Tập
3
Cuốn
50
KINH:
Vì sao Bồ tát không chấp trước ngã? Vì rốt ráo vô ngã.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước chúng sinh, không chấp trước
mạng sống, khơng chấp trước chúng số, cho đến kẻ biết,
kẻ thấy? Vì các pháp rốt ráo không thể có được.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước đoạn kiến? Không có pháp đoạn,
vì các pháp rốt ráo không sinh.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước thường kiến? Vì nếu pháp
không sinh là không có thường.
Vì
sao Bồ tát không nên thủ tướng? Vì không có các phiền não.
Vì
sao Bồ tát không nên chấp tác nhân? Vì các kiến chấp không
thể có được.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước danh sắc? Vì tướng chỗ danh
sắc không có.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước năm uẩn, không chấp trưóc
mười hai nhập, không chấp trước mười tám giới? Vì tánh
các pháp không có.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước ba cõi? Vì tánh ba cõi không
có.
Vì
sao Bồ tát không nên khởi tâm chấp trước? Vì sao Bồ tát
không nên khởi tâm nguyện? Vì sao Bồ tát không nên khởi
tâm nương tựa? Vì các pháp ấy tánh không có.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước nơi ý kiến nương Phật? Vì
khởi ý kiến nương thì không thấy Phật.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước ý kiến nương Pháp? Vì Pháp
không thể thấy.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước ý kiến nương Tăng? Vì Tăng
tướng vô vi không thể nương.
Vì
sao Bồ tát không chấp trước ý kiến nương Giới? Vì tội
vô tội đều không thể chấp trước.
Ấy
là Bồ tát an trụ trong địa thứ bảy có hai mươi pháp không
nên chấp trước.
Vì
sao Bồ tát nên đầy đủ Không? Vì đầy đủ các pháp
tự tướng không.
Vì
sao Bồ tát chứng Vô tướng? Vì không niệm các tướng.
Vì
sao Bồ tát biết vô tác? Vì đối với ba cõi không có
tạo tác.
Vì
sao Bồ tát ba phần thanh tịnh? Vì đầy đủ mười thiện
đạo.
Vì
sao Bồ tát đối với hết thảy chúng sinh, trí tuệ và từ
bi đầy đủ? Vì được tâm đại từ bi.
Vì
sao Bồ tát không niệm hết thảy chúng sinh? Vì thế giới
thanh tịnh đầy đủ.
Vì
sao Bồ tát bình đẳng quán hết thảy pháp? Vì đối với
các pháp không tổn giảm và tăng ích.
Vì
sao Bồ tát biết các pháp thật tướng? Vì thật tướng các
pháp vô tri.
Vì
sao Bồ tát được vô sinh pháp nhẫn? Vì các pháp không sinh
không diệt, không khởi nhẫn.
Vì
sao Bồ tát được vô sinh trí? Vì biết danh và sắc chẳng
sinh.
Vì
sao Bồ tát nói các pháp nhất tướng? Vì nhất tâm không hành
theo hai tướng.
Vì
sao Bồ tát phá tướng phân biệt? Vì hết thảy pháp không
phân biệt.
Vì
sao Bồ tát chuyển ức tưởng? Vì vô tưởng lớn nhỏ đều
chuyển vậy.
Vì
sao Bồ tát chuyển thấy? Vì cái thấy đối với Thanh văn,
Bích chi Phật chuyển.
Vì
sao Bồ tát chuyển phiền não? Vì dứt các phiền não.
Vì
sao Bồ tát được địa vị định tuệ bình đẳng? Vì được
Trí nhất thiết chủng.
Vì
sao Bồ tát điều phục ý? Vì đối với ba cõi không lay động.
Vì
sao Bồ tát tâm tịch diệt? Vì chế phục sáu căn.
Vì
sao Bồ tát được trí vô ngại? Vì được Phật nhãn.
Vì
sao Bồ tát không nhiễm ái? Vì bỏ sáu trần.
Ấy
là Bồ tát trú trong địa thứ bảy đầy đủ hai mươi pháp.
Thế
nào là Bồ tát thuận vào tâm chúng sinh? Là Bồ tát lấy nhất
tâm biết hết thảy tâm tâm số pháp của chúng sinh.
Thế
nào là Bồ tát dạo chơi các thần thông? Là dùng thần thông
ấy đi từ một cõi Phật đến một cõi Phật, cũng không
khởi tưởng cõi Phật.
Thế
nào là Bồ tát quán các cõi Phật? Là tự ở cõi mình thấy
vô lượng cõi Phật, cũng không có tưởng cõi Phật.
Thế
nào là Bồ tát như cõi Phật đã được thấy? Là tự trang
nghiêm cõi mình, ở địa vị Chuyển luân Thánh vương, đi
khắp ba ngàn đại thiên thế giới để tự trang nghiêm.
Thế
nào là Bồ tát như thật quán thân Phật? Là như thật quán
pháp thân.
Ấy
là Bồ tát trú ở địa thứ tám đầy đủ năm pháp.
Thế
nào là Bồ tát biết các căn cao thấp? Bồ tát trú ở mười
lực của Phật, biết cao thấp hạ của tất cả chúng sinh.
Thế
nào là Bồ tát làm thanh tịnh thế giới Phật? Là làm thanh
tịnh chúng sinh vậy.
Thế
nào là Bồ tát như huyễn Tam muội?Là trú ở Tam muội ấy,
thành biện được hết mọi sự, cũng không sinh tâm tướng.
Thế
nào là Bồ tát thường vào Tam muội? Là Bồ tát được Tam
muội quả báo sinh.
Thế
nào là Bồ tát theo thiện căn thích ứng của chúng sinh
mà thọ thân? Là Bồ tát biềt chúng sinh có thiện căn được
sinh phát mà vì họ thọ thân, để thành tựu chúng sinh.
Ấy
là Bồ tát trú ở địa thứ tám đầy đủ năm pháp.
Thế
nào là Bồ tát thọ lãnh phần độ chúng sinh trong vô biên
thế giới? Là Bồ tát độ thoát chúng sinh đáng được độ
trong mười phương vô lượng thế giới như pháp của chư
Phật.
Thế
nào là Bồ tát được như sở nguyện? Là sáu Ba la mật đầy
đủ.
Thế
nào là Bồ tát biết ngôn ngữ của các trời, rồng, Dạ xoa,
Càn thát bà? Là do sức từ vô ngại biện.
Thế
nào là Bồ tát thành tựu thai sinh? Là Bồ tát đời đời
thường hóa sinh.
Thế
nào là Bồ tát thành tựu gia đình?Là Thường sinh vào đại
gia.
Thế
nào là Bồ tát thành tựu nơi sinh? Là Hoặc sinh vào nhà Sát
lợi, hoặc sinh vào nhà Bà la môn.
Thế
nào là Bồ tát thành tựu dòng họ? Là Bồ tát sinh theo dòng
họ đã sinh ra trong quá khứ.
Thế
nào là Bồ tát thành tựu quyến thuộc? Quyến thuộc thuần
là các Ðại Bồ tát.
Thế
nào là Bồ tát thành tựu khi sinh ra? Là khi sinh ra có ánh sáng
chiếu khắp vô lượng vô biên thế gìới, cũng không chấp
thủ tướng ấy.
