Tập
3
Cuốn
51
GIẢI
THÍCH: PHẨM THẮNG XUẤT THỨ 22
(Kinh
Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Siêu Xuất thứ 20)
KINH:
Tuệ mạng Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn!
Ðại thừa là vượt trên hết thảy thế gian trời, người,
A tu la.
Bạch
đức Thế Tôn! Ðại thừa ấy cùng với hư không bình đẳng,
như hư không thụ nạp vô lượng vô biên vô số chúng sinh.
Ðại thừa cũng như vậy, thụ nạp vô lượng vô biên vô
số chúng sinh.
Bạch
đức thế Tôn! Ðại thừa ấy không thấy có chỗ đến, không
thấy có chỗ đi, không thấy có chỗ ở. Ðại thừa ấy đời
trước không thể có được, đời sau không thể có được,
đời giữa không thể có được, ba đời đồng là Ðại thừa.
Bạch
đức Thế Tôn! Vì vậy, thừa ấy gọi là Ðại thừa.
Phật
bảo Tu bồ đề: Như vậy, như vậy! Bồ tát ma ha tát Ðại
thừa ấy là sáu Ba la mật: Thí ba la mật, Giới ba la mật,
Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba
la mật; ấy gọi là Ðại thừa của Bồ tát ma ha tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát Ðại thừa là hết thảy
môn Ðà la ni, hết thảy môn Tam muội, đó là Tam muội Thủ
Lăng Nghiêm cho đến Tam muội hư không, xa lìa vướng mắc
không nhiễm, ầy gọi là Ðại thừa của Bồ tát ma ha tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ðại thừa của Bồ tát ma ha tát là nội
không cho đến vô pháp hữu pháp không; ấy gọi là Ðại thừa
của Bồ tát ma ha tát.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ðại thừa của Bồ tát ma ha tát là bốn
niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung; ấy gọi là
Ðại thừa của Bồ tát ma ha tát.
Như
lời Tu bồ đề nói: Ðại thừa ấy vượt trên hết thảy
thế gian trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu có Dục sẽ thật có tướng không hư vọng,
không lẽ khác, không điên đảo, thường có, không biến hoại,
chẳng phải không có pháp, thời Ðại thừa ấy không thể
vượt trên hết thảy thế gian trời, người, A tu la. Tu bồ
đề! Vì cõi Dục hư vọng, do ức tưởng phân biệt, hòa hợp
mà có tên gọi, hết thảy đều tướng vô thường, không
có pháp, vì vậy nên Ðại thừa vượt trên hết thảy thế
gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Cõi sắc, cõi vô sắc nếu sẽ thật có tướng không
hư vọng, không lẽ khác, không điên đảo, có thường, không
biến hoại, chẳng phải không có pháp, thời Ðại thừa ấy
không thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, A
tu la. Tu bồ đề! Song vì cõi Sắc, cõi Vô sắc hư vọng, do
sức tưởng phân biệt, hòa hợp mà có tên gọi, hết thảy
đều là tướng vô thường phá hoại, không có pháp, vì vậy
nên Ðại thừa vượt trên hết thảy thế gian, trời, người,
A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu sắc sẽ thật có tướng không hư vọng, không
lẽ khác, không điên đảo, có thường, không biến hoại,
chẳng phải không có pháp, thời Ðại thừa ấy không thể
vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, A tu la. Tu bồ
đề! Song vì sắc hư vọng,do ức tưởng phân biệt, hòa hợp
mà có tên gọi, hết thảy đều tướng vô thường, phá hoại,
không có pháp, vì vậy nên Ðại thừa ấy vượt trên hết
thảy thế gian, trời, người, A tu la; thọ, tưởng, hành, thức
cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Nếu mắt cho đến ý, sắc cho đên pháp, nhãn thức
cho đến ý thức, nhãn xúc cho đến ý xúc, thọ do nhãn và
xúc làm nhân duyên sinh cho đến thọ do ý và xúc làm nhân
duyên sinh, nếu sẽ thật có tướng không hư vọng, không lẽ
khác, không điên đảo, có thường, không biến hoại, chẳng
phải không có pháp, thời Ðại thừa ấy, không thể vượt
trên hết thảy thế gian, trời, người, A tu la. Tu bồ đề!
Song vì mắt cho đến thọ do ý và xúc làm nhân duyên sinh vì
hư vọng, ức tưởng phân biệt hòa hợp mà có tên gọi, hết
thảy đều tướng vô thường phá hoại, không có pháp, vì
vậy nên Ðại thừa ấy vượt trên hết thảy thế gian, trời,
người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu pháp tánh là có pháp, chẳng phải không có
pháp, thời Ðại thừa ấy không thể vượt trên hết thảy
thế gian, trời, người, A tu la. Tu bồ đề! Song vì pháp tánh
không có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên Ðại thừa ấy
vượt lên trên hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu như như, thật tế, tánh bất khả tư nghì là
có pháp, chẳng phải không có pháp thời Ðại thừa ấy không
thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu bồ đề! Song vì như như, thật tế, tánh bất khả tư nghì
là không có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên Ðại thừa
vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu Thí ba la mật là có pháp, chẳng phải không
có pháp, thời Ðại thừa ấy không thể vượt trên hết thảy
thế gian, trời, người, A tu la. Song vì Thí ba la mật không
có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên Ðại thừa vượt trên
hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Nếu
Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la
mật, Bát nhã ba la mật là có pháp, chẳng phải không có pháp,
thời Ðại thừa ấy không thể vượt trên hết thảy thế
gian, trời, người, A tu la. Song vì Giới ba la mật cho đến
Bát nhã ba la mật, là không có pháp, chẳng phải pháp, vì
vậy nên Ðại thừa ấy vượt trên hết thảy thề gian, trời,
người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu nội không cho đến vô pháp hữu pháp không
là có pháp, chẳng phải không có pháp, thời Ðại thừa ấy
không thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, A
tu la. Song vì nội không cho đến vô pháp hữu pháp không là
không có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên Ðại thừa vượt
trên hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không
chung là có pháp, chẳng phải không có pháp thời Ðại thừa
ầy không thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người,
A tu la. Song vì bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không
chung là không có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên Ðại
thừa vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu pháp Tánh nhân là có pháp. chẳng phải không
có pháp thời Ðại thừa ấy không thể vượt trên hết thảy
thế gian, trời, người, A tu la. Song vì pháp Tánh nhân là không
có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên Ðại thừa vượt trên
hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu pháp Bát nhân, pháp Tu đà hoàn, pháp Tư đà
hàm, pháp A na hàm, pháp A la hán, pháp Bích chi Phật, pháp Phật
là có pháp, chẳng phải không có pháp, thời Ðại thừa ấy
không thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, A
tu la. Song vì pháp Bát nhân cho đến pháp Phật là không có
pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên Ðại thừa vượt trên
hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu Tánh nhân là có pháp, chẳng phải không có
pháp, thời Ðại thừa ấy không thể vượt trên hết thảy
thế gian, trời, người, A tu la. Song vì Tánh nhân là không
có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên Ðại thừa vượt trên
hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu Bát nhân, Tu đà hoàn cho đến Phật, là có
pháp, chẳng phải không có pháp, thời Ðại thừa ấy không
thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Song vì Bát nhân cho đến Phật, là không có pháp, chẳng phải
pháp, vì vậy nên Ðại thừa vượt trên hết thảy thế gian,
trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu hết thảy thế gian, trời, người, A tu la là
có pháp, chẳng phải không có pháp, thời Ðại thừa ấy không
thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Song vì hết thảy thế gian, trời, người, A tu la, là không
có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên Ðại thừa vượt trên
hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu Bồ tát ma ha tát từ sơ phát tâm cho đến khi
ngồi đạo tràng, các tâm ở giữa khoảng trung gian đó, nếu
sẽ là có pháp, chẳng phải không có pháp, thời Ðại thừa
ấy không thể vượt trên hết thảy thế gian, trời, người,
A tu la. Song vì Bồ tát từ sơ phát tâm cho đến khi ngồi đạo
tràng, các tâm ở khoảng trung gian ấy là không có pháp, chẳng
phải pháp, vì vậy nên Ðại thừa vượt trên hết thảy thế
gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu Bồ tát ma ha tát như Kim cang tuệ là có pháp,
chẳng phải không có pháp, thời Bồ tát ma ha tát ấy không
thể biết hết thảy kiết sử và tập khí là không có pháp,
chẳng phải pháp, được trí nhất thiết chủng. Tu bồ đề!
