn do tuần.
Hỏi:
Bồ-tát có thân quang như vậy, vốn do nhân duyên nghiệp gì
mà được?
Đáp:
Thân nghiệp thanh tịnh nên thân được trang nghiêm, như Kinh
nói: có một con quỷ đầu như đầu heo, trùng thúi từ trong
miệng ra, mà thân có kim sắc sáng chói. Con quỷ ấy từ kiếp
trước làm Tỳ-kheo, ác khẩu mắng nhiếc vị Tỳ-kheo khách,
nhưng do thân trì tịnh giới, nên thân có ánh sáng, và do ác
ngôn nên có trùng thúi từ trong miệng ra. Như kinh nói tâm
thanh tịnh có hơn kém, nên ánh sáng có thượng, trung, hạ,
sáng ít, sáng lớn, ánh sáng làm âm thanh. Các trời cõi Dục
tâm thanh tịnh, bố thí, trì giới, nên thân có ánh sáng.
Lại
nữa, có người vì thương xót chúng sanh mà ở chỗ tối đốt
đèn, cũng vì cúng dường tôn thượng, tháp, chùa, nên lấy
ngọc sáng, trổ cửa, gương sáng, và các vật sáng sạch bố
thí, nên được thân có ánh sáng.
Lại
nữa, thường tu từ tâm nhớ khắp cả chúng sanh, tâm thanh
tịnh, lại thường tu Niệm Phật tam-muội, niệm tưởng ánh
sáng và thần đức chư Phật, nên được thân có ánh sáng.
Lại
nữa, hành giả thường tu Hỏa nhất thiết nhập (Hỏa biến
xứ) lại đem ánh sáng trí tuệ giáo hóa chúng sanh tà kiến
ngu tối. Do nhân duyên của nghiệp ấy, nên được tâm có
ánh sáng trí tuệ, thân cũng có ánh sáng.
Do
các nghiệp như vậy, nên được thân có ánh sáng thanh tịnh.
Kinh:
Trong hằng hà sa thế giới ở mười phương không có tên Phật,
tên Pháp, tên Tăng, mà muốn khiến hết thảy chúng sanh đều
được chánh kiến, nghe tiếng Tam bảo, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Ở chỗ từ trước không hề có Phật pháp tháp chùa, Bồ-tát
dựng tháp ở đó, nhờ nhân duyên của nghiệp ấy mà thân
sau thành tựu đắc lực. Ở chỗ từ trước không hề có
chúng hội Phật pháp. Bồ-tát tán thán Tam bảo, khiến chúng
sanh nhập vào chánh kiến. Như Kinh nói: ở quốc độ từ trước
không hề có tháp Phật, có người dựng tháp miếu thờ Phật
mà được phước đức Phạm. Phạm gọi là phước đức vô
lượng. Nhờ nhân duyên ấy, mau được thiền định; được
thiền định nên được vô lượng thần thông. Nhờ lực thần
thông nên có thể đi đến mười phương tán thán Tam bảo.
Chánh
kiến là nếu trước không hề biết công đức Tam bảo, nhân
Bồ-tát nên được tin Tam bảo, tin Tam bảo nên tin nghiệp
tội phước nhân duyên; tin nghiệp nhân duyên nên tin thế gian
là trói, Niết-bàn là mở.
Ý
nghĩa tán thán Tam bảo, như đã nói ở chương Tám niệm.
Kinh:
Muốn làm cho chúng sanh trong hằng hà sa thế giới ở mười
phương, nhờ lực của Ta mà người mù được thấy, người
điếc được nghe, người cuồng được nhớ, người trần
truồng được áo, người đói khát được no đủ, nên học
Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Bồ-tát thực hành vô ngại Bát-nhã, thì hoặc được vô ngại
giải thoát thành Phật, hoặc làm pháp tánh sanh thân Bồ-tát,
như Văn-thù-thi-lỵ... ở Thập trụ địa, có đầy đủ công
đức, chúng sanh thấy được, đều được như nguyện, ví
như ngọc Như ý, muốn gì được nấy. Pháp tánh sanh thân
Phật và pháp tánh sanh thân Bồ-tát, người nào thấy được,
đều được toại nguyện cũng như vậy.
Lại
nữa, Bồ-tát từ khi mới phát tâm lại đây, chữa trị 96
thứ bệnh mắt cho chúng sanh trong vô lượng kiếp; lại tự
lấy mắt bố thí cho chúng sanh trong vô lượng kiếp; lại
đem ánh sáng trí tuệ phá tà kiến hắc ám; lại đem tâm đại
bi khiến chúng sanh đều được như sở nguyện.
Có
các nghiệp nhân duyên như vậy, làm sao khiến chúng sanh thấy
thân Bồ-tát mà lại không được mắt sáng? Các việc khác
cũng như vậy, các nghĩa này, như đã nói trong chương Phóng
quang.
Kinh:
Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát nếu muốn làm cho
chúng sanh đang ở ba đường ác trong hằng hà sa thế giới
mười phương, nhờ lực của ta mà đều được làm thân người,
nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Nhờ thiện nghiệp nhân duyên của chính mình nên được
làm thân người, cớ sao Bồ-tát nói do lực của Ta nên khiến
cho chúng sanh trong ba đường ác đều được làm thân người?
Đáp:
Không nói do nghiệp nhân duyên của Bồ-tát khiến chúng sanh
được làm thân người, mà chỉ nói do ân lực của Bồ-tát
nên được. Bồ-tát lấy lực thần thông biến hóa thuyết
pháp, khiến chúng sanh tu thiện mà được làm thân người.
Như
trong Kinh nói hai nhân duyên phát khởi chánh kiến: 1. Bên ngoài
nghe chánh pháp. 2. Bên trong có chánh niệm.
Lại
như cây cỏ, bên trong có hạt giống, bên ngoài có mưa thấm,
vậy sau được phát sanh. Nếu không có Bồ-tát, chúng sanh
tuy có nghiệp nhân duyên, mà không do đâu phát khởi được.
Vì vậy nên biết chư Phật Bồ-tát, lợi ích rất nhiều.
Hỏi:
Làm sao khiến chúng sanh trong ba đường ác đều được giải
thoát? Phật còn không làm được, huống là Bồ-tát?
Ðáp:
Tâm nguyện của Bồ-tát muốn như vậy, không có lỗi chi.