Thế
nào là Bồ tát thành tựu xuất gia? Là khi xuất gia có vô
lượng trăm ngàn ức chư thiên theo hầu xuất gia, các chúng
sinh ấy chắc chắn đến Tam thừa.
Thế
nào là Bồ tát thành tựu cây Phật trang nghiêm? Là cây Bồ
đề ấy lấy vàng ròng làm gốc, bảy báu làm thân cây, thớ,
cành, lá; ánh sáng của thân cây, thớ, cành, lá chiếu khắp
mười phương vô số ba ngàn đại thiên thế giới.
Thế
nào là Bồ tát thành tựu đầy đủ hết thảy công đức
thiện căn? Là Bồ tát được chúng sinh thanh tịnh, cõi Phật
cũng tịnh.
Ấy
là Bồ tát trú ở địa thứ chín đầy đủ mười hai pháp.
Thế
nào là Bồ tát trú ở địa thứ mười, nên biết Bồ tát
ấy như Phật? Nếu Bồ tát ma ha tát đầy đủ sáu Ba la mật,
bốn chỗ quán niệm, cho đến mười tám pháp không chung, Trí
nhất thiết chủng đầy đủ viên mãn, dứt hết thảy phiền
não và tập khí, ấy là Bồ tát ma ha tát trú ở địa thứ
mười, nên biết Bồ tát ấy như Phật.
Tu
bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú trong mười địa ấy, do sức
phương tiện (vô sở đắc – ND) nên hành sáu Ba la mật, bốn
chỗ quán niệm cho đến mười tám pháp không chung, trải qua
Càn tuệ địa, Tánh địa, Bát nhẫn địa, Kiến địa, Bạt
địa, Ly dục địa, Dĩ tác địa, Bích chi Phật địa, Bồ
tát địa; qua khỏi chín địa ấy, trú ở Phật địa, ấy
là Bồ tát mười địa của Bồ tát.
Như
vậy, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát phát tâm thú hướng Ðại
thừa.
LUẬN:
Luận giả nói: Ngã v.v... hai mươi pháp không thể có được
nên không chấp trước. Lý do không thể có được như trước
đã mỗi mỗi nói.
Chấp
ngã cho đến kẻ biết kẻ thấy, chấp Phật, chấp tăng là
nhiếp vào chúng sinh, các kiến chấp ấy không nên chấp trước.
Còn chấp đoạn, chấp thường cho đến chấp giới, là nhiếp
vào pháp không nên không nên chấp trước.
Hỏi:
Các kiến chấp khác có thể biết, còn kiến chấp về nhân
thế nào?
Ðáp:
Hết thảy pháp hữu vi, triển chuyển làm nhân làm quả. Ðối
với pháp ấy tâm đắm trước thử tướng sinh chấp kiến,
ấy gọi là kiến chấp về nhân. Ðó là chẳng phải nhân
mà nói nhân; hoặc chấp nhân và quả là một, là khác v.v...
Ðầy
đủ không là, nếu Bồ tát tu hành đủ mười tám không ấy
gọi là đầy đủ không.
Lại
nữa, tu hành hai không là chúng sinh không và pháp không, ấy
gọi là đầy đủ không.
Lại
nữa, nếu Bồ tát tu được rốt ráo không mà không đắm
trước rốt ráo không ấy, gọi là đầy đủ không.
Hỏi:
Nếu như vậy, cớ sao trong Kinh trên đây Phật chỉ nói tự
tướng không?
Ðáp:
Ba thứ không là chúng sinh không, pháp không, rốt ráo không,
đều là tự tướng không. Vì Bồ tát trú ở địa thứ sáu
có phước đức nên lợi căn, lợi căn nên phân biệt thủ
tướng các pháp. Vì vậy, ở trong địa thứ bảy lấy tự
tướng không làm đầy đủ không.
Phật
hoặc có khi nói hữu vi không, vô vi không, gọi là đầy đủ
không.
Hoặc
có khi nói “ bất khả đắc không” là đầy đủ không.
Chứng
vô tướng là vô tướng tức Niết bàn, có thể chứng không
thể tu; không thể tu nên không được nói là biết, vì vô
lượng vô biên không thể phân biệt nên không thể là đầy
đủ.
Biết
vô tác là ba việc không, vô tướng, vô tác, tuy đều chung
là biết, song hai việc là không, vô tướng thay đổi nghĩa
mà lập tên là tu không, chứng vô tướng, còn vô tác thời
chỉ có biết tên thôi.
Ba
phần thanh tịnh là mười thiện đạo gồm thân ba, miệng
bốn, ý ba, ấy gọi là ba phần. Giải thoát môn, trên đã
nói nên ở đây không nói lại.
Ba
phần thanh tịnh là hoặc có người nghiệp thân thanh tịnh,
nghiệp miệng không thanh tịnh; nghiệp miệng thanh tịnh, nghiệp
thân không thanh tịnh; hoặc nghiệp thân miệng thanh tịnh,
nghiệp ý không thanh tịnh. Hoặc có thế gian ba nghiệp đều
thanh tịnh mà chưa thể xa lìa chấp trước, còn Bồ tát ấy
ba nghiệp thanh tịnh lại xa lìa chấp trước, ấy gọi là
ba phần thanh tịnh.
Ðầy
đủ trí từ bi đối với chúng sinh là, từ bi có ba là sinh
duyên, pháp duyên, vô duyên. Trong đây nói vô duyên đại bi
gọi là đầy đủ. Nghĩa là pháp không cho đến thật tướng
cũng không, ấy gọi là vô duyên đại bi. Bồ tát sâu vào
thật tướng, vậy sau thương nghĩ đến chúng sinh; thí như
người có một người con, được vật báu tốt, tâm rất
thương tưởng, muốn lấy đem cho.
Không
nghĩ đến hết thảy chúng sinh là vì đầy đủ thế giới
thanh tịnh.
Hỏi:
Nếu không nghĩ đến chúng sinh làm sao có thể làm thanh tịnh
cõi Phật?
Ðáp:
Bồ tát khiến chúng sinh trú ở mười thiện đạo, là trang
nghiêm cõi Phật. Tuy trang nghiêm mà chưa được vô ngại trang
nghiêm. Nay Bồ tát giáo hóa chúng sinh mà không thủ tướng
chúng sinh nên các thiện căn phước đức thanh tịnh, các thiện
căn phước đức thanh tịnh ấy là vô ngại trang nghiêm.
Bình
đẳng quán hết thảy pháp là như đã nói trong phẩm Pháp
đẳng nhẫn. Trong đây Phật tự nói đối với các pháp không
thấy thêm bớt.
Biết
thật tướng các pháp là như trước đã nhiều cách nói rộng.
Vô
sinh pháp nhẫn là đối với thật tướng các pháp không sinh
không diệt, tin thọ thông suốt vô ngại không thối chuyển,
ấy gọi là Vô sinh nhẫn.
Vô
sinh trí là dầu nhẫn sau trí; thô là nhẫn, tế là trí. Ở
đây Phật tự nói trí biết danh và sắc bất sinh.
