Tập
3
Cuốn
49
GIẢI
THÍCH: PHẨM PHÁT THÚ THỨ 20
(Kinh
Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Tu Trị Ðịa thứ 18)
KINH:
Phật bảo Tu bồ đề: Ông hỏi thế nào là Bồ tát ma ha tát
thú hướng Ðại thừa ư?
Tu
bồ đề! Nếu Bồ tát ma ha tát khi tu hành sáu Ba la mật, từ
một địa vị đến một địa vị, ấy gọi là Bồ tát ma
ha tát thú hướng Ðại thừa.
Tu
bồ đề bạch Phật: Bạch đức Thế tôn! Thế nào là Bồ
tát ma ha tát từ một địa vị đến một địa vị?
Phật
bảo: Bồ tát ma ha tát biết hết thảy pháp không có tướng
đến đi, cũng không có pháp hoặc đến hoặc đi, hoặc đến
hoặc không đến, vì tướng các pháp chẳng diệt. Bồ
tát ma ha tát ở các địa vị không niệm không suy nghĩ mà
tu trị địa nghiệp, cũng không thấy địa.
Thế
nào là Bồ tát ma ha tát trị địa nghiệp? Bồ tát ma ha tát
lúc trú ở Sơ địa tu mười việc: 1. Thâm tâm kiên cố, vì
là không thể có được. 2. Tâm bình đẳng đối với hết
thảy chúng sinh, vì tướng chúng sinh không thể có được.
3. Tâm xả, vì người cho người nhận không thể có được.
4. Thân cận thiện tri thức, cũng chẳng tự cao. 5. Cầu pháp,
vì hết thảy pháp không thể có được. 6. Thường xuất gia,
vì nhà không thể có được. 7. Thọ vui thân Phật, vì tướng
hảo không thể có được. 8. Diễn xuất pháp giáo, vì các
pháp phân biệt không thể có được. 9. Phá kiêu mạn, vì
sinh tuệ không thể có được. 10. Thật ngữ, vì các ngôn
ngữ không thể có được. Bồ tát ma ha tát trú ở trong Sơ
địa như vậy, tu sửa mười việc trị địa nghiệp.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú ở trong địa thứ
hai, thường niệm tám pháp: 1. Giới thanh tịnh. 2. Biết ân,
báo ân. 3. Trú lực nhẫn nhục. 4. Thọ hoan hỷ. 5. Không bỏ
hết thảy chúng sinh. 6. Vào tâm đại bi. 7. Tin thầy,cung kính
hỏi han, lãnh thọ. 8. Siêng cầu các Ba la mật. Tu bồ đề!
Ấy gọi là Bồ tát ma ha tát trú ở địa thứ hai phải đầy
đủ tám pháp.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú ở địa thứ ba tu
năm pháp: 1. Học hỏi nhiều, không chán đủ. 2. Thí pháp thanh
tịnh, cũng không tự cao. 3. Trang nghiêm Phật quốc độ, cũng
không tự cao. 4. Chịu vô lượng cần khổ ở thế gian không
lấy làm chán. 5. Ở chỗ tàm quý. Tu bồ đề! Ấy gọi là
Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ ba phải đầy đủ năm
pháp.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ tư
phải thọ hành không bỏ mười pháp: 1. Không bỏ trú xứ
A lan nhã (chỗ tịch tịnh) 2. Ít muốn. 3. Biết đủ. 4. Không
bỏ công đức tu hạnh đầu đà. 5. Không bỏ giới. 6. Gớm
ghét các dục. 7. Nhàm chám tâm thế gian. 8. Bỏ tất cả sở
hữu. 9. Tâm không hư mất. 10. Không tiếc hết thảy tài vật.
Tu bồ đề! Ấy gọi là Bồ tát ma ha tát trú ở địa thứ
tư không bỏ mười pháp.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú ở địa thứ năm,
xa lìa mười hai pháp: 1. Xa lìa kẻ bạch y thân thuộc. 2. Xa
lìa Tỳ kheo ni. 3. Xa lìa sự xan tiếc nhà người khác. 4. Xa
lìa đàm thuyết vô ích. 5. Xa lìa giận hờn. 6. Xa lìa tự
đại. 7. Xa lìa miệt thị người. 8. Xa lìa mười nghiệp đạo
bất thiện. 9. Xa lìa đại kiêu mạn. 10. Xa lìa tự ý thọ
dụng. 11. Xa lìa điên đảo. 12. Xa lìa dâm nộ si. Tu bồ đề!
Ấy gọi là Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ năm xa lìa
mười hai việc.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ sáu
nên đầy đủ sáu pháp Ba la mật, lại có sáu pháp không nên
làm: 1. Không khởi ý làm Thanh văn, Bích chi Phật. 2. Bố thí
không nên sinh tâm ưu lo. 3. Thấy có người đến xin tâm không
thối mất. 4, Vật sở hữu đem bố thí. 5. Sau khi bố thí
tâm không ăn năn. 6. Không nghi pháp thâm sâu. Tu bồ đề! Ấy
gọi là Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ 6 nên đầy đủ
sáu pháp, xa lìa sáu pháp.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ bảy
không chấp trước 20 pháp: 1. Không chấp trước ngã. 2. Không
chấp trước chúng sinh. 3. Không chấp trước mạng sống. 4.
Không chấp trước chúng số, cho đến không chấp trước kẻ
biết, kẻ thấy. 5. Không chấp trước đoạn kiến. 6. Không
chấp trước thường kiến. 7. Không nên làm tướng vẽ. 8.
Không nên chấp tác nhân. 9. Không chấp trước danh sắc. 10.
Không chấp trước năm uẩn. 11. Không chấp trước mười tám
giới. 12. Không chấp trước mười hai nhập. 13. Không chấp
trước ba cõi. 14. Không làm chỗ chấp trước. 15. Không làm
chỗ kỳ hạn. 16. Không làm chỗ dựa nương. 17. Không chấp
trước ý kiến nương Phật. 18. Không chấp trước ý kiến
nương Pháp. 19. Không chấp trước ý kiến nương Tăng. 20.
Không chấp trước ý kiến nương Giới; ấy là hai mươi pháp
không nên chấp trước. (Hai mươi thứ không chấp trước này,
ở Kinh Ðại Bát nhã ghi: 1. Xa lìa chấp ngã cho đến chấp
kẻ thấy. 2. Xa lìa chấp đoạn. 3. Xa lìa chấp thường. 4.
Xa lìa chấp tướng. 5. Xa lìa chấp kiến. 6. Xa lìa chấp danh
sắc. 7. Xa lìa chấp uẩn. 8. Xa lìa chấp xứ. 9. Xa lìa chấp
giới. 10. Xa lìa chấp bốn đế. 11. Xa lìa chấp duyên khởi.
12. Xa lìa chấp trú trước ba cõi. 13. Xa lìa chấp hết thảy
pháp. 14. Xa lìa chấp tất cả pháp như lý, không như lý. 15.
Xa lìa chấp nương Phật kiến. 16. Xa lía chấp nương pháp
kiến. 17. Xa lìa chấp nương tăng kiến. 18. Xa lìa chấp nương
giới kiến. 19. Xa lìa chấp nương không kiến. 20. Xa lìa chấp
sự chán sợ không tánh – ND).