Song vì Bồ tát ma ha tát như Kim cang tuệ là không có pháp,
chẳng phải pháp. Thế nên Bồ tát biết hết thảy kiết
sử và tập khí là không có pháp, chẳng phải pháp, được
trí nhất thiết chủng, vì vậy nên Ðại thừa vượt trên
hết thảy thế gian, trời, người, A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu ba mươi hai tướng của chư Phật là có pháp,
chẳng phải không có pháp, thời oai đức chư Phật không thể
chiếu sáng, vượt trên hết thảy thế gian, trời,, người,
A tu la. Tu bồ đề! Song vì ba mươi hai tướng của chư Phật
là không có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên oai đức chư
Phật chiếu sáng, vượt trên hết thảy thế gian, trời, người,
A tu la.
Tu
bồ đề! Nếu ánh sáng chư Phật là có pháp, chẳng phải
không có pháp, thời ánh sáng chư Phật không thể chiếu khắp
hằng hà sa thế giới. Tu bồ đề! Song vì ánh sáng chư Phật
là không có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên chư Phật
lấy ánh sáng chiếu khắp hằng hà sa thế giới.
Tu
bồ đề! Nếu sáu mươi thứ âm thanh trang nghiêm của chư
Phật là có pháp, chẳng phải không có pháp, thời chư Phật
không thể lấy sáu mươi thứ âm thanh trang nghiêm khắp đến
mười phương vô lượng vô số thế giới. Tu bồ đề! Song
vì sáu mươi thứ âm thanh trang nghiêm của chư Phật là không
có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên chư Phật có thể lấy
sáu mươi thứ âm thanh trang nghiêm khắp đến mười phương
vô lượng vô số thế gìới.
Tu
bồ đề! Nếu Pháp luân của chư Phật là có pháp, chẳng
phải không có pháp, thời chư Phật không thể chuyển Pháp
luân, các Sa môn, Bà la môn, hoặc trời, hoặc ma, hoặc phạm
và các chúng khác của thế gian không thể đúng như pháp chuyển
được. Tu bồ đề! Song vì Pháp luân của chư Phật là không
có pháp, chẳng phải pháp, vì vậy nên chư Phật chuyển Pháp
luân, các sa môn, Bà la môn, hoặc trời, hoặc ma, hoặc phạm
và các chúng khác của thế gian không thể đúng như pháp chuyển
được.
Tu
bồ đề! Chư Phật vì chúng sinh chuyển Pháp luân, chúng sinh
ấy nếu thậy có pháp, chẳng phải không có pháp, thời không
thể khiến chúng sinh ấy nơi Vô dư Niết bàn mà nhập Niết
bàn. Tu bồ đề! Song vì chư Phật vì chúng sinh Chuyển pháp
luân, chúng sinh ấy là không có pháp, chẳng phải pháp, vì
vậy nên có thể khiến chúng sinh nơi Vô dư Niết bàn, đã
diệt, nay diệt, sẽ diệt (sẽ diệt độ, Niết bàn –ND).
LUẬN.
Luận giả nói: Tu bồ đề trên kia lấy năm việc hỏi Ðại
thừa, Phật đã đáp rồi. Tu bồ đề hoan hỷ tán thán rằng:
Bạch Thế Tôn! Ðại thừa ấy có oai lực lớn, phá hoại
người, trời, thế gian đã có thể vượt hơn trong đó; thí
như ba người đi qua đường dữ, một người giữa đêm trốn
thoát riêng một mình, một người dùng tiền lo mà khỏi, một
người như đại vương với đại quân, tướng, binh chúng,
phá dẹp giặc thù, cất quân cứu tế toàn thể, không sợ
hoạn nạn. Ba thừa cũng như vậy, như A la hán không thể biết
hết thảy tướng chung tướng riêng, cũng không thể phá ma
vương, lại không thể hàng phục ngoại đạo; chỉ chán già,
bệnh, chết, thẳng đến Niết bàn. Như Bích chi Phật thâm
nhập các pháp thật tướng hơn Thanh văn, có một ít từ tâm,
dùng lực từ tâm hóa độ chúng sinh, phá được phiền não
mà không phá được ma và ngoại đạo. Như Bồ tát từ lúc
mới phát tâm đã khởi tâm đại từ bi đối với hết thảy
chúng sinh, tuy chưa thành Phật, mà ở khoảng trung gian ấy
làm lợi ích vô lượng chúng sinh, quyết định biết thật
tướng các pháp, đầy đủ sáu Ba la mật nên phá các ma vương
và ngoại đạo, dứt phiền não tập khí, đầy đủ trí nhất
thiết chủng, tướng chung tướng riêng đều biết đều rõ,
thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ba hạng người tuy
đều ra khỏi sinh tử, nhưng đường tu phương tiện khác nhau.
Thế nên Tu bồ đề tán thán Ðại thừa, dẹp phá hết thảy
thế gian, vượt trên trời, người, A tu la; ví như hư không
hàm thụ hết thảy quôc độ mà hư không vẫn như cũ không
chật. Ðại thừa cũng như vậy, hàm thụ ba đời chư Phật
và các đệ tử mà Ðại thừa cũng không đầy. Lại, như
hư không vì tướng thường nên không có tướng vào, không
có tướng ra, không có tướng trụ lại. Ðại thừa ấy cũng
như vậy, không có chỗ vào ở vị lai, không có chỗ ra ở
quá khứ, không có chỗ trụ lại ở hiện tại, phá ba thời
nên ba đời bình đẳng, gọi là Ðại thừa.
Hỏi:
Phật nên khen Tu bồ đề về lời tán thán lành thay, cớ sao
lại nói Ðại thừa?
Ðáp:
Phật muốn thuận theo lời tán thán của Tu bồ đề nên khen.
Vì trên nói Ðại thừa sâu xa, nay lược nói tướng Ðại
thừa, vậy sau nói rộng. Ðại thừa được Tu bồ đề tán
thán là sáu Ba la mật, các môn Ðà la ni, môn Tam muội, mười
tám không, bốn niệm xứ, cho đến mười tám pháp không chung.
Ðại thừa như Tu bồ đề nói phá hoại hết thảy thế gian,
vượt lên trên trời, người. A tu la, việc ấy thật như vậy,
vì cớ sao? Vì ba cõi hư dối, như huyễn như mộng, vô minh
hư vọng, do nhân duyên mà có, nhân quả không có thật nhất
định, hết thảy vô thường, phá hoại tiêu diệt, đều là
tướng không. Vì Ðại thừa trái với ba cõi, nên có thể
tồi diệt mà vượt lên trên, nếu ba cõi có thật nhất định,
thường không hư vọng, thời Ðại thừa không thể tồi diệt
mà vượt lên trên, vì cớ sao? Vì thế lực ngang nhau. Năm
uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, các thọ do sáu xúc
sinh cũng như vậy.
Nếu
pháp tánh là có pháp, chẳng phải không có pháp, thời Ðại
thừa không thể phá thế gian để được vượt lên trên,
vì pháp tánh chẳng phải có, nên Ðại thừa có thể vượt
lên trên thế gian được.
Hỏi:
Pháp hữu vì do nhân duyên hòa hợp hư vọng nên nói không
có, còn như như, pháp tánh, thật tế, tánh bất khả tư nghì,
là pháp vô vi thật, gọi là thật tế, vì sao nói không có?
Ðáp:
Vì vô vi không nên nói không có.
Lại
nữa, Phật nói lìa pháp hữu vi, pháp vô vi không thể có được;
thật tướng pháp hữu vi tức là pháp vô vi.
