Tập
3
Cuốn
42
Kinh:
Lại nữa, bạch Thế Tôn! Bồ tát ma ha tát muốn tu hành Bát
nhã ba la mật, nên suy nghĩ như vầy: Thế nào là Bát nhãn
ba la mật? Vì sao gọi là Bát nhã ba la mật? Bát nhã ba la mật
của ai? Nếu Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật suy
niệm như vầy: Nếu pháp không có gì, không thể có được,
ấy là Bát nhã ba la mật.
Bấy
giờ, Xá lợi phất hỏi Tu bồ đề: Những pháp gì không có
gì, không thể có được?
Tu
bồ đề nói: Bát nhã ba la mật là pháp không có gì, không
thể có được; Thiền ba la mật, Tấn ba la mật, Nhẫn ba la
mật, Giới ba la mật, Thí ba la mật, pháp ấy không có gì,
không thể có được, vì trong không, ngoài không, trong ngoài
không, không không, đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu
vi không, vô vi không, rốt ráo không, vô thỉ không, tán không,
tánh không, tự tướng không, các pháp không, bất khả đắc
không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không
vậy.
Này
Xá lợi phất! Sắc pháp không có gì, không thể có được;
thọ tưởng hành thức pháp không có gì, không thể có được;
pháp trong không, không có gì, không thể có được; cho đến
pháp vô pháp hữu pháp không, không có gì, không thể có được.
Này
Xá lợi phất! Pháp bốn niệm xứ không có gì, không thể
có được, cho đến mười tám pháp không chung không có gì,
không thể có được.
Này
Xá lợi phất! Các pháp thần thông không có gì, không thể
có được. Pháp như như không có gì, không thể có được.
Pháp tánh, pháp tướng, pháp trụ, pháp vị, pháp thật tế
không có gì, không thể có được.
Này
Xá lợi phất! Phật không có gì, không thể có được. Pháp
Tát bà nhã không có gì, không thể có được. Trí nhất thiết
chủng không có gì, không thể có được, vì trong không cho
đến vô pháp hữu pháp không vậy.
Này
Xá lợi phất! Nếu Bồ tát ma ha tát khi suy nghĩ như vậy,
quán như vậy tâm không chìm đắm, không hối, không kinh, không
hãi, không sợ, nên biết Bồ tát ấy không lìa hạnh Bát nhã
ba la mật.
Xá
lợi phất hỏi Tu bồ đề: Do nhân duyên gì nên biết Bồ
tát không lìa hạnh Bát nhã ba la mật?
Tu
bồ đề nói: Sắc, lìa sắc tánh, thọ tưởng hành, thức
lìa thức tánh, sáu Ba la mật lìa sáu Ba la mật lìa sáu Ba
la mật tánh, cho đến thật tế lìa thật tế tánh.
Xá
lợi phất lại hỏi Tu bồ đề: Thế nào là sắc tánh, thế
nào là thọ tưởng hành thức tánh, cho đến thế nào là thật
tế tánh?
Tu
bồ đề nói: Không có gì là sắc tánh; không có gì là thọ
tưởng hành thức tánh, cho đến không có gì là thật tế
tánh. Này Xá lợi phất! Do nhân duyên ấy nên biết sắc lìa
sắc tánh, thọ tưởng hành thức lìa thức tánh, cho đến
thật tế lìa thật tế tánh.
Này
Xá lợi phất! Sắc cũng lìa sắc tướng, thọ tưởng hành
thức cũng lìa thức tướng, cho đến thật tế cũng lìa thật
tế tướng. Tướng cũng lìa tướng, tánh cũng lìa tánh.
Xá
lợi phất hỏi Tu bồ đề: Bồ tát ma ha tát nếu học như
vậy, được thành tựu Tát bà nhã ư?
Tu
bồ đề nói: Như vậy, như vậy! Xá lợi phất! Nếu Bồ tát
ma ha tát học như vậy, được thành tựu Tát bà nhã, vì sao?
Vì các pháp chẳng sinh, chẳng thành tựu vậy,
Xá
lợi phất hỏi Tu bồ đề: Do nhân duyên gì các pháp chẳng
sinh, chẳng thành tựu?
Tu
bồ đề nói: Sắc, sắc không nên sắc ấy sinh, thành tựu
không thể có được; thọ tưởng hành thức, thức không nên
thức ấy sinh, thành tựu không thể có được; cho đến thật
tế, thật tế không, nên thật tế ấy sinh, thành tựu không
thể có được.
Này
Xá lợi phất! Bồ tát ma ha tát học như vậy, dần dần gần
Tát bà nhã; dần dần được thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh,
tướng thanh tịnh; dần dần được thân thanh tịnh, tâm thanh
tịnh, tướng thanh tịnh, nên Bồ tát ấy không sinh tâm ô
nhiễm, không sinh tâm giận, không sinh tâm si, không sinh tâm
kiêu mạn, không sinh tâm xan tham, không sinh tâm tà kiến. Bồ
tát ấy không sinh tâm ô nhiễm, cho đến không sinh tâm tà
kiến, nên trọn không sinh trong bụng mẹ, thường được hóa
sinh, từ một nước Phật đến một nước Phật, thành tựu
chúng sanh, thanh tịnh Phật độ, cho đến chứng Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, trọn không lìa chư Phật.
Này
Xá lợi phất! Bồ tát ma ha tát nên tu hành Bát nhã ba la mật
như vậy, hãy học Bát nhã ba la mật như vậy.
Luận:
Hỏi: Từ trước đến nay đã nói rộng Bát nhã ba la mật,
sao nay Tu bồ đề còn nói rằng, Bồ tát ma ha tát nên suy nghĩ
như vậy: Thế nào là Bát nhã ba la mật?
Ðáp:
Tu bồ đề trước đây theo môn “ khiêm nhượng” nói, còn
nay theo môn “không trụ” nói. Nay nói rõ thể Bát nhã ba
la mật.
Thế
nào là Bát nhã ba la mật? Bát nhã ba la mật là thật tướng
hết thảy pháp, không thể phá, không thể hoại, hoặc có
Phật, hoặc không có Phật, thường trú các pháp tướng, pháp
vị, chẳng phải Phật, chẳng phải Bích chi Phật, chẳng phải
Bồ tát, chẳng phải Thanh văn, chẳng phải trời người làm
được, huống gì các chúng sanh nhỏ khác.
Lại
nữa, thường còn là một bên, đoạn diệt là một bên, lìa
hai bên ấy, hành theo trung đạo, ấy là Bát nhã ba la mật.
Lại
nữa, thường, vô thường, khổ, vui, không, thật, ngã, vô
ngã v.v... cũng như vậy. Sắc pháp là một bên, vô sắc pháp
là một bên, pháp có thể thấy, pháp không thể thấy, có
đối ngại, không đối ngại, hữu vi vô vi, hữu lậu vô lậu,
thế gian, xuất thế gian v.v... hai pháp cũng như vậy.
Lại
nữa, vô minh là một bên, vô minh hết là một bên, cho đến
già chết là một bên, già chết hết là một bên, các pháp
có là một bên, các pháp không có là một bên, lìa hai bên
ấy, hành theo trung đạo, ấy là Bát nhãba la mật.
Lược
nói: Sáu căn trong là một bên, sáu trần ngoài là một bên;
lìa hai bên ấy, hành theo trung đạo, ấy là Bát nhã ba la mật.
Ðây
Bát nhã ba la mật là một bên, đây chẳng phải Bát nhã ba
la mật là một bên, lìa hai bên ấy, hành theo trung đạo, ấy
là Bát nhã ba la mật. Có hai môn như vậy nên nói rộng vô
lượng tướng Bát nhã ba la mật.
Lại
nữa, lìa có, lìa không, lìa chẳng có chẳng không, không rơi
vào ngu si mà có thể tu hành thiện đạo, ấy là tướng Bát
nhã ba la mật. Có ba môn như vậy, là tướng Bát nhã ba la
mật.
Lại
nữa, Tu bồ đề nói trong đây: Pháp ấy không có gì, không
thể có được. Vì Bát nhã ba la mật ấy không nên không có
gì; vì các lối quán thường, vô thường v.v... tìm cầu không
có tướng nhất định nên không thể có được.
Lại
nữa, không có gì trong đây Tu bồ đề tự nói: Bát nhã ba
la mật cho đến năm Ba la mật kia không có gì, không thể thủ,
không thể thọ, không thể đắm trước.
Lại
nữa, vì mười tám không, nên sáu Ba la mật không có gì, không
thể có được; thí như gíó lớn phá tan đám mây, cũng như
lửa lớn đốt cháy cỏ khô, cũng như Kim cang báu tồi phá
núi lớn; các Không cũng như vậy, hay phá các pháp.
Sao
gọi là Bát nhã ba la mật? Bát nhã, Trung Hoa dịch là trí tuệ.
Ðệ nhất trong hết thảy trí tuệ, không trên, không gì bằng,
lại không gì hơn, cùng tận bờ mé như giữa hết thảy chúng
sanh, Phật là đệ nhất; giữa hết thảy pháp Niết bàn là
đệ nhất; giữa hết thảy chúng Tăng, Tỳ kheo Tăng là đệ
nhất.
Hỏi:
Trước ông nói thật tướng các pháp là Bát nhã ba la mật,
đó là pháp vị, pháp trụ, dù có Phật không Phật, vẫn thường
trú không khác, sao nay nói giữa các trí tuệ, Bát nhã ba la
mật là đệ nhất; ví như giữa các pháp, Niết bàn là đệ
nhất?
Ðáp:
Pháp thế gian, hoặc có khi trong nhân nói quả, có khi trong
quả nói nhân, không lỗi. Như nói người ăn ngày hết vài
xấp vải, vải không thể ăn, nhưng nhân vải mà được ăn
ấy gọi là trong nhân nói quả. Và như thấy bức vẽ đẹp
nói khéo tay, ấy gọi là trong quả nói nhân. Thật tướng
các pháp sinh trí tuệ, ấy là trong quả nói nhân.
Lại
nữa, Bồ tát ấy vào pháp môn bất nhị, khi ấy có thể tu
hành đầy đủ Bát nhã ba la mật, không phân biệt là
nhân là quả, là duyên là trí, là trong là ngoài, là đây là
kia v.v... nghĩa là nhất tướng vô tướng. Vì vậy nên không
nên vấn nạn.
Lại
nữa, có ba thứ trí tuệ thế gian: 1. Sự xảo diệu thế tục,
hiểu rộng văn nghệ, nhân, trí, lễ kính v.v... 2. Trí tuệ
lìa dục sinh, nghĩa là lìa cõi Dục cho đến vô sở hữu xứ.
3. Trí tuệ xuất thế gian, đó là trí tuệ của hàng Thanh
văn, Bích chi Phật, lìa ngã, ngã sở, các lậu hoặc sạch
hết. Bát nhã ba la mật là tối thù thắng, rốt ráo thanh tịnh,
vì không nhiễm trước, vì lợi ích hết thảy chúng sanh. Trí
tuệ Thanh văn, Bích chi Phật tuy sạch hết lậu hoặc nên được
thanh tịnh, nhưng không có tâm đại từ bi, không thể lợi
ích hết thảy chúng sanh, nên không bằng, huống gì trí tuệ
thế tục cấu, bất tịnh, giả dối? Ba thứ trí tuệ trên
không bằng trí tuệ này, gọi là Bát nhã ba la mật.
Lại
nữa, trí tuệ này vì độ chúng sanh, vì cầu Phật đạo;
thọ, tưởng, hành, thức tương ưng với trí tuệ này, và
thân nghiệp khẩu nghiệp từ trí tuệ khởi lên, và các tâm
bất tương ưng hành như sinh, trụ v.v... các pháp ấy hòa hợp,
gọi là Ba la mật. Trong các Ba la mật ấy, phần trí tuệ nhiều
nên gọi là Bát nhã ba la mật, phần niệm định nhiều nên
gọi là Thiền ba la mật, nghĩa các Ba la mật khác cũng như
vậy.
Có
vô lượng nhân duyên như vậy nên gọi là Bát nhã ba la mật.
Bát
nhã ba la mật ấy là của ai? Trong đệ nhất nghĩa (nghĩa tuyệt
đối) không có kẻ biết, kẻ thấy, kẻ được; hết thảy
pháp không ta, không của ta, các pháp chỉ là không, do nhân
duyên hòa hợp tương tục phát sinh, nếu như vậy thời Bát
nhã thuộc về ai?
Phật
pháp có hai thứ: 1. Thế đế. 2. Ðệ nhất nghĩa đế. Theo
thế đế thì Bát nhã ba la mật thuộc Bồ tát, người phàm
phu có nhiều tội lỗi, không thanh tịnh nên Bát nhã không
thuộc phàm phu. Bát nhã ba la mật rốt ráo thanh tịnh, phàm
phu không ưa, như ruồi ưa ở chỗ nhơ nhớp, không ưa hoa sen.
Người phàm phu tuy có lìa dục, song vì tâm chấp tôi, ta, đắm
theo pháp lìa dục nên không ưa Bát nhã ba la mật. Thanh văn,
Bích chi Phật tuy ưa thích Bát nhã ba la mật song không có tâm
từ bi sâu xa, rất chán thế gian, một lòng hướng thẳng Niết
bàn, cho nên không thể đầy đủ được Bát nhã ba la mật
.
Bát
nhã ba la mật này, khi Bồ tát thành Phật, đổi gọi là Trí
nhất thiết chủng (hoặc Nhất thiết trí trí – ND). Vì vậy
nên Bát nhã không thuộc Phật, không thuộc Thanh văn, Bích
chi Phật, không thuộc phàm phu, chỉ thuộc Bồ tát.
Hỏi:
Trong kinh này thường nói năm uẩn trước, nói Trí nhất thiết
chủng sau, sao nay trước nói đến sáu Ba la mật?
Ðáp:
Xá lợi phất hỏi Tu bồ đề nghĩa không có gì. Năm uẩn
dùng các nhân duyên quán, cưỡng làm cho nó không có gì, khó
hiểu; Bát nhã ba la mật tức là không có gì, dễ hiểu. Thí
như mặt trăng trong nước dễ rõ nó là không, còn mặt trăng
trên trời khó làm cho nó không có gì. Năm Ba la mật cùng Bát
nhã ba la mật đồng tên đồng sự, cho nên tiếp tục nói
năm Ba la mật, vậy sau tiếp tục nói năm uẩn, cho đến Trí
nhất thiết chủng không có gì, không thể có được. Bồ
tát vào môn này, quán thật tướng các pháp mà không hãi không
sợ, nên biết Bồ tát không lìa Bát nhã ba la mật.
Không
lìa là thường tập hành Bát nhã ba la mật không hư luống,
chắc chắn có quả báo. Trong đây Tu bồ đề tự nói nhân
duyên không lìa, đó là sắc lìa tánh sắc, trong sắc không
có tướng sắc, hư dối, không có gì. Bồ tát biết được
như vậy, không lìa trí tuệ thật, cho đến Thật tế cũng
như vậy. Bồ tát hành được đạo không chướng ngại ấy,
được đến Trí nhất thiết chủng, vì hết thảy pháp không
sinh không xuất vậy.
Xá
lợi phất hỏi Tu bồ đề: Thế nào là hết thảy pháp không
sinh?
Tu
bồ đề đáp: Sắc, tướng sắc không, cho nên sắc không sinh
không thành tựu, cho đến Thật tế cũng như vậy. Nếu Bồ
tát hành được như vậy là thanh tịnh đệ nhất, không trên,
không gì so sánh, tạm gần Trí nhất thiết chủng. Tạm gần
Trí nhất thiết chủng nên tâm không sinh ta kiến phiền não
hý luận, liền được tâm thanh tịnh. Quả báo tâm thanh tịnh
nên được thân thanh tịnh, 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình,
trang nghiêm thân. Ðược ba thứ thanh tịnh nên phá các pháp
chấp thủ tướng hư dối, thọ pháp tánh sanh thân, tức là
thường được hóa sinh, không ở bào thai.
Hỏi:
Nếu có sức như thế, thì cần gì hóa sinh, tham trước thân
mà không thủ chứng Niết bàn?
Ðáp:
Có hai nhân duyên nên chư Phật là báu ở giữa chúng sanh,
vì chúng sanh muốn cúng dường không chán; vì bản nguyện
độ sinh, tịnh Phật độ chưa tròn.
Bồ
tát ấy do lực phương tiện, phước đức nên thường không
xa lìa chư Phật.