Lại nhiều người được giải thoát, cho nên nói hết thảy,
như thân chư Phật và Bồ-tát khắp phóng ra vô lượng hào
quang, từ hào quang ấy xuất ra vô lượng hóa thân, khắp vào
trong ba đường ác ở mười phương, làm cho địa ngục lửa
tắt, nước sôi lạnh, chúng sanh trong đó nhờ tâm thanh tịnh
nên được sanh cõi trời cõi người; làm ngạ quỷ đạo đói
khát được no đủ, khai phát thiện tâm mà được sanh cõi
trời cõi người; làm cho súc sanh đạo tùy ý được ăn, xa
lìa sợ hãi, khai phát thiện tâm, cũng được sanh cõi trời
cõi người. Như vậy gọi là hết thảy ba đường ác được
giải thoát.
Hỏi:
Như các Kinh khác nói sanh cõi trời cõi người, sao ở đây
chỉ nói được làm thân người?
Đáp:
Ở trong cõi người mới có được việc tu đại công đức,
cũng hưởng phước lạc, còn ở cõi trời phần nhiều say
đắm vui không thể tu đạo, vì vậy nên nguyện cho được
làm thân người.
Lại
nữa, Bồ-tát không nguyện cho chúng sanh chỉ thụ hưởng phước
lạc, mà muốn khiến được giải thoát, thường vui Niết-bàn.
Vì vậy nên không nói sanh lên cõi trời.
Kinh:
Muốn khiến chúng sanh trong hằng hà sa thế giới ở mười
phương, nhờ lực của Ta mà đứng vững nơi giới, tam-muội,
trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến; khiến được quả
Tu-đà-hoàn cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên
học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Trước đã nói năm pháp uẩn và đạo quả; nay sao còn
nói lại?
Đáp:
Trên chỉ nói pháp Thanh văn, từ quả Tu-đà-hoàn cho đến
Vô dư Niết-bàn, nay nói lẫn lộn ba thừa Thanh văn, Bích-chi
Phật, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Kinh:
Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát muốn học oai nghi
chư Phật, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Thế nào là oai nghi chư Phật?
Đáp:
Oai nghi là bốn động chỉ của thân. Ví như voi chúa, xoay
mình mà xem, khi đi chân cách đất bốn ngón tay, tuy không đạp
đất mà dấu bánh xe hiện rõ, không chậm không mau, thân không
nghiêng lay, thường đưa tay phải, an ủi chúng sanh. Khi ngồi
kiết già, thân ngay thẳng; nằm thường nghiêng hông bên phải,
hai đầu gối chồng lên nhau, trải nệm cỏ chỉnh tề không
rối loạn, ăn không kể vị, ngon dở đồng nhau, đều nhận
lời người thỉnh mời, thì làm thinh không nói, nói năng nhu
nhuyến, phương tiện lợi ích, không bỏ mất thời tiết.
Lại
nữa, oai nghi của pháp thân Phật là quá Hằng hà sa thế giới
phương đông làm một bước, phạm âm làm thuyết pháp cũng
như vậy. Nghĩa tướng của pháp thân Phật, như trước đã
nói.
Kinh:
Bồ-tát ma-ha-tát muốn được như voi chúa xem nhìn, nên học
Bát-nhã ba-la-mật. Bồ-tát nguyện rằng khi Ta đi cách đất
bốn ngón tay, chân không đạp đất, Ta sẽ đến dưới cội
Bồ-đề cùng với trời Tứ thiên vương, cho đến trời A-ca-ni-sắc,
vô lượng ngàn vạn ức chúng chư thiên cung kính vây quanh,
nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Như voi chúa xem nhìn là khi muốn xoay thân để nhìn thì cả
thân đều chuyển, thân tâm chuyên nhất là tướng đại nhân,
thế nên nếu có xem nhìn, thì cả thân tâm đều xoay, ví như
sư tử bắt mồi, không vì vật nhỏ mà thay đổi thế mạnh.
Phật cũng như vậy, nếu có xem nhìn, hoặc có nói gì thì
thân với tâm đồng nhau, thường không phân tán, vì cớ sao?
Vì từ vô số kiếp lại đây, tập pháp nhất tâm, do nghiệp
nhân duyên ấy nên xương đầu với thân làm một, không có
phân chia. Lại vì đời đời phá kiêu mạng nên không khinh
chúng sanh, khi xem thời cả thân cùng xoay, như trong kinh Ni-tha
thí dụ nói: người hốt phân ở nước Xá-bà-đề, Phật
lấy tay xoa đầu dạy khiến xuất gia, còn không khinh nó.
Chân
đi cách đất bốn ngón tay là nếu Phật thường bay đi, thì
chúng sanh nghi lấy làm lạ, bảo Phật chẳng phải người,
thời không quay về nương tựa, còn nếu chân đi đến đất
thời chúng sanh cho chẳng khác người thường, không sanh tâm
cung kính. Thế nên tuy là đi trên đất, cách đất bốn ngón
tay mà tướng dấu bánh xe dưới bàn chân vẫn hiện rõ.
Hỏi:
Như Phật thường phóng hào quang lớn, chân đi không đến
đất mà sao chúng sanh không tất cả đều cung kính quay về
nương tựa?
Đáp:
Chúng sanh trong vô lượng kiếp chứa tội rất nặng, vô minh
cấu nhiễm sâu dày, đối với Phật sanh nghi cho là thầy huyễn,
dùng thuật dối người. Hoặc nói rằng chân không đạp đất,
bản tánh sanh ra tự nhiên như vậy, như chim hay bay, có gì
kỳ lạ! Hoặc có chúng sanh vì tội nặng không thấy tướng
Phật, chỉ gọi là Sa-môn đại oai đức mà thôi; ví như người
bệnh nặng sắp chết, thuốc hay, đồ ăn ngon, đều cho là
xú uế, thế nên không tất cả đều cung kính nương tựa.
Ði
đến dưới cội Bồ-đề cùng với trời Tứ thiên vương
cho đến trời A-ca-ni-sắc, vô lượng ngàn vạn ức chúng chư
thiên cung kính vây quanh là thường pháp của chư Phật. Phật
là Thế Tôn, đến dưới cội Bồ-đề, sắp phá hai thứ ma
là kiết sử ma và tự tại thiên tử ma, sắp thành bậc nhất
thiết trí, thì các chúng chư thiên sao không cung kính hầu
đưa? Lại chu thiên đời đời tá trợ ủng hộ Bồ-tát, cho
đến khi xuất gia, chư thiên khiến các cung nhân thế nữ nằm
ngủ say mê, đỡ chân ngựa của Bồ-tát vượt ra khỏi thành.
Ngày nay việc thành, ta sẽ cùng nhau hầu đưa đến dưới
cội Bồ-đề.
Hỏi:
Sao không nói vô lượng người dòng Sát-lợi, Bà-la-môn hầu
đưa mà chỉ nói chư thiên?