Lại
nữa, quán sát pháp hữu vi ấy hư dối còn như như, pháp tánh,
thật tế là thật. Vì người ta đối với pháp tánh chấp
lấy tướng khởi lên tranh cãi cho nên nói không có pháp tánh;
hoặc nói có, hoặc nói không, đều có nhân duyên nên không
lỗi. Như như, thật tế, tánh bất khả tư nghì cũng như vậy.
Thí
ba la mật thế gian vì chấp trước nên có, Thí ba la mật xuất
thế gian vì không chấp trước nên không. Vì phá xan tham nên
nói có Thí ba la mật, vì phá tà kiến nên nói Thí ba la mật
không có; vì độ người sơ học nên nói có, nếu ở trong
tâm Thánh nhân thời nói không. Như Thí ba la mật cho đến
nếu chúng sinh thật có, chẳng phải là không có pháp, thời
không nên cưỡng ép làm cho tiêu diệt, vào Vô dư Niết bàn.
Hỏi:
Từ khi có được ba mươi hai tướng về sau, sao không nói
Ðại thừa vượt lên trên?
Ðáp:
Cần nên nói, vì sợ văn dài nên không nói.
Lại
nữa, từ khi được ba mươi hai tướng cho đến khi vì chúng
sinh chuyển Pháp luân, cũng là Ðại thừa, chỉ tên gọi khác
nhau mà thôi.
Lại
nữa,
trên đây tổng quát nói tướng Ðại thừa vượt lên trên,
chẳng biết thế nào là vượt lên trên. Nay phân biệt nói
rằng Phật có ba mươi hai tướng trang nghiêm thân, nên vượt
trên hết thảy chúng sinh, Phật có ánh sáng hơn hết thảy
ánh sáng mặt trời mặt trăng, chư Thiên; âm thanh của Phật
hơn hềt thảy âm thanh, hơn âm thanh hay của thế gian, hơn
phạm âm của chư Thiên. Pháp luân của Phật hơn Bảo luân
của Chuyển luân Thánh vương và hềt thảy pháp luân của
ngoại đạo, không chướng không ngại. Các Pháp luân khác
lợi ích nhỏ nhoi, nông cạn, hoặc một đời, hai đời, cùng
tột ngàn vạn đời, còn Pháp luân của Phật có thể khiến
vĩnh viễn vào Vô dư Niết bàn, không còn trở lại sinh tử.
Lại
nữa, nếu chúng sinh thật có, Phật không nên khiến chúng
sinh vào Niết bàn, nhổ sạch gốc nó, đây quá hơn giết một
mạng, có lỗi lớn như vậy. Vì chúng sinh tâm điên đảo
thấy có ngã, nên Phật phá tâm điên đảo ấy nói có Niết
bàn, không có chúng sinh thật có thể diệt, cho nên không lỗi.
Có các công đức như vậy nên Ðại thừa vượt trên hết
thảy thế gian.
Hỏi:
Hết thảy thế gian là mười phương sáu nẻo chúng sinh, cớ
sao chỉ nói vượt trên trời, người, A tu la?
Ðáp:
Trong sáu đạo, ba là thiện đạo, ba là ác đạo. Ðại thừa
còn phá được ba thiện đạo mà vượt lên trên, huống gì
là ác đạo!
Hỏi:
Trong kinh Long vương nói rồng được đạo Bồ tát, sao nói
đó là ác đạo?
Ðáp:
Chúng sinh có vô lượng vô biên, rồng được đạo rất ít.
Lại nữa, có người nói Ðại Bồ tát biến hóa thân để
giáo hóa nên làm thân rồng chúa.
GIẢI
THÍCH: PHẨM HÀM THỤ THỨ 23
(Kinh
Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Vô Sở Hữu thứ 21)
KINH:
Phật bảo Tu bồ đề: Ông nói Ðại thừa cùng với hư không
bình đẳng? Như vậy, như vậy! Tu bồ đề! Ðại thừa cùng
với hư không bình đẳng. Tu bồ đề! Như hư không, không
có phương đông, không có phương nam, phương tây, phương bắc,
bốn góc, trên dưới. Tu bồ đề! Ðại thừa cũng như vậy,
không có phương đông, không có phương nam, phương tây, phương
bắc, bốn góc, trên dưới.
Tu
bồ đề! Như hư không chẳng phải dài chẳng phải ngắn,
chẳng phải vuông chẳng phải tròn. Tu bồ đề! Ðại thừa
cũng như vậy, chẳng phải dài chẳng phải ngắn, chẳng phải
vuông chẳng phải tròn.
Tu
bồ đề! Như hư không, chẳng phải xanh, chẳng phải vàng,
chẳng phải đỏ, chẳng phải trắng, chẳng phải đen. Ðại
thừa cũng như vậy, chẳng phải xanh, chẳng phải vàng, chẳng
phải đỏ, chẳng phải trắng, chẳng phải đen. Vì vậy nên
nói Ðại thừa cùng với hư không bình đẳng.
Tu
bồ đề! Như hư không chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị
lai, chẳng phải hiện tại. Ðại thừa cũng như vậy, chẳng
phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại.
Vì vậy nên nói Ðại thừa cùng với hư không bình đẳng.
Tu
bồ đề! Như hư không chẳng thêm chẳng bớt, Ðại thừa
cũng như vậy, chẳng thêm chẳng bớt.
Tu
bồ đề! Như hư không, không nhơ không sạch; Ðại thừa cũng
như vậy, không nhơ không sạch.
Tu
bồ đề! Như hư không, không sinh không diệt, không trụ, không
biến khác. Ðại thừa cũng như vậy, không sinh không diệt,
không trụ không biến khác.
Tu
bồ đề! Như hư không chẳng phải thiện chẳng phải bất
thiện, chẳng phải ký chẳng phải vô ký. Ðại thừa cũng
như vậy, chẳng phải thiện chẳng phải bất thiện, chẳng
phải ký chẳng phải vô ký. Vì vậy, nên nói Ðại thừa cùng
với hư không bình đẳng.
Như
hư không không thấy, không nghe, không hiểu, không biết. Ðại
thừa cũng như vậy, không thấy, không nghe, không hiểu, không
biết.
Như
hư không không thể hiểu, không thể biết, không thể thấy,
không thể dứt, không thể chứng, không thể tu. Ðại thừa
cũng như vậy, không thể hiểu, không thể biết, không thể
thầy, không thể dứt, không thể chứng, không thể tu. Vì
vậy nên nói Ðại thừa cùng với hư không bình đẳng.
Như
hư không chẳng phải tướng nhiễm, chẳng phải tướng lìa
nhiễm. Ðại thừa cũng như vậy, chẳng phải tướng nhiễm,
chẳng phải tướng lìa nhiễm.
Như
hư không chẳng trói buộc ở theo cõi Dục, chẳng trói buộc
theo cõi Sắc, chẳng trói buộc theo cõi Vô sắc. Ðại thừa
cũng như vậy, chẳng trói buộc theo cõi Dục, chẳng trói buộc
theo cõi Sắc, chẳng trói buộc theo cõi Vô sắc.
Như
hư không không có tâm mới phát, cũng không có tâm thứ hai,
ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám chín, mười. Ðại thừa cũng
như vậy, không có tâm mới phát, cho đến tâm thứ mười.
Như
hư không, không có địa vị Càn tuệ, Tánh địa, Bát nhân
địa, Kiến địa, Bạt địa, Ly dục địa, Dĩ biện địa;
Ðại thừa cũng như vậy, không có địa vị Càn tuệ, cho
đến không có địa vị Dĩ biện.
Như
hư không, không có quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả
A na hàm, quả A la hán. Ðại thừa cũng như vậy, không có
quả Tu đà hoàn, cho đến không có quả A la hán.
Như
hư không, không có địa vị Thanh văn, không có địa vị
Bích chi Phật, không có địa vị Phật. Ðại thừa cũng như
vậy, không địa vị Thanh văn cho đến địa vị Phật. Vì
vậy nên nói Ðại thừa cùng với hư không bình đẳng.