Nói
các pháp một tướng là Bồ tát biết trong ngoài mười hai
nhập đều là lưới ma, hư dối không thật, sáu thức sinh
từ trong đó cũng là lưới ma, hư dối. Thế nào là thật?
duy pháp không hai, không mắt, không sắc, cho đến không ý
không pháp v.v... ấy gọi là thật. Khiến chúng sinh xa lìa
mười hai nhập nên thường dùng nhiều nhân duyên nói pháp
không hai ấy.
Phá
tướng phân biệt là Bồ tát trú ở trong pháp không hai ấy,
phá các pháp sở duyên phân biệt trai gái, dài ngắn, lớn
nhỏ v.v...
Chuyển
ức tưởng là phá nội tâm ức tưởng phân biệt các pháp.
Chuyển
kiến là Bồ tát trước chuyển các tà kiến, ngã kiến, biên
kiến v.v... vậy sau mới vào đạo. Nay chuyển pháp kiến, Niết
bàn kiến, vì các pháp không có tướng nhất định.
Chuyển
Niết bàn là chuyển Thanh văn, Bích chi Phật kiến mà thẳng
đến Phật đạo.
Chuyển
phiền não là Bồ tát lấy lực phước đức, trì giới, chiết
phục phiền não thô, an ổn hành đạo, chỉ còn có ái, kiến,
mạn vi tế, nay cũng xa lìa phiền não vi tế.
Lại
nữa, Bồ tát dùng trí tuệ thật quán phiền não ấy tức
là thật tướng; ví như người có thần thông, hay chuyển
bất tịnh thành tịnh.
Ðịa
vị định tuệ bình đẳng là Bồ tát ở ba địa đầu tuệ
nhiều định ít, chưa thể nhiếp tâm; ba địa kế tiếp định
nhiều tuệ ít, vì vậy nên không vào được Bồ tát vị.
Nay chúng sinh không, pháp không, định tuệ bình đẳng nên
có thể an ổn hành Bồ tát đạo, từ địa vị bất thối
dần dần đến được địa vị Trí nhất thiết chủng.
Ðiều
ý là Bồ tát trước ức niệm già, bệnh, chết, ba ác đạo,
thương xót chúng sinh nên điều phục tâm ý, khiến biết thật
tướng các pháp, không đắm trước ba cõi, không đắm trước
ba cõi nên tâm ý điều phục.
Tâm
tịch diệt là Bồ tát vì Niết bàn nên đối với năm dục
chiết phục năm thức. Vì ý thức khó chiết phục, nên nay
trú ở địa thứ bảy, ý thức tịch diệt.
Trí
vô ngại là Bồ tát được Bát nhã ba la mật, đối với các
pháp thật chẳng thật, được vô ngại. Ðược đạo tuệ
ấy, đưa hết thảy chúng sinh khiến vào thật pháp, được
giải thoát vô ngại, được Phật nhãn, đối với hết thảy
pháp vô ngại.
Hỏi:
Trong địa thứ bảy cớ sao nói được Phật nhãn?
Ðáp:
Trong ấy hãy học Phật nhãn đối với các pháp vô ngại,
giống như Phật nhãn.
Chẳng
nhiễm ái là Bồ tát tuy trú ở địa thứ bảy được lực
trí tuệ, song còn có nhân duyên đời trước, nên có nhục
thân này. Khi vào thiền định thời không nhiễm đắm, khi
ra thiền định thời có tập khí nhiễm đắm, tùy theo mắt
thịt trông thấy, thấyngười đẹp thì thân ái; hoặc ái
trước tuệ thật pháp của địa thứ bảy, cho nên Phật dạy
hành tâm xả đối với sáu trần, không thủ lấy tướng tốt
xấu (xong Ðịa thứ bảy).
Thuận
vào tâm chúng sinh là Bồ tát ở trong địa thứ tám, quán
thuận theo chỗ tâm xu hướng của chúng sinh, phát động tư
duy, niệm sâu quán thuận, dùng trí tuệ phân biệt biết chúng
sinh ấy vĩnh viễn không có nhân duyên đắc độ, chúng sinh
ấy trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp, sau mới đắc độ,
chúnh sinh ấy trải qua một kiếp, hai kiếp, cho đến muôn
kiếp mới đắc độ; chúng sinh ấy trải một đời, hai đời,
cho đến đắc độ ngay trong đời này; chúng sinh ấy hoặc
tức thời đắc độ, là thuần thục là chưa thuần thục;
người ấy có thể dùng Thanh văn thừa mà độ thoát, người
ấy có thể dùng Bích chi Phật thừa mà độ thoát. Thí như
lương y thăm bệnh, biết sắp lành hoặc có thể trị hoặc
không thể trị.
Xem
các nước Phật là có Bồ tát dùng sức thần thông bay đến
mười phương, xem các thế giới thanh tịnh, thử lấy tướng
ấy muốn tự trang nghiêm nước mình; có Bồ tát được
Phật đem đến mười phương chỉ cho thế giới thanh tịnh,
thủ lấy tướng thế giới thanh tịnh, tự phát nguyện tu
hành, như đức Phật Thế Tự Tại Vương đem Tỳ kheo Pháp
Tích đến mười phương chỉ có thế giới thanh tịnh; hoặc
có Bồ tát tự ở nước mình, dùng thiên nhãn thấy thế giới
thanh tịnh ở mười phương, lúc đầu thủ lấy tướng tịnh,
lúc sau được tâm không nhiễm trước, nên trở lại bỏ.
Tự trang nghiêm nước mình như nước Phật đã được trông
thấy như trước đã nói.
Ðịa
thứ tám này gọi là Chuyển luân địa, giống như Chuyển
luân thánh vương cưỡi xe báu đi đến đâu cũng bị chướng
ngại, không có oán địch, Bồ tát ở trong địa
này,
hay mưa pháp bảo làm mãn nguyện chúng sinh, không có chướng
ngại, cũng hay thủ lấy tướng nước Phật mà tự trang nghiêm
nước mình.
Như
thật quán thân Phật là quán thân chư Phật như huyễn như
hóa, chẳng nhiếp thuộc năm uẩn, mười hai nhập, mười tám
giới, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc ngần ấy sắc theo chỗ
thấy của chúng sinh bởi nghiệp nhân duyên đời trước. Trong
đây Phật tự nói, thấy Pháp thân ấy là thấy Phật. Pháp
thân là pháp bất khả đắc không; pháp bất khả đắc không
là các pháp sinh ra theo bên nhân duyên, không có tự tánh.
Biết
các căn cao thấp là như đã nói trong đoạn mười lực. Bồ
tát trước biết tâm sở hành của hết thảy chúng sinh, ai
thuần thục, ai lanh lợi, ai bố thí nhiều, ai trí tuệ nhiều,
nhân người có nhiều mà độ thoát.
Tịnh
thế giới Phật là, có hai thứ tịnh: Một là Bồ tát tự
tịnh thân mình, hai là tịnh tâm chúng sinh, khiến tu đạo
thanh tịnh. Do nhân duyên kia với ta thanh tịnh nên theo sở
nguyện mà được thế giới thanh tịnh.