Lại
có 20 pháp nên đầy đủ: 1. Ðầy đủ không. 2. Chứng vô
tướng. 3. Biết vô tác. 4. Ba phần thanh tịnh. 5. Ðầy đủ
trí từ bi đối với hết thảy chúng sinh. 6. Không niệm hết
thảy chúng sinh. 7. Bình đẳng quán hết thảy pháp cũng không
đắm trong đó. 8. Biết thật tướng các pháp, việc ấy cũng
không nghĩ. 9. Pháp vô sinh nhẫn. 10. Trí vô sinh. 11. Nói các
pháp một tướng. 12. Phá tướng phân biệt. 13. Chuyển ức
tưởng. 14. Chuyển kiến. 15. Chuyển phiền não. 16. Ðịa bình
đẳng định tuệ. 17. Ðiều ý. 18. Tâm tịch diệt. 19. Trí
thông suốt. 20. Không nhiễm ái. Tu bồ đế! ấy gọi là Bồ
tát ma ha tát trú trong địa thứ bảy nên đầy đủ 20 pháp.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ tám
nên đầy đủ năm pháp, là thuận nhập vào tâm chúng sinh,
dạo chơi các thần thông; xem các nước Phật; như nước Phật
được trông thấy mà tự trang nghiêm nước mình; như thật
quán Phật thân mà tự trang nghiêm Phật thân, ấy gọi là
đầy đủ năm pháp.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ tám
còn phải đầy đủ năm pháp là biết các căn cao thấp; làm
thanh tịnh nước Phật; vào Tam muội như huyễn, thường vào
Tam muội, theo thiện căn ứng hợp của chúng sinh mà thọ thân;
Tu bồ đề, ấy gọi là Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ
tám đầy đủ năm pháp.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ chín
nên đầy đủ mười hai pháp, là lãnh thọ phần hóa độ
trong vô biên thế giới, Bồ tát có được nguyện như vậy
thời biết tiếng nói của trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà
mà vì họ thuyết pháp, ở trong thai thành tựu; sinh thành tựu;
nhà thành tựu; họ thành tựu; quyến thuộc thành tựu; xuất
sinh thành tựu; xuất gia thành tựu; trang nghiêm cây Phật (cây
giác ngộ) thành tựu; hết thảy các công đức lành đầy
đủ thành tựu. Tu bồ đề! Ấy gọi là Bồ tát ma ha tát
trú trong địa thứ chín, nên đầy đủ mười hai pháp.
Tu
bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú trong địa thứ mười, nên
biết giống như Phật.
Bấy
giờ Tuệ mạng Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch Ðức Thế
Tôn! Thế nào là Bồ tát ma ha tát tâm sâu xa tu trị địa
nghiệp?
Phật
dạy: Bồ tát ma ha tát tâm tương ưng với nhất thiết chúng
trí, nhóm các căn lành, ấy gọi là Bồ tát ma ha tát tâm sâu
xa tu trị địa nghiệp.
Thế
nào là Bồ tát có tâm bình đẳng đối với chúng sinh?
Phật
dạy: Nếu Bồ tát ma ha tát tâm tương ưng với Trí nhất thiết
chủng, phát sinh bốn tâm vô lượng là từ, bi, hỷ, xả, ấy
gọi là Bồ tát tâm bình đẳng đối với chúng sinh.
Thế
nào là Bồ tát tu bố thí?
Phật
dạy: Bồ tát thí cho hết thảy chúng sinh không phân biệt,
ấy gọi là tu bố thí.
Thế
nào là Bồ tát thân cận thiện tri thức?
Phật
dạy: Thường dạy trú vào trong Nhất thiết chủng trí, thiện
tri thức như vậy, nên thân cận hỏi han lãnh thọ, cung kính
cúng dường, ấy gọi là thân cận thiện tri thức.
Thế
nào là Bồ tát cầu pháp?
Phật
dạy: Nếu Bồ tát tâm tương ưng với Trí nhất thiết chủng
mà cầu pháp, không rơi vào địa vị Thanh văn, Bích chi Phật,
ấy gọi là cầu pháp.
Thế
nào là Bồ tát thường xuất
gia trị địa nghiệp?
Phật
dạy: Bồ tát đời đời không có tâm hỗn tạp xuất gia trong
Phật pháp, không ai làm chướng ngại được, ấy gọi là
thường xuất gia trị địa nghiệp.
Thế
nào là Bồ tát ưa vui thân Phật trị địa nghiệp?
Phật
dạy: Nếu Bồ tát thấy thân tướng của Phật cho đến khi
chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trọn không lìa niệm
Phật, ấy gọi là Bồ tát ưa vui thân Phật trị địa nghiệp.
Thế
nào là Bồ tát diễn xuất giáo pháp trị địa nghiệp?
Phật
dạy: Bồ tát hoặc lúc Phật còn tại thế, hoặc sau khi diệt
độ, vì chúng sinh thuyết pháp, đoạn đầu, đoạn giữa,
đoạn cuối đều lành, diệu nghĩa khéo nói, thanh tịnh thuần
nhất, đầy đủ đó là Khế kinh cho đến Luận nghị, ấy
gọi là diễn xuất giáo pháp trị địa nghiệp.
Thế
nào là Bồ tát phá kiêu mạn trị địa nghiệp?
Phật
dạy: Bồ tát do phá kiêu mạn nên không sinh vào nhà hạ tiện,
ấy gọi là Bồ tát phá kiêu mạn trị địa nghiệp.
Thế
nào là Bồ tát thật ngữ trị địa nghiệp?
Phật
dạy: Bồ tát làm đúng như nói, ấy gọi là Bồ tát thật
ngữ trị địa nghiệp.
Ấy
là Bồ tát ma ha tát trú trong Sơ địa tu hành mười việc
trị địa nghiệp.
LUẬN:
Luận giả nói: Tu bồ đề trên kia hỏi Ðại thừa, Phật
mỗi mỗi đáp rõ tướng Ðại thừa, trên lại hỏi phát thú
Ðại thừa, nay đây đáp tướng phát thú Ðại thừa. Bồ
tát ma ha tát nương Ðại thừa ấy, biết hết thảy pháp từ
xưa lại đây chẳng đến chẳng đi, không động không phát,
vì pháp tánh thường trú. Lại vì tâm đại bi, vì Tinh tấn
ba la mật, vì lực phương tiện nên lại tu các pháp lành,
lại cầu chỗ cao thắng mà không chấp thủ tướng địa vị,
cũng không thấy địa vị ấy.
Hỏi:
Nên đáp về phát thú Ðại thừa, cớ sao nói phát thú địa.
Ðáp:
Ðại thừa tức là địa, địa có mười phần. Từ Sơ địa
đến Nhị địa gọi là phát thú; ví như cưỡi ngựa đi đến
voi, bỏ ngựa cưỡi voi, cưỡi voi đi đến rồng, bỏ voi cưỡi
rồng (phát thú nghĩa là phát xuất và đi đến- ND).
Hỏi:
Trong đây là mười địa nào?
Ðáp:
Ðịa có hai thứ: 1. Chỉ địa vị Bồ tát. 2. Ðịa vị chung,
địa vị chung là từ Càn tuệ địa cho đến Phật địa.
Chỉ riêng địa vị Bồ tát là Hoan hỷ địa, Ly cấu địa,
Hữu quang địa, Tăng diệu địa, Nan thắng địa, Hiện tại
địa, Thâm nhập địa, Bất động địa, Thiện tướng địa,
Pháp vân địa (Có chỗ ghi: Hoan hỷ địa, Ly cấu địa, Phát
quang địa,Diệm huệ địa, Nan thắng địa, Hiện tiền địa,
Viễn ly địa, Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân
địa – ND). Tướng mười địa này như trong kinh Thập địa
nói rộng.
Bồ
tát vào Sơ địa nên làm mười pháp, từ thâm tâm cho đến
thật ngữ. Tu bồ đề, tuy biết mà vì dứt cái nghi của chúng
sinh nên hỏi Thế Tôn: Thế nào là thâm tâm? Phật đáp: Tâm
tương ưng với Trí nhất thiết chủng, nhóm các căn lành.
Tâm
Trí nhất thiết chủng là Bồ tát ma ha tát ban đầu phát tâm
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nguyện Ta trong đời vị
lai sẽ làm Phật, tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ấy
tức là tâm tương ưng với Trí nhất thiết chủng.