Như
hư không, chẳng phải có sắc, chẳng phải không có sắc,
chẳng phải có thể thấy, chẳng phải không thể thấy, chẳng
phải có đối ngại, chẳng phải không đối ngại, chẳng
phải hợp chẳng phải tán. Ðại thừa cũng như vậy, chẳng
phải có sắc, chẳng phải không có sắc, chẳng phải có thể
thấy, chẳng phải không thể thấy, chẳng phải có đối ngại,
chẳng phải không có đối ngại, chẳng phải hợp, chẳng
phải tán. Vì vậy nên nói Ðại thừa cùng với hư không bình
đẳng.
Tu
bồ đề! Như hư không chẳng phải thường, chẳng phải vô
thường, chẳng phải vui, chẳng phải khổ, chẳng phải ngã,
chẳng phải vô ngã. Ðại thừa cũng như vậy, chẳng phải
thường, chẳng phải vô thường, chẳng phải vui, chẳng phải
khổ, chẳng phải ngã, chẳng phải vô ngã. Vì vậy nên nói
Ðại thừa cùng với hư không bình đẳng.
Tu
bồ đề! Như hư không, chẳng phải không, chẳng phải chẳng
không, chẳng phải tướng, chẳng phải vô tướng, chẳng phải
làm, chẳng phải không làm. Ðại thừa cũng như vậy, chẳng
phải không, chẳng phải chẳng không, chẳng phải tướng,
chẳng phải vô tướng, chẳng phải làm, chẳng phải không
làm. Vì vậy nên nói Ðại thừa cùng với hư không bình đẳng.
Tu
bồ đề! Như hư không chẳng phải tịch diệt, chẳng phải
chẳng tịch diệt, chẳng phải lìa, chẳng phải chẳng lìa.
Ðại thừa cũng như vậy, chẳng phải tịch diệt, chẳng phải
chẳng tịch diệt, chẳng phải lìa, chẳng phải chẳng lìa.
Vì vậy nên nói Ðại thừa cùng với hư không bình đẳng.
Tu
bồ đề! Như hư không, chẳng phải tối, chẳng phải sáng.
Ðại thừa cũng như vậy, chẳng phải tối chẳng phải sáng.
Vì vậy nên nói Ðại thừa cùng với hư không bình đẳng.
Tu
bồ đề! Như hư không, chẳng phải khả đắc, chẳng phải
bất khả đắc. Ðại thừa cũng như vậy, chẳng phải khả
đắc, chẳng phải bất khả đắc. Vì vậy nên nói Ðại thừa
cùng với hư không bình đẳng.
Tu
bồ đề! Như hư không, chẳng phải có thể nói, chẳng phải
không thể nói. Ðại thừa cũng như vậy, chẳng phải có thể
nói, chẳng phải không thể nói. Vì vậy, nên nói Ðại thừa
cùng với hư không bình đẳng.
Tu
bồ đề! Do nhân duyên ấy, nên nói Ðại thừa, cùng với
hư không bình đẳng.
LUẬN:
Luận giả nói: Tu bồ đề tán thán Ðại thừa như hư không,
Phật liền thuật rộng thành việc ầy: Như hư không, không
có mười phương, Ðại thừa cũng không có mười phương,
cũng không có dài ngắn, vuông tròn, xanh, vàng đỏ, trắng.
Ðại thừa cũng như vậy.
Hỏi:
Hư không có thể như vậy, là pháp vô vi, không có sắc, không
phương hướng, còn Ðại thừa là pháp hữu vi, là sắc pháp,
đó là bố thí, trì giới v.v... làm sao nói cùng với hư không
bình đẳng?
Ðáp:
Sáu Ba la mật có hai thứ là thế gian và xuất thế gian. Thế
gian là hữu vi, sắc pháp, chẳng đồng với hư không. Xuất
thế gian cùng với như như, pháp tánh, thật tế, hòa hợp
với trí tuệ nên giống như hư không. Từ sau khi chứng được
Vô sinh pháp nhẫn, không có phân biệt như hư không.
Lại
nữa, như Phật dùng trí vô ngại, quán thật tướng như hư
không người khác thời không được như vậy, vì trí tuệ
không được thanh tịnh rốt ráo.
Lại
nữa, Phật trước sau nói các pháp rốt ráo không, như tướng
Vô dư Niết bàn, như hư không, không nên nghi ngờ. Các pháp
khác cũng như vậy, cho đến như hư không chẳng phải nói,
chẳng phải chẳng nói cũng như vậy.
Hỏi
Như hư không, nói là không có gì là đủ, cớ sao nói không
có các tướng?
Ðáp:
Bồ tát mới phát tâm, tâm đắm trước các pháp nhân duyên
trong ngoài, vì vậy nên Phật nói như hư không, không có các
tướng, Ðại thừa cũng như vậy.
KINH:
Tu bồ đề! Như lời ông nói: Như hư không hàm thụ vô lượng
vô biên vô số chúng sinh, Ðại thừa cũng hàm thụ vô lượng
vô biên vô số chúng sinh. Như vậy, như vậy! Tu bồ đề!
Chúng sinh không có nên biết hư không không có; hư không không
có nên biết Ðại thừa cũng không có. Vì nhân duyên ấy nên
Ðại thừa hàm thụ vô lượng vô biên vô số chúng sinh, vì
cớ sao? Vì chúng sinh, hư không, Ðại thừa, các pháp ấy đều
không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ðại thừa không có nên biết vô số không
có; vô số không có nên biết vô lượng không có; vô lượng
không có nên biết vô biên không có; vô biên không có nên
biết hết thảy các pháp không có. Vì nhân duyên ấy, Tu bồ
đề! Ðại thừa hàm thụ vô lượng vô biên vô số chúng
sinh, vì sao? Vì chúng sinh, hư không, Ðại thừa, vô số, vô
lượng, vô biên, hết thảy pháp ấy đều không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ngã không có, cho đến kẻ biết, kẻ thấy
không có, nên biết như như, pháp tánh, thật tế không có;
như như, pháp tánh, thật tế không có, nên biết cho đến
vô lượng vô biên vô số không có, vô lượng vô biên vô
số không có, nên biết hết thảy pháp không có. Vì nhân duyên
ấy, Tu bồ đề! Ðại thừa hàm thụ vô lượng vô biên vô
số chúng sinh, vì sao? Vì chúng sinh cho đến kẻ biết, kẻ
thấy; thật tế, cho đến vô lượng vô biên vô số, hết
thảy pháp ấy đều không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ngã không có cho đến kẻ biết kẻ thấy
không có, nên biết tánh bất khả tư nghì không có; tánh bất
khả tư nghì không có, nên biết sắc, thọ, tưởng, hành,
thức không có, nên biết hư không không có; hư không không
có, nên biết Ðại thừa không có; Ðại thừa không có, nên
biết vô số không có; vô số không có, nên biết vô lượng
không có; vô lượng không có, nên biết vô biên không có;
vô biên không có, nên biết hết thảy các pháp không có. Vì
nhân duyên ấy, Tu bồ đề! Nên biết Ðại thừa hàm thụ
vô lượng vô biên vô số chúng sinh, vì sao? Tu bồ đề! Vì
ngã cho đến kẻ biết kẻ thấy v.v... hết thảy pháp đều
không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ngã không có cho đến kẻ biết kẻ thấy
không có, nên biết mắt không có; tai, mũi, lưỡi, thân, ý
không có; mắt cho đến ý không có, nên biết hư không không
có; hư không không có, nên biết Ðại thừa không có; Ðại
thừa không có, nên biết vô số không có; vô số không có,
nên biết vô lượng không có; vô lượng không có, nên biết
vô biên không có; vô biên không có, nên biết hết thảy các
pháp không có. Vì nhân duyên ấy, Tu bồ đề! Ðại thừa hàm
thụ vô lượng vô biên vô số chúng sinh, vì sao? Tu bồ đề!
