Tập
3
Cuốn
44
GIẢI
THÍCH: PHẨM HUYỄN HỌC THỨ 11
( Kinh
Ma ha Bát nhã ghi: Phẩm Huyễn Nhân)
(
Kinh Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Huyễn Dụ thứ 10)
Kinh:
Lúc ấy Tuệ mạng Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức
Thế Tôn, nếu sẽ có người hỏi rằng: Người huyễn học
Bát nhã ba la mật, sẽ được Trí nhất thiết chủng chăng?
Người huyễn học Thiền ba la mật, Tinh tấn ba la mật, Nhẫn
nhục ba la mật, Giới ba la mật, Thí ba la mật, học bốn niệm
xứ cho đến mười tám pháp không chung và Trí nhất thiết
chủng, được Trí nhất thiết chủng chăng? Con sẽ đáp thế
nào?
Phật
bảo Tu bồ đề: Ta lại hỏi ông, tùy ý ông đáp. Tu bồ đề!
Ý ông nghĩ sao? Sắc với huyễn có khác chăng? Thọ, tưởng,
hành, thức với huyễn có khác chăng?
Tu
bồ đề thưa: Thưa không, bạch Thế Tôn!
Phật
dạy: Ý ông nghĩ sao? Mắt với huyễn có khác chăng, cho đến
ý với huyễn có khác chăng? Sắc cho đến pháp với huyễn
có khác chăng? Nhãn giới cho đến ý thức giới với huyễn
có khác chăng? Nhãn xúc cho đến ý xúc, nhãn xúc làm nhân
duyên sinh thọ cho đến ý xúc làm nhân duyên sinh thọ với
huyễn có khác chăng?
Tu
bồ đề thưa: Thưa không, bạch Thế Tôn!
- Ý
ông nghĩ sao? Bốn niệm xứ với huyễn có khác chăng, cho đến
tám Thánh đạo phần với huyễn có
khác chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn!
-
Tu bồ đề! ý ông nghĩ sao? Thí ba la mật với huyễn có khác
chăng, cho đến mười tám pháp không chung với huyễn có khác
chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn!
-
Tu bồ đề! Ý ông nghĩ sao? Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
với huyễn có khác chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn! Vì cớ sao? Vì sắc không khác huyễn,
huyễn không khác sắc, sắc tức là huyễn, huyễn tức là
sắc.
Bạch
Thế Tôn! Thọ, tưởng, hành, thức không khác huyễn, huyễn
không khác thọ, tưởng, hành, thức; thức tức là huyễn,
huyễn tức là thức.
Bạch
Thế Tôn! Mắt không khác huyễn, huyễn không khác mắt, mắt
tức là huyễn, huyễn tức là mắt; nhãn xúc làm nhân duyên
sinh thọ cho đến ý xúc làm nhân duyên sinh thọ cũng như vậy.
Bạch
Thế Tôn! Bốn niệm xứ không khác huyễn, huyễn không khác
bốn niệm xứ; bốn niệm xứ tức là huyễn, huyễn tức là
bốn niệm xứ, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
không khác huyễn, huyễn không khác Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác tức là huyễn,
huyễn tức là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Phật
bảo Tu bồ đề: ý ông nghĩ sao? Huyễn có nhơ có sạch chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn!
-
Tu bồ đề, ý ông nghĩ sao? Huyễn có sinh có diệt chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn!
-
Nếu pháp chẳng sinh chẳng diệt, pháp ấy có thể học Bát
nhã ba la mật, sẽ được Trí nhất thiết chủng chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn!
-
Ý ông nghĩ sao? Năm thọ ấm giả danh là Bồ tát chăng?
-
Ðúng vậy, bạch Thế Tôn!
-
Ý ông nghĩ sao? Năm thọ ấm giả danh có sinh diệt nhơ sạch
chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn!
-
Ý ông nghĩ sao? Nếu pháp chỉ có danh tự, chẳng phải thân,
chẳng phải thân nghiệp, chẳng phải khẩu, chẳng phải khẩu
nghiệp, chẳng phải ý, chẳng phải ý nghiệp, chẳng sinh chẳng
diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, pháp như vậy có thể học Bát
nhã ba la mật, sẽ được Trí nhất thiết chủng chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn!
-
Bồ tát ma ha tát nếu học được Bát nhã ba la mật như vậy,
sẽ được Trí nhất thiết chủng, vì không có gì được.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát ma
ha tát nên học Bát nhã ba la mật như vậy, được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, như người huyễn học, vì cớ sao?
Bạch Thế Tôn! Nên biết năm ấm tức là người huyễn, người
huyễn tức là năm ấm.
Phật
bảo Tu bồ đề: Ý ông nghĩ sao? Năm ấm ấy học Bát nhã
ba la mật, sẽ được Trí nhất thiết chủng chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn! Vì cớ sao? Vì năm ấm ấy tánh không
có gì, tánh không có gì cũng không thể có được.
Phật
bảo Tu bồ đề: Ý ông nghĩ sao? Năm ấm như mộng học Bát
nhã ba la mật, sẽ được Trí nhất thiết chủng chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn! Vì cớ sao? Vì tánh mộng không
có gì, tánh không có gì cũng không thể có được.
-
Ý ông nghĩ sao? Năm ấm như tiếng vang, như bóng, như ráng
nắng, như biến hóa học Bát nhã ba la mật, sẽ được Trí
nhất thiết chủng chăng?
-
Thưa không, bạch Thế Tôn! vì cớ sao? Vì tiếng vang, bóng,
ráng nắng, biến hóa, tánh không có gì, tánh không có gì cũng
không thể có được. Sáu căn cũng như vậy. Bạch Thế Tôn!
Thức cũng là sáu căn, sáu căn tức là năm uẩn. Pháp ấy
vì nội không nên không thể có được, cho đến vì vô pháp
hữu pháp không nên không thể có được.
Luận.
Hỏi: Vì sao Tu bồ đề đem việc ấy hỏi Phật? Nếu có người
hỏi người huyễn học Bát nhã ba la mật được làm Phật
chăng? Phải đáp rằng không được. Vì người huyễn hư dối,
không có gốc, ngọn, việc ấy dễ đáp, sao lại đem hỏi
Phật?
Ðáp:
Vì ở phẩm trên Phật nói nghĩa Không sâu xa cho Xá lợi phất,
Tu bồ đề nghĩ rằng các pháp nhất tướng không có sai biệt,
nếu như vậy người huyễn và Bồ tát thật khôngcó khác
nhau, nhưng Bồ tát tu hành các công đức thì được làm Phật,
còn người huyễn không thật, chỉ gạt mắt người, không
thể làm Phật.
Hỏi:
Người huyễn không thể tu hành công đức, vì không có tâm
thức, làm sao nói tu hành?
Ðáp:
Tuy thật không tu hành, người thấy in tuồng như tu hành, nên
gọi là tu hành. Như người huyễn dùng thức ăn uống, tài
vật, bảy báu, bố thí, xuất gia, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, tọa thiền, thuyết pháp v.v... người vô trí cho đó
là tu hành, không biết là huyễn.
Tu
bồ đề nghĩ rằng: Nếu như Phật nói các pháp nhất tướng,
không có gì, chỉ là hư dối, người huyễn và Bồ tát thật
cho đến Phật không có sai khác. Như người huyễn cũng huyễn
làm Phật, hành sáu Ba la mật, hàng phục ma binh, ngồi đạo
tràng, thành Phật đạo, phóng hào quang, thuyết pháp độ người,
với Bồ tát thực hành thật đạo, được làm Phật, độ
chúng sinh, có gì sai khác?
Phật
dạy: Ta lại hỏi ông, tùy ý ông đáp lời Ta.