Đáp:
Phật mội mình ở giữa rừng sâu tìm cội Bồ-đề, chẳng
phải chỗ của người đi, cho nên không nói. Lại người không
có Thiên nhãn, Tha tâm trí, nên không biết Phật sẽ thành
đạo, cho nên không nói.
Lại
nữa, chư thiên quí hơn người, cho nên chỉ nói trời.
Lại
nữa, chư Phật thường vui chỗ nhàn tịnh, chư thiên thường
ẩn thân không thấy, không trở ngại nhàn tịnh, cho nên chỉ
nói chư thiên hầu đưa đi.
Lại
nữa, Bồ-tát thấy năm Tỳ-kheo bỏ Bồ-tát mà đi, Bồ-tát
một mình đi đến dưới cội cây, thế nên phát lời nguyện
ấy.
Kinh:
Nguyện Ta se ngồi dưới cội Bồ-đề, trời Tứ thiên vương
cho đến trời A-ca-ni-sắc, lấy áo trời trải làm tòa, nên
học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Như Kinh nói: Phật trải cỏ ngồi dưới cội cây mà
thành Phật đạo, nay cớ sao nói nguyện lấy áo trời làm
chỗ ngồi?
Đáp:
Trong kinh Thanh văn nói trải cỏ, trong kinh Ðại thừa tùy chúng
sanh thấy, hoặc có người thấy trải cỏ dưới cội cây,
hoặc có người thấy trải nệm trời, theo phước đức của
mỗi người nhiều ít mà chỗ thấy không đồng.
Lại
nữa, sanh thân Phật ôm cỏ đến dưới cây, pháp tánh sanh
thân Phật lấy áo trời làm tòa, hoặc hơn áo trời.
Lại
nữa, Phật ở dưới cây giữa rừng sâu thành Phật, người
ở trong rừng thấy, đem cỏ dâng Phật, nếu quý nhân không
thấy sẽ lấy y phục quý giá trải làm tòa, chỉ vì trong
rừng không có quý nhân, nên bây giờ long thần, trời đem
mỗi áo đẹp làm tòa, áo của trời Tứ thiên vương nặng
hai lượng; áo trời Ðao-lợi nặng một lượng; áo trời Dạ-ma
nặng mười tám thù; áo trời Ðâu-suất-đà nặng mười hai
thù; áo trời Hóa-lạc nặng sáu thù; áo trời Tha-hóa-tự-tại
nặng ba thù; áo trời Sắc giới không có tướng nặng; áo
trời cõi Dục từ bên gốc cây sanh, không chỉ không may; ví
như băng mỏng, ánh sáng sáng trong, có đủ màu sắc; áo trời
Sắc giới, thuần ánh sáng kim sắc.
Như
vậy áo báu trải làm chỗ ngồi, Bồ-tát ngồi lên đó thành
bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Hỏi:
Sao chỉ nói chư thiên trải áo, không nói đại Bồ-tát ở
mười phương trải tòa cho Phật? Các Bồ-tát lúc sắp Thành
đạo đều trải tòa cho Phật, hoặc rộng dài đều một do
tuần, mười trăm ngàn vạn ức cho đến vô lượng do tuần,
cao cũng như vậy. Các tòa báu ấy do phước đức vô lậu
của Bồ-tát phát sanh, chư thiên mắt còn không thấy được
huống gì lấy tay rờ. Ba đời mười phương chư Phật, hàng
ma đắc đạo, trang nghiêm Phật sự, thảy đều soi thấy,
ví như gương sáng. Tòa của Bồ-tát đẹp như vậy, cớ sao
không nói?
Đáp:
Bát-nhã ba-la-mật có hai thứ: 1. Là nói chung cho Thanh văn,
Bồ-tát và chư thiên. 2. Chỉ nói riêng cho Bồ-tát đầy đủ
mười trụ. Trong Bát-nhã ba-la-mật này hãy nói cho Bồ-tát
trải tòa cho Phật, vì sao? Vì chư thiên biết ân Phật không
kịp các đại Bồ-tát, một đời, hai đời. Bồ-tát như vậy,
cớ sao không dùng thần lực mà cúng dường Phật. Trong đây
hợp với Thanh văn mà nói, nên không nói Bồ-tát trải tòa.
Kinh:
Muốn lúc chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
chỗ đi, đứng, ngồi, nằm, đất đều là Kim cương, nên
học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Vì sao nơi chỗ bốn oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm của
Phật, đất đều là Kim cương?
Đáp:
Có người nói: lúc Bồ-tát đến dưới cội Bồ-đề, ngồi
ở chỗ đó chứng thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
bấy giờ Bồ-tát vào trong thật tướng chư pháp, không có
đất nào đủ sức đỡ Bồ-tát, vì sao? Vì đất đều là
quả báo do nghiệp hư dối của chúng sanh mà có, nên không
thể đỡ nổi Bồ-tát. Lúc Bồ-tát sắp thành Phật, thân
Phật là thân thật tướng trí tuệ, lúc ấy chỗ ngồi biến
thành Kim cương.
Có
người nói: đất ở trên Kim luân, Kim luân ở trên Kim cương,
từ mé Kim cương xuất ra đài hoa sen thẳng lên đỡ chỗ ngồi
của Bồ-tát, khiến không lún sụp, vì vậy nên chỗ ngồi
đạo tràng gọi là Kim cương.
Có
người nói: thành Phật rồi, chỗ đi, đứng, ngồi, nằm đều
biến thành Kim cương.
Hỏi:
Kim cương cũng do nghiệp hư dối của chúng sanh mà có, làm
sao đỡ Phật được?
Đáp:
Kim cương tuy cũng do nghiệp hư dối tạo thành, song bền chắc
hơn đất, không còn có gì hơn nữa. Nước ở dưới kim cương,
các đại long vương lấy vật kiên cố ấy dâng Phật, đây
cũng là do nghiệp đời trước của Phật, nay được chỗ
an lập này.
Lại
nữa, Phật biến Kim cương và bốn đại thành hư không, hư
không không hư dối, trí tuệ Phật cũng không hư dối. Hai
việc đã đồng nhau, cho nên đỡ được.
Kinh:
Lại nữa, Xá-lợi-phất! Bồ-tát ma-ha-tát, muốn ngay trong
ngày xuất gia liền được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
và Chuyển pháp luân, khi Chuyển pháp luân, vô lượng vô số
chúng sanh xa lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh đối với
các pháp; vô lượng vô số chúng sanh vì không thọ hết thảy
pháp, nên được giải thoát khỏi các lậu tâm; vô lượng
vô số chúng sanh được không thối chuyển đối với Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Hoặc có Bồ-tát ở trong đời ác chúng sanh tà kiến, vì trừ
tà kiến cho họ nên thực hành hạnh cần khổ rất khó, như
đức Phật Thích-ca Văn ở trong rừng cây Ưu-lâu-tần-loa (Uruvela)
ngày ăn một hạt mè hạt gạo. Các ngoại đạo nói: Tiên
sư chúng tôi tuy tu khổ hạnh, không bằng sáu năm cần khổ
như vậy.