Ngã cho đến hết thảy các pháp đều không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ngã không có cho đến kẻ biết kẻ thấy
không có, nên biết Thí ba la mật không có; Giới ba la mật,
Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba
la mật không có; Bát nhã ba la mật không có, nên biết hư
không không có; hư không không có; nên biết Ðại thừa
không có; Ðại thừa không có, nên biết vô lượng vô biên
vô số không có; vô lượng vô biên vô số không có, nên biết
hết thảy các pháp không có. Vì nhân duyên ấy, Tu bồ đề!
Ðại thừa hàm thụ vô lượng vô biến vô số chúng sinh,
vì sao? Vì ngã, chúng sinh, cho đến hết thảy các pháp đều
không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ngã không có cho đến kẻ biết kẻ thấy
không có, nên biết “nội không” không có cho đến “ vô
pháp hữu pháp không” không có; vô pháp hữu pháp không không
có, nên biết hư không không có; hư không không có, nên biết
Ðại thừa không có; Ðại thừa không có, nên biết vô số
vô lượng vô biên không có; vô số vô lượng vô biên không
có, nên biết hết thảy các pháp không có. Vì nhân duyên ấy,
Tu bồ đề! Ðại thừa hàm thụ vô lượng vô biên vô số
chúng sinh, vì sao? Vì ngã, chúng sinh, cho đến hết thảy các
pháp đều không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ngã, chúng sinh cho đến kẻ biết kẻ thấy
không có, nên biết bốn niệm xứ không có; bốn niệm xứ
không có, cho đến mười tám pháp không chung không có; mười
tám pháp không chung không có, nên biết hư không không có;
hư không không có, nên biết Ðại thừa không có; Ðại thừa
không có, nên biết vô số vô lượng vô biên không có; vô
số vô lượng vô biên không có, nên biết hết thảy các pháp
không có. Vì nhân duyên ấy, Tu bồ đề! Ðại thừa ấy hàm
thụ vô lượng vô biên vô số chúng sinh, vì sao? Vì ngã, chúng
sinh, cho đến hết thảy các pháp đều không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ngã, chúng sinh không có, cho đến kẻ biết
kẻ thấy không có, nên biết Tánh địa không có, cho đến
Dĩ tác địa không có; Dĩ tác địa không có, nên biết hư
không không có; hư không không có, nên biết Ðại thừa không
có; Ðại thừa không có, nên biết vô số vô lượng vô biên
không có; vô số vô lượng vô biên không có, nên biết
hết thảy các pháp không có. Vì nhân duyên ấy, Ðại thừa
hàm thụ vô lượng vô biên vô số chúng sinh, vì sao? Vì ngã,
chúng sinh, cho đến hết thảy các pháp đều không thể có
được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ngã, chúng sinh,cho đến kẻ biết kẻ thấy
không có, nên biết Tu đà hoàn không có; Tu đà hoàn không
có, nên biết Tư đà hàm không có; Tư đà hàm không có, nên
biết A na hàm không có; A na hàm không có, nên biết A la hán
không có; A la hán không có, nên biết cho đến hết thảy các
pháp không có. Vì nhân duyên ấy, Tu bồ đề! Ðại thừa hàm
thụ vô lượng vô biên vô số chúng sinh, vì sao? Tu bồ đề!
vì ngã cho đến hết thảy các pháp đều không thể có được.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Ngã cho đến kẻ biết kẻ thấy không có,
nên biết Thanh văn thừa không có; Thanh văn thừa không có,
nên biết Bích chi Phật thừa không có; Bích chi Phật thừa
không có, nên biết Phật thừa không có; Phật thừa không
có, nên biết người Thanh văn không có; người Thanh văn không
có, nên biết Tu đà hoàn không có; Tu đà hoàn không có cho
đến Phật không có; Phật không có, nên biết Trí nhất thiết
chủng không có; Trí nhất thiết chủng không có, nên biết
hư không không có; hư không không có, nên biết Ðại thừa
không có; Ðại thừa không có, nên biết cho đến hết thảy
các pháp không có. Vì nhân duyên ấy, Ðại thừa hàm thụ
vô lượng vô biên vô số chúng sinh, vì sao? Vì ngã cho đến
hết thảy các pháp đều không thể có được, ví như, Tu
bồ đề! Tánh Niết bàn hàm thụ vô lượng vô biên vô số
chúng sinh, Ðại thừa cũng hàm thụ vô lượng vô biên vô
số chúng sinh. Vì nhân duyên ấy, Tu bồ đề! Như hư không
hàm thụ vô lượng vô biên vô sồ chúng sinh, Ðại thừa cũng
như vậy, hàm thụ vô lượng vô biên vô số chúng sinh.
LUẬN.
Hỏi: Sao không nói hư không rộng lớn vô biên nên hàm thụ
hết thảy vật, mà lại nói hư không không có nên có thể
hàm thụ hết thảy chúng sinh, mọi vật, Ðại thừa cũng không
có?
Ðáp:
Hiện thấy hư không không có, hết thảy vạn vật đều ở
trong đó, vì không có nên có thể hàm thụ.
Hỏi:
Tâm tâm số pháp cũng không hình chất, sao không hàm thụ hết
thảy vạn vật?
Ðáp:
Tâm tâm số pháp có tướng giác tri, chẳng phải tướng hàm
thụ. Lại không có chỗ ở, hoặc trong hoặc ngoài, hoặc gần
hoặc xa, chỉ do tướng phân biệt nên biết có tâm. Pháp hình
sắc có chỗ ở, nhân chỗ có sắc nên biết có hư không,
do sắc không dung thọ các vật nên biết hư không dung thọ
các vật. Sắc với hư không trái nhau, sắc nếu không dung
thọ, thời biết hư không dung thọ; như do vô minh nên biết
có minh, do khổ nên biết có vui, nhân sắc không có nên nói
có hư không, chứ không có tướng riêng.
Lại
nữa, tâm tâm số pháp còn có nghĩa không dung thọ, như tâm
tà kiến không dung thọ chánh kiến, tâm chánh kiến không dung
thọ tà kiến. Hư không thời không như vậy, hết thảy đều
dung thọ.
Lại
tâm tâm số pháp có tướng sinh diệt, là pháp có thể dứt,
còn hư không thời không vậy. Tâm tâm số pháp và hư không
đều đồng vô sắc, vô hình, chứ không được nói hoàn toàn
không khác. Vì vậy, nên trong các pháp, chỉ nói hư không có
thể dung thọ hết thảy.
Hỏi:
Trước tôi hỏi ý không phải vậy! Ý tôi hỏi cớ sao không
nói hư không vì vô lượng vô biên có thể dung thọ hết thảy
vật, mà lại nói vì không có nên dung thọ hết thảy vật?
Ðáp:
Tôi nói hư không không có tự tướng là đối đãi với sắc
tướng mà nói hư không; nếu không có tự tướng thời không
có hư không, làm sao nói nó vô lượng vô biên!
Hỏi:
Ông nói tướng dung thọ, tức là hư không, cớ sao nói không
có?
Ðáp:
Tướng dung thọ tức là không có sắc tướng, chỗ sắc không
đến được, gọi là hư không, vì vậy nên không có hư không.
Nếu thật có hư không, thời khi chưa có sắc phải không có
hư không; nếu chưa có sắc đã có hư không, thời hư không
vô tướng, vì sao? Vì chưa có sắc. Nhân sắc nên biết có
hư không, có sắc nên liền biết có vô sắc. Nếu trước
có sắc, sau có hư không, thời hư không là pháp tạo tác,
pháp tạo tác thời không gọi là thường. Nếu có pháp vô
tướng là không thể có được, vì vậy nên không có hư không.
Hỏi:
Nếu thường có hư không, nhân sắc nên tướng hư không hiện
rõ, vậy tướng hiện ra sau ấy ở hư không?
Ðáp:
Nếu hư không trước không có tướng, sau có tướng cũng không
có chỗ ở. Nếu hư không trước có tướng, tướng không
có sở tướng; nếu trước không có tướng, tướng cũng không
có chỗ ở. Hoặc lìa tướng và vô tướng, vì tướng không
có chỗ ở; nếu tướng không có chỗ ở, thời chỗ sở tướng
cũng không có, chỗ sở tướng không có, nên tướng cũng không
có. Lìa tướng và chỗ tướng ở, thì không còn có pháp.