Vào
Tam muội như huyễn là như người huyễn thuật ở một chỗ
mà làm, các việc huyễn đầy khắp thế giới, nào bốn thứ
binh chủng, cung điện thành quách, uống ăn ca múa giết chết,
sống, ưu, khổ v.v... Bồ tát cũng như vậy, ở trong Tam muội
này có thể biến hóa ở mười phương thế giới; đầy khắp
trong đó, trước làm bố thí no đủ cho chúng sinh, sau thuyết
pháp giáo hóa; phá hoại ba đường ác, sau mới an lập chúng
sinh nơi ba thừa, tất cả việc có thể lợi ích không việc
gì không thành tựu. Tâm Bồ tát ấy không động, cũng không
thủ lấy tướng của tâm.
Thường
vào Tam muội là Bồ tát được Tam muội như huyễn v.v... Tâm
làm lụng tạo tác nên nay chuyển thân được Báo sinh Tam muội
(Tam muội phát sinh theo quả báo chứ không phải theo sự tu
tập hiện tại – ND); như người thấy sắc, không dùng tâm
lực. Ở trong Tam muội này, độ chúng sinh an ồn, hơn Tam muội
như huyễn, tự nhiên thành việc, không cần làm lụng, như
người cầu tài có khi do sức làm lụng mà được, có khi
tự nhiên được.
Tùy
theo thiện căn thích ứng của chúng sinh mà thọ thân là Bồ
tát được hai thứ Tam muội, hai thứ thần thông, do tu hành
được và do quả báo được, biết dùng thân gì, ngôn ngữ
gì, nhân duyên gì, việc gì, đạo gì, phương tiện gì, để
mà thọ thân, cho đến thọ thân súc sinh để mà hoá độ
(xong Ðịa thứ tám).
Thọ
lãnh phần độ chúng sinh trong vô biên thế giới là sáu nẻo
chúng sinh trong vô lượng vô số mười phương thế giới,
là phần đáng độ mà Bồ tát giáo hóa để độ. Thế giới
có ba loại là tịnh, bất tịnh, lẫn lộn. Chúng sinh trong
ba loại thế giới ấy, hạng đáng được độ có lợi ích,
thời đều thu nhiếp hết. Ví như đốt đèn là vì người
có mắt, chứ không vì người mù. Bồ tát cũng như vậy, hoặc
người trước đã có nhân duyên, hoặc người mới làm nhân
duyên.
Lại
nữa, ba ngàn đại thiên thế giới, gọi là một thế giới,
một thời sinh khởi, một thời hoại diệt. Mười phương
thế giới như hằng hà sa như vậy là một Phật thế giới.
Phật thế giới như vậy, số như hằng hà sa thế giới, là
một biển thế giới Phật. Biển thế giới Phật như vậy,
số như hằng hà sa thế giới mười phương là một Phật
thế giới chủng. Thế giới chủng như vậy, mười phương
vô lượng, ấy gọi là một thế giới Phật. Ðối với hết
thảy thế giới thủ lấy phần như vậy, ấy gọi là phần
chúng sinh được độ của một đức Phật.
Ðược
như sở nguyện là Bồ tát phước đức trí tuệ đầy đủ,
nên không ước nguyện gì không được.Người nghe nói phần
chúng sinh được độ trong vô lượng vô biên thế giới nghi
không thể làm được, thế nên tiềp nói sở nguyện được
như ý. Trong đây Phật tự nói sáu Ba la mật đầy đủ, năm
độ thời phước đức đầy đủ, Bát nhã thời trí tuệ
đầy đủ.
Biết
ngôn ngữ các trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà là như tôi
ở trên kia nói, phước đức trí tuệ đầy đủ, sở nguyện
được như ý. Biết ngôn ngữ của kẻ khác tức là việc
ước nguyện.
Lại
nữa, Bồ tát được trí túc mạng thanh tịnh nên biết được
hết thảy ngôn ngữ ở những nơi sinh ra.
Lại
nữa, dược nguyện trí nên biết tâm của người lập danh,
cưỡng lập danh tự ngữ ngôn.
Lại
nữa, Bồ tát được Tam muội biết ngôn ngữ chúng sinh nên
thông suốt hết thảy ngôn ngữ không trở ngại.
Lại
nữa, tự được bốn trí vô ngại, còn học bốn trí vô ngại
của Phật, vì vậy nên biết ngôn ngữ âm thanh của chúng
sinh.
Ở
thai thành tựu là có người nói Bồ tát cưỡi voi trắng,
có vô lượng chư thiên Ðâu suất vây quanh cung kính cúng dường,
hầu hạ vào thai mẹ; có người nói mẹ Bồ tát được lực
Tam muội như huyễn nên làm cho bụng lớn rộng vô lượng,
hết thảy ba ngàn đại thiên thế giới Bồ tát, trời, rồng,
quỷ, thần đều được vào trong thai. Do nhân duyên nghiệp
phước đức của Bồ tát chiêu cảm nên đã sẵn có cung điện
đài quán, giường tọa trang nghiêm, treo màn rũ phan, rải hoa
đốt hương, vậy sau Bồ tát hạ đến ở đó. Cũng do lực
Tam muội nên xuống vào thai mẹ mà ở trên trời Ðâu suất
vẫn như cũ.
Sinh
thành tựu là Bồ tát khi sắp sinh, chư thiên, rồng, quỉ,
thần, trang nghiêm ba ngàn đại thiên thế giới, lúc ấy có
tòa hoa sen bảy báu, tự nhiên hiện ra. Từ trong thai mẹ có
vô lượng Bồ tát ra trước, ngồi trên hoa sen chấp tay tán
thán, chờ đợi Bồ tát và các trời, rồng, quỷ, thần, thánh,
ngọc nữ v.v... đều chấp tay một lòng mong thấy Bồ tát
sinh, vậy sau Bồ tát mới từ hông bên phải của mẹ sinh
ra, như trăng tròn từ trong mây xuất hiện, phóng hào quang
lớn chiếu vô lượng thế giới. Lúc ấy có tiếng lớn, vang
khắp mười phương thế giới, xướng rằng: Vị Bồ tát ở
nước ấy sinh thân cuối cùng. Hoặc có Bồ tát hóa sinh trong
hoa sen. Trong bốn cách sinh, Bồ tát hoặc thai sinh hoặc hóa
sinh; trong bốn chủng người, Bồ tát sinh vào hai chủng tánh
Sát lợi hoặc Bà la môn, vì sinh vào hai chủng tánh này thì
được mọi người yêu quý.
Nhà
thành tựu là nhà Bà la môn có trí tuệ, nhà Sát lợi có thế
lực. Bà la môn lợi ích đòi sau, Sát lợi lợi ích đời này.
Hai chủng tánh có ích ở đời nên Bồ tát sinh ở trong đó.
Lại
nữa, nhà có các pháp công đức, nghĩa là không thối chuyển,
sinh, ấy gọi là gia sinh thành tựu.
Dòng
họ thành tựu là Bồ tát ở trên trời Ðâu suất xem thế
gian dòng họ nào quý, có thể thu nhiếp chúng sinh, tức sinh
vào nơi dòng họ đó. Như trong bảy đức Phật, ba đức Phật
đầu Tỳ bà thi, Thi khí, Tỳ xá phù sinh trong dòng họ Kiều
trần như; ba đức Phật kế tiếp Câu lưu tôn, Câu na hàm
Mâu ni, Ca diếp sinh trong dòng họ Ca diếp. Còn đức Phật
Thích ca Mâu ni sinh trong dòng họ Kiều đàm.