Lại
có người nói: Phật có nghiệp ác đời trước, nên nay chịu
khổ báo ấy.
Lại
có Bồ-tát cho rằng Phật thật thọ khổ ấy, nên phát tâm
nguyện rằng: Ta sẽ ngay trong ngày xuất gia được thành Phật.
Lại
có Bồ-tát ở vào đời tốt xuất gia, như Ðại Thông Tuệ
cầu Phật đạo, ngồi kiết-già phu, trải mười tiểu kiếp
mới được thành Phật. Bồ-tát nghe như vậy, phát tâm nguyện
rằng: nguyện Ta ngay trong ngày xuất gia liền được thành
Phật.
Lại
có Bồ-tát thành Phật rồi, không Chuyển pháp luân liền,
như đức Phật Nhiên Ðăng thành Phật đã mười hai năm, chỉ
phóng hào quang, không người nào biết, nên không thuyết pháp.
Lại
như Phật Tu-phiến-đa thành Phật rồi, không ai thọ hóa, nên
làm hóa Phật lưu lại một kiếp thuyết pháp độ người,
còn tự thân thì diệt độ.
Lại
như đức Phật Thích-ca Văn thành Phật rồi, năm mươi bảy
ngày không thuyết pháp. Bồ-tát nghe như vậy, nên phát nguyện:
khi Ta thành Phật rồi liền Chuyển pháp luân.
Lại
như đức Phật độ chúng sanh có hạng số, như đức Phật
Thích-ca Văn, lúc Chuyển pháp luân, ông Kiều-trần-như một
người được Sơ quả, tám vạn chư thiên được Pháp nhãn
tịnh đối với các pháp. Bồ-tát nghe như vậy, nên phát nguyện:
Khi ta Chuyển pháp luân, vô lượng vô số người được xa
lìa trần cấu, được pháp nhãn tịnh đối với các pháp.
Lại
vì như đức Phật Thích-ca Văn lúc Chuyển pháp luân đầu
tiên, chỉ có một Tỳ-kheo và chư thiên chứng được Sợ
quả, mà không một người chứng được A-la-hán và Bồ-tát
đạo. Thế nên Bồ-tát phát nguyện rằng: khi ta thành Phật,
sẽ làm cho vô lượng vô số chúng sanh, không chấp thọ hết
thảy pháp, được giải thoát các lậu tâm, và vô lượng
vô số chúng sanh, không chấp thọ hết thảy pháp, được
giải thoát các lậu tâm, và vô lượng vô số chúng sanh được
không thối chuyển đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.
Hỏi:
Nếu thần lực và công đức độ sanh của chư Phật bằng
nhau, thì cớ sao ở đây Bồ-tát lại phát nguyện như vậy?
Đáp:
Một Phật có thể biến làm vô lượng vô số thân để độ
chúng sanh, nhưng thế giới có nơi nghiêm tịnh, có nơi không
nghiêm tịnh, Bồ-tát hoặc thấy hoặc nghe có đức Phật tu
khổ hạnh khó được thành Phật, có đức Phật không Chuyển
pháp luân liền, có như đức Phật Thích-ca Văn sáu năm khổ
hạnh mới Thành đạo. Lại nghe lúc Chuyển pháp luân đầu
tiên chưa có người chứng được A-la-hán huống gì được
Bồ-tát đạo. Vì Bồ-tát chưa nghe thần lực của chư Phật
bình đẳng, nên phát nguyện như vậy. Nhưng thần lực và
công đức của chư Phật bình đẳng không sai khác.
Kinh:
Muốn lúc Ta thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lấy
vô lượng vô số Thanh văn làm Tăng, lúc Ta một lần thuyết
pháp họ liền bèn ở trên tòa đều chứng được A-la-hán,
nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Có đức Phật lấy Thanh văn làm Tăng, có số có hạn, như
đức Phật Thích-ca Văn lúc đầu có 1.250 Tỳ-kheo làm Tăng,
đức Phật Di-lặc thuyết pháp hội đầu có 99 ức Tăng, hội
thứ hai có 96 ức, hội thứ ba có 93 ức. Tăng của chư Phật
như vậy có hạn có số không đồng. Vì vậy nên Bồ-tát
nguyện rằng: Ta sẽ lấy vô lượng vô số Thanh văn làm Tăng.
Lại
có đức Phật thuyết pháp cho chúng sanh, thuyết lần đầu
người nghe được Sơ quả, lúc khác lại thuyết pháp nhị
quả, tam quả, tứ quả. Như đức Phật Thích-ca Văn thuyết
pháp cho năm Tỳ-kheo, chứng được Sơ quả, ngày sau chứng
được A-la-hán, như Xá-lợi-phất được Sơ quả, nửa tháng
sau mới được A-la-hán quả. Ðại Ca-diếp trông thấy Phật
liền được sơ quả, qua tám ngày được A-la-hán. Như A-nan
được quả Tu-đà-hoàn, mười hai năm hầu hạ Phật, sau khi
Phật Bát Niết-bàn mới được A-la-hán. Các A-la-hán như vậy
không phải một lúc chứng được bốn quả, vì vậy nên Bồ-tát
phát nguyện rằng: lúc Ta một lần thuyết pháp, người nghe
liền ở trên tòa đều chứng được A-la-hán.
Kinh:
Nguyện Ta sẽ lấy vô lượng vô số đại Bồ-tát làm Tăng,
lúc Ta một lần thuyết pháp, vô lượng vô số Bồ-tát đều
được bất thối chuyển.
Luận:
Bồ-tát sở dĩ phát nguyện này, là vì thấy chư Phật phần
nhiều lấy Thanh văn làm Tăng, không tách riêng Bồ-tát Tăng,
như các Bồ-tát Di-lặc, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi... vì đức
Phật Thích-ca Văn không tách riêng Bồ-tát Tăng, nên đã phải
nhập vào Thanh văn Tăng theo thứ lớp ngồi.
Lại
có đức Phật vì nhất thừa thuyết pháp, thuần lấy Bồ-tát
làm Tăng.
Lại
có đức Phật lấy cả Thanh văn Bồ-tát lẫn lộn làm Tăng,
như nước đức Phật A-di-đà, Bồ-tát Tăng nhiều, Thanh văn
Tăng ít. Vì vậy nên nguyện lấy vô lượng Bồ-tát làm Tăng.