Vì vậy nên hư không không gọi là tướng, không gọi là sở
tướng; không gọi là pháp, không gọi là phi pháp; không gọi
là có, không gọi là không có. Dứt các ngôn ngữ thời vắng
lặng như Vô dư Niết bàn. Các pháp khác cũng như vậy.
Hỏi:
Nếu hết thảy pháp như vậy tức là hư không, cớ sao còn
lấy hư không làm ví dụ?
Ðáp:
Nhân quả các pháp đều là hư dối. Nhân vô minh nên có dối
gạt tâm chúng sinh, chúng sinh đắm trước nơi pháp đó mà
không đắm trước nơi hư không. Sáu trần dối gạt tâm chúng
sinh, hư không tuy cũng dối gạt mà không hư vậy, vì vậy
nên lấy hư không làm ví dự; lấy việc thô thiển phá việc
vi tế. Như như không nhân nơi sắc nên chỉ có tên tác giả,
không có pháp nhất định. Chúng sinh cũng như vậy, nhân năm
uẩn hòa hợp nên chỉ có tên giả, cũng không có pháp nhất
định. Ðại thừa cũng như thế, vì chúng sinh không, nên không
có Phật, không có Bồ tát, vì có chúng sinh nên có Phật có
Bồ tát; nếu không có Phật, không có Bồ tát thời không
có Ðại thừa. Vì vậy nên Ðại thừa hay dung thọ vô lượng
vô biên vô số chúng sinh; nếu có pháp thời không thể dung
thọ vô lượng chư Phật và đệ tử.
Hỏi:
Nếu thật không có hư không, làm sao có thể dung thọ vô lượng
vô biên vô số chúng sinh?
Ðáp:
Vì vậy nên Phật nói vì Ðại thừa không có nên vô số không
có; vô số không có nên vô lượng cũng không có; vô lượng
không có nên vô biên cũng không có, vô biên không có nên hết
thảy pháp cũng không có, vì vậy nên có thể dung thọ.
A tăng
kỳ (Asamkya) là, Tăng kỳ, Trung Hoa dịch là Số, A dịch là
Vô. Chúng sinh và các pháp mỗi mỗi không thể có được biên
tế, nên gọi là vô số. Ðếm mười phương hư không xa gần
không thể có được biên giới của nó, nên gọi là vô số.
Phân biệt đếm sáu Ba la mật, chủng chủng bố thí, chủng
chủng trì giới v.v... không có số lượng, đếm bao nhiêu
chúng sinh đã lên xe (Chánh pháp), sẽ lên xe, hiện lên xe,
không thể kể hết; ấy gọi là vô số.
Lại
nữa, có người nói bắt đầu đếm chỉ có một, chỉ có
một, một một nên nói hai. Như vậy v.v... đều là một, không
còn cách đếm khác; nếu đếm là một thời không có số
(vô số).
Có
người nói: Hết thảy pháp do hòa hợp nên có tên gọi như
bánh xe, vành bánh xe, cái tay hoa xe, cái bầu giữa bánh xe hòa
hợp nên gọi là xe, không có thật pháp nhất định. Một
pháp không có nên nhiềupháp cũng không, vì trước một sau
mới nhiều.
Lại
nữa, dùng số đếm sự vật, sự vật không có nên số đếm
cũng không có, nên gọi là vô số.
Vô
lượng là như lấy đấu lường vật, lấy trí tuệ lường
các pháp cũng như vậy. Các pháp không, nên vô số, vô số
nên vô lượng vô biên, không có thật trí, làm sao biết được
định tướng các pháp?
Vô
lượng nên vô biên, lượng là tổng tướng, biên là biệt
tướng; lượng là tướng đầu, biên là tướng cuối cùng.
Lại
nữa, ngã cho đến kẻ biết kẻ thấy không có nên thật tế
cũng không có; thật tế không có nên vô số cũng không có;
vô số không có, nên vô lượng cũng không có; vô lượng không
có, nên vô biên cũng không có; vô biên không có, nên hết
thảy pháp cũng không có. Vì vậy nên hết thảy pháp rốt
ráo thanh tịnh. Ðại thừa dung thọ được hết thảy chúng
sinh và pháp, vì hai việc nhân nhau, nếu không có chúng sinh
thời không có pháp, nếu không có pháp thời không có chúng
sinh. Trước, tổng tướng nói hết thảy pháp không, sau mỗi
mỗi riêng nói các pháp không. Thật tế là diệu pháp sau cùng,
nó cũng không có huống gì các pháp khác. Từ tánh bất khả
tư lượng cho đến tánh Niết bàn,cũng như vậy.
KINH:
Tu bồ đề! Như ông nói, Ðại thừa ấy chẳng thấy chỗ
đến, chẳng thấy chỗ đi, chẳng thấy chỗ ở. Như vậy,
như vậy! Tu bồ đề! Ðại thừa ấy chẳng thấy chỗ đến,
chẳng thấy chỗ đi, chẳng thấy chỗ ở, vì sao? Tu bồ đề!
Vì hết thảy các pháp tướng chẳng động, nên pháp ấy không
chỗ đến, không chỗ đi, không chỗ ở, vì sao? Tu bồ đề!
Vì sắc không từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không
ở chỗ nào; thọ, tưởng, hành, thức không từ đâu đến,
cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào. Tu bồ đề! Sắc
pháp không từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không ở
chỗ nào; thọ, tưởng, hành, thức không từ đâu đến, cũng
không đi đâu, cũng không ở chỗ nào.
Tu
bồ đề! Sắc như không từ đâu đến, cũng không đi đâu,
cũng không ở chỗ nào; thọ, tưởng, hành, thức như, không
từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào.
Tu
bồ đề! Sắc tánh không từ đâu đến, cũng không đi đâu,
cũng không ở chỗ nào; thọ, tưởng, hành, thức, tánh, không
từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào.
Tu
bồ đề! Sắc tướng, khôg từ đâu đến, cũng không đi đâu,
cũng không ở chỗ nào; thọ, tưởng, hành, thức tướng, không
từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào.
Tu
bồ đề! Mắt, pháp mắt, mắt tánh như, mắt tướng, mắt
không từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ
nào; tai, mũi, lưỡi, thân, ý, pháp ý, như ý, tánh ý, tướng
ý, không từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không ở
chỗ nào. Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Ðịa chủng, pháp địa chủng, như địa chủng,
tánh địa chủng, tướng địa chủng, không từ đâu đến,
cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào; nước, lửa, gió,
không, thức chủng, pháp thức chủng, như thức chủng, tánh
thức chủng, tướng thức chủng, cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Như như, pháp như như, như như, tánh như như, tướng
như như, không từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không
ở chỗ nào.
Tu
bồ đề! Thật tế, pháp thật tế, như thật tế, tánh thật
tế, tướng thật tế, không từ đâu đến, cũng không đi
đâu, cũng không ở chỗ nào.
Tu
bồ đề! Bất khả tư nghì, pháp bất khả tư nghì, như bất
khả tư nghì, tánh bất khả tư nghì, tướng bất khả tư
nghì, không từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không ở
chỗ nào.
Tu
bồ đề! Thí ba la mật, pháp Thí ba la mật, như Thí ba la mật,
tánh Thí ba la mật, tướng Thí ba la mật, không từ đâu đến,
cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào. Giới ba la mật,
Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba
la mật, pháp Bát nhã ba la mật, như Bát nhã ba la mật, tánh
Bát nhã ba la mật, tướng Bát nhã ba la mật, không từ đâu
đến, cũng không đi đâu, cũng không ở chồ nào.
Tu
bồ đề! Bốn niệm xứ, pháp bốn niệm xứ, như bốn niệm
xứ, tánh bốn niệm xứ, tướng bốn niệm xứ, không từ
đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào; cho
đến mười tám pháp không chung cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Bồ tát, pháp Bồ tát, như Bồ tát, tánh Bồ tát,
tướng Bồ tát, không từ đâu đến, cũng không đi đâu, cũng
không ở chỗ nào.