Lại
nữa, Bồ tát ban đầu tâm sâu xa bền chắc, ấy gọi là dòng
họ của chư Phật. Có người nói: Ðược vô sinh pháp nhẫn,
ầy là dòng họ của chư Phật; lúc ấy được khí phần Trí
nhất thiết chủng của Phật, như hạng người tánh địa
trong pháp Thanh văn.
Quyến
thuộc thành tựu là đều thuần người trí, người lành,
đời đời nhóm công đức. Trong đây Phật tự nói thuần
lấy Bồ tát làm quyến thuộc, như trong Kinh Bất khả tư nghì
nói Cù tỳ gia là đại Bồ tát. Tất cả quyến thuộc đều
là Bồ tát ở địa vị bất thối chuyển. Dùng lực Tam muội
phương tiện biến hóa làm nam làm nữ, chung làm quyến thuộc.
Như Cư sĩ bảo của Chuyển luân Thánh vương, là những Dạ
xoa, quỷ thần hiện làm thân người, cọng sự với người.
Xuất
gia thành tựu là như Bồ tát Thích ca Văn đang đêm ở cung
điện thấy các thể nữ, đều giống như chết; chư thiên
quỷ thần mười phương, cầm đồ phan hoa cúng dường, phụng
rước Bồ tát đi ra. Lúc ấy, tuy Xa nặc trước lãnh sắc
lệnh vua Tịnh phạn, nhưng lại theo ý Bồ tát, tự dắt ngựa
đến, sứ giả bốn thiên vương tiếp đỡ chân ngựa, vượt
thành đi ra, vì để phá các phiền não, ma nhân nên chỉ cho
mọi người thấy sự uế tạp tại gia rằng: Hạng người
đại công đức quí trọng như thế mà còn xuất gia, huống
gì hạng người phàm tiểu. Có các nhân duyên như vậy gọi
là xuất gia thành tựu.
Trang
nghiêm cây Phật thành tựu là trang nghiêm cây Bồ đề như
trước nói. Trong đây Phật tự nói, cây Bồ đề ấy lấy
huỳnh kim làm gốc, bảy báu làm thân, thớ, cành, lá; ánh
sáng của thân cây, thớ, cành. lá chiếu khắp mười phương
vô lượng vô số thế giới Phật. Hoặc có đức Phật, lấy
bảy báu của Bồ tát trang nghiêm cây Phật, hoặc cò vị không
như vậy, vì cớ sao? Vì thần lực của chư Phật không thể
nghĩ bàn; vì chúng sinh nên hiện các thứ trang nghiêm.
Hết
thảy các thiện căn công đức đầy đủ là Bồ tát ở trong
địa thứ bảy phá các phiền não, lợi mình đầy đủ, vào
ở địa thứ tám, địa thứ chín, lợi ích người khác, nghĩa
là giáo hóa chúng sinh, thanh tịnh cõi Phật. Lợi mình lợi
người sâu xa rộng lớn, nên hết thảy công đức đầy đủ;
như A la hán, Bích chi Phật nặng về tự lợi, nhẹ về lợi
tha nên không gọi là đầy đủ. Chư thiên và tiểu Bồ tát
tuy có thể làm lợi ích mà tự mình chưa trừ hết phiền
não, nên cũng không đầỳ đủ. Ấy gọi là công đức đầy
đủ (xong Ðịa thứ chín).
Nên
biết Bồ tát ấy như Phật là Bồ tát ngồi dưới cội cây
như vậy, là vào địa thứ mười, gọi là Pháp vân địa.
Ví như đám mây lớn trút mưa liên tục không nghỉ, tâm tự
nhiên sinh vô lượng vô biên các Phật pháp thanh tịnh, niệm
niệm vô lượng. Bấy giờ Bồ tát nghĩ rằng: Tâm bọn Ma
vương cõi Dục chưa hàng phục, nên phóng hào quang giữa hai
chân mày, khiến trăm ức cung điện ma tối tăm không hiện,
ma liền sân não, tập hợp binh chủng của nó đi đến bức
não Bồ tát. Bồ tát hàng phục ma xong, mười phương chư Phật
mừng công huân ấy, đều phóng hào quang giữa hai chân mày,
chiếu vào đỉnh Bồ tát. Lúc ấy, công đức của địa thứ
mười có được, biến làm Phật pháp, dứt hết thảy tập
khí phiền não, được giải thoát vô ngại, đủ mười lực,
bốn việc không sợ, bốn trí vô ngại, mười tám pháp không
chung, đại từ đại bi v.v... vô lượng vô biên Phật pháp.
Lúc
ấy đất chấn động sáu cách, trời mưa hoa hương, các Bồ
tát trời, người đều chấp tay tán thán.
Lúc
ấy Phật phóng hào quang lớn chiếu khắp mười phương vô
lượng thế giới, mười phương chư Phật, các Bồ tát, trời,
người lớn tiếng xướng rằng: Phương ấy, nước ấy, Bồ
tát ấy, ngồi ở đạo tràng thành tựu Phật sự, là hào
quang ấy. Ấy gọi là Bồ tát ở địa thứ mười như Phật.
Lại
nữa, trong đây Phật còn nói tướng trạng địa thứ mười,
là Bồ tát hành sáu Ba la mật do lực phương tiện nên trải
qua Càn tuệ địa cho đến Bồ tát địa, trú ở Phật địa.
Phật địa tức là địa thứ mười.
Bồ
tát tu mười địa như vậy, gọi là Phát thú Ðại thừa.
GIẢI
THÍCH: PHẨM XUẤT ÐÁO THÚ 21
(Kinh
Ðại Bát nhã ghi: Phần hai, Phẩm Xuất Trú thứ 19)
KINH:
Phật bảo Tu bồ đề: Ông hỏi Ðại thừa như vậy từ chỗ
nào xuất sinh và đến trú chỗ nào? Phật dạy: Ðại thừa
ấy từ trong ba cõi xuất sinh đi đến trú trong Trí nhất thiết
chủng, vì không hai pháp vậy, vì cớ sao? Vì Ðại thừa và
Trí nhất thiết chủng là hai pháp cùng chung, chẳng hợp, chẳng
tán, không sắc, không hình, không đối đãi, chỉ nhất tướng
gọi là vô tướng. Nếu người muốn khiến thật tế xuất
sinh, là người ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh;
nếu người muốn khiến như như, pháp tánh, bất khả tư nghì
tánh xuất sinh; là người ấy muốn khiến pháp vô tướng
xuất sinh, nếu người muốn khiến “sắc không” xuấtsinh
là người ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh; nếu
người muốn khiến “thọ, tưởng, hành, thức không” xuất
sinh; là người ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh,
vì cớ sao? Tu bồ đề! Vì tướng “sắc không” không xuất
sinh từ ba cõi, cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng;
“thọ, tưởng, hành, thức không” không xuất sinh từ ba
cõi, cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng, vì sao? Vì
sắc, sắc tướng không; thọ, tưởng, hành, thức không.