Lại
có đức Phật lúc Chuyển pháp luân đầu tiên, không có người
được A-bệ-bạt-trí (không thối chuyển). Vì vậy nên Bồ-tát
nguyện rằng: Ta thuyết pháp lần đầu có vô lượng vô số
người được A-bệ-bạt-trí.
Kinh:
Muốn được sống lâu vô lượng, ánh sáng đầy đủ, thời
nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận:
Chư Phật thọ mạng có dài có ngắn. Như đức Phật Tỳ-bà-thi
sống 84.000 năm, đức Phật Câu-lưu-tôn sống sáu vạn năm,
Phật Câu-na-hàm Mâu-ni sống ba vạn năm, Phật Ca-diếp sống
hai vạn năm, Phật Thích-ca Văn sống trăm tuổi. Ít có ai quá
hơn đức Phật Di-lặc sống 84.000 năm.
Như
đức Phật Thích-ca Văn, hào quang chiếu thường là xa một
trượng, đức Phật Di-lặc hào quang chiếu thường xa mười
dặm.
Hào
quang và thọ mạng của chư Phật có hai thứ: Ẩn tàng. 2.
Là hiển hiện. 1. Là chân thật. 2. Là vì chúng sanh nên ẩn
tàng. Chân thật là vô lượng hiển hiện. Vì chúng sanh là
có hạng có lượng.
Thật
thì Phật thọ mạng không phải ngắn, vì chư Phật đầy đủ
nghiệp nhân duyên trường thọ, như Phạm-thiên Bà-già nhờ
kiếp trước cứu nhơn mạng một làng, cho nên được thọ
mạng vô lượng vô số. Theo pháp của Phạm thế thì sống
không quá nửa kiếp, nhưng riêng Phạm thiên này sống vô lượng.
Vì vậy nên ông sanh tà kiến nói rằng, chỉ có ta thường
trú. Phật đi đến chỗ ông phá tà kiến đó, nói duyên trước
của ông nhờ cứu mạng cho một làng mà còn được sống
lâu như vậy, huống gì Phật đời đời cứu vô lượng vô
số chúng sanh, hoặc đem thí vật cứu giúp, hoặc đem thân
mạng chết thế, cớ sao sống không quá hạn trăm tuổi?
Lại
nữa, giới không sát sanh là nghiệp nhân cho sống lâu, Phật
đem tâm đại từ thương chúng sanh thấu xương tủy, còn thường
vì chúng sanh mà chết, huống gì sát sanh.
Lại
nữa, trí tuệ biết thật tướng chư pháp, chân thật không
hư dối, cũng là nghiệp nhân duyên cho sống lâu; Bồ-tát do
công đức trì giới hòa hợp với Bát-nhã ba-la-mật còn được
sống lâu vô lượng, huống gì Phật đời đời đầy đủ
vô lượng công đức ấy, mà mạng sống có hạn.
Lại
nữa, như trong hết thảy sắc, Phật thân đệ nhất; trong
hết thảy tâm, Phật tâm đệ nhất; vì vậy trong hết thảy
thọ mạng, Phật thọ mạng đệ nhất. Như người tục nói:
người sanh ở đời, sống lâu là quý, Phật ở trên người,
thọ mạng cũng phải dài lâu!
Hỏi:
Phật tuy có nghiệp nhân trường thọ, vì sanh vào đời ác,
nên thọ mạng phải ngắn, dùng thọ mạng ngắn ấy đủ hoàn
thành Phật sự, chứ cần chi phải dài?
Lại
Phật do lực thần thông, trong một ngày đủ hoàn thành Phật
sự, huống gì trăm năm?
Đáp:
Ở đây cõi Diêm-phù-đề ác, nên Phật thọ mạng phải ngắn,
các nơi khác lành, nên Phật thọ mạng phải dài.
Hỏi:
Nếu như vậy, Bồ-tát sanh vào cung vua Tịnh phạn ở cõi Diêm-phù-đề,
xuất gia, thành đạo mới là Phật thật, còn ở nơi khác
đều do lực thần thông biến hóa làm Phật để độ chúng
sanh ư?
Đáp:
Lời ấy không đúng, vì cớ sao? Vì ở các chỗ khác thuộc
cõi Diêm-phù-đề cũng sẽ nói Phật ở nước ta là Phật
thật, còn ở các chỗ khác là Phật biến hóa, sao biết? Vì
nếu ở các quốc độ khác tự biết đó là hóa Phật, thời
sẽ không chịu tin thọ giáo giới.
Lại
có người ở các quốc độ khác sống lâu một kiếp, nếu
Phật sống trăm tuổi, thì so với họ chưa đủ một ngày,
chúng sanh kia sẽ khởi tâm kiêu mạng, không chịu thọ giáo,
thời kia chắc cho Phật sống một kiếp là Phật thật, còn
đây la Phật biến hóa. Như kinh Thủ-lăng-nghiêm tam-muội nói:
Thần thông biến chiếu Phật, sống bảy trăm ngàn vô số
kiếp. Phật bảo Văn-thù-thi-lỵ rằng: Phật kia là thân Ta.
Phật kia cũng nói: Phật thích-ca Văn là thân Ta.
Vì
vậy nên biết chư Phật sống lâu vô lượng thật. vì độ
người nên thị hiện có dài ngắn. Ông nói Phật Thích-ca
Văn do lực thần thông nên trong một ngày độ chúng sanh không
khác gì sống lâu, vậy thời không cần sống trăm tuổi, chỉ
trong một ngày cũng có thể làm đầy đủ Phật sự.
Như
A-nan có một lần tâm sanh ý niệm rằng: như đức Phật Nhiên
Ðăng, Phật Nhất Thiết Thắng, Phật Tỳ-bà-thi sanh ở đời
tốt, thọ mạng rất dài có thể làm đủ Phật sự, còn Phật
Thích-ca Văn của ta, sanh vào đời ác, thọ mạng rất ngắn,
Thế Tôn sẽ không có thể làm đầy đủ Phật sự chăng?
Bấy
giờ, Thế Tôn vào Nhật xuất tam-muội, từ thân biến hóa
ra vô lượng chư Phật và vô lượng ánh sáng, khắp đến
mười phương, mỗi mỗi hóa Phật ở các thế giới, đều
làm Phật sự, có vị thuyết pháp, có vị hiện thần thông,
hoặc hiện thiền định, hoặc hiện ăn cơm. Các nhân duyên
như vậy, thì tác Phật sự, mà độ chúng sanh.