Hỏi:
Cớ sao Phật không đáp thẳng, mà lại hỏi Tu bồ đề khiến
tùy ý đáp?
Ðáp:
Tu bồ đề dùng trí tuệ Không, quán ba cõi năm uẩn đều
không, tâm sinh chán lìa, nhưng vì tập khí phiền não nên tuy
biết được tổng tướng các Phật pháp đều không, song còn
có chỗ yêu quí nên không quán xem được Phật pháp như huyễn
không có gì. Vì vậy nên mới dẫn dụ nói: Như ông lấy năm
uẩn Không làm chứng, các Phật pháp cũng vậy: ông quán năm
uẩn thế gian là không. Ta quán Phật pháp cũng vậy. Thế nên
hỏi Tu bồ đề rằng: Ý ông nghĩ sao? Sắc với huyễn khác
nhau chăng? Huyễn với sắc khác nhau chăng? Cho đến tho, tưởng,
hành, thức cũng như vậy, nếu khác thời ông nên hỏi, nếu
không khác thời không nên hỏi như vậy.
Tu
bồ đề thưa: Không khác.
Hỏi:
Nếu sắc không khác huyễn, có thể được, vì người huyễn
có sắc (còn thọ, tưởng, hành, thức không có sắc), cớ
sao nói như huyễn không khác?
Ðáp:
Người huyễn có tướng mừng, vui, lo, khổ: người vô trí
không thấy cho là có thọ, tưởng, hành, thức.
Lại
nữa, Phật nói thí dụ để khiến người biết năm thọ uẩn
hư dối như huyễn; năm thọ uẩn tuy không khác với huyễn,
song Phật muốn khiến hiểu rõ nên nêu làm thí dụ. Chúng
sinh cho huyễn là hư dối, còn năm thọ uẩn tuy có mà không
khác huyễn nên Tu bồ đề một lòng trù lượng, biết năm
uẩn cùng với huyễn không khác, vì cớ sao? Vì như sắc người
huyễn dối gạt mắt thịt, có thể làm cho sinh ra lo, mừng,
khổ, vui; năm thọ uẩn cũng có thể dối gạt mắt tuệ, làm
cho sinh tham dục, sân não, các phiền não v.v... như trò huyễn,
do một ít chú thuật, sự vật, ngôn ngữ làm gốc, có thể
hiện ra các sự vật thành quách, nhà quán v.v... năm thọ uẩn
cũng do một ít vô minh thuật đời trước mà có ra hành, thức,
danh sắc các thứ. Do vậy, nên nói không khác, như người
thấy việc huyễn sinh tâm chấp trước, bỏ phế sự việc
nuôi sống, đến khi huyễn diệt liền sinh hối hận. Năm thọ
uẩn cũng như vậy, do nghiệp đời trước huyễn sinh ra thân
năm uẩn đời nay, hưởng thọ năm dục, sinh tham giận, đến
khi vô thường bại hoại, tâm nói hối hận. Vì sao ta chấp
trước năm uẩn huyễn ấy, để mất thật tướng các pháp?
Phật mở cửa lạc thuyết cho Tu bồ đề nên đáp huyễn với
sắc chẳng khác. Nếu không khác, pháp ấy tức là không, vào
trong pháp chẳng sinh chẳng diệt. Nếu chẳng sinh chẳng diệt,
làm sao tu hành Bát nhã ba la mật được làm Phật? Tu bồ đề
nghĩ rằng: Nếu như vậy, Bồ tát vì cớ gì mỗi mỗi hành
đạo, cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Phật
biết ý của Tu bồ đề, nên liền đáp: Năm uẩn hư dối,
chỉ do giả danh gọi là Bồ tát. Trong giả danh ấy không có
nghiệp, không có nhân duyên nghiệp, không có tâm, không có
tâm số pháp, không nhơ không sạch, vì rốt ráo không. Phật
dạy Bồ tát nên như người huyễn tu hành Bát nhã ba la mật,
thân năm uẩn tức là người huyễn, không khác. Từ nhân duyên
của nghiệp huyễn đời trước, vì từ nghiệp huyễn xuất
sinh, nên thân năm uẩn ấy cũng không thể thành tựu Phật
được, vì sao? Vì bản tánh không có gì. Ngoài ra mộng, biến
hóa, bóng, tiếng vang v.v... cũng như vậy.
Hỏi:
Cớ sao nói thức tức là sáu nhập? Sáu nhập tức là năm
uẩn?
Ðáp:
Thức là chi thứ ba trong mười hai chi nhân duyên, trong ấy
cũng có sắc, cũng có tâm số pháp, vì chưa thành thục nên
gọi là thức. Từ thức sinh sáu nhập, hai thời ấy đều
có năm uẩn. Sắc thành nên gọi là năm nhập, danh thành nên
gọi là ý nhập. Sáu nhập không lìa năm uẩn, vì vậy nói
thức tức là sáu nhập.
Hỏi:
Nếu như vậy thì trong mười hai nhân duyên, mỗi mỗi đều
có năm uẩn, cớ sao nay chỉ nói thức và sáu nhập có năm
uẩn.
Ðáp:
Thức ấy là gốc của thân hiện nay. Chúng sinh phần nhiều
lầm đối với pháp hiện tại. Danh và sắc chưa thành thục,
chưa có công dụng nên không nói, còn sáu nhập thì thọ khổ
vui, sinh ra tội phước nên nói, ngoài mười một nhân duyên
ra, nên nói sáu nhập là năm uẩn.
Lại
nữa, Phật biết sau 500 năm, người học phân biệt pháp tướng
mỗi mỗi khác nhau: Lìa thức nói sắc, lìa sắc nói thức.
Muốn phá các chấp kiến đó, để khiến họ nhập vào lý
rốt ráo không, nên tuy trong thức không có năm nhập mà nói
thức tức là sáu nhập, trong sáu nhập tuy không đủ năm uẩn
mà nói sáu nhập tức là năm uẩn.
Lại
nữa, đời trước chỉ có tâm trụ trong sáu nhập, khởi các
thứ ức tưởng phân biệt nên sinh ra sáu nhập đời nay. Thân
năm uẩn theo thân đời nay khởi ra các kiết sử tạo sáu
nhập năm uẩn đời sau. Cứ triển chuyển như vậy, cho nên
nói thức tức là sáu nhập, sáu nhập tức là năm uẩn. Pháp
ấy trong nội không không thể có được, cho đến trong vô
pháp hữu pháp không không thể có được.
Kinh:
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát
mới phát tâm Ðại thừa, nghe nói Bát nhã ba la mật, sẽ không
kinh, hãi, sợ ư?
Phật
bảo Tu bồ đề: Nếu Bồ tát mới phát tâm Ðại thừa mà
đối với Bát nhã ba la mật không có phương tiện thiện xảo
cũng không gặp thiện tri thức, thời Bồ tát ấy hoặc kinh,
hoặc hãi, hoặc sợ.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là
phương tiện thiện xảo, mà Bồ tát tập hành phương tiện
ấy thì không kinh, không hãi, không sợ?
Phật
bảo Tu bồ đề: Có Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la
mật, tâm tương ưng với Trí nhất thiết chủng, quán sắc
tướng vô thường cũng không thể có được; quán thọ, tưởng,
hành, thức tướng vô thường cũng không thể có được. Tu
bồ đề! Ầy gọi là Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la
mật có phương tiện thiện xảo.
Lại
nữa, Bồ tát ma ha tát tâm tương ưng với Trí nhất thiết
chủng, quán sắc tướng khổ cũng không thể có được; quán
thọ. tưởng, hành, thức tướng khổ cũng như vậy. Tâm tương
ưng với Trí nhất thiết chủng, quán sắc tướng vô ngã cũng
không thể có được; quán thọ, tưởng, hành, thức tướng
vô ngã cũng như vậy.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tâm tương ưng với Trí
nhất thiết chủng, quán sắc tướng không cũng không thể
có được; quán thọ, tưởng, hành, thức tướng không cũng
như vậy. Quán sắc tướng vô tướng cũng không thể có được;
quán thọ, tưởng, hành, thức tướng vô tướng cũng như vậy.