Nếu
người muốn khiến “nhãn không” xuất sinh, là người ấy
muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh; nếu người muốn “nhĩ,
tỷ, thiệt, thân, ý không” xuất sinh; là người ấy muốn
khiến pháp vô tướng xuất sinh; nếu người muốn khiến cho
đến “thọ do ý và xúc làm nhân duyên sinh không xuất sinh,
là người ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh, vì cớ
sao? Tu bồ đề! Vì “nhãn không” không xuất sinh từ ba cõi,
cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng, cho đến “thọ
do ý và xúc làm nhân duyên sinh không” xuất sinh từ ba cõi,
cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng, vì cớ sao? Vì
tướng “nhãn không” cho đến thọ do ý và xúc làm nhân
duyên sinh, thọ do ý và xúc làm nhân duyên sinh tướng không.
Nếu
người muốn khiến mộng xuất sinh, là người ấy muốn khiến
pháp vô tướng xuất sinh; nếu người muốn khiến huyễn,
sóng nắng, tiếng vang, bóng, biến hóa xuất sinh, là người
ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh, vì cớ sao? Tu bồ
đề! Vì tướng mộng không xuất sinh từ ba cõi, cũng không
trú trong Trí nhất thiết chủng; tướng huyễn, sóng nắng,
tiếng vang, bóng, biến hóa cũng không xuất sinh từ ba cõi,
cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng.
Tu
bồ đề! Nếu người muốn khiến Thí ba la mật xuất sinh,
là người ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh; nếu
người muốn khiến Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật,Tấn ba
la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật xuất sinh, là người
ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh, vì sao? Vì tướng
Thí ba la mật không xuất sinh từ ba cõi, cũng không trú trong
Trí nhất thiết chủng; tướng Giới ba la mật cho đến Bát
nhã ba la mật không xuất sinh từ ba cõi, cũng không trú trong
Trí nhất thiết chủng, vì cớ sao? Vì Thí ba la mật, Thí ba
la mật tướng không; Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn
ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la
mật tướng không.
Nếu
người muốn khiến “nội không” xuất sinh; cho đến “vô
pháp hữu pháp không” xuất sinh, là người ấy muốn khiến
pháp vô tướng xuất sinh, vì cớ sao? Tu bồ đề! Tướng nội
không cho đến tướng vô pháp hữu pháp không, không xuất
sinh từ ba cõi cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng,
vì cớ sao? Vì “nội không”, nội không tánh không cho đến
vô pháp hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không tánh không.
Nếu
người muốn khiến bốn niệm xứ xuất sinh, là người ấy
muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh, vì sao? Vì tánh bốn
niệm xứ không xuất sinh từ ba cõi cũng không trú trong Trí
nhất thiết chủng, vì cớ sao? Vì tánh bốn niệm xứ, tánh
bốn niệm xứ không.
Nếu
có người muốn khiến bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm
căn, năm lực bảy giác phần, tám Thánh đạo phần xuất sinh,
là người ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh, vì cớ
sao? Vì tánh tám Thánh đạo phần không xuất sinh từ ba cõi,
cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng, vì cớ sao? Vì
tánh tám Thánh đạo phần, tánh tám Thánh đạo phần không;
cho đến mười tám pháp không chung cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Nếu người muốn khiến A la hán có chỗ xuất sinh,
là người ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh; nếu
người muốn khiến Bích chi Phật có chỗ xuất sinh, là người
ấy muốn pháp vô tướng xuất sinh; nếu người muốn khiến
Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri có chỗ xuất sinh, là người
ấy muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh, vì cớ sao? Tu bồ
đề! Tánh A la hán, tánh Bích chi Phật, tánh Phật không xuất
sinh từ ba cõi, cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng,
vì cớ sao? Vì tánh A la hán, tánh A la hán không; tánh bích
chi Phật, tánh Bích chi Phật không, tánh Phật, tánh Phật không.
Nếu
người
muốn khiến quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm,
quả A la hán, đạo Bích chi Phật, Phật đạo, Trí nhất thiết
chủng xuất sinh, là người ấy muốn khiến pháp vô tướng
xuất sinh nói như trên (Kinh Ðại Bát nhã ghi:Những người
muốn khiến pháp vô tướng có sinh có trụ, thời là muốn
khiến các bậc Dự lưu có sinh vào đường ác, các bậc Nhất
lai có sinh lại nhiều lần, các bậc Bất hoàn có sinh lại
cõi Dục, các bậc đại Bồ tát có sinh tâm tự lợi, các
bậc A la hán, Ðộc giác, Như Lai có sinh lại đời sau. Nhưng
không có việc ấy, vì sao?Vì các bậc Dự lưu v.v... sinh vào
đường ác là không thể có được – ND).
Nếu
người muốn khiến danh tự là tướng giả danh bày đặt,
chỉ có ngôn ngữ xuất sinh, là người muốn khiến pháp vô
tướng xuất sinh, vì sao? Vì danh tự không, không xuất sinh
từ ba cõi, cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng, vì
cớ sao? Vì tướng danh tự, tướng danh tự không, cho đến
bày đặt cũng như vậy.
Nếu
người muốn khiến pháp bất sinh bất diệt, bất cấu bất
tịnh, vô tác xuất sinh, là người muốn khiến pháp vô tướng
xuất sinh, vì sao? Vì tánh pháp bất sinh cho đến vô tác không
xuất sinh từ ba cõi, cũng không trú trong Trí nhất thiết chủng,
vì cớ sao? Vì tánh bất sinh cho đến vô tác, tánh vô tác
không.
Tu
bồ đề! Do các nhân duyên ấy, Ðại thừa từ trong ba cõi
xuất sinh, trú không lay động trong Trí nhất thiết chủng.
LUẬN.
Hỏi: Phật đã biết điều Tu bồ đề hỏi, sao nay còn nêu
trở lại mà đáp?
Ðáp:
Ðại Bát nhã ba la mật có mười vạn bài kệ, ba trăm hai
mươi vạn lời, cùng bốn bộ A hàm v.v... chẳng phải trong
một lần ngồi mà nói hết. Lại điều Tu bồ đề hỏi trên
kia, đã đáp hai việc, vì qua ngày khác nên nêu câu hỏi thứ
ba mà đáp.
Lại
nữa, có người nói trong pháp Thanh văn không có việc không
thể nghĩ bàn, chẳng được trong một ngày một lần ngồi
nói hết. Phật giải thoát vô ngại, Bồ tát cũng có Tam muội
không thể nghĩ bàn, có thể làm cho thời gian nhiều thành
thời gian ít, thời gian ít thành thời gian nhiều, cũng có
thể lấy sắc lớn làm sắc nhỏ, sắc nhỏ làm sắc lớn.
Lại như trong 60 tiểu kiếp nói kinh Pháp Hoa, có người cho
đó là từ sáng đến bữa ăn.
Hỏi:
Sắc hữu hình có thể thấy, thời gian vô hình chỉ có tên,
làm sao lấy gần làm xa, lấy xa làm gần được?