Từ
tam-muội dậy, bảo A-nan rằng: Ông thấy nghe các việc ấy
chăng?
A-nan
thưa: Ðã thấy.
Phật
bảo A-nan: Phật dùng thần lực như vậy làm đầy đủ Phật
sự được chăng?
A-nan
thưa: Giả sử Phật sống một ngày, và cỏ cây trên đại
địa đều là chúng sanh khả độ, thời Phật có thể độ
hết, huống gì Phật sống trăm năm.
Vì
vậy nên biết chư Phật sống lâu vô lượng, chỉ vì độ
chúng sanh nên thị hiện có dài ngắn, ví như mặt trời mọc,
bóng hiện trong nước, tùy nước lớn nhỏ, nước lớn thời
bóng lâu diệt, nước nhỏ thời bóng mau diệt. Nếu chiếu
vào lưu ly, núi phá lưu ly, thời bóng trụ lâu. Lại như lửa
đốt cỏ cây, đốt ít thời mau tắt, đốt nhiều thời lâu
tắt. Không thể vì chỗ lâu tắt không có lửa mà bảo chỗ
đốt nhiều cũng không có lửa. Nghĩa ánh sáng dài ngắn cũng
như vậy.
Kinh:
Nguyện lúc Ta thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong
thế giới không có dâm dục, sân nhuế, ngu si, cũng không danh
tự ba độc. Hết thảy chúng sanh thành tựu trí tuệ, khéo
trì giới, khéo thiền định, khéo tu phạm hạnh, khéo không
nhiễu hại chúng sanh, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Nếu thế giới không ba độc cũng không có danh tự ba
độc, vì sao Phật xuất sanh ở thế giới đó?
Đáp:
Tham dục, sân nhuế, ngu si gọi là ba bất thiện căn, là pháp
hệ thuộc cõi Dục. Phật nếu nói tham dục, sân nhuế, ngu
si, thì là điều bất tiện hệ thuộc cõi Dục; còn nếu Phật
nói nhiễm ái, vô minh, thời đây là bất thiện thông cả
ba cõi.
Có
thế giới Phật, thuần là người ly dục, vì hạng chúng sanh
đó, Bồ-tát nguyện rằng: lúc Ta thành Phật, trong nước không
có ba độc và danh tự ba độc.
Lại
có thế giới Phật thanh tịnh, thuần là bậc bất thối chuyển,
pháp tánh sanh thân Bồ-tát, không các phiền não, chỉ có tập
khí thừa, cho nên nói không có danh từ ba độc.
Nếu
có người nói, như Bồ-tát nguyện rằng: Ta sẽ độ hết
thảy chúng sanh, mà chúng sanh thật không độ hết, đây cũng
như vậy. Muốn làm cho thế giới không có danh từ ba độc,
và cũng thật có ba độc không hết. Nếu hoàn toàn không ba
độc, thì dùng Phật làm gì? Như đại địa không tối, thời
không cần mặt trời chiếu. Như Kinh nói: nếu không có ba
pháp thời Phật không ra đời. Nếu ba pháp không dứt, thời
không lìa khỏi sanh, già, bệnh, chết. Ba pháp là ba độc,
như trong kinh Ba pháp nói rộng.
Lại
nữa, có thế giới chúng sanh phân biệt các pháp là thiện
là bất thiện, là trói, là mở... đối với pháp nhất tướng
tịch diệt mà sanh hý luận như vậy. Vì vậy Bồ-tát nguyện
rằng: nguyện làm cho chúng sanh ở thế giới Ta không sanh ba
độc, biết thật tướng ba độc tức là Niết-bàn.
Hỏi:
Hết thảy chúng sanh có trí tuệ như vậy, là trí tuệ gì?
Đáp:
Trí tuệ là chánh kiến thuộc thế gian. Chánh kiến thế gian
nói có bố thí, có tội phước, có đời nay đời sau, có
A-la-hán. Vì tin tội phước nên khéo bố thí, tin có A-la-hán
nên khéo trì giới, khéo thiền định, khéo tu phạm hạnh.
Ðược lực chánh kiến, nên khéo không nhiễu hại chúng sanh.
Chánh kiến thế gian là cội gốc của vô lậu trí tuệ, vì
vậy nên nói trong nước không có danh tự ba độc.
Tham
dục có hai: 1. Tà tham dục. 2. Tham dục.
Sân
nhuế có hai: 1. Tà sân nhuế. 2. Sân nhuế.
Ngu
si có hai: 1. Tà kiến ngu si. 2. Ngu si.
Chúng
sanh có ba tà độc như vậy, khó có thể hóa độ; còn ba độc
kia dễ độ.
Không
có danh từ ba độc là không có danh tự ba tà độc.
Năm
việc khéo bố thí, khéo trì giới... như trong chương Phóng
quang nói.
Kinh:
Khiến cho Ta sau khi vào Niết-bàn, pháp không diệt tận, cũng
không có danh tự diệt tận, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Phật là chủ của pháp, còn tự diệt độ, cớ sao nói
pháp không diệt tận?
Đáp:
Như trên nói, đó là nguyện của Bồ-tát, không hẳn sự thật.
Hết thảy pháp hữu vi, do nhân duyên hòa hợp sanh, làm sao
thường trú không diệt được. Phật như mặt trời sáng,
pháp như ánh sáng thừa, lại sau mặt trời lặng, làm sao mặt
trời lặng mà ánh sáng thừa không diệt được? Chỉ vì trụ
lâu, không thể thấy diệt, cho nên nói là bất diệt.
Lại
nữa, Bồ-tát thấy pháp của chư Phật trụ có dài có ngắn.
Như pháp của Phật Ca-diếp trụ bảy ngày, pháp của Phật
Thích-ca Văn trụ một ngàn năm. Thế nên Bồ-tát phát nguyện
rằng: Pháp tuy là hữu vi, nguyện cho tương tục không dứt,
như lửa được củi truyền nối không dứt.
Lại
nữa, thật tướng chư pháp gọi là Phật pháp, pháp thật
tướng ấy chẳng sanh chẳng diệt; chẳng đoạn chẳng thường;
chẳng một chẳng khác; chẳng đến chẳng đi; chẳng thọ
chẳng động; chẳng đắm chẳng nương; không có gì như tướng
Niết-bàn. Pháp tướng như vậy, làm sao có diệt.
Hỏi:
Pháp tướng như vậy là hết thảy Phật pháp đều không diệt?
Đáp:
Như đã nói, thật tướng các pháp không có diệt. Có người
ức tưởng phân biệt chấp thủ các pháp, hoại pháp thật
tướng, dùng lối hai pháp để nói, cho nên có diệt, còn trong
pháp thật tướng không có diệt.