Quán sắc tướng vô tác cũng không thể có được; quán thọ,
tưởng, hành, thức tướng vô tác cũng như vậy. Quán sắc
tướng tịch diệt là không thể có được, cho đến quán
thức tướng tịch diệt cũng như vậy. Quán sắc tướng lìa
cũng không thể có được, cho đến quán thức tướng lìa
cũng như vậy; ấy gọi là Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã
Ba la mật có phương tiện thiện xảo.
Lại
nữa,Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật
quán sắc tướng vô thường cũng không thể có được; quán
sắc tướng khổ, tướng vô ngã, tướng không, tướng vô
tướng, tướng vô tác, tướng tịch diệt, tướng lìa cũng
không thể có được; quán thọ, tưởng, hành, thức cũng như
vậy. Lúc ấy Bồ tát ma ha tát nghĩ rằng: Ta sẽ vì hết thảy
chúng sinh mà nói pháp vô thường cũng không thể có được;
sẽ vì hết thảy chúng sinh mà nói tướng khổ, tướng vô
ngã, tướng không, tướng vô tướng, tướng vô tác, tướng
tịch diệt, tướng lìa cũng không thể có được; ấy gọi
là Bồ tát ma ha tát Bố thí ba la mật.
Lại
nữa, Bồ tát ma ha tát không đem tâm Thanh văn, Bích chi Phật
quán sắc vô thường cũng không thể có được; không đem
tâm Thanh văn, Bích chi Phật quán thức vô thường cũng không
thể có được; không đem tâm Thanh văn, Bích chi Phật quán
sắc khổ, vô ngã, không, vô tướng, vô tác, tịch diệt, lìa
cũng không thể có được; quán thọ, tưởng, hành, thức cũng
như vậy; ấy gọi là Bồ tát ma ha tát tịnh Giới ba la mật.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật,
nghe nói các pháp tướng vô thường cho đến tướng lìa mà
tâm an nhẫn, muốn, vui; ấy gọi là Bồ tát ma ha tát Nhẫn
nhục ba la mật.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật,
tâm tương ưng với Trí nhất thiết chủng, quán sắc tướng
vô thường cũng không thể có được, cho đến tướng lìa
cũng không thể có được. Quán thọ, tưởng, hành, thức cũng
như vậy. Tâm tương ưng với Trí nhất thiết chủng không
bỏ không ngừng; ấy gọi là Bồ tát ma ha tát Tinh tấn ba
la mật.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật,
không khởi ý Thanh văn, Bích chi Phật và các tâm bất thiện;
ấy gọi là Bồ tát ma ha tát Thiền ba la mật.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật,
tư duy như vầy: Không vì không sắc nên sắc không, sắc tức
là không, không tức là sắc; thọ, tưởng, hành, thức cũng
như vậy. Không vì không nhãn nên nhãn không, nhãn tức là
không, không tức là nhãn, cho đến ý xúc làm nhân duyên sinh
thọ, không vì không thọ nên thọ không, thọ tức là không,
không tức là thọ. Không vì không bốn niệm xứ nên bốn
niệm xứ không, bốn niệm xứ tức là không, không tức là
bốn niệm xứ; cho đến không vì không mười tám pháp không
chung nên mười tám pháp không chung không, mười tám pháp không
chung tức là không, không tức là mười tám pháp không chung.
Như vậy, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la
mật không kinh, không hãi, không sợ.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là
Bồ tát ma ha tát được thiện tri thức thủ hộ nên nghe nói
Bát nhã ba la mật mà không kinh, không hãi, không sợ?
Phật
bảo Tu bồ đề: Thiện tri thức của Bồ tát ma ha tát là
người nói sắc vô thường cũng không thể có được, nắm
giữ căn lành ấy, không xu hướng đạo Thanh văn, Bích chi
Phật, chỉ xu hướng Nhất thiết trí; ấy gọi là thiện tri
thức của Bồ tát ma ha tát. Người nói thọ, tưởng, hành,
thức vô thường cũng không thể có được; nắm giữ căn
lành ấy, không xu hướng đạo Thanh văn, Bích chi Phật, chỉ
xu hướng Nhất thiết tri; ấy gọi là thiện tri thức của
Bồ tát ma ha tát.
Tu
bồ đề! Bồ tát ma ha tát còn có thiện tri thức, nói sắc
khổ cũng không thể có được; nói thọ, tưởng, hành, thức
khổ cũng không thể có được; nói sắc vô ngã cũng không
thể có được; nói thọ, tưởng, hành, thức vô ngã cũng
không thể có được; nói sắc không, vô tướng, vô tác, tịch
diệt, lìa cũng không thể có được; nói thọ, tưởng, hành,
thức không, vô tướng, vô tác, tịch diệt, lìa, cũng không
thể có được. Nắm giữ căn lành ấy, không xu hướng đạo
Thanh văn, Bích chi Phật, chỉ xu hướng Nhất thiết trí. Tu
bồ đề! Ấy gọi là thiện tri thức của Bồ tát ma ha tát.
Tu
bồ đề! Bồ tát ma ha tát còn có thiện tri thức nói mắt
vô thường, cho đến mắt lìa cũng không thể có được; cho
đến ý xúc làm nhân duyên sinh thọ, nói là vô thường cho
đến lìa cũng không thể có được. Nắm giữ căn lành ấy,
không xu hướng đạo Thanh văn, Bích chi Phật, chỉ xu hướng
Nhất thiết tri; ấy gọi là thiện tri thức của Bồ tát ma
ha tát.
Tu
bồ đề! Bồ tát ma ha tát còn có thiện tri thức nói tu bốn
niệm xứ cho đến tu bốn niệm xứ lìa, cũng không thể có
được. Nắm giữ căn lành ấy, không xu hướng đạo Thanh
văn, Bích chi Phật, chỉ xu hướng Nhất thiết trí. Tu bồđề!
Ấy gọi là thiện tri thức của Bồ tát ma ha tát, cho đến
thiện tri thức nói tu mười tám pháp không chung, tu Nhất thiết
trí cũng không thể có được. Nắm giữ căn lành ấy, không
xu hướng đạo Thanh văn, Bích chi Phật chỉ xu hướng Nhất
thiết trí; ấy gọi là thiện tri thức của Bồ tát ma ha tát.
Luận.
Hỏi. Cớ sao Tu bồ đề sinh nghi hỏi Phật rằng: Bồ tát
mới phát tâm nghe nói Bát nhã ba la mật, sẽ không kinh, hãi,
sợ?
Ðáp:
Nghe nói không có Bồ tát tu hành Bát nhã ba la mật, nhưng thân
năm uẩn không, cũng không thể tu hành Bát nhã ba la mật, nên
sinh nghi: Ai sẽ tu hành Bát nhã? Thế nên hỏi Phật.
Phật
dạy: Nếu Bồ tát không đầy đủ nhân duyên trong ngoài, sẽ
có sợ hãi. Nhân duyên trong là không có chánh ức niệm, không
có trí tuệ lanh lợi, đối với chúng sinh không có bi tâm
sâu xa, bên trong không có phương tiện như vậy. Nhân duyên
ngoài là không sinh ở trung tâm quốc độ, không được nghe
Bát nhã ba la mật, không gặp thiện tri thức dứt nghi cho,
không có nhân duyên ngoài như vậy. Nhân duyên trong ngoài không
hòa hợp nên sinh kinh, hãi, sợ. Nay Tu bồ đề hỏi phương
tiện ấy, Phật đáp: Tâm tương ưng với Trí nhất thiết
chủng quán các pháp cũng không thủ đắc các pháp.