Ðáp:
Vì vậy nên nói lực thần thông không thể nghĩ bàn, như người
trong mộng, mộng thấy mọi việc, tự cho là thức tỉnh thấy;
trong mộng lại mộng, triển chuyển như vậy, vẫn là một
đêm. Vì vậy nên nêu trở lại câu hỏi mà đáp: Ðại thừa
ấy xuất sinh từ chỗ nào, chỗ nào đến trú? Phật đáp:
Ðại thừa ấy từ trong ba cõi xuất sinh, đến trú trong Trí
nhất thiết chủng.
Hỏi:
Ðại thừa ấy là Phật pháp hay Bồ tát pháp? Nếu là Phật
pháp cớ sao từ ba cõi xuất sinh; nếu Bồ tát pháp cớ sao
trú trong Trí nhất thiết chùng?
Ðáp:
Ðại thừa ấy là Bồ tát pháp, cho đến Kim cang Tam muội
các công đức thanh tịnh thời biến làm Phật pháp. Ðại
thừa ấy có sức lớn, có khả năng đi đến Phật, không
còn chỗ hơn để đi đến nữa, nên nói là trú. Thí như lúc
kiếp tận lửa đốt ba ngàn thế giới, thế lực lớn, không
còn gì để đốt, nên liền tự tắt. Ðại thừa cũng như
vậy, dứt hết thảy phiền não, chứa nhóm các công đức,
cùng tận ngần mé, không còn gì để đoạn, không còn gì
để biết, không còn gì để chứa nhóm, liền tự quy về
tịch diệt.
Pháp
không hai là vì để dứt chấp trước của các Bồ tát nên
nói. trong đây Phật tự nói Ðại thừa và Trí nhất thiết
chủng là hai pháp, vì chẳng một nên không hợp, vì chẳng
khác nên không tán, chỗ sáu thức biết điều hư vọng nên
không sắc, không hình, không đối, là nhất tướng.
Hỏi:
Trước nói chẳng một nên không hợp, nay cớ sao nói một
tướng?
Ðáp:
Trong đây nói một tướng đó tức là vô tướng. Không có
tướng thời không có từ phát xuất, đi đến Phật đạo,
mà vì dẫn dắt hàng phàm phu nên nói một tướng.
Thật
tế là thật tướng sau cùng của các pháp, không ra không vào.
Nếu có người cuồng muốn khiến thật tế có sinh ra và đi
đến Phật đạo, là người ấy muốn khiến pháp vô tướng
sinh ra. Như như, pháp tánh, pháp tướng, nói như trước.
Tánh
không thể nghĩ bàn là, có người nói tức là như như, pháp
tánh, thật tế, vô lượng vô biên. Tâm tâm số pháp diệt
nên nói là không thể nghĩ bàn. Lại có người nói: Quá thật
tế, Niết bàn, lại còn cầu tìm các pháp thật, hoặc có
hoặc không, ấy gọi là không thể nghĩ bàn.
Lại
nữa, hết thảy các Phật pháp không thể suy nghĩ trù lượng,
nên gọi là không thể nghĩ bàn.
Lại
có người nói: Hết thảy các pháp phân biệt suy nghĩ đều
đồng tướng Niết bàn, ấy là không thể nghĩ bàn. Nếu người
muốn khiến từ trong không xuất sinh, là người ấy muốn
khiến trong pháp vô tướng xuất sinh. Trong đây Phật tự nói,
tướng năm uẩn không, không thể xuất sinh từ ba cõi, không
thể đi đến Trí nhất thiết chủng. Vì trong năm uẩn, tướng
năm uẩn không. Mười hai nhập cho đến ý và xúc làm nhân
duyên sinh thọ không cũng như vậy. Các thí dụ mộng không
v.v... cũng như vậy, vì tự tướng không có nên không xuất
sinh, không có đi đến.
Nếu
người muốn khiến sáu Ba la mật xuất sinh, là người ấy
muốn khiến pháp vô tướng xuất sinh, vì cớ sao? Vì sáu Ba
la mật do nhân duyên hòa hợp nên không có tự tánh. Tự tánh
không có nên không. Vì hàng Bồ tát chấp trước sáu Ba la
mật bị đọa vào tà kiến, nên vì họ mà nói không, mười
tám không cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như vậy.
Hỏi:
Sáu Ba la mật có đạo, có tục, có thể chấp trước nên
có thể nói không, còn sáu Ba la mật xuất thế gian, ba mươi
bảy phẩm cho đến mười tám pháp không chung, không chấp
trước cớ sao nói không?
Ðáp:
Các Bồ tát chưa dứt hết lậu hoặc, do lực phước đức
và trí tuệ nên thực hành pháp ấy, hoặc còn thủ tướng
mà ái trước, còn pháp phàm phu hư vọng điên đảo, pháp
ấy từ pháp phàm phu sinh, làm sao vậy? Vì vậy nên Phật nói
pháp ấy cũng không, để ví dụ pháp vô tướng. Ðại thừa
đây tức là vô tướng, vô tướng làm sao có ra có đến.
Các
pháp đều không, chỉ có tướng nên gọi, giả danh ngũ ngôn,
nay tên gọi cũng không, để ví dụ trong vô tướng đệ nhất
nghĩa không, không thể có được, còn trong pháp thế tục
thì có tướng. Tướng và nghĩa của tên gọi v.v... giả danh
như trước nói. Dùng pháp như vậy, từ ba cõi xuất sinh, đến
trú trong Trí nhất thiết chủng, chẳng phải là thật pháp,
cũng không lay động.
KINH:
Tu bồ đề! Ông vừa hỏi Ðại thừa ấy trú chỗ nào? Tu
bồ đề! Ðại thừa ấy không chỗ trú, vì sao? Vì hết thảy
pháp không có tướng trú. Ðại thừa nếu trú, không trú pháp
trú. Tu bồ đề! Thí như pháp tánh chẳng sinh chẳng diệt,
chẳng nhơ chẳng sạch, không khởi không làm, chẳng phải
trú chẳng phải không trú. Tu bồ đề! Ðại thừa ấy cũng
như vậy, chẳng phải trú chẳng phải chẳng trú, vì cớ sao?
Vì tướng pháp tánh chẳng phải trú chẳng phải chẳng trú,
vì cớ sao? Vì tướng pháp tánh, tánh không, cho đến tánh
vô tác, tánh vô tác tánh không. Các pháp khác cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Do các nhân duyên ấy, Ðại thừa không có chỗ trú,
vì pháp chẳng trú, pháp chẳng động vậy.
LUẬN.
Hỏi: Trước nói Ðại thừa ấy đến trú Trí nhất thiết
chủng, không còn pháp hơn có thể đi đến, sao nay lại nói
Ðại thừa ấy không có chỗ trú?
Ðáp:
Trước nói là do pháp Không bất nhị nên nói trú, như huyễn,
như mộng, tuy có ngồi nằm đi ở, mà chẳng phải thật là
ở. Bồ tát cũng như vậy, tuy nói đến trú trong Trí nhất
thiết chủng cũng không có trú nhất định. Trong đây Phật
tự nói hết thảy pháp từ xưa nay không có tướng trú, làm
sao riêng Ðại thừa có trú. Nếu có trú là trú ở pháp rốt
ráo không. Thí dụ: như như, pháp tánh, pháp tướng, thật
tế, chẳng phải trú, chẳng phải chẳng trú, chẳng sinh chẳng
diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng khởi chẳng làm.