Tương
ưng là buộc tâm, nguyện ta sẽ làm Phật. Nếu Bồ tát lợi
căn, nhóm nhiều phước đức, các phiền não mỏng, tội nghiệp
quá khứ ít. Phát tâm tức thâm tâm. Thâm tâm vui sâu Phật
đạo, đời đời tâm thế gian mỏng, ấy gọi là tâm tương
ưng Trí nhất thiết chủng, làm hết thảy công đức, hoặc
bố thí, hoặc trì giới, hoặc tu định v.v... không cầu phước
lạc đời này đời sau, sống lâu an ổn, chỉ vì Trí nhất
thiết chủng; ví như người xan tham, không có nhân duyên, cho
đến một tiền cũng không thí, tham tiếc tích tụ, chỉ mong
tăng trưởng. Bồ tát cũng như vậy, phước đức hoặc nhiều
hoặc ít, không hướng đến việc khác, chỉ tham tiếc tích
tụ, hướng đến Trí nhất thiết chủng.
Hỏi:
Bồ tát ấy chưa biết Trí nhất thiết chủng, không được
mùi vị của nó, làm sao có thể có được thâm tâm cầu Trí
nhất thiết chủng?
Ðáp:
Tôi trước đã nói. Người ấy nếu lợi căn, các phiền não
mỏng, phước đức thuần hậu, không ưa vui vẻ thế gian,
tuy chưa nghe tán thán Ðại thừa, còn không ưa vui thế gian
huống gì đã nghe. Như Ma ha Ca diếp cưới gái Kim sắc làm
vợ, tâm chẳng ưa vui, xả bỏ xuất gia. Lại như con trưởng
giả Gia xá, nửa đêm trông thấy bọn thể nữ đều giống
như chết, liền bỏ của báu trị giá mười vạn lượng vàng,
đi chân đến bên bờ sông, vượt qua thẳng đến chồ Phật.
Các quốc vương, quý nhân như vậy, người chán bỏ ngũ dục
vô số, huống gì Bồ tát nghe nói mỗi mỗi nhân duyên công
đức Phật đạo, mà không tức thời phát tâm thâm nhập?
Như trong phẩm Tát đà ba luân ở sau, con gái Trưởng giả
nghe tán thán công đức Phật, liền bỏ nhà đi đến chỗ
Ðàm vô kiệt.
Lại
nữa, năm căn tín, tấn v.v... thành tựu thuần thục nên có
thể được thâm tâm ấy, ví như tiểu nhi, năm thức nhãn
nhĩ v.v... vì căn chưa thành tựu nên không phân biệt được
năm trần, không biết tốt xấu. Năm căn tín, tấn v.v... chưa
thành tựu cũng như vậy. Không rõ thiện ác, không biết trói
mở, ưa vui năm dục, chìm trong tà kiến. Năm căn tín tấn
v.v... thành thục thời có thể phân biệt thiện ác. Còn ưa
vui mười thiện đạo, pháp Thanh văn, huống gì đạo Vô thượng
mà không tưởng niệm sâu xa. Bắt đầu phát tâm vô thượng
đạo đã tối thượng ở trong thế gian huống gì khi đã thành
tựu.
Lại
nữa, Bồ tát bắt đầu được mùi vị Bát nhã ba la mật
nên có thể phát sinh thâm tâm; như người bị nhốt ở chỗ
tối, qua khe nhỏ thấy ánh sáng, thời tâm sung sướng nhẩy
nhót, nghĩ rằng: Tất cả mọi người đều chỉ cần thấy
được ánh sáng. Như vậy, hân hoan ưa vui, liền sinh thâm tâm
nhớ tới ánh sáng ấy, tìm cách thoát ra Bồ tát cũng như
vậy, vì nhân duyên nghiệp trước mà bị nhốt trong ngục,
mười hai nhập vô minh tối tăm, có thấy biết gì đều là
hư vọng. Khi nghe Bát nhã ba la mật, được chút mùi vị, nhớ
sâu Trí nhất thiết chủng, rằng ta sẽ làm sao ra khỏi cái
ngục sáu thức này, được giống như Phật, thánh nhân.
Lại
nữa, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tu hành theo
nguyện, vì vậy nên sinh thâm tâm.
Thâm
tâm là ưa các pháp không bằng ưa Trí nhất thiết chủng,
yêu hết thảy chúng sinh không bằng yêu Phật. Lại sâu vào
tâm bi, lợi ích chúng sinh, như vậy gọi là tướng thâm tâm.
Sơ địa Bồ tát nên thường tu hành tâm ấy.
Tâm
bình đẳng đối với hết thảy chúng sinh là Bồ tát được
thâm tâm ấy rồi, tâm bình đẳng đối với hết thảy chúng
sinh, chúng sinh thường tình ưa cái mình thân, ghét cái mình
ghét. Bồ tát được thâm tâm nên người oán kẻ thân bình
đẳng, xem đó không hai. Trong đây Phật tự nói: Ðẳng tâm
là bốn tâm vô lượng. Bồ tát thấy chúng sinh thọ vui, thời
sinh tâm từ, tâm hỷ, nguyện rằng Ta sẽ làm cho hết thảy
chúng sinh đều được cái vui của Phật. Nếu thấy chúng
sinh thọ khổ thời sinh tâm bi thương xót, nguyện rằng Ta
sẽ cứu chúng sinh ra khỏi khổ; nếu thấy chúng sinh thọ
không khổ không vui, thời sinh tâm xả, nguyện rằng Ta sẽ
làm cho chúng sinh bỏ tâm thương ghét. Các nghĩa khác về bốn
tâm vô lượng như trước nói.
Tâm
xả là xả có hai thứ: 1. Xả của, tu bố thí. 2. Xả kiết
sử, đắc đạo. Ðây lấy việc trừ xan lẫn làm xả, làm
nhân duyên cho xả kiết sử, đến địa thứ bảy mới có
thể xả kiết sử.
Hỏi:
Tướng xả có các thứ trong ngoài, nhẹ nặng, tài thí, pháp
thí, thế gian , xuất thế gian v.v... cớ sao Phật chỉ nói
bố thí xuất thế gian không có phân biệt ức tưởng?
Ðáp:
Bố thí tuy có các tướng, nhưng đây chỉ nói đại bố thí
không chấp thủ tướng.
Lại
nữa, Phật không đắm trước hết thảy pháp, cũng lấy đó
dạy Bồ tát bố thí, khiến như Phật pháp không đắm trước.
Trong đây nên nói rộng bố thí không phân biệt, các tướng
bố thí khác đã phân biệt nói ở nhiều nơi.
Nghĩa
thân cận thiện tri thức như
trước đã nói.
Cầu
pháp là pháp có ba: 1. Pháp vô thượng trong các pháp, đó là
Niết bàn. 2. Pháp phương tiện được Niết bàn, đó là tám
Thánh đạo. 3. Tất cả lời nói lành, lời nói chân thật,
giúp tám Thánh đạo là 84.000 pháp tụ, 12 bộ Kinh. Bố tạng
là A hàm, A tỳ đàm, Tỳ ni, Tạp tạng. Các kinh Ðại thừa
như đại Bát nhã ba la mật v.v... đều gọi là pháp. Trong
đây, cầu pháp là viết chép, đọc tụng, ức niệm đúng
đắn, như vậy, vì trị bệnh chúng sinh nhóm các pháp được,
không tiếc thân mạng. Như đức Phật Thích ca Văn, lúc xưa
làm Bồ tát, tên là Lạc Pháp, đời ấy không có Phật, không
được nghe lời nói lành, đi bốn phương cầu pháp, siêng
năng không biếng nhác, trọn không chứng được, khi ấy ma
biến làm người Bà la môn, nói với Bồ tát rằng: Ta có bài
kệ của Phật, ông có thể lấy da làm giấy, lấy xương làm
bút, lấy máu làm mực, ghi chép kệ ấy, ta sẽ nói cho ông.
Bồ
tát liền tự nghĩ: Ta đời đời nát thân vô số mà không
được lợi này, liền tự lột da phơi khô, để chép kệ
ấy. Ma liền biến mất. Khi ấy Phật biết tâm chí thành của
Bồ tát liền từ phương dưới vọt lên, thuyết cho pháp thâm
sâu, Bồ tát liền được vô sinh pháp nhẫn. Lại như Bồ
tát Tát đà ba luân (Thường đề Bồ tát) khổ hạnh cầu
pháp, như Bồ tát Thích ca Văn, trăm cái đinh đóng vào thân,
vì tâm cầu pháp. Lại như vua Kim Kiên khoét thân năm trăm
chỗ làm tim đèn, gieo từ núi cao vào lửa. Như vậy các cách
khổ hạnh khó làm, vì chúng sinh mà cầu pháp.