Hỏi.
Phương tiện có khi quán sắc có các tướng vô thường v.v...
nên không sợ hãi, sao nay chỉ nói tâm tương ưng với Trí
nhất thiết chủng quán các pháp nên không sợ hãi?
Ðáp:
Bồ tát từ trước lại đây chỉ quán các pháp không, tâm
thô nên sinh đắm trước. Nay phân biệt quán, như ý Phật,
đối với chúng sinh khỏi tâm đại bi, không đắm trước
hết thảy pháp, đối với trí tuệ không có gì được, chỉ
muốn độ chúng sinh, dùng vô thường, không, v.v... các thứ
quán các pháp, cũng không thủ đắc pháp ấy. Quán các pháp
như vậy rồi, suy nghĩ rằng: Ta dùng pháp ấy độ chúng sinh,
khiến xa lìa điên đảo. Vì vậy nên tâm không đắm trước,
không thấy có một pháp nhất định; ví như thầy thuốc hòa
hợp các thứ thuốc, người mắc bệnh lạnh thì cho thuốc
nóng, đối với bệnh nóng là chẳng phải thuốc; trong hai
sự bố thí, pháp thí là lớn, ấy gọi là Thí ba la mật.
Năm Ba la mật kia cũng như vậy, tùy theo nghĩa mà phân biệt.
Lại
nữa, phương tiện của Bồ tát là: Chẳng phải vì mười
tám không, nên khiến sắc không, vì cớ sao? Vì không lấy
tướng không cưỡng ép làm cho không. Sắc tức là không, sắc
ấy từ xưa đến nay thường tự không, vì sắc tướng không,
nên không tức là sắc; cho đến các Phật pháp cũng như vậy.
Thiện
tri thức là người dạy người khiến đem trí tuệ ấy hồi
hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Bồ tát trước
đó biết các quán vô thường, không v.v... nay chỉ nói hồi
hướng, là khác.
Kinh:
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Cớ sao Bồ tát ma ha tát tu hành
Bát nhã ba la mật không có phương tiện thiện xảo, theo ác
tri thức nên nghe nói Bát nhã ba la mật thì kinh, hãi, sợ?
Phật
bảo Tu bồ đề: Bồ tát ma ha tát lìa tâm Nhất thiết trí,
tu Bát nhã ba la mật, được Bát nhã ba la mật ấy, nhớ nghĩ
Bát nhã ba la mật ấy, đối với sự tu hành Thiền ba la mật,
Tinh tấn ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tịnh giới ba la mật,
Bố thí ba la mật, đều nhớ nghĩ.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát vì lìa tâm Tát bà nhã,
mà quán sắc nội không, cho đến vô pháp hữu pháp không;
quán thọ, tưởng, hành, thức nội không cho đến vô pháp
hữu pháp không; quán nhãn nội không cho đến vô pháp hữu
pháp không, cho đến quán ý xúc làm nhân duyên sinh thọ, nội
không cho đến vô pháp hữu pháp không, đối với các Không
có chỗ nhớ, có chỗ được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật,
vì lìa tâm Tát bà nhã mà tu bốn niệm xứ, cũng nhớ, cũng
được. Cho đến tu mười tám pháp không chung, cũng nhớ cũng
được. Như vậy, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát
nhã ba la mật vì không có phương tiện thiện xảo, nên nghe
nói Bát nhã ba la mật ấy thì kinh, hãi, sợ.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Cớ sao Bố
tát ma ha tát theo ác tri thức nghe nói Bát nhã ba la mật thì
kinh, hãi, sợ?
Phật
bảo Tu bồ đề! Ác tri thức của Bồ tát ma ha tát dạy xa
lìa Bát nhã ba la mật, Thiền ba la mật, Tinh tấn ba la mật,
Nhẫn nhục ba la mật, Tịnh giới ba la mật, Bố thí ba la mật.
Tu bồ đề! Ấy là ác tri thức của Bồ tát ma ha tát.
Tu
bồ đề! Bồ tát ma ha tát còn có ác tri thức không nói việc
ma, không nói tội của ma, không nói rằng ma hiện làm hình
tượng Phật đi đến dạy Bồ tát xa lìa sáu Ba la mật, mà
nói với Bồ tát rằng: Thiện nam tử tu Bát nhã ba la mật
làm chi! Tu Thiền ba la mật, Tinh tấn ba la mật, Nhẫn nhục
ba la mật, Tịnh giới ba la mật, Bố thí ba la mật làm chi!
Nên biết, đó là ác tri thức của Bồ tát ma ha tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ác ma còn hiện làm hình tượng Phật đi
đến chỗ Bồ tát nói kinh Thanh văn, hoặc Khế kinh ( Sutrra
– Tu đa la, Tu đố lộ) cho đến Luận nghị (Ưu ba đề xá).
Dạy bảo phân biệt diễn nói Kinh như vậy, không nói việc
ma, tội ma, nên biết đó là ác tri thức của Bồ tát ma ha
tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ác ma hiện làm hình tượng Phật đi đến
chỗ Bồ tát nói rằng: Thiện nam tử! Ông không có tâm Bồ
tát chơn thật, cũng chẳng phải địa vị bất thối chuyển,
ông cũng không thể được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Không nói cho biết việc ma, tội ma như vậy, nên biết đó
là ác tri thức của Bồ tát ma ha tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ác ma hiện làm hình tượng Phật đi đến
chỗ Bồ tát, nói với Bồ tát rằng: Thiện nam tử! Sắc không,
vô ngã, vô ngã sở; thọ, tưởng, hành, thức không, vô ngã,
vô ngã sở, nhãn không, vô ngã, vô ngã sở; cho đến ý xúc
làm nhân duyên sinh thọ không, vô ngã, vô ngã sở, Bố thí
ba la mật không, cho đến Bát nhã ba la mật không, bốn niệm
xứ không, cho đến mười tám pháp không chung không, thì ông
dùng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm chi! Việc ma, tội
ma như vậy lại không nói không dạy, nên biết đó là ác
tri thức của Bồ tát ma ha tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ác ma hiện làm thân Bích chi Phật đi đến
chỗ Bồ tát nói với Bồ tát rằng: Thiện nam tử! Mười
phương đều không, trong đó không có Phật, không có Bồ tát,
không có Thanh văn. Việc ma, tội như vậy lại không nói không
dạy, nên biết đó là ác tri thức của Bồ tát ma ha tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ác ma hiện làm thân Hòa thượng, A xà lê,
đi đến chỗ Bồ tát dạy xa lìa đạo Bồ tát, dạy xa lìa
Trí nhất thiết chủng, xa lìa bốn niệm xứ cho đến tám
Thánh đạo phần, dạy xa lìa Bố thí ba la mật cho đến dạy
xa lìa mười tám pháp không chung, dạy tu vào không, vô tướng,
vô tác, nói rằng: Thiện nam tử! Ông tu niệm các pháp ấy
sẽ chứng được Thanh văn chứ dùng Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác làm chi! Việc ma, tội ma như vậy lại không nói
không dạy, nên biết đó là ác tri thức của Bồ tát ma ha
tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ác ma hiện làm hình tượng cha mẹ đi đến
chỗ Bồ tát, nói với Bồ tát rằng: Này con, con nên vì chứng
quả Tu đà hoàn mà siêng tinh tấn, cho đến nên vì chứng
quả A la hán mà siêng tinh tấn, chứ dùng Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác làm chi! Mà cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, để phải chịu sống chết vô số kiếp, cắt tay cắt
chân, chịu đủ các thống khổ! Việc ma, tội ma như vậy
lại không nói không dạy, nên biết đó là ác tri thức của
Bồ tát ma ha tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ác ma hiện làm hình tượng Tỳ kheo đi đến
chỗ Bồ tát, nói với Bồ tát rằng: Con mắt vô thường là
pháp có thật, cho đến ý vô thường là pháp có thật; con
mắt khổ, con mắt vô ngã, con mắt không, vô tướng, vô tác,
tịch diệt, lìa là pháp có thể nói; cho đến ý cũng như
vậy. Dùng pháp có sở đắc để nói bốn niệm xứ, cho đến
dùng pháp có sở đắc để nói mười tám pháp không chung
của Phật. Tu bồ đề! Việc ma, tội ma như vậy, lại không
dạy không nói, nên biết đó là ác tri thức của Bồ tát
ma ha tát, biết rồi nên xa lánh.