Phật,
pháp Phật, như Phật, tánh Phật, tướng Phật, không từ đâu
đến, cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào; Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, pháp, như, tánh, tướng, không từ
đâu đến, cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào.
Tu
bồ đề! Hữu vi pháp, pháp hữu vi pháp, như hữu vi pháp,
tánh hữu vi pháp, tướng hữu vi pháp, không từ đâu đến,
cũng không đi đâu, cũng không ở chỗ nào.
Tu
bồ đề! Vô vi pháp, pháp vô vi pháp, như vô vi pháp, tánh
vô vi pháp, tướng vô vi pháp, không từ đâu đến, cũng không
đi đâu, cũng không ở chỗ nào.
Do
nhân duyên ấy, Tu bồ đề! Ðại thừa không thấy chỗ đến,
không thấy chỗ đi, không thấy chỗ ở.
LUẬN.
Luận giả nói: Phật bảo Tu bồ đề: Cớ sao ông chỉ tán
thán Ðại thừa không đến, không đi, không ở? Hết thảy
pháp cũng như vậy, không đến, không đi, không ở, vì thật
tướng hết thảy pháp chẳng động
Hỏi:
Các pháp hiện có đến, đi, có thể trông thấy, cớ sao nói
tướng nó không động, không đến, không đi?
Ðáp:
Tướng đến, đi, trước đã phá, nay sẽ nói lại: Trong Phật
pháp không có ngã, không có chúng sinh, cho đến không có kẻ
biết, kẻ thấy, nên kẻ đến kẻ đi không có; kẻ đến
kẻ đi không có, nên tướng đến tướng đi cũng phải không
có.
Lại
nữa, trong ba đời tìm tướng đi, không thể có được, vì
cớ sao? Vì trong khi đã đi không đi, trong khi chưa đi cũng
không đi, lìa đã đi và chưa đi, trong khi đi cũng không đi.
Hỏi:
Chỗ có thân động chuyển gọi là đi; trong đã đi và chưa
đi không thân động chuyển. Vì vậy nên khi đi, thân động
chuyển, tức phải có đi?
Ðáp:
Không phải vậy! Lìa tướng đi, khi đi không thể có được;
lìa khi đi, tướng đi không thể có được, làm sao nói khi
đi có đi?
Lại
nữa, nếu khi đi có tướng đi, lý dáng lìa tướng đi có
khi đi, vì sao? Vì ông nói khi đi có đi?
Lại
nữa, nếu khi đi có đi, thời nên có hai đi: Một là biết
khi đi, hai là biết khi đi có đi.
Hỏi:
Nếu như vậy thời có lỗi gì?
Ðáp:
Nếu như vậy có hai người đi, vì sao? Vì lìa người đi không
có tướng đi, nếu lìa người đi khi tướng đi, thì lìa tướng
đi không có người đi, thế nên người đi không đi, người
không đi cũng không đi; lìa đi và không đi, cũng không có
đi. Ðến và ở cũng như vậy.
Vì
vậy, Phật nói pháp của người phàm phu hư dối không thật,
tuy mắt thịt trông thấy không khác loài súc sinh, đều là
không thể tin. Thế nên nói các pháp không đến không đi.
không ở cũng không động, sao vậy? Như thế gọi là sắc,
pháp sắc, như sắc, tánh sắc, tướng sắc.
Sắc
là việc của mắt thấy, chưa phân biệt tốt xấu, thật không
thật, tướng mình tướng khác; pháp sắc là chỉ vô thường
sinh diệt, bất tịnh v.v... Như sắc là sắc do hòa hợp có,
như bọt nước không bền chắc, ly tán thời không có, hư
ngụy không thật, chỉ dối gạt mắt người. Sắc hiện tại
như vậy, sắc quá khứ, vị lai cũng như vậy, như hiện tại
lửa nóng, so sánh biết lửa quá khứ vị lai cũng như vậy.
Lại
nữa, như chư Phật quán sắc tướng rốt ráo thanh tịnh không,
Bồ tát cũng nên quán như vầy: Pháp sắc, như sắc, vì
sao không giống như chỗ thấy của phàm phu?
-
Vì tánh nó tự như vậy.
-
Tánh ấy thâm diệu làm sao biết được?
Do
lực của tướng sắc nên biết được. Như lửa lấy khói
làm tướng, thấy khói thời biết có lửa. Thấy tướng sắc
nay vô thường, phá hoại, khổ não, thô sáp mà biết tánh
nó là vậy. Năm pháp ấy không đi không đến không ở, như
trước nói. Cho đến vô vi, pháp vô vi; như, tánh, tướng vô
vi, không đến không đi không ở cũng như vậy.
KINH:
Tu bồ đề! Như ông nói, Ðại thừa tiền tế (đời trước)
không thể có được, hậu tế không thể có được, trung
tế không thể có được, thừa ấy ba đời bình đẳng, vì
vậy nên gọi là Ðại thừa. Như vậy, như vậy! Tu bồ đề!
Ðại thừa ấy tiền tế không thể có được, hậu tế không
thể có được, trung tế không thể có được, thừa ấy ba
đời bình đẳng, vì vậy nên gọi là Ðại thừa, vì sao?
Tu bồ đề! Ðời quá khứ, đời quá khứ không; đời vị
lai, đời vị lai không; đời hiện tại, đời hiện tại không;
ba đời bình đẳng, ba đời bình đẳng không; Ðại thừa,
Ðại thừa không; Bồ tát, Bồ tát không; vì sao? Tu bồ đề!
Vì Không ấy chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải
ba, chẳng phải bốn, chẳng phải năm, chẳng phải khác. Vì
vậy nên nói ba đời bình đẳng.
Ấy
là Ðại thừa của Bồ tát ma ha tát, vì trong thừa ấy tướng
đẳng chẳng đẳng không thể có được; nhiễm chẳng nhiễm
không thể có được; sân chẳng sân không thể có được;
si chẳng si không thể có được; mạn chẳng mạn không thể
có được, cho đến hết thảy pháp lành, pháp chẳng lành
không thể có được. Trong thừa ấy thường không thể có
được, vô thường không thể có được, vui không thể có
được, khổ không thể có được, thật không thể có được,
không không thể có được; ngã không thể có được, vô ngã
không thể có được; cõi Dục không thể có được, cõi Sắc
không thể có được, cõi Vô sắc không thể có được; độ
cõi Dục không thể có được, độ cõi Sắc không thể có
được, độ cõi Vô sắc không thể có được, vì sao? Vì
Ðại thừa ấy tự pháp không thể có được.
Tu
bồ đề! Quá khứ sắc, quá khứ sắc không, vị lai, hiện
tại sắc, vị lai, hiện tại sắc không; quá khứ thọ, tưởng,
hành, thức, quá khứ thọ, tưởng, hành, thức không; vị lai,
hiện tại thọ, tưởng, hành, thức; vị lai, hiện tại thọ,
tưởng, hành, thức không.
Trong
không, sắc quá khứ không thể có được, vì sao? Vì trong
không, không cũng không thể có được, huống gì trong không,
lại có sắc quá khứ được? Trong không, sắc vị lai hiện
tại không thể có được, vì sao? Vì trong không, không cũng
không thể có được, huống gì trong không có sắc vị lai
hiện tại được.
Trong
không, thọ, tưởng, hành, thức quá khứ không thể có được,
vì sao? Vì trong không, không cũng không thể có được, huống
gì trong không có thọ, tưởng, hành, thức quá khứ được,
trong không, thọ, tưởng, hành, thức vị lai hiện tại không
thể có được , vì sao? Vì trong không, không cũng không thể
có được, huống gì trong không có thọ, tưởng, hành, thức
vị lai, hiện tại được.
Tu
bồ đề! Thí ba la mật quá khứ không thể có được, Thí
ba la mật vị lai không thể có được, Thí ba la mật hiện
tại không thể có được, trong ba đời bình đẳng Thí ba
la mật cũng không thể có được, vì sao? Vì trong bình đẳng,
đời quá khứ không thể có được, đời vị lai không thể
có được, đời hiện tại không thể có được; trong bình
đẳng, bình đẳng cũng không thể có được, huống gì trong
bình đẳng có đời quá khứ, đời vị lai, đời hiện tại
được. Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền
ba la mật, Bát nhã ba la mật cũng như vậy.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Trong đời quá khứ bốn niệm xứ không
thể có được, cho đến trong đời quá khứ mười tám pháp
không chung không thể có được. Trong đời vị lai, hiện tại
cũng như vậy.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Trong ba đời bình đẳng bốn niệm xứ không
thể có được, trong ba đời bình đẳng cho đến mười tám
pháp không chung không thể có được, vì sao? Vì trong bình
đẳng bốn niệm xứ đời quá khứ không thể có được,
trong bình đẳng bốn niệm xứ đời vị lai không thể có
được, trong bình đẳng bốn niệm xứ đời hiện tại không
thể có được; trong bình đẳng, bình đẳng cũng không thể
có được; huống gì trong bình đẳng có bốn niệm xứ đời
quá khứ, bốn niệm xứ đời vị lai, hiện tại được. Trong
bình đẳng, bình đẳng cũng không thể có được, huống gì
trong bình đẳng có quá khứ cho đến mười tám pháp không
chung được; đời vị lai, hiện tại cũng vậy.
Lại
nữa, Tu bồ đề! Người phàm phu đời quá khứ không thể
có được, người phàm phu đời vị lai hiện tại không thể
có được. Trong ba đời bình đẳng, người phàm phu cũng không
thể có được, vì sao? Vì chúng sinh không thể có được,
cho đến kẻ biết kẻ thấy không thể có được. Thanh văn,
Bích chi Phật, Bồ tát, Phật trong đời quá khứ không thể
có được, Thanh văn, Bích chi Phật, Bồ tát, Phật trong đời
vị lai, hiện tại không thể có được. Trong ba đời bình
đẳng, Thanh văn, Bích chi Phật, Bồ tát, Phật không thể có
được, vì sao? Vì chúng sinh không thể có được, cho đến
kẻ biết kẻ thấy không thể có được.
Như
vậy, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát trú trong Bát nhã ba la mật
học tướng ba đời bình đẳng, sẽ đầy đủ Trí nhất thiết
chủng, ấy gọi là Ðại thừa của Bồ tát ma ha tát; nghĩa
là tướng ba đời bình đẳng.
Bồ
tát ma ha tát trú trong thừa ấy vượt trên hết thảy thế
gian người, trời, A tu la, thành tựu Tát bà nhã.
Bấy
giờ, Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Lành
thay, lành thay! Ðại thừa của Bồ tát ma ha tát, vì sao? Vì
các Bồ tát quá khứ nơi thừa ấy học được Trí nhất thiết
chủng, các Bồ tát vị lai cũng ở nơi thừa ấy học và dẽ
được Trí nhất thiết chủng. Bạch đức Thế Tôn! Các Bồ
tát trong mười phương vô lượng vô số thế giới hiện nay
cũng ở nơi thừa ấy học được Trí nhất thiết chủng.
Vì vậy nên, bạch đức Thế Tôn! Thừa ấy thật là Ðại
thừa của Bồ tát ma ha tát.
Phật
bảo Tu bồ đề! Như vậy, như vậy! Chư Phật quá khứ vị
lai, hiện tại nơi Ðại thừa ấy học, đã được Trí nhất
thiết chủng, sẽ được, nay được.
LUẬN:
Luận giả nói: Tu bồ đề lược tán thán Ðại thừa ầy
tiền tế, hậu tế, trung tế không thể có được, vì ba đời
bình đẳng nên gọi là Ðại thừa. Nay Phật diễn rộng lời
tán thán của Tu bồ đề: Ba đời tại sao không thể có được?
Ðời quá khừ, đời quá khứ không, đời vị lai, đời vị
lai không, đời hiện tại, đời hiện tại không, nên không
thể có được. Ba đời bình đẳng, bình đẳng là không.
Ðại thừa, Ðại thừa tự không; Bồ tát, Bồ tát tự không;
ấy là ý nghĩa của tướng không trong ba đời. Tướng ba đời
không, như trước đã nói. Trong đây Phật tự nói nhân duyên
của không. Nghĩa là không, tướng không, chẳng phải một,
chẳng phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải bốn, chẳng phải
năm v.v..., chẳng khác, chẳng hợp, chẳng tán, không có phân
biệt. Thế nên ba đời bình đẳng tướng không, vì không
có gì, bình đẳng ấy cũng không
Bồ
tát hiểu được ba đời bình đẳng như vậy, không cho từ
đời vô thỉ lại đây làm mệt chán, không cho đời vị lai
vô biên làm khó khăn, ấy là Bồ tát ba đời bình đẳng,
gọi là Ðại thừa. Trong Ðại thừa ấy tướng bình đẳng
không thể có được, tướng không bình đẳng cũng không thể
có được. Ðược Tam muội về ba đời bình đẳng ấy, phá
tướng bất bình đẳng. Vì đối đãi, bất bình đẳng nên
có đẳng, bất bình đẳng rốt ráo không có nên đẳng cũng
không có. Muốn, chẳng muốn, cho đến ba cõi độ ba cõi, là
pháp đối đãi cũng như vậy. Trong đây Phật tự nói: Các
pháp ấy đều do nhân duyên hòa hợp nên không có tự tánh,
tự tánh không có nên không.
Lại
nữa, sắc quá khứ, tướng sắc quá khứ không; vị lai, hiện
tại cũng như vậy. Như sắc, bốn uẩn khác cũng như vậy,
vì sao? Vì trong không, tướng không thể có được, huống
gì trong không có tướng ba đời năm uẩn được. Bồ tát
quán năm uẩn không, dứt tham dục, đi vào đạo, là Thí ba
la mật v.v... cũng như năm uẩn, trong ba đời không thể có
được, vì ba đời bình đẳng, bình đẳng tức là không.
Trong bình đẳng ấy, Thí ba la mật không thể có được.
Hỏi:
Cớ sao ba đời và trong ba đời bình đẳng, Thí ba la mật
không thể có được?
Ðáp:
Trong các pháp bình đẳng không có ba đời, trong bình đẳng,
tướng bình đẳng cũng không thể có được, huống gì có
ba đời. Năm Ba la mật khác cho đến mười tám pháp không
chung cũng như vậy.
Lại
nữa, trong ba đời tướng phàm phu không thể có được, Thanh
văn cho đến Phật cũng không thể có được; vì chúng sinh
không vậy. Bồ tát trú trong Bát nhã ba la mật học ba đời
bình đẳng không như vậy, nhóm các công đức lành, liền
đầy đủ Trí nhất thiết chủng. Phật nói Bồ tát trú được
ba đời bình đẳng như vậy, thời vượt trên hết thảy thế
gian trời, người và A tu la.
Khi
ấy Tu bồ đề, tán thán rằng: Lành thay, lành thay! Ðại thừa
lợi ích các Bồ tát, vì sao? Vì các Bồ tát quá khứ học
Ðại thừa ấy, đượa Trí nhất thiết chủng; chưa được,
nay được cũng như vậy.
Có
người nói: Không có nhân duyên được thanh tịnh, cũng không
có nhân duyên nhiễm cấu uế, lớn nhỏ, tốt xấu, trói mở
đều do vô chủ đưa đến.Có người nói: Tốt xấu, trói
mở, thời tiết đến thì tự được. Có người nói: Phước
đức thành tựu nên được Phật đạo. Có người nói: Chỉ
được thật trí tuệ thanh tịnh mới được Phật đạo.
Những
người nói như vậy đều là phi nhân duyên, ít nhân duyên,
Tu bồ đề không tán thán. Nay Phật bỏ phi nhân duyên, cũng
bỏ nhân duyên, không đầy đủ; mà nói nhân duyên đầy đủ,
đó là sáu Ba la mật, ba đời Bồ tát học thừa ấy đầy
đủ, được thành đạo. Phật cũng được Tu bồ đề tán
thán nói: Lành thay ! lành thay!
(Hết cuốn 51 theo bản Hán)