Lại
nữa, Phật tự nói tướng cầu pháp, vì Trí nhất thiết chủng,
chứ không vì địa vị Thanh văn, Bích chi Phật.
Thường
xuất gia là Bồ tát tại gia có các nhân duyên gây tội, nếu
Ta ở nhà thì tự mình không thể tu hạng thanh tịnh, làm sao
khiến người khác được hạnh thanh tịnh? Nếu theo phép tại
gia thời có những roi gậy làm khổ não chúng sinh, nếu làm
theo pháp lành thời phá phép tại gia. Trù lượng hai việc,
ta nay không xuất gia, thì khi chết cũng phải bỏ hết, xa lìa
bây giờ, phước đức rất lớn.
Lại
nữa, Bồ tát nghĩ rằng hết thảy quốc vương, quí nhân thế
lực như trời, cầu vui chưa thôi thì cái chết đến cướp
ngang! Ta nay vì chúng sinh nên bỏ nhà, giữ giới thanh tịnh,
cầu Phật đạo, đầy đủ nhân duyên Giới ba la mật. Trong
đây Phật tự nói, Bồ tát đời đời không tạp tâm xuất
gia. Không tạp tâm là không xuất gia trong 96 phái ngoại đạo,
chỉ xuất gia trong Phật đạo, vì sao? Vì trong Phật đạo
có hai thứ chánh kiến là thế gian chánh kiến và xuất thế
gian chánh kiến.
Ưa
vui thân Phật là nghe lời tán thán Phật có các công đức
mười lực, bốn điều không sợ, đại từ đại bi, hết
thảy trí tuệ. Lại thấy thân Phật có 32 tướng, 80 vẻ đẹp
tùy hình, phóng hào quang lớn, trời người cúng dường, không
biết chán đủ, tự biết ta trong đời sau cũng sẽ được
như vậy. Giả sử không có được nhân duyên làm Phật mà
còn ưa vui, huống sẽ được mà không ưa vui. Có được thâm
tâm ưa vui Phật ấy nên đời đời thường được gặp Phật.
Diễn
xuất giáo pháp là Bồ tát cầu pháp như trên rồi, vì chúng
sinh mà diễn nói.
Bồ
tát tại gia là phần nhiều đem của bố thí, còn xuất gia
thời tâm ưa Phật nặng nên thường lấy pháp bố thí. Hoặc
Phật ở đời, hoặc không ở đời, khéo tu trì giới, không
cầu danh lợi, tâm bình đẳng vì hết thẩy chúng sinh mà thuyết
pháp, tán thán nghĩa bố thí, gọi là sơ thiện phân biệt;
tán thán trì giới, gọi là trung thiện. Quả báo của hai việc
này là hoặc được sinh vào nước chư Phật hoặc làm trời
lớn, gọi là hậu thiện.
Lại
nữa, thấy chịu thân năm thọ uẩn ở trong ba cõi nhiều khổ
não, thời sinh tâm nhàm chán, gọi là sơ thiện, bỏ nhà xuất
gia, vì thân xa lìa nên gọi là trung thiện; vì tâm xa lìa phiền
não, nên gọi là hậu thiện.
Giải
nói Thanh văn thừa, gọi là sơ thiện; giải thuyết Bích chi
Phật thừa, gọi là trung thiện; tuyên dương Ðại thừa, gọi
là hậu thiện.
Diệu
nghĩa diệu ngữ là ba loại ngôn ngữ, tuy lời diệu mà nghĩa
cạn cợt, hoặc tuy lý thâm diệu mà lời không đầy đủ,
vì vậy nên nói diệu nghĩa diệu ngữ. Lìa ba độc cầu chỉ
nói chánh pháp, không tạp phi pháp, ấy gọi là thanh tịnh.
Ðầy đủ tám Thánh đạo, sáu Ba la mật nên gọi là đầy
đủ.
Tu
đa la, mười hai bộ Kinh như
trước đã nói.
Phá
kiêu mạn là Bồ tát ấy xuất gia, giữ giới, thuyết pháp
dứt nghi cho chúng, hoặc có khi tự thị mà sinh kiêu mạn.
Lúc ấy nên nghĩ rằng, ta cạo tóc mặc Ca sa, bưng bát khất
thực, ấy là phương pháp phá kiêu mạn, tại sao ở đây ta
sinh kiêu mạn?
Lại,
kiêu mạn ấy ở trong tâm người thời che mất công đức,
người ta không ưa, tiếng xấu lan truyền, thân sau thường
sinh vào trong loài súc sinh tệ ác, hoặc sinh trong loài
người quê mùa hà tiện. Biết kiêu mạn có vô lượng tội
lỗi như vậy, phá kiêu mạn ấy vì cầu Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác; như người cầu tài vật còn phải khiêm
tốn hạ mình, huống gì cầu đạo Vô thượng. Do phá kiêu
mạn mà thường sinh chỗ tôn quí, trọn không sinh vào nhà
hà tiện.
Thật
ngữ là gốc của các điều lành, là nhân duyên được sinh
cõi trời, được người tín thọ. Người tu hành thật ngữ,
không cần bố thí, trì giới, học vấn, chỉ tu thật ngữ,
được phước vô lượng. Thật ngữ là làm đúng như nói.
Hỏi:
Khẩu nghiệp có bốn thứ, cớ sao chỉ nói thật ngữ?
Ðáp:
Trong Phật pháp quí sự thật, nên nói thật là thu nhiếp các
điều khác. Bốn đế thật nên được Niết bàn.
Lại
nữa, Bồ tát với chúng sinh cọng sự, nói dữ, nói thêu dệt,
nói hai lưỡi, hoặc có khi có thể có, còn vọng ngữ tội
nặng nên ở Sơ địa phải bỏ. Bồ tát ấy tu hành Sơ địa,
chưa thể đầy đủ tu cả bốn nghiệp miệng, nên chỉ nói
thật ngữ. Trong địa thứ hai thời có thể đầy đủ.
Hỏi:
Trong Sơ địa cớ sao chỉ nói
mười việc?
Ðáp:
Phải là vua pháp, tự tại giữa các pháp, biết mười pháp
ấy thành được Sơ địa; ví như lương y biết rõ dược
thảo số lượng hoặc năm hoặc mười đủ để trừ bệnh,
trong đây không nên nạn hỏi nhiều ít.
KINH:
Thế nào là Bồ tát giới thanh tịnh? Nếu Bồ tát ma ha tát
không có tâm niệm đến Thanh văn, Bích chi Phật và các sự
phá giới chướng Phật đạo pháp, gọi là giới thanh tịnh.
Thế
nào là Bồ tát biết ân, báo ân? Nếu Bồ tát ma ha tát hành
đạo Bồ tát cho đến ân nhỏ còn không quên huống gì ân
nhiều, ấy gọi là Bồ tát biết ân, báo ân.
Thế
nào là Bồ tát trụ ở lực nhẫn nhục? Nếu Bồ tát không
sân không não đối với hết thảy chúng sinh, ấy gọi là
trú ở lực nhẫn nhục.
Thế
nào là Bồ tát thọ hoan hỷ? Thành tựu cho chúng sinh, lấy
đó làm mừng, ấy gọi là thọ hoan hỷ.
Thế
nào là Bồ tát không bỏ hết thảy chúng sinh? Nếu Bồ tát
có tâm niệm muốn giáo hóa tất cả chúng sinh, ấy gọi là
không bỏ hết thảy chúng sinh.
Thế
nào là Bồ tát vào tâm đại bi? Nếu Bồ tát nghĩ như vầy:
Ta vì mỗi mỗi chúng sinh chịu cần khổ trong địa ngục trải
qua nhiều kiếp như cát sông Hằng, cho đến mỗi chúng sinh
ấy được Phật đạo vào Niết bàn, như vậy gọi là vì
mười phương hết thảy chúng sinh nhẫn chịu thống khổ,
ấy gọi là vào tâm đại bi.