Luận.
Trước lược nói không có phương tiện, nay nói rộng không
có phương tiện. Nghĩa là lìa tâm tương ưng với Trí nhất
thiết chủng, tu hành Bát nhã, được định hướng Bát nhã
ba la mật ấy, cho đến các Phật pháp cũng như vậy. Vì tự
mình không có phương tiện lại được ác tri thức dạy vậy.
Lại
nữa, ác tri thức làm mất lợi ích lớn, đủ thứ phá hoại
người, là nhân duyên của đại ác. Phật còn dùng nhiều
nhân duyên nói rõ tướng ác tri thức.
Ác
tri thức là dạy người xa lìa sáu Ba la mật, hoặc dạy xa
lìa, không tin quả báo tội phước; hoặc vì chấp trước
Bát nhã ba la mật nói rằng các pháp rốt ráo không, người
làm sao tu? Hoặc tán thán Tiểu thừa, nói rằng người chỉ
tự do thoát khỏi khổ già bệnh chết, chứ chúng sinh can dự
chi việc ngươi! Có các nhân duyên như vậy dạy người ta
lìa; ấy gọi là ác tri thức.
Lại
nữa, ác tri thức là không dạy cho đệ tử biết ma là
giặc của Phật, ma là chủ cõi Dục, có thế lực lớn, thường
ghét người hành đạo. Phật có oai lực lớn, nên ma không
thể phá hoại, chỉ phá hoại được Bồ tát nhỏ, cho đến
hiện làm hình tượng Phật đi đến phá hoại Bồ tát đang
hành lục độ, Hoặc tán thán, khai mở, luận thuyết theo các
kinh khác của Thanh văn cần phải học. Hoặc hiện làm thân
Phật đến nói với Bồ tát rằng: Ông không thể làm Phật.
Hoặc nói con mắt v.v... hết thảy các pháp không, dùng Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác làm chi! Hoặc hiện làm thân
Bích chi Phật, hoặc nói nhân không của ba thừa trong mười
phương thế giới, người cầu Phật đạo, chỉ có tên suông,
ông tại sao muốn làm Phật! Hoặc dạy khiến xa lìa ba mươi
bảy phẩm đạo của Bồ tát, khiến vào trong ba môn giải
thoát của Thanh văn, ông vào ba môn ấy thật tế chứng ngộ
dứt hết các khổ, ông siêng tinh tấn để chứng được bốn
quả, chứ dùng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm chi!
Hoặc hiện làm Hòa thượng, A xà lê, cha mẹ đi đến dạy
khiến xa lìa Phật đạo, phải luống chịu cắt tay, chân,
tai, mũi đem cho mới cầu được, nếu không cho thời phá hỏng
ý nguyện cầu Phật đạo, nếu cho thời chịu đau khổ. Hoặc
có khi hiện A la hán, Tỳ kheo mặc áo rách đi đến nói con
mắt là không, vô thường, khổ; không, vô thường, vô tác,
tịch diệt, lìa cho đến các Phật pháp cũng như vậy. Chỉ
nói theo lối có sở đắc thủ tướng, ức tưởng phân biệt.
Vô lượng các việc ma như vậy, không dạy cho biết, ấy gọi
là ác tri thức.
Xa
lánh là vì ác tri thức không có lợi ích, như giặc nói lời
dịu ngọt, đến thân cận mà hại người. Ác tri thức còn
quá hơn thế, vì sao? Vì giặc chỉ hại thân trong một đời,
còn ác tri thức thì đời đời hại người; giặc chỉ có
thể hại mạng cướp của, còn ác tri thức thì hại tuệ
mạng căn, cướp vô lượng báu Phật pháp, biết rồi, phải
gấp rút cả thân tâm đều xa lánh.
GIẢI
THÍCH: PHẨM CÚ NGHĨA THỨ 12
(Kinh
Ðại Bát Nhã ghi: Phẩm Thí Dụ)
Kinh:
Bấy giờ Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn!
Thế nào là cú nghĩa Bồ tát?
Phật
bảo Tu bồ đề: Không có cú nghĩa là cú nghĩa Bồ tát, vì
sao? Vì trong Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không có nghĩa
xứ, cũng vô ngã, vì thế không có cú nghĩa là cú nghĩa Bồ
tát. Tu bồ đề! Thí như chim bay giữa hư không không có dấu
chân, cú nghĩa Bồ tát thật không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Thí như việc thấy ở trong mộng không có nơi chốn,
cú nghĩa Bồ tát thật không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Thí như huyễn không có nghĩa thật, như sóng nắng,
như tiếng vang, như bóng, như Phật biến hóa (kinh Ðại Bát
nhã ghi : Phật sắc, thọ, tưởng, hành, thức; Phật sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp v.v... ND), không có thật nghĩa,
cú nghĩa Bồ tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Thí như như, pháp tánh, pháp tướng, pháp vị, thật
tế, không có thật nghĩa, cú nghĩa Bồ tát không có cũng như
vậy.
Tu
bồ đề! Thí như sắc người huyễn không có thật nghĩa;
thọ, tưởng, hành, thức người huyễn không có thật nghĩa.
Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ
tát thật không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Thí như con mắt người huyễn không có thật nghĩa,
cho đến ý không có thật nghĩa.
Tu
bồ đề! Như sắc người không có thật nghĩa cho đến pháp
không có nghĩa; nhãn xúc cho đến ý xúc làm nhân duyên sinh
thọ không có thật nghĩa. Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát
nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ tát thật không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như người huyễn khi tu hành nội không không có
thật nghĩa, cho đến tu hành vô pháp hữu pháp không không
có thật nghĩa. Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật,
cú nghĩa Bồ tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như người huyễn tu bốn niệm xứ cho đến mười
tám pháp không chung không có thật nghĩa. Bồ tát ma ha tát
khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ tát thật không
có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như sắc của Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri không
có thật nghĩa, vì sắc ấy không có. Bồ tát ma ha tát khi
tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ tát không có cũng như
vậy.
Tu
bồ đề! Như thọ, tưởng, hành, thức của Như Lai, Ứng cúng,
Chánh biến tri không có thật nghĩa, vì thức ấy không có.
Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ
tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như mắt Phật không có nơi chốn, cho đến ý không
có nơi chốn; sắc cho đến pháp không có nơi chốn; nhãn xúc
cho đến ý xúc làm nhân duyên sinh thọ không có nơi chốn.
Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ
tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như Phật nội không không có nơi chốn, cho đến
vô pháp hữu pháp không không có nơi chốn. Bồ tát ma ha tát
khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ tát không có cũng
như vậy.
Tu
bồ đề! Như bốn niệm xứ của Phật không có nơi chốn,
cho đến mười tám pháp không chung không có nơi chốn. Bồ
tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ tát
không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như trong hữu vi tánh không có nghĩa vô vi tánh, trong
vô vi tánh không có nghĩa hữu vi tánh. Bồ tát ma ha tát khi
tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ tát không có cũng như
vậy.
Tu
Bồ đề! Như nghĩa bất sinh bất diệt không có nơi chốn.
Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ
tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như chẳng làm, chẳng ra, chẳng được, chẳng nhơ,
chẳng sạch nên không có nơi chốn. Cú nghĩa Bồ tát không
có cũng như vậy.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Pháp gì chẳng sinh chẳng diệt
nên không có nơi chốn? Pháp gì chẳng làm, chẳng ra, chẳng
được, chẳng nhơ, chẳng sạch nên không có nơi chốn?
Phật
bảo Tu bồ đề: Sắc chẳng sinh chẳng diệt nên không có
nơi có chốn; thọ, tưởng, hành, thức chẳng sinh chẳng diệt
nên không có nơi chốn, cho đến chẳng nhơ, chẳng sạch cũng
như vậy.
Mười
hai nhập, mười tám giới chẳng sinh chẳng diệt nên không
có nơi có chốn, cho đến chẳng nhơ, chẳng sạch cũng như
vậy.
Bốn
niệm xứ chẳng sinh chẳng diệt nên không có nơi chốn, cho
đến chẳng nhơ chẳng sạch cũng như vậy; mười tám pháp
không chung chẳng sinh chẳng diệt nên không có nơi có chốn,
cho đến chẳng nhơ chẳng sạch cũng như vậy. Tu bồ đề!
Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ
tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như tịnh nghĩa bốn niệm xứ rốt ráo không thể
có được. Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật,
cú nghĩa Bồ tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như tịnh nghĩa bốn Chánh cần cho đến mười tám
pháp không chung rốt ráo không thể có được. Bồ tát ma ha
tát tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ tát không có cũng
như vậy.
Tu
bồ đề! Như trong tướng tịnh tướng ngã không thể có được,
vì tướng ngã không có; cho đến trong tướng tịnh, tướng
kẻ biết, kẻ thấy không thể có được, vì tướng biết
thấy không có. Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát tu hành Bát nhã
ba la mật, cú nghĩa Bồ tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Thí như khi mặt trời xuất hiện, không có bóng
tối; Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa
Bồ tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Thí như lúc kiếp tận lửa đốt, không còn việc
gì. Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa
Bồ tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Trong tịnh giới uẩn của Phật không có phá giới.
Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật,
cú nghĩa Bồ tất không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như trong định uẩn của Phật không có tâm tán
loạn, trong tuệ uẩn của Phật không có tâm ngu si, trong giải
thoát uẩn của Phật không có không giải thoát, trong giải
thoát tri kiến uẩn của Phật không có không giải thóat tri
kiến. Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la
mật, cú nghĩa Bồ tát không có cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Thí như trong ánh sáng Phật, ánh sáng mặt trời
mặt trăng không hiện, trong ánh sáng Phật ánh sáng của trời
Tứ thiên vương, trời ba mươi ba, trời Dạ ma, trời Ðâu
xuất đà, trời Hóa lạc, trời Tha hóa tự tại, trời Phạm
chúng cho đến trời A ca nị tra không hiện. Tu bồ đề! Bồ
tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật, cú nghĩa Bồ tát không
có cũng như vậy, vì cớ sao? Vì hết thảy pháp Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, Bồ tát, nghĩa Bồ tát, đều chẳng
hợp, chẳng tán, không sắc không hình, không đối ngại, nghĩa
là nhất tướng vô tướng.
Như
vậy, Tu bồ đề! Bổ đề! Bồ tát ma ha tát đối với hết
thảy pháp cần nên học, nên biết.
Luận.
Hỏi. Từ trước lại đây Phật với Tu bồ đề, dùng đủ
thứ nhân duyên phá danh tự Bồ tát, sao nay còn hỏi cú nghĩa
Bồ tát?
Ðáp:
Tu bồ đề phá danh tự Bồ tát, Phật không phá; nói danh tự
Bồ tát từ trước lại đây rốt ráo không, chỉ từ trong
số năm uẩn giả danh là Bồ tát. Song chúng sinh cho giả danh
là thật, nên Phật nói gỉa danh không thật, chỉ từ các
pháp số hòa hợp làm tên gọi.
Lại
nữa, Phật pháp vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn. Tu
bồ đề nhân danh tự Bồ tát không mà nói tướng Bát nhã
ba la mật, nay muốn nghe Phật giảng tự nghĩa Bồ tát, nhân
đó mà nói Bát nhã ba la mật.
Lại
nữa, nhân duyên nên hỏi có vô lượng vô biên, nghĩa là âm
thanh của Phật có sáu mươi thứ trang nghiêm, có thể khiến
cho chư thiên chuyên nghe huống gì người. Chỉ có âm thanh
đủ khiến người ưa nghe huống gì nói đến nghĩa lợi ích
lớn!
Tu
bồ đề theo Phật nghe việc ấy, đối với người chưa phát
tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên khiến họ phát
tâm; người đã phát tâm mà chưa thực hành sáu Ba la mật,
thì khiến họ thực hành; người thực hành mà không thanh
tịnh thì khiến họ thanh tịnh; người thực hành thanh tịnh
thì khiến trú địa vị bất thối; thành tựu chúng sinh, đầy
đủ Phật pháp, cho đến được một đời bổ xứ.
Do
vô lượng nhân duyên lợi ích như vậy, nên Phật dùng Tu bồ
đề làm vấn chủ, để nói với chúng sinh ở tại pháp hội
trong mười phương thế giới. Phật bảo Tu bồ đề: Vô nghĩa
là cú nghĩa Bồ tát, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không
nơi chốn, cũng không ngã không tên, ở trong đó không nơi
nương tựa, tức là pháp không, không ngã danh, không người
đắc đạo. Phật khai thị cho Tu bồ đề: Nếu ông biết không
ta, không của ta, thì chứng A la hán. Bồ tát cũng như vậy,
đối với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không ta, không
của ta, giống như chim bay giữa hư không, không có dấu chân.
Bồ tát nghĩa cũng như vậy, đi giữa các pháp hư không, không
nơi nương tựa trú trước, vì lẽ ấy, nói không có cú nghĩa
Bồ tát.
Hỏi:
Thế nào là Bồ tát cú? Theo ngữ pháp của Thiên Trúc (Ấn
Ðộ), các chữ hợp lại thành lời, các lời hợp lại thành
cú. Như “Bồ” là một chữ, “Ðề” là một chữ, hai
chữ ấy không hợp lại thời không có lời, nếu hợp lại
gọi là “Bồ đề”, Trung Hoa dịch là trí tuệ vô thượng.
“Tát đỏa” hoặc gọi là chúng sinh, hoặc gọi là đại
tâm; vì trí tuệ vô thượng mà phát đại tâm, gọi là Bồ
đề Tát đỏa. Nguyện muốn làm cho chúng sinh thành đạo Vô
thượng, ấy gọi là Bồ đề Tát đỏa.
Lại
nữa, trong phẩm này Phật và đệ tử dùng các nhân duyên
nói nghĩa Bồ tát ma ha tát. Bồ đề một lời, Tát đỏa một
lời, hai lời hợp lại nên gọi là nghĩa. Nếu muốn danh tự,
ngữ cú, thời đều đồng một việc, không nơi chốn. Nay
Tu bồ đề hỏi do pháp có tướng nhất định gì gọi là
cú nghĩa Bồ tát. Thiên Trúc nói “ Ba đà”, Trung Hoa dịch
là “Cú”. Cú ấy có các nghĩa, như trong thí dụ ở sau sẽ
nói.
Hỏi:
Chỉ cần lấy việc chim bay giữa hư không thì cũng đủ chỉ
rõ cú nghĩa,cớ sao phải nói rộng nhiều thứ?