Lại
nữa, pháp Bát-nhã ba-la-mật vô ngại, nhóm vô lượng công
đức, nên tùy bản nguyện mà pháp pháp nối nhau, không thấy
nó diệt; ví như ngước mặt bắn hư không, mũi tên đi rất
xa, người tuy không thấy, nhưng chắc chắn nó phải rơi xuống.
Kinh:
Nguyện lúc Ta được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hằng
hà sa thế giới chúng sanh ở mười phương, ai nghe danh Ta,
chắc chắn được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Muốn
được công đức như vậy, nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Luận.
Hỏi: Có người sanh gặp đời Phật, ở trong Phật pháp mà
còn đọa địa ngục như Ðề-bà-đạt, Câu-ca-lê, Ha-đa Thích-tử...
vì ba pháp bất thiện che tâm, nên đọa địa ngục. Thế tại
sao trong đây nói ở thế giới cách Phật như hằng hà sa,
chỉ nghe danh tự Phật liền được đạo ư?
Đáp:
Ðã nói có hai Phật thân: 1. Pháp tánh sanh thân Phật. 2. Hiện
hóa thân Phật tùy theo chúng sanh hơn kém. Vì là pháp tánh
sanh thân Phật, nên nói cho đến chỉ nghe danh mà được độ,
vì là Phật thân hiện hóa theo chúng sanh nên nói tuy sanh cùng
đời Phật mà tùy theo nghiệp nhân duyên nên có người đọa
địa ngục.
Pháp
tánh sanh thân Phật thì không việc gì không cứu giúp, không
nguyện gì không viên mãn, vì cớ sao? Vì trong vô lượng vô
số kiếp chứa nhóm tất cả công đức thiện bổn, đầy
đủ tất cả trí tuệ vô ngại, là chủ giữa chúng thánh,
chư thiên và đại Bồ-tát ít ai trông thấy; ví như ngọc
báu Như ý, khó thấy khó được. Nếu ai thấy được thì
sở nguyện chắc chắn hiệu quả. Cũng như vị thuốc hỷ
kiến, hễ ai thấy được, các bệnh tiêu trừ. Cũng như Chuyển
luân thánh vương, hễ ai thấy được giàu đủ mọi điều.
Cũng như Thích-đề hoàn nhân, hễ ai thấy được, được
mọi điều theo nguyện. Cũng như Phạm thiên vương, chúng sanh
nương tựa, sự khủng bố trừ hết. Cũng như người niệm
Quán Thế Âm, được thoát khỏi ách nạn. Các việc ấy còn
nhu vậy, huống gì pháp tánh sanh thân như Phật.
Hỏi:
Phật Thích-ca Văn cũng là phần pháp tánh sanh thân Phật, không
có khác thể, cớ sao lúc Phật ở đời, mà có người làm
năm tội ngũ nghịch, đói khát, đạo tặc, có những việc
ác như vậy?
Đáp:
Phật Thích-ca Văn vốn có thệ nguyện: Ta muốn sanh ra đời
ác, đem đạo pháp độ chúng sanh, không vì đời giàu đáng
vui thú mà xuất hiện. Nếu Phật lấy sức ban cho, thời không
việc gì không được.
Lại
cũng vì chúng sanh phước đức mỏng, tội cấu sâu nặng,
nên không được độ thoát theo ý.
Lại,
nay Phật chỉ nói thanh tịnh Niết-bàn, mà chúng sanh nghị
luận chê bai rằng: cớ sao nuôi nhiều đệ tử, hóa đạo
nhân dân, đó cũng là sự trói buộc. Chỉ đem pháp Niết-bàn
giáo hóa còn bị chê bai, huống gì xen nói các cỏi vui thế
gian. Như Ðề-bà-đạt muốn dưới bàn chân có bánh xe nghìn
tăm, lấy sắc làm khuông, đốt mà áp bàn chân vào, áp xong
chân hoại, thân khổ la lớn.
Bấy
giờ A-nan nghe rồi khóc lóc bạch Phật: Anh con sắp chết,
xin Phật thương cứu.
Phật
liền đưa tay đến xoa thân Ðề-bà-đạt và nói lời chơn
thật rằng: Ta xem La-hầu-la với Ðề-bà-đạt bằng nhau, vết
thương kia sẽ tiêu.
Khi
ấy các thống khổ của Ðề-bà-đạt liền trừ hết, cầm
tay xem, biết đó là tay Phật, liền nói rằng: Con vua Tịnh
phạn lấy y thuật đủ tự nuôi sống.
Phật
bảo A-nan: Ông xem thấy Ðề-bà-đạt chăng? Dụng tâm như
thế, làm sao độ được! Nếu người tốt ở đời thời
không có lỗi ấy.
Chúng
sanh như vậy, nếu đem cái vui thế gian ra dạy, thì không thể
độ được. Các nhân duyên về việc này, trên kia đã nói
rộng.
Do
vậy nên nói: nghe danh tự Phật mà có người được đạo,
có người không được.
Lại
nữa, Phật thân có vô lượng vô số không đồng, có đức
Phật thuyết pháp làm cho chúng sanh đắc đạo, có đức Phật
phóng hào quang, chúng sanh gặp được mà đắc đạo, có đức
Phật lấy thần thông biến hóa chỉ bày tâm kia mà làm cho
đắc đạo, có đức Phật chỉ hiện sắc thân mà làm cho
đắc đạo, có đức Phật khắp lỗ chân lông trên mình xuất
ra hương diệu, chúng sanh nghe hương mà đắc đạo, có đức
Phật lấy đồ ăn cho chúng sanh mà chúng sanh đắc đạo, có
đức Phật lấy âm thanh tất cả cây cỏ mà làm Phật sự,
khiến chúng sanh đắc đạo, có đức Phật, chúng sanh chỉ
nghe tên mà đắc đạo. Vì là Phật nên nói: khi Ta làm Phật,
ai nghe tên Ta đều khiến cho đắc đạo.
Lại
nữa, nghe tên, không chỉ vì tên mà liền đắc đạo, nhưng
nghe rồi tu đạo, vậy sau đắc độ. Như trưởng giả Tu-đạt
mới đầu nghe tên Phật, nội tâm kinh hãi vui mừng đi đến
Phật nghe pháp mà đắc đạo.
Lại
như Bà-la-môn Thế-di-la từ chỗ ngồi Phạm-chí bện tóc Kê-nê-da,
mới đầu nghe tên Phật, tâm liền kinh hãi vui mừng, đi thẳng
đến chỗ Phật, nghe pháp đắc đạo. Ấy là chỉ nói nghe
tên, nghe tên là nhân duyên đắc đạo, chứ chẳng phải đắc
đạo.