Bồ
tát tin thầy, cung kỉnh, hỏi han, lãnh thọ thế nào? Nếu
Bồ tát đối với các thầy tưởng như là Thế Tôn, ấy gọi
là tin thầy, cung kính, hỏi han, lãnh thọ.
Thế
nào là Bồ tát siêng cầu các Ba la mật? Nếu Bồ tát nhất
tâm cầu các Ba la mật không cầu việc khác, ấy gọi là siêng
cầu các Ba la mật; ấy là Bồ tát ma ha tát trú ở địa thứ
hai đầy đủ tám pháp.
Thế
nào là Bồ tát ma ha tát học vấn nhiều không nhàm đủ?
Pháp của chư Phật nói, hoặc nói ở trong thế giới này,
hoặc chư Phật trong mười phương thế giới nói, đều muốn
nghe và thọ trì, ấy gọi là học vấn nhiều không nhàm đủ.
Thế
nào là Bồ tát pháp thí thanh tịnh? Có bố thí pháp cho đến
không cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, huống gì cầu
việc khác, ấy gọi là thí pháp không cầu danh lợi.
Thế
nào là Bồ tát tịnh thế giới Phật? Ðem các căn lành hồi
hướng, tịnh thế giới Phật, ấy gọi là tịnh thế giới
Phật.
Thế
nào là Bồ tát chịu vô lượng cần khổ của thế gian không
lấy làm chán? Nhờ đầy đủ các căn lành nên có thể thành
tựu chúng sinh, cũng trang nghiêm Phật độ, cho đến khi đầy
đủ Trí nhất thiết chủng trọn không mệt chán, ấy gọi
là chịu vô lượng cần khổ không lấy làm chán.
Thế
nào là Bồ tát trú ở chỗ tàm quí? Hổ thẹn ý nghĩ Thanh
văn, Bích chi Phật, ấy gọi là trú ở chỗ tàm quí; ấy gọi
là Bồ tát ma ha tát trú ở trong địa thứ ba đầy đủ năm
pháp.
Thế
nào là Bồ tát không bỏ trú xứ A lan nhã? Hay vượt quá địa
vị Thanh văn, Bích chi Phật, ấy gọi là không bỏ trú
xứ A lan nhã.
Thế
nào là Bồ tát ít muốn? Bồ tát ít muốn là cho đến đối
với Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác còn không muốn, huống
gì thứ khác, ấy gọi là ít muốn.
Thế
nào là Bồ tát biết đủ? Ðược Trí nhất thiết chủng,
ấy gọi là biết đủ.
Thế
nào là Bồ tát không bỏ công đức đầu đa? Quán các pháp
nhẫn thâm sâu, ấy gọi là không bỏ công đức đầu đà.
Thế
nào là Bồ tát không bỏ gìới? Không chấp thủ gìới tướng,
ấy gọi là không bỏ giới.
Thế
nào là Bồ tát gớm ghét các dục? Tâm dục không sinh, ấy
gọi là gớm ghét các dục.
Thế
nào là Bồ tát tâm chán thế gian? Biết hết thảy pháp chẳng
tạo tác, ấy gọi là chán thế gian.
Thế
nào là Bồ tát bỏ tất cả sở hữu? Không tiếc các pháp
trong ngoài, ấy gọi là bỏ tất cả sở hữu.
Thế
nào gọi là Bồ tát tâm không ẩn mất? Hai thứ thức xứ
tâm không sinh, ấy gọi là tâm không ẩn mất.
Thế
nào là Bồ tát không tiếc hết thảy vật? Ðối với hết
thảy vật không đắm không nhớ, ấy gọi là không tiếc hết
thảy vật; ấy là Bồ tát ở trong địa thứ tư không bỏ
mười pháp.
Vì
sao Bồ tát xa lìa hàng bạch y thân thích? Vì Bồ tát tùy chỗ
sinh ra đều muốn xuất gia, từ một cõi Phật đến một cõi
Phật, thường xuất gia, cạo tóc, mặc pháp y, ấy gọi là
xa lìa hàng bạch y thân thích.
Vì
sao Bồ tát xa lìa Tỳ kheo ni? Không ở chung với Tỳ kheo ni,
dù cho trong khoảng khắc cũng không sinh niệm, ấy gọi là
xa lìa Tỳ kheo ni.
Vì
sao Bồ tát xa lìa lẫn tiếc nhà người khác? Bồ tát suy nghĩ
như vầy: Ta nên làm an lạc chúng sinh, nay kia giúp ta an lạc,
cớ sao ta sinh lẫn tiếc? Ấy gọi là xa lìa lẫn tiếc nhà
người khác.
Vì
sao Bồ tát xa kìa đàm thuyết vô ích? Vì nếu có đàm thuyết
thì hoặc sinh tâm Thanh văn, Bích chi Phật, ta nên xa lìa; ấy
gọi là đàm thuyết vô ích.
Vì
sao Bồ tát xa lìa sân hận? Vì Không để cho tâm sân, tâm
não hại, tâm đấu tranh xen vào, ấy gọi là xa lìa sân hận.
Vì
sao Bồ tát xa kìa tự đại (Ðại Bát nhã ghi: Khen mình chê
người – ND) ? Vì không thấy pháp trong, ấy gọi là xa lìa
tự đại.
Vì
sao Bồ tát xa lìa miệt thị người? Vì không thấy pháp ngoài,
ấy gọi là xa lìa miệt thị người.
Vì
sao Bồ tát xa lìa mười bất thiện đạo? Vì mười bất thiện
đạo ấy hay chướng ngại tám Thánh đạo, huống gì Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, ấy gọi là xa lìa mười bất thiện
đạo.
Vì
sao Bồ tát xa lìa đại nạn? Vì Bồ tát không thấy pháp có
thể khởi lên đại nạn (tăng thượng mạn), ấy gọi là
xa lìa đại nạn.
Vì
sao Bồ tát xa kìa tự dụng? Vì Bồ tát không thấy pháp có
thể khởi lên tự dụng, ấy gọi là xa lìa tự dụng (Ðại
Bát nhã ghi: Do dự- ND).
Vì
sao Bồ tát xa lìa điên đảo? Vì chỗ điên đảo không thể
có được, ấy gọi là xa lìa điên đảo.
Vì
sao Bồ tát xa lìa dâm, nộ, si? Vì chỗ dâm, nộ, si không thể
thấy được, ấy gọi là xa lìa dâm, nộ, si; ấy là trú địa
thứ năm xa lìa mười hai pháp.
Bồ
tát trú trong địa thứ sáu đầy đủ sáu pháp đó là sáu
Ba la mật. Chư Phật và Thanh văn, Bích chi Phật trú trong sáu
Ba la mật, có thể qua bờ kia, ấy gọi là đầy đủ sáu pháp.
Vì
sao Bồ tát không tác ý Thanh văn, Bích chi Phật? Vì nghĩ rằng
ý Thanh văn, Bích chi Phật chẳng phải đạo Vô thượng Chánh
đẳng C hánh giác.
Vì
sao Bồ tát bố thí không sinh tâm ưu? Vì nghĩ rằng tâm ấy
chẳng phải đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Vì
sao Bồ tát thấy có người đến xin, tâm không thối mất?
Vì nghĩ rằng tâm ấy chẳng phải đạo Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
Thế
nào là Bồ tát bố thí vật sở hữu? Bồ tát khi mới phát
tâm bố thí, không nói rằng người ấy đáng cho, người ấy
không đáng cho.
Vì
sao Bồ tát sau khi bố thí không hối tiếc? Vì lực từ bi.
Vì
sao Bồ tát không nghi pháp sâu xa? Vì lực công đức của lòng
tin; ấy là Bồ tát trú trong địa thứ sáu xa lìa sáu pháp.