Ðáp:
Chúng sinh nghe lãnh thọ, có nhiều hạng không đồng, có người
ưa nghĩa, có người ưa thí dụ. Thí dụ có thể làm cho hiểu
nghĩa, nhân ví dụ mà sinh tâm ưa thích, nhưoH H người
sinh ra đoan chánh, lại thêm trang sức, càng làm cho rực sáng.
Trong thí dụ này phần nhiều lấy nghĩa để ví dụ nghĩa,
như sau đây nói: Như mộng, như bóng, như tiếng vang, như sóng
nắng, như việc Phật hóa ra, các việc ấy hư dối, như trước
nói. Bồ tát nghĩa cũng như vậy, chỉ có thể tai tiếng, hư
dối không thật, vì thế, Bồ tát không nên tự cao. Các câu
như như, pháp tánh, pháp tướng, thật tế v.v..., không có
nghĩa nhất định, như người huyễn, không có năm uẩn cho
đến các Phật pháp, như năm pháp uẩn của Phật ( Phật do
năm pháp uẩn là giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát
tri kiến hợp thành – ND) cho đến hết thảy pháp; như trong
pháp hữu vi không có pháp vô vi, như trong pháp vô vi không
có pháp hữu vi. Pháp vô vi chẳng sinh chẳng diệt, còn trong
các pháp, không có tướng chẳng sinh chẳng diệt, cũng không
có dị tướng; như ba mươi bảy đạo phẩm không có tướng
thanh tịnh, vì có người đắm ba mươi bảy phẩm pháp ấy,
tức là kiết sử; như ngã cho đến kẻ biết, kẻ thấy không
thể có được tướng thanh tịnh.
Hỏi:
Ngã cho đến kẻ biết, kẻ thấy làm sao tịnh?
Ðáp:
Mỗi mỗi tìm kiếm tướng ngã không thể có được, ấy gọi
là ngã tịnh. Còn trong đệ nhất nghĩa không tịnh, không bất
tịnh, thí như rửa thây chó chết thối, cho đến da lông,
máu thịt, xương tủy đều hết, lúc ấy chẳng phải chó,
chẳng phải heo, không được nói nó tịnh, không được nói
nó bất tịnh. Ngã cho đến kẻ biết, kẻ thấy cũng như vậy.
Lấy trí tuệ vô ngã, không, mà tìm kiếm tướng ngã không
thể có được, lúc ấy chẳng phải hữu ngã, chẳng phải
vô ngã. Như khi mặt trời xuất hiện không có bóng tối, lúc
kiếp tận không có mọi vật; như giới uẩn trong năm pháp
uẩn của Phật, việc phá giới không thể có được, như
ánh sáng mặt trời, mặt trăng, tinh tú, ngọc thật chư thiên,
quỉ thần, rồng chúa v.v... đối với ánh sáng của Phật
thời không hiện được, vì ánh sáng của Phật từ lực đại
phước đức thần thông phát sinh. Cú nghĩa Bồ tát cũng như
vậy, vào trong ánh sáng trí tuệ Bát nhã ba la mật , thời
không hiện.
Nhân
các thí dụ ấy dạy các Bồ tát hãy siêng học hết thảy
pháp, không thủ tướng, vì không sở đắc vậy.
Kinh:
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, những gì
là hết thảy pháp? Tại sao trong hết thảy pháp không có tướng
ngăn ngại, nên học, nên biết?
Phật
bảo Tu Bồ đề: Hết thảy pháp là pháp lành, pháp ký, pháp
vô ký, pháp thế gian, pháp xuất thế gian, pháp hữu lậu,
pháp vô lậu, pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp chung, pháp chẳng
chung. Tu bồ đề! Ấy gọi là thảy pháp. Bồ tát ma ha tát
đối với hết thảy pháp không có tướng ngăn ngại ấy,
nên học, nên biết.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! sao gọi là
pháp lành thế gian?
Phật
bảo Tu bồ đề: Pháp lành thế gian là hiếu thuận cha mẹ,
cúng dường Sa môn, Bà la môn, kính thờ tôn trưởng, bố thí
chỗ có phước, phước nghiệp bố thí, phước nghiệp trì
giới, phước nghiệp tu định, phước nghiệp khuyến đạo,
phương tiện sinh phước đức, mười thiện nghiệp đạo thế
gian, quán chín tướng là tướng phình trướng, tướng máu
chảy, tướng hư hoại, tướng mục nát, tướng bầm xanh,
tướng bị trùng ăn, tướng tan rã, tướng xương trắng, tướng
đốt cháy;bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô
sắc, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm
xả, niệm thiên, niệm điều lành; niệm hơi thở, niệm thân,
niệm chết; đó gọi là pháp lành thế gian.
Những
gì là pháp chẳng lành? Cướp mạng kẻ khác, không cho mà
lấy, tà dâm, nói dối, nói hai lưỡi, nói ác, nói phi thời,
tham dục, não hại, tà kiến, mười bất thiện đạo; ấy
gọi là pháp chẳng lành.
Thế
nào là pháp hữu ký? Hoặc pháp lành hoặc pháp chẳng lành;
ấy là pháp hữu ký.
Những
gì là pháp vô ký? Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp vô
ký, bốn đại vô ký; năm uẩn, mười hai nhập, mười tám
giới vô ký, quả báo vô ký; ấy gọi là phápvô ký.
Những
gì là pháp thế gian? Pháp thế gian là năm uẩn, mười hai
nhập, mười tám giới, mười thiện đạo, bốn thiền, bốn
tâm vô lượng, bốn định vô sắc, ấy gọi là pháp thế
gian.
Những
gì là pháp xuất thế gian? Bốn niệm xứ, bốn Chánh cần,
bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác phần, tám Thánh
đạo, cửa không giải thoát, cửa Vô tướng giải thoát, cửa
Vô tác giải thoát, ba Căn vô lậu là căn chưa biết muốn
biết, căn biết, căn đã biết; ba Tam muội là Tam muội có
giác có quán, Tam muội không giác có quán, Tam muội không giác
không quán, hoặc minh, giải thoát, niệm, tuệ, chánh ức, tám
bội xả. Những gì là tám? Ðó là trong có sắc tướng ngoài
quán sắc, là bội xả đầu; trong không sắc tướng ngoài
quán sắc, là bội xả hai; tịnh bội xả thân tác chứng,
là bội xả ba; vượt qua hết thảy tướng sắc, diệt tướng
hữu đối, không niệm hết thảy dị tướng, vào vô biên
hư không xứ, là bội xả bốn; vượt qua hết thảy vô biên
hư không xứ, vào nhất thiết vô biên thức xứ, là bội xả
năm; vượt qua hết thảy vô biên thức xứ, vào vô sở hữu
xứ, là bội xả sáu; vượt qua hết thảy vô sở hữu xứ,
vào phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, là bội xả bảy; vượt
qua hết thảy phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, vào diệt
thọ tưởng định, là bội xả tám.
Ðịnh
chín thứ lớp là lìa dục lìa pháp ác bất thiện, có giác
có quán, lìa dục sinh hỷ lạc, vào Sơ thiền; diệt các giác
quán bên trong thanh tịnh nên nhất tâm, không giác không quán,
định sinh hỷ lạc, vào Nhị thiền; lìa hỷ nên hành xả,
thọ thân vui, thánh nhân nói được xả được, niệm hành
lạc, vào Tam thiền; dứt hỷ lạc, trước hết diệt ưu khổ,
hành xả không khổ không vui, niệm thanh tịnh, vào Tứ thiền;
vượt qua hết thảy tướng sắc, diệt tướng hữu đối,
không nghĩ đến hết thảy dị tướng, vào vô biên hư không
xứ; vượt qua hết thảy vô biên hư không xứ, vào hết thảy
vô biên thức xứ; vượt qua hết thảy vô biên thức xứ,
vào vô sở hữu xứ; vượt qua hết thảy vô sở hữu xứ,
vào phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ; vượt qua hết thảy
phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ, vào diệt thọ tưởng định.