Hỏi:
Trong Kinh nay nói nghe tên Phật tức thời đắc đạo, chứ
không nói nghe tên rồi tu hành mới đắc?
Đáp:
Nay nói tức thời, không nói trong nhất tâm, chỉ nói không
có việc gì khác xen vào, nên nói là tức thời, ví như trong
Kinh nói khi tu tâm từ, tức là tu bảy giác ý.
Có
người nạn rằng: Từ tam-muội thuộc hữu lậu, duyên tướng
chúng sanh mà phát khởi, cớ sao nói tức là lúc tu bảy giác
ý? Người đáp rằng: từ tâm từ khởi lên tức thời tu bảy
giác ý, vì không có pháp khác xen vào giữa, nên nói là tức
thời.
Tức
thời có hai: 1. Ðồng thời. 2. Tuy lâu không có pháp khác xen
vào, tức chính tâm ấy mà tiếp tu bảy giác ý, cũng gọi
là tức thời.
Lại
nữa, có chúng sanh phước đức thuần thục, tâm kiết sử
mỏng, nên sẽ đắc đạo, nếu nghe tên Phật tức thời đắc
đạo.
Lại
nữa, do oai lực của Phật, nghe liền đắc độ, ví như mụt
nhọt đã chín, nếu không trị, gặp chút nhân duyên cũng liền
tự khô; cũng như quả chín, nếu không người hái, gặp chút
gió rung cũng tự rơi xuống; ví như lụa trắng sạch mới,
dễ nhuộm màu; vì hạng người như vậy nên nói, nếu nghe
tên Phật, tức thời đắc đạo, ví như quỷ thần ám người,
nghe tên câu chú của tiên nhân, tức thời bỏ đi.
Hỏi:
Thế giới xa quá hằng hà sa, ai truyền tên Phật khiến họ
được nghe?
Đáp:
Phật dùng thần lực, lỗ chân lông trên toàn thân phóng vô
lượng ánh sáng, trên mỗi mỗi ánh sáng đều có hoa sen báu,
trên mỗi mỗi hoa đều có Phật ngồi, mỗi mỗi Phật đều
nói diệu pháp để độ chúng sanh. Lại nói danh tự chư Phật,
do vậy nên nghe, như trong chương Phóng Quang đã nói.
Lại
nữa, các đại Bồ-tát do bổn nguyện muốn đến chỗ không
có Phật pháp, xưng dương danh hiệu Phật; như nói trong phẩm
này, cho nên được nghe.
Lại
có người đại công đức, ở giữa hư không, nghe danh hiệu
Phật như Tát-đà-ba-luân Bồ-tát (Thường Ðề Bồ-tát). Lại
có khi từ chu thiên nghe, hoặc nghe từ trong âm thanh của cây,
hoặc nghe từ trong mộng.
Lại
nữa, chư Phật có lực bất khả tư nghì, hoặc tự đi đến
nói, hoặc dùng tiếng bảo.
Lại
như Bồ-tát phát nguyện, thệ độ hết thảy chúng sanh, vì
vậy nên nói khi ta thành Phật, chúng sanh trong thế giới xa
quá hằng hà sa nghe tên ta đều được thành Phật. Muốn được
như vậy, hãy nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Hỏi:
Trên nói muốn được các công đức và các sở nguyện, các
việc ấy đều do các hạnh nghiệp hòa hợp thành, cớ sao
chỉ nói nên học Bát-nhã ba-la-mật?
Đáp:
Kinh này tên Bát-nhã ba-la-mật, Phật muốn giải nói việc
ấy, cho nên trong mỗi chương đều tán thán Bát-nhã ba-la-mật.
Lại
nữa, Bát-nhã ba-la-mật là mẹ của chư Phật. Ðối với cha
mẹ. công đức mẹ nặng hơn, cho nên Phật lấy Bát-nhã làm
mẹ, Ban châu tam-muội (thiền định) làm cha. Tam-muội hay thu
nhiếp loạn tâm, khiến trí tuệ được thành, mà không thể
quán thật tướng các pháp, Bát-nhã ba-la-mật có thể quán
khắp các pháp, phân biệt thật tướng, không việc gì không
thấu suốt, không việc gì không thành, công đức lớn lao
nên gọi là mẹ. Vì vậy hành giả tuy tu hành sáu Ba-la-mật
và các công đức hòa hợp, có thể làm cho đầy đủ sở
nguyện, nhưng chỉ nói: nên học Bát-nhã ba-la-mật.
Lại
nữa, như phẩm sau đây của Bát-nhã nói: Nếu không có Bát-nhã
ba-la-mật, năm độ kia không gọi là Ba-la-mật, tuy tu khắp
các hạnh, cũng không làm đầy đủ sở nguyện, cũng như các
tranh vẽ, nếu không có keo thì không dùng được. Chúng sanh
từ trong vô thỉ thế giới lại đây, tuy tu bố thí, trì giới,
nhẫn nhục, nhất tâm, trí tuệ, thọ quả báo thế gian xong,
rồi phải trở lại hết, vì sao? Vì lìa Bát-nhã ba-la-mật.
Nay nhờ ân Phật, dùng Bát-nhã ba-la-mật tu hành sáu độ,
nên được gọi Ba-la-mật, thành tựu Phật đạo, làm cho Phật
Phật tương tục không cùng tận.
Lại
nữa, khi Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật, khắp quán các
pháp đều không, không cũng lại không, diệt các quán, được
vô ngại Bát-nhã ba-la-mật, lấy lực đại bi phương tiện,
trở lại phát khởi các nghiệp công đức, do nhân duyên của
nghiệp thanh tịnh ấy, không nguyện gì không thành. Các công
đức khác, xa lìa Bát-nhã ba-la-mật, không có trí tuệ vô
ngại, làm sao nói: muốn thành các nguyện nên học Ðàn ba-la-mật...
được?
Lại
nữa, lại vì năm Ba-la-mật lìa Bát-nhã nên không được gọi
là Ba-la-mật. Năm Ba-la-mật kia như mù, Bát-nhã như mắt. Năm
Ba-la-mật kia như bình đựng nước mới nung, Bát-nhã ba-la-mật
như bình đã nung chín. Năm Ba-la-mật kia như chim không có hai
cánh, Bát-nhã ba-la-mật như chim có hai cánh.
Do
các nhân duyên như vậy, Bát-nhã ba-la-mật có thể thành đại
sự.
Vì
vậy nên nói: muốn được các công đức và sở nguyện nên
học Bát-nhã ba-la-mật.
(Hết
cuốn 34 theo bản Hán)