LUẬN:
Luận giả nói:Giới Sơ địa là ở Sơ địa phần nhiều bố
thí, thứ đến biết trì giới hơn bố thí, vì sao? Vì trì
giới thời thu nhiếp hết thảy chúng sinh, bố thí thời không
thể trùm khắp hết thảy, còn trì giới biến khắp vô lượng;
như giới không sát sinh thời là bố thí mạng cho hết thảy
chúng sinh; như chúng sinh vô lượng vô biên thời phước đức
cũng vô lượng vô biên. Lược nói các việc làm phá hoại
Phật đạo, trong đây đều gọi là phá giới. Lìa sự ô cấu
phá giới ấy, gọi là thanh tịnh; cho đến tâm cầu Thanh văn,
Bích chi Phật còn gọi là giới cấu, huống gì các việc ác
khác.
Biết
ân báo ân là, có người nói, ta đời trước có nhân duyên
phước đức nên được, hoặc nói ta tự nhiên tôn quí, ông
có ân gì? Rơi vào tà kiến như vậy, nên Phật nói Bồ tát
nên biết ân. Chúng sinh tuy có nhân vui của đời trước, song
đời nay việc không hòa hợp thời do đâu được vui; ví như
lúa gieo ở đất, không mưa thời không mọc, không thể vì
đất có thể mọc lúa mà nói mưa không có ân; tuy vật được
thọ dụng là đã gieo đời trước, mà người cung phụng với
tâm tốt kính ái, há lại chẳng phải ân sao?
Lại
nữa, biết ân là gốc đại bi, mở cửa ban đầu thiện nghiệp,
được người ái kính, danh dự truyền xa, chết được sinh
cõi trời, cuối cùng thành Phật đạo. Người không biết
ân thì tệ hơn súc sinh. Như Phật nói kinh Bổn sinh rằng:
Có người vào núi đốn cây, mê tối lạc đường, khi ấy
gặp mưa bão, trời tối đói rét, ác trùng thú độc muốn
đến xâm hại. Người ấy đi vào một cái hang đá, trong hang
có một con gấu lớn, người ấy trông thấy khiếp sợ đi
ra. Gấu nói: Ngươi chớ khiếp sợ, nhà này ấm nóng, có thể
ở đêm. Thời gian mưa suốt bảy ngày, gấu thường lấy trái
ngọt nước ngon, cung cấp cho người ấy; bảy ngày ngưng mưa,
gấu đưa người ấy chỉ cho đường đi. Gấu nói với người:
Ta mang thân tội, có nhiều kẻ oan gia, nếu có ai hỏi, chớ
nói thấy ta. Người đáp: Vâng. Người ấy đi tới, gặp các
người thợ săn, thợ săn hỏi: Ông từ đâu đến? Thấy có
bầy thú chăng? Ðáp: Ta thấy một con gấu lớn; gấu ấy có
ân với ta, không được chỉ cho ông. Thợ săn nói: Ông là
người, nên vì cùng loài người thân nhau, cớ sao lại tiếc
thương con gấu. Nay một lần lạc đường, lúc nào trở lại?
Ông chỉ cho tôi, tôi sẽ cho ông nhiều phần! Người ấy đổi
tâm, liền đem thợ săn chỉ chỗ gấu ở. Thợ săn giết gấu,
liền lấy nhiều phần đưa cho. Người ấy ngả tay lấy thịt,
hai khuỷu tay đều bị sa xuống. Thợ săn nói: Ông có tội
gì? Ðáp: Gấu ấy xem ta như cha với con, ta nay bội ân, mắc
phải tội ấy. Thợ săn khiếp sợ, không dám ăn thịt, đem
thí chúng Tăng, bấy giờ vị Thượng tọa là A la hán đủ
sáu thần thông nói với các vị hạ tọa: Ðây là vị Bồ
tát sẽ thành Phật trong đời vị lai, chớ ăn thịt ấy. Liền
dựng tháp cúng dường.
Vua
nghe việc ấy, sắc xuống trong nước: Người không biết ân,
không cho ở đây. Lại dùng các nhân duyên tán thán người
biết ân. Cái nghĩa lý biết ân, ban khắp cõi Diêm phù đề,
người đều tin làm.
Lại
nữa, Bồ tát nghĩ rằng: Nếu người có việc ác đối với
ta, ta còn nên hóa độ, huống gì người đối với ta có ân.
Lực
an trú nhẫn nhục như đã nói rộng trong đoạn Nhẫn ba la
mật.
Hỏi:
Tướng nhẫn nhục có nhiều nhân duyên, sao trong đây chỉ
nói không giận, không não?
Ðáp:
Ðây là thể nhẫn nhục. Trước khởi tâm giận vậy sau thân
miệng mới xúc não người khác. Bồ tát ấy mới bắt đầu
tu nên chỉ nói chúng sinh nhẫn (nhẫn đối chúng sinh) không
nói pháp thân nhân (nhẫn đối với pháp).
Thọ
hoan hỷ là Bồ tát thấy việc trì giới ấy nên thân miệng
thanh tịnh; biết ân và nhẫn nhục nên tâm thanh tịnh; ba nghiệp
thanh tịnh thời tự nhiên sinh hoan hỷ. Ví như người tắm
nước nấu hương thơm, mặc áo mới đẹp, trang nghiêm anh
lạc, tự soi gương, tâm sinh hoan hỷ, Bồ tát cũng như vậy,
được thiện pháp ấy tự trang nghiêm. Giới là căn bản của
thiền định trí tuệ, ta nay được gìới thanh tịnh nên vô
lượng vô biên phước đức đều dễ được, vì vậy tự
mình vui mừng. Bồ tát an trú trong tịnh giới và nhẫn nhục,
giáo hóa chúng sinh, khiến được sinh ở trước Phật nơi
phương khác, lại sinh vào cõi trời cõi người thọ vui, hoặc
khiến Thanh văn, Bích chi Phật thừa. Phật thừa là xem thấy
chúng sinh ưa đắm; như Trưởng giả xem thấy con dại vui đùa
với nhau, cũng cùng vui đùa với nó, rồi lấy một ít vật
lạ cho nó, khiến nó bỏ các thứ ưa đắm. Bồ tát cũng như
vậy, giáo hóa chúng sinh khiến được phước lạc cõi trời
người, dần dần dụ dỗ tiến tới, khiến được ba thừa.
Vì vậy nói là thọ hoan hỷ.
Không
bỏ hết thảy chúng sinh là khéo tu tập tâm đại bi, thệ
độ chúng sinh, phát tâm kiên cố, không bị chư Phật Thánh
hiền khinh cười và sợ phụ lòng chúng sinh nên không bỏ;
ví như trước hứa cho người vật gì, sau nếu không cho, tức
là người có tội dối trá. Vì nhân duyên ấy nên không bỏ
chúng sinh.
Vào
tâm đại bi là như trước nói. Trong đây Phật tự nói: Bản
nguyện đại tâm vì chúng sinh, nghĩa là vì mỗi mỗi người
nên ở trong vô lượng kiếp chịu thay sự khổ địa ngục,
cho đến khiến người ta tập tu công đức để làm Phật,
vào vô dư Niết bàn.
Hỏi:
Không có việc chịu tội thay, cớ sao phát nguyện ấy?
Ðáp:
Ðó là tâm rộng lớn của Bồ tát thương chúng sinh sâu xa,
nếu có lý lẽ thay được thì chịu thay không nghi nan.
Lại
nữa, Bồ tát thấy nhân gian có miếu thờ trời, dùng máu
thịt ngũ tạng của người để tế quỉ thần La sát, có
người chịu thay thế thời được. Bồ tát nghĩ rằng trong
địa ngục, nếu có lẽ thay thế như vậy, thì ta sẽ thay
thế. Chúng sinh nghe Bồ tát có tâm lớn như vậy, thời quí
kính tôn trọng, vì sao? Vì Bồ tát sâu nghĩ đến chúng sinh
hơn mẹ lành.
Tin
thầy, cung kính, hỏi han, lãnh thọ là Bồ tát nhân nơi thầy
mà chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm sao
không tin kính, cúng dường. Thầy tuy trí tuệ cao minh, nếu
không cung kính, cúng dường thời không được lợi lớn; ví
như nước ngon dưới giếng sâu, nếu không có dây gầu thời
do đâu múc được nước? Nếu dẹp bỏ tâm cống cao kiêu
mạn mà tôn trọng kính phục, thời lợi ích lớn, công đức
qui tụ về; ví như mưa xuống, chẳng ở đỉnh núi mà chắc
chắn qui về chỗ thấp. Nếu người có tâm kiêu mạn tự
cao thời nước pháp không vào, nếu cung kính thầy lành, thời
công đức qui tụ về.
Lại
nữa, Phật dạy nương dựa thầy lành thời việc trì giới,
thiền định, trí tuệ, giải thoát đều được tăng trưởng;
ví như cây cỏ nương nơi núi tuyết thời gốc, cành, nhánh,
lá, hoa, quả đều được tươi tốt. Vì vậy Phật dạy đối
với bậc tôn sư hãy kính như kính Phật.
Hỏi:
Ác sư làm sao được cúng dường tín thọ? Thiện sư không
thể xem như Phật, huống gì ác sư? Cớ sao ở trong đây Phật
dạy đối với các tôn sư hãy tưởng như Phật?
Ðáp:
Bồ tát không nên thuận theo pháp thế gian. Thuận theo pháp
thế gian là đối với người thiện tâm ưa đắm, đối với
người ác xa lìa, Bồ tát thời không như vậy. Nếu có ai
mở bày giải thích nghĩa lý thâm sâu, phá tan nghi kiết, đối
với ta có ích, thời tận tâm cung kính, không nhớ các ác
khác, như đãy rách đựng đồ báu, không được vì đãy nhơ
mà không lấy đồ báu kia. lại như đêm đi đường hiểm,
người tồi tệ cầm đưốc, không được vì người tồi
tệ mà không dùng ánh sáng đó. Bồ tát cũng như vậy, nơi
thầy được trí tuệ sáng suốt, không kể thầy tệ ác.
Lại
nữa, đệ tử nên nghĩ rằng: Bồ tát hành Bát nhã ba la mật,
có vô lượng lực phương tiện, không biết cớ sao lại có
việc tệ ác ấy? Như Bồ tát Thường đế (Tát đà ba luân)
nghe trong hư không mười phương Phật dạy rằng: Ngươi đối
với Pháp sư, chớ nên nhớ đến điều thiếu kém của pháp
sư, mà thường nên sinh tâm kính sợ.
Lại
nữa, Bồ tát nghĩ rằng: Pháp sư hay dở, chẳng phải việc
của ta, điều ta cầu là chỉ muốn nghe pháp để tự lợi
ích. Như tượng gỗ, tượng đất, không có công đức thật,
nhưng nhờ nơi tượng mà phát sinh tâm tưởng Phật, được
công đức vô lượng, huống gì người ấy có trí tuệ và
phương tiện có thể vì người giảng nói. Vì vậy, pháp sư
có lỗi, đối với ta không lỗi.
Tưởng
như Thế Tôn là tôi trước nói Bồ tát khác với người đời;
người đời phân biệt tốt xấu, đối với người tốt thì
ưa đắm, mà còn không tưởng họ như Phật; huống nữa là
đối với người xấu thì càng kiêu mạn, không coi họ ra
gì. Bồ tát thời không như vậy, quán các pháp rốt ráo không,
từ xưa lại đây, giống như tướng vô dư Niết bàn, quán
hết thảy chúng sinh xem đó như Phật, huống gì pháp sư có
trí tuệ lợi ích, vì hay làm Phật sự nên xem như Phật.
Siêng
cầu các Ba la mật là Bồ tát nghĩ rằng: Sáu Ba la mật ấy
là nhân duyên của đạo chánh chơn vô thượng, ta hãy nhất
tâm hành nhân duyên ấy, thí như người đi buôn, người làm
ruộng, tùy theo quốc độ thích ứng, cần thiết vật gì và
đất thích hợp giống cây gì, mà siêng năng tìm tòi cho đạt
được, thì không việc gì không thành. Lại như đời nay thực
hành bố thí sau được giàu to, giữ giới sau được tôn quí,
tu thiền định trí tuệ thì đắc đạo. Bồ tát cũng như
vậy, tu sáu Ba la mật thời được thành Phật.
Siêng
cầu là thường nhất tâm siêng cầu sáu Ba la mật, vì cớ
sao? Vì nếu tâm mềm tiến chậm thời bị phiền não che lấp,
ma phá hoại, vì vậy nên Phật dạy ở trong địa thứ hai
siêng cầu chớ giải đãi.
Học
vấn nhiều, không chán đủ là Bồ tát biết học vấn nhiều
là nhân duyên sinh trí tuệ, được trí tuệ thời có thể
phân biệt hành đạo; như người có mắt, đi đến nơi không
ngăn ngại. Thế nên Bồ tát nguyện rằng: Mười phương chư
Phật có nói pháp tôi đều thọ trì, nhờ có Văn trì Ðà
la ni, có lực thiên nhĩ thanh tịnh, có được Ðà la ni không
quên, ví như biển lớn, tiếp thụ giữ gìn được nước
của mười phương dồn lại, Bồ tát cũng như vậy, tiếp
thụ giữ gìn pháp của mười phương Phật nói ra.
Pháp
thí thanh tịnh là như cỏ sinh giữa lúa, trừ cỏ rát thời
lúa tốt. Bồ tát cũng như vậy, lúc thí pháp không cầu danh
lợi, đời sau được quả báo, cho đến vì chúng sinh mà không
cầu Niết bàn Tiểu thừa, chỉ lấy tâm đại bi đối với
chúng sinh, theo Phật chuyển pháp luân. Tướng thí pháp, tướng
trang nghiêm Phật quốc, mà chịu vô lượng cần khổ giữa
thế gian, trú ở chỗ tàm quí, không bỏ chỗ A lan nhã (nơi
nhàn tịnh) ít muốn, biết đủ, tất cả điều như trước
nói.
Hỏi:
Có nhiều nhân duyên ở trong sinh tử không chán, cớ sao trong
đây chỉ nói do hai nhân duyên không chán?
Ðáp:
Vì đầy đủ căn lành nên ở trong sinh tử mà khổ não mỏng
ít, ví như người bị mụn ghẻ, được lương y xức thuốc,
bệnh thuyên giảm. Bồ tát được căn lành thanh tịnh nên
đời nay tâm ưu sầu, tật đố, hung ác đều ngưng dứt; nếu
lại thọ thân, được quả báo của căn lành, tự thọ hưởng
phước lạc và các nhân duyên lợi ích chúng sinh, tùy sở
nguyện của họ, tự thanh tịnh cõi nước, cõi nước trang
nghiêm thanh tịnh hơn cả cung trời, trông không biết chán,
làm vui thích tâm vị đại Bồ tát, huống chi người phàm.
Vì vậy nên tuy có nhiềiu nhân duyên chỉ nói hai việc không
chán.
Tàm
quí tuy có nhiều thứ, ở đây nói thứ lớn là tâm cầu Thanh
văn, Bích chi Phật. Bồ tát phát tâm muốn rộng độ hết
thảy chúng sinh, gặp chút ít khổ não, liền muốn thủ chứng
Niết bàn riêng mình là điều đáng tàm quý; ví như có người
dọn nhiều đồ ăn ngon, mời gọi mọi người, song tâm xen
lẫn khởi lên, liền tự ăn một mình, thật đáng tàm quí.
Không
bỏ trú xứ A lan nhã là lìa chúng ở riêng, hoặc vượt quá
tâm Thanh văn, Bích chi Phật gọi là lìa chúng, vì hết thảy
pháp không, không có sở đắc, không có chấp thủ, không có
đắm tướng, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng
không chấp thủ, vì tâm không có đắm trước. Bồ tát thường
nhóm các công đức không chán đủ, được đạo Vô thượng
mới đủ, vì không còn có pháp gì cao hơn.
Ăn
uống, y phục, ngọa cụ biết đủ là nhân duyên của pháp
lành, không cho là trọng yếu, nên không nói.
Không
bỏ công đức hạng đầu đà là như trong phẩm Giác Ma sau
đây nói: Vô sinh pháp nhẫn, trong đây lấy vô sinh pháp nhẫn
làm hạnh đầu đà. Bồ tát trú ở thuận nhẫn, quán vô sinh
nhẫn. Mười hai hạnh đầu đà vì trì giới thanh tịnh, trì
giới thanh tịnh vì thiền định, thiền định vì trí tuệ;
vô sinh pháp nhẫn tức là chân trí tuệ, vô sinh pháp nhẫn
là quả báo của hạnh đầu đà, vì trong quả nói nhân.
Không
xả giới, không thủ giới tướng là Bồ tát biết thật tướng
các pháp, còn không thấy trì giới, huống gì phá giới. Có
các nhân duyên không phá giới, đây là tối đại vì vào không
giải thoát môn.
Gớm
ghét các dục là như trước nói. Trong đây Phật nói biết
rõ tâm tướng hư vọng không thật, nên cho đến không sinh
tâm dục huống gì thọ dục.
Tâm
chán thế gian là như đã nói ở trong mục Thế gian không thể
có lạc tưởng. Trong đây Phật nói quả báo của tâm nhàm
chán, đó là vô tác giải thoát môn.
Bỏ
hết thảy sở hữu là như trước
nói.
Tâm
không thối mất là trước nói nhiều nhân duyên các việc,
Bồ tát đối với các việc ấy mà không có tướng thối
mất, sợ hãi.
Không
sinh nơi hai thức là, nơi nhãn và sắc không sinh nhãn thức,
cho đến nơi ý và pháp không sinh ý thức. Bồ tát an trù nơi
môn không hai ấy, quán các điều sáu thức biết điều là
hư vọng không thật. Phát thệ nguyện lớn khiến tất cả
chúng sinh trú nơi pháp không hai, lìa sáu thức ấy.
Không
tiếc tất cả vật là trong tất cả vật không tiếc, tuy có
nhiều nhân duyên, mà nhân duyên này rất lớn. Ðó là Bồ
tát biết tất cả pháp rốt ráo không, không ức niệm dứt
hết thảy tướng chấp thủ. Vì vậy nên không cầu ân huệ
nơi người thọ nhận bố thí, trong khi bố thí tâm không tự
cao; như vậy đầy đủ bố Thí ba la mật thanh tịnh.
Xa
lìa hàng bạch y thân thích là hành giả vì sợ làm chướng
ngại đạo nên xuất gia, nếu lại tập gần gũi bạch y thời
không khác gì ở nhà, vì vậy nên hành giả trước cầu độ
mình, vậy sau độ người. Nếu chưa thể độ mình mà muốn
độ người, thì giống như người không , biềt bơi mà muốn
cứu kẻ bị chìm, cả hai đều chìm. Bồ tát xa kìa kẻ bạch
y thân thích thời có thể nhóm các công đức thanh tịnh, sâu
niệm Phật nên biến thân đi đến nước Phật.
Xuất
gia cạo tóc mặc pháp y, vì sao? Vì thường ưa pháp xuất gia,
không ưa tập gần gũi bạch y.
Xa
lìa Tỳ kheo ni là như trong phẩm đầu đà nói.
Hỏi:
Bồ tát tâm bình đẳng xem tất cả chúng sinh, cớ sao không
được ở chung?
Ðáp:
Bồ tát chưa được địa vị bất thối, chưa dứt các lậu
hoặc, nhóm các công đức nên được người ưa đắm, vì
vậy nên không được ở chung. Lại vì xa lìa sự phỉ báng
của người, nếu phỉ báng thời bị đọa địa ngục.
Xa
lìa lẫn tiếc nhà người khác là Bồ tát nghĩ rằng: Ta tự
bỏ nhà còn không tham không tiếc, cớ sao tham tiếc nhà người
khác. Phép của Bồ tát là muốn khiến hết thảy chúng sinh
được vui, người kia giúp cho ta và chúng sinh vui, cớ sao ta
lẫn tiếc. Chúng sinh nhờ phước đức đời trước, đời
nay có ít nhiều công phu nên được cúng dường, cớ sao lẫn
tiếc, ganh tị.
Xa
lìa sự đàm thuyết vô ích là đây tức là nói thêu dệt,
vì việc giải sầu cho tâm mình tâm người, nói việc phép
vua, việc giặc, biển lớn, núi rừng, cỏ thuốc, bảo vật,
quốc độ các phương, những việc như vậy, không có ích
gì cho phước, cho đạo, Bồ tát nên nghĩ đến hết thảy
chúng sinh chìm đắm trong lửa khổ vô thường, ta hãy cứu
vớt, cớ sao ngồi yên nói suông những điều vô ích; như
người bị lửa cháy nổi dậy bốn phía, làm sao ngồi yên
trong đó nói chuyện đâu đâu. Trong đây Phật dạy, nếu nói
Thanh văn, Bích chi Phật còn cho là nói vô ích, huống gì nói
chuyện khác.
Xa
lìa giận hờn là trong tâm mới đầu sinh gọi là giận, vì
chưa quyết định. Tâm giận tăng trưởng, sự việc quyết
định, đánh, chặt, giết hại, đây gọi là tâm não; ác khẩu
chê bai, đây gọi là tâm tranh tụng; nếu giết hại đánh
trói v.v... đây gọi là chiến đấu. Bồ tát vì đại từ
bi nên không sinh các tâm ấy; thường đề phòng các ác tâm
ấy không cho xen vào.
Xa
lìa tự đại khinh miệt người là không thấy pháp trong ngoài,
nghĩa là không thấy năm uẩn chấp thọ, năm uẩn không chấp
thọ.
Xa
lìa mười bất thiện đạo là, Bồ tát quán mười bất thiện
đạo là nhân duyên của các tội lỗi, như trước nói. Trong
đây Phật dạy mười bất thiện đạo còn phá Tiểu thừa,
huống gì Ðại thừa.
Xa
lìa đại mạn là Bồ tát hành mười tám không, không thấy
các pháp có tướng lớn nhỏ nhất định.
Xa
lìa tự dụng là nhổ bảy thứ gốc rễ kiêu mạn, lại sâu
vui thiện pháp.
Xa
lìa điên đảo là trong hết thảy pháp tướng thường, lạc,
ngã, tịnh không thể có được.
Xa
lìa ba độc là, ba độc nghĩa như trước nói: Lại. sở duyên
của ba độc không có tướng nhất định.
Sáu
Ba la mật là như trước nói: Trong đây Phật dạy hàng tam
thừa đều do sáu Ba la mật này mà đến được bờ kia.
Hỏi:
Ðây là ở địa vị Bồ tát, cớ sao nói Thanh văn, Bích chi
Phật do sáu Ba la mật đến được bờ kia?
Ðáp:
Nay Phật nói sáu Ba la mật, có nhiều công năng trong pháp Ðại
thừa, thời hàm thụ cả Tiểu thừa, Tiểu thừa thời không
thể. Bồ tát trú trong địa thứ sáu đầy đủ sáu Ba la mật,
quán hết thảy các pháp không, chưa được lực phương tiện,
sợ đọa vào địa vị Thanh văn, Bích chi Phật, Phật thủ
hộ nên nói không nên sinh tâm Thanh văn, Bích chi Phật. Bồ
tát vì sâu nghĩ đến chúng sinh, vì tâm đại bi, vì hết thảy
các pháp rốt ráo không, nên khi bố thí không tiếc gì, thấy
người đến xin không giận không lo, sau khi bố thí tâm cũng
không hối tiếc; phước đức lớn nên đức tin cũng lớn,
tin kính chư Phật một cách thâm sâu thanh tịnh, đầy đủ
sáu Ba la mật, tuy chưa có lực phương tiện, vô sinh pháp nhẫn,
Ban châu Tam muội, mà đối với pháp thâm sâu cũng không nghi.
Nghĩ rằng: Hết thảy luận nghị đều có lỗi lầm, chỉ
trí tuệ Phật mới diệt các hý luận. Không có khuyến mất;
mà hay dùng phương tiện tu các pháp lành, thế nên không nghi.
(Hết
cuốn 49 theo bản Hán)