Lại
có pháp xuất thế gian là nội không cho đến vô pháp hữu
pháp không, mười lực, bốn không sợ, bốn vô ngại, mười
tám pháp không chung, Nhất thiết trí của Phật, ấy gọi là
pháp xuất thế gian.
Những
gì là pháp hữu lậu? Ðó là năm thọ uẩn, mười hai nhập,
mười tám giới, sáu chủng, sáu xúc, sáu thọ, bốn thiền
cho đến bốn định vô sắc, ấy gọi là pháp hữu lậu.
Những
gì là pháp vô lậu? Ðó là bốn niệm xứ cho đến mười
tám pháp không chung và Nhất thiết trí, ấy gọi là pháp vô
lậu.
Những
gì là pháp hữu vi? Ðó là hoặc pháp sinh, trụ, diệt, cõi
Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc, năm uẩn cho đến thọ do ý xúc
làm nhân duyên sinh ra, bốn niệm xứ, cho đến mười tám pháp
không chung, và Nhất thiết trí; ấy gọi là pháp hữu vi.
Những
gì là pháp vô vi? Ðó là pháp chẳng sinh, chẳng trú, chẳng
diệt, hoặc nhiễm hết, sân hết, si hết, như như, bất dị,
pháp tướng, pháp tánh, pháp trụ, thật tế v.v... ấy gọi
là pháp vô vi.
Những
gì là pháp chung? Ðó là bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn
định vô sắc; như vậy gọi là pháp chung.
Những
gì gọi là pháp không chung? Ðó là bốn niệm xứ cho đến
mười tám pháp không chung; ấy là pháp không chung.
Bồ
tát ma ha tát đối với pháp tự tướng không ấy, không nên
chấp trước, không lay động; Bồ tát cũng nên biết hết
thảy pháp không hai tướng, không lay động; ấy gọi là nghĩa
Bồ tát.
Luận.
Hỏi: Cớ sao Tu bồ đề trước hỏi pháp lành thế gian, sau
hỏi pháp xuất thế gian?
Ðáp:
Trước hỏi thô, sau hỏi tế. Trước biết tướng thế gian,
sau mới có thể biết tướng xuất thế gian.
Pháp
lành thế gian là biết có quả báo tội phước, có đời nay
đời sau, có thế gian, có Niết bàn. Có các thánh hiền, Phật
v.v... đời nay đời sau, và chứng thật tướng các pháp; hiếu
thuận cha mẹ cho đến mười niệm và đúng như pháp có được
tài vật cúng dường cung cấp Sa môn, Bà la môn. Sa môn là
người xuất gia cầu đạo. Bà la môn là người học vấn
tại gia.
Hai
hạng người này ở thế gian làm được việc khó làm, lợi
ích chúng sinh, đáng nên cúng dường.
Tôn
trưởng là đối với chú bác, chị, anh, cung kính cúng dường,
đó là cách tu ở nhà. Bố thí, trì giới, tu định, khuyến
đạo, như ở phẩm đầu đã nói.
Phương
tiện sinh phúc đức như là sám hối, tùy hỷ, thỉnh Phật
trụ lâu ở đời không Niết bàn, Chuyển pháp luân, như tuy
tu hành Không, không chấp trước Không, trở lại tu hành các
pháp lành. Do các phương tiện như vậy sinh các phước
đức.
Mười
thiện đạo cho đến bốn địng vô sắc, như trước đã nói.
Trong
mười niệm, tám việc như trướcđã nói.
Niệm
điều lành là tư duy nhân duyên nghiệp lành, chế phục tâm
mình. Lại nữa, Niết bàn là pháp chơn thiện, thường buộc
tâm niệm tưởng Niết bàn, ấy là niệm thiện.
Thân
niệm tức là thân niệm xứ. Trái với pháp lành gọi là pháp
bất thiện.
Pháp
vô ký là tâm oai nghi, tâm công xảo, tâm biến hóa và là khởi
thân nghiệp, khẩu nghiệp; trừ năm uẩn thiện và bất thiện,
ngoài ra năm uẩn khác và hư không vô vi, phi trạch diệt vô
vi v.v...
Pháp
thế gian là năm uẩn hoặc thiện, hoặc bất thiện, hoặc
vô ký; mười hai nhập, tám vô ký có bốn mươi ba loại, mười
tám giới, tám vô ký có mười ba loại. Mười thiện đạo,
bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc, ấy là
pháp lành, người phàm phu có thể thành được.
Lại,
tự không thể ra khỏi thế gian nên gọi là pháp thế gian.
Pháp
xuất thế gian là ba mươi bảy đạo phẩm, ba môn giải thoát,
ba căn vô lậu, ba Tam muội, như trước nói.
Minh
là ba minh, giải thoát là hữu vi giải thoát, vô vi giải thoát.
Niệm
là mười niệm.
Tuệ
là mười trí tuệ.
Chánh
ức là quán theo thật tướng các pháp, như quán theo thân pháp,
gốc của hết thảy pháp lành.
Lại
nữa, tám bội xả, chín định thứ lớp, mười tám không,
mười
lực, bốn vô sở úy, mười tám pháp không chung, như đã nói
rộng ở trước.
Bốn
niệm xứ v.v... ấy, nhất tâm vì đạo vậy.
Lại,
tám bội xả, chín định thứ lớp v.v... phàm phu không thể
chứng được, nên gọi nó là pháp xuất thế gian.
Niệm,
tuệ, chánh ức tuy có có hai thứ là thế gian và xuất thế
gian, trong đây chỉ nói về xuất thế gian.
Pháp
hữu lậu là năm uẩn, bốn thiền, bốn định vô sắc.
Pháp
vô lậu là pháp chẳng phải thế gian, đó là bốn niệm xứ
cho đến mười tám pháp không chung.
Pháp
hữu vi lược nói có ba tướng là sinh, trụ, diệt, ràng buộc
ba cõi và bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung.
Tuy là pháp vô vi, song vì pháp có tạo tác, ấy là pháp hữu
vi. Trái với tướng hữu vi gọi là pháp vô vi.
Lại
nữa, diệt các phiền não ba độc v.v... năm uẩn không còn
thứ lớp nối nhau; như như, pháp tướng, pháp tánh, pháp trụ,
thật tế v.v... ấy gọi là pháp vô vi.
Hỏi:
Sắc như như, sắc không lìa như như, như như không lìa sắc,
sắc là hữu vi, làm sao như như là vô vi được?
Ðáp:
Sắc có hai thứ: 1. Sắc do mắt thịt kẻ phàm phu ức tưởng
phân biệt. 2. Sắc thật tướng do tâm thánh nhân biết được,
như Niết bàn. Sắc của phàm phu biết gọi là sắc, sắc ấy
vào trong như như lại chẳng sinh chẳng diệt. Như pháp hữu
vi tuy là năm uẩn mà có các danh tự là mười hai nhập, mười
tám giới, nhân duyên v.v... Pháp vô vi tuy có ba thứ cũng phân
biệt nhiều danh tự là như như, pháp tướng, pháp tánh, pháp
trụ, thật tế v.v...
Pháp
chung là chỗ sinh, chỗ vào của phàm phu và thánh nhân, vì
chung nên gọi là pháp chung.
Pháp
chẳng chung là bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không
chung. Bồ tát phân biệt biết mỗi mỗi tướng của các pháp,
pháp ấy theo nhân duyên hòa hợp sinh, nên không có tự tánh,
vì không có tự tánh nên tánh không. Bồ tát trú trong pháp
vô chướng ngại ấy không lay động, vì dùng pháp môn bất
nhị nhập má vào hết thảy pháp không lay động vậy.
( Hết
cuốn 44 theo bản Hán)