Chẳng
trú là chẳng trú nơi tự tướng; chẳng phải chẳng trú là
chẳng trú nơi dị tướng. Chẳng trú là nói không để phá
có; chẳng phải chẳng trú là nói theo lẽ thế tục phương
tiện có trú. Chẳng trú là nói vô thường để phá tướng
thường; chẳng phải chẳng trú là phá tướng đoạn diệt.
Trong
đây Phật tự nói pháp tánh, pháp tánh tướng không, vì sao?
Vì tự tướng không cho đến không khởi không làm các pháp
khác cũng như vậy.
KINH:
Tu bồ đề! Ông hỏi ai sẽ cưỡi Ðại thừa ấy ra đi? Không
có người cưỡi Ðại thừa ấy ra đi, vì sao? Vì Ðại thừa
và người đi ra, pháp sở dụng và lúc đi ra, hết thảy pháp
ấy đều không có. Nếu hết thảy pháp không có thời dùng
pháp gì đi ra, vì sao? Vì ta không thể có được, cho đến
kẻ biết, kẻ thấy không thể có được, vì rốt ráo thanh
tịnh. Tánh không thể nghĩ bàn không thể có được, vì rốt
ráo thanh tịnh. Năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới
không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh. Thí Ba la mật
không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh, cho đến Bát
nhã ba la mật không thể có được vì rốt ráo thanh tịnh.
Nội
không không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh, cho đến
vô pháp hữu pháp không, không thể có được, vì rốt ráo
thanh tịnh.
Bốn
niệm xứ không thể có được, cho đến mười tám pháp không
chung không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Tu
đà hoàn không thể có được, cho đến A la hán, Bích chi Phật,
Bồ tát, Phật không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Tu
đà hoàn quả cho đến A la hán quả, Bích chi Phật đạo, Phật
đạo, Trí nhất thiết chủng không thể có được, vì rốt
ráo thanh tịnh.
Chẳng
sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, không khởi không
tác không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Ðời
quá khứ, đời vị lai, đời hiện tại, sinh, trụ, diệt không
thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Tăng
giảm không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Pháp
gì không thể có được nên không thể có được? Pháp tánh
không thể có được, nên không thể có được; như như, thật
tế, vì tánh không thể nghĩ bàn; pháp tánh, pháp tướng, pháp
vị, Thí Ba la mật không thể có được nên không thể có
được; cho đến Bát nhã ba la mật không thể có được nên
không thể có được.
Nội
không không thể có được nên không thể có được, cho đến
vô pháp hữu pháp không, không thể có được, nên không thể
có được.
Bốn
niệm xứ không thể có được, nên không thể có được,
cho đến mười tám pháp không chung không thể có được nên
không thể có được.
Tu
đà hoàn không thể có được nên không thể có được, cho
đến Phật không thể có được nên không thể có được.
Tu
đà hoàn quả không thể có được nên không thể có được,
cho đến Phật đạo không thể có được nên không thể có
được.
Chẳng
sinh chẳng diệt, cho đến chẳng khởi chẳng làm không thể
có được nên không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Sơ địa không thể có được, nên không
thể có được, cho đến địa thứ mười không thể có được,
nên không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh. Thế nào
là Sơ địa cho đến địa thứ mười? Ðó là Càn tuệ địa,
Tánh địa, Bát nhân địa, Kiến địa, Bạt địa, Ly dục
địa, Dĩ tác địa, Bích chi Phật địa, Bồ tát địa, Phật
địa.
Trong
nội không, Sơ địa không thể có được, cho đến trong vô
pháp hữu pháp không, Sơ địa không thể có được.
Trong
nội không cho đến trong vô pháp hữu pháp không, địa thứ
hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm. thứ sáu, thứ bảy, thứ tám,
thứ chín, thứ mười không thể có được, vì sao? Tu bồ
đề! Sơ địa chẳng phải được chẳng phải chẳng được,
cho đến địa thứ mười chẳng phải được chẳng phải
chẳng được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Trong
nội khôngcho đến trong vô pháp hữu pháp không, thành tựu
chúng sinh không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Trong
nội không cho đến trong vô pháp hữu pháp không, tịnh Phật
độ không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Trong
nội không cho đến trong vô pháp hữu pháp không, năm mắt
không thể có được, vì rốt ráo thanh tịnh.
Như
vậy, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát do hết thảy các pháp không
thể có được nên cưỡi Ðại thừa đi ra đến trú Trí nhất
thiết chủng.
LUẬN:
Luận giả nói: Thực hành Ðại thừa ấy đến bên Phật đạo
xuất sinh. Lại do thành tựu nên gọi là xuất sinh. Lấy Ðại
thừa ấy thành tựu Trí nhất thiết chủng, ấy gọi là xuất
sinh. Trong đây Phật tự nói nhân duyên của Không.
Thừa
là sở dụng của sáu Ba la mật.
Pháp
là các pháp từ bi phương tiện v.v... không nhiếp vào sáu
Ba la mật.
Người
xuất là Bồ tát. Ba pháp ấy đều không.
Trong
đây Phật lại nói nhân duyên: Ngã không thể có được cho
đến kẻ biết kẻ thấy không thể có được, vì rốt ráo
không.
Năm
uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, Thí ba la mật cho đến
mười tám pháp không chung; Tu đà hoàn cho đến Trí nhất thiết
chủng chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch cho đến
ba đời, ba tướng, tăng giảm v.v... ấy gọi là pháp không.
Ngã
cho đến kẻ biết kẻ thấy; Tu đà hoàn cho đến Phật ấy
gọi là chúng sinh không.
Hỏi:
Có hai thứ không thể có được: Một là có pháp, và trí
tuệ ít nên không thể có được. Hai là có trí tuệ lớn
suy tìn không thể có được, đây chỉ thứ không thể có
được nào?
Ðáp:
Vì pháp không có nên không thể có được (tức thì không
có được thứ hai – ND).
Hỏi:
Hết thảy pháp gốc ngọn không thể có được, thì có lợi
ích gì với ngưòi?
Ðáp:
Trong đây Phật tự nói rốt ráo thanh tịnh. Rốt ráo là nếu
hành giả nương không mà phá có, đối với có được thanh
tịnh, đối với không chưa thanh tịnh, vì có nương dựa.
Trong đây Phật tự nói: Nhân duyên không thể có được, chúng
sinh không thể có được, hết thảy pháp không thể có được,
thí như: như như, pháp tánh, thật tế v.v...cho đến chẳng
khởi, chẳng làm không thể có được.
Lại
nữa, vì mười tám không nên pháp tánh không thể có được,
cho đến chẳng khởi chẳng làm. Trong mười tám không, không
có Sơ địa cho đến địa thứ mười, không có thành tựu
chúng sinh, không có tịnh Phật quốc độ, không có năm mắt,
vì mười tám không nên không, vì rốt ráo thanh tịnh nên không
thể có được. Bồ tát dùng pháp không thể có được làm
phương tiện mà cưỡi Ðại thừa đi ra đến trú trong Trí
nhất thiết chủng.
(Hết
cuốn 50 theo bản Hán)