Tập
3
Cuốn
52
GIẢI
THÍCH: PHẨM HỘI TÔNG THỨ 24
(Kinh
Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Tùy Thuận thứ 22)
KINH:
Bấy giờ Tuệ mạng Phú lâu na Di đa la ni tử bạch Phật rằng:
Bạch đức Thế tôn! Phật trước sai Tu bồ đề thuyết Bát
nhã ba la mật cho các Bồ tát ma ha tát, sao nay bèn nói Ðại
thừa?
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con nói Ðại
thừa sẽ không xa lìa Bát nhã ba la mật chăng?
Phật
dạy: Tu bồ đề, không! Ông nói Ðại thừa tùy thuận Bát
nhã bala mật, không lìa Bát nhã ba la mật, vì sao? Vì hết
thảy pháp lành, pháp trợ đạo, hoặc pháp Thanh văn, hoặc
pháp Bích chi Phật, hoặc pháp Bồ đề, hoặc pháp Phật, hết
thảy pháp ấy đều nhiếp vào trong Bát nhã ba la mật.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Những gì
là pháp lành, pháp trợ đạo, pháp Thanh văn, pháp Bích chi
Phật, pháp Bồ tát, pháp Phật đều nhiếp vào trong Bát nhã
ba la mật?
Phật
bảo Tu bồ đề: Ðó là Thí ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn
ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật,
bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, bảy
giác phần, tám Thánh đạo, không, vô tướng, vô tác, giải
thoát môn, Phật mười lực, bốn điều không sợ, bốn trí
vô ngại, đại từ đại bi, mười tám pháp không chung, tướng
không sai lầm, thường xả hành. Tu bồ đề! Cùng các pháp
lành khác, pháp trợ đạo, hoặc pháp Thanh văn, hoặc pháp
Bích chi Phật, hoặc pháp Bồ tát, hoặc pháp Phật đều nhiếp
vào trong Bát nhã ba la mật.
Tu
bồ đề! Hoặc Ðại thừa, hoặc Bát nhã ba la mật, Thiền
ba la mật, Tấn ba la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật,
Thí ba la mật, hoặc sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhãn và
sắc, nhãn thức, nhãn xúc, các thọ do nhãn và xúc làm duyên
phát sinh, cho đến ý và pháp, ý thức, ý xúc, các thọ do
ý và xúc làm duyên phát sinh; địa chủng cho đến thức chủng,
bốn niệm xứ cho đến tám Thánh đạo phần, không vô tướng,
vô tác giải thoát môn và các pháp lành hoặc hữu lậu, hoặc
vô lậu, hoặc hữu vi, hoặc vô vi; hoặc Khổ đế, Tập đế,
Diệt đế, Ðạo đế, hoặc cõi Dục, hoặc cõi Sắc, hoặc
cõi Vô sắc; hoặc nội không cho đến vô pháp hữu pháp pháp
không; các môn Tam muội, các môn Ðà la ni; Phật mười lực
cho đến mười tám pháp không chung; hoặc Phật pháp, hoặc
Phật pháp tánh, như như, thật tế, bất khả tư nghì tánh,
Niết bàn; hết thảy các pháp ấy đều không hợp không tán,
không sắc, không hình, không đối, chỉ một tướng đó là
vô tướng.
Tu
bồ đề! Do nhân duyên ấy, nên ông nói Ðại thừa tùy thuận
Bát nhã ba la mật, vì sao? Tu bồ đề! Vì Ðại thừa không
khác Bát nhã ba la mật, Bát nhã ba la mật không khác Ðại
thừa; Bát nhã ba la mật và Ðại thừa không hai không khác.
Thí ba la mật không khác Ðại thừa, Ðại thừa không khác
Thí ba la mật; Thí ba la mật và Ðại thừa không hai không
khác, cho đến Thiền ba la mật cũng như vậy.
Tu
bồ đề! Bốn niệm xứ không khác Ðại thừa, Ðại thừa
không khác bốn niệm xứ; bốn niệm xứ và Ðại thừa không
hai không khác; cho đến mười tám pháp không chung không khác
Ðại thừa, Ðại thừa không khác mười tám pháp không chung;
mười tám pháp không chung và Ðại thừa không hai không khác.
Tu
bồ đề! Do nhân duyên ấy, nên ông nói Ðại thừa tức là
nói Bát nhã ba la mật.
LUẬN:
Luận giả nói: Phú lâu na tuy tự mình không nghi, chỉ vì kẻ
tân học độn căn không hiểu nghĩa một mà tên gọi khác,
nên đặt câu hỏi. Tu bồ đề liền đem việc ấy bạch Phật:
Phật pháp thậm thâm, điều con nói sẽ không có lỗi chăng?
Phật đáp: Ông nói Ðại thừa tùy thuận Bát nhã, không có
sai trái. Nghĩa là lúc đầu đã luận rồi, nay Phật dạy cho
nhân duyên tùy thuận; đó là hết thảy pháp lành thuộc ba
thừa, đều tụ hợp vào trong Bát nhã ba la mật, vì cớ sao?
Vì hết thảy pháp lành của ba thừa đều vì Niết bàn. Cửa
vào Niết bàn có ba: Hết thảy pháp đều vào cửa không, cửa
vô tướng, vô tác. Như trì giới hay sinh thiền định, thiền
định hay sinh thật trí tuệ, vì không nhiễm trước thế gian.
Những
gì là pháp trợ đạo của ba thừa nhiếp ở trong Bát nhã?
Ðó là sáu Ba la mật, ba mươi bảy phẩm, ba cửa giải thoát,
Phật mười lực, bốn việc không sợ, bốn trí vô ngại,
đại từ đại bi, mười tám pháp không chung, tướng không
sai lầm, thường xả hành. Trong đó ba mươi bảy phẩm, ba
cửa giải thoát, là pháp chung của ba thừa, sáu Ba la mật
là pháp của Bồ tát, mười lực cho đến thường xả hành
là pháp của Phật.
Có
người nói: Sáu Ba la mật có đầy đủ, có không đầy đủ.
Không đầy đủ là pháp chung cả hai thừa, đầyđủ là pháp
riêng của Bồ tát.
Lại
nữa, Ðại thừa không, Bát nhã ba la mật cũng không, nghĩa
không là một. Tu bồ đề tùy thuận không lầm, như Bát nhã
ba la mật không, năm Ba la mật cho đến như như, pháp tánh,
thật tế, bất khả tư nghì tánh, Niết bàn, cũng như vậy.
Lại
nữa, từ Bát nhã ba la mật cho đến Niết bàn, đều là không
hợp không tán, không sắc, không hình, không đối chỉ một
tướng đó là vô tướng. Vì đồng tướng nên nói Ðại thừa
là Bát nhã Ba la mật, Ðại thừa và Bát nhã không hai không
khác vậy.
GIẢI
THÍCH: PHẨM MƯỜI VÔ THỨ 25
(Kinh
Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Vô Biên Tế thứ 23)
KINH:
Tuệ mạng Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn!
Bồ tát ma ha tát, tiền tế không thể có được, hậu tế
không thể có được, trung tế không thể có được. Vì sắc
vô biên nên biết Bồ tát ma ha tát cũng vô biên; vì thọ,
tưởng, hành, thức vô biên, nên biết Bồ tát ma ha tát cũng
vô biên. Sắc là Bồ tát ma ha tát cũng không thể có được;
thọ, tưởng, hành, thức là Bồ tát ma ha tát là cũng không
thể có được. Như vậy, bạch Thế Tôn! Nơi hết thảy chủng,
hết thảy chỗ tìm Bồ tát không thể có được. Bạch Thế
tôn! Con sẽ dạy Bát nhã ba la mật cho những Bồ tát như thế
nào? Bạch Thế Tôn! Bồ tát ma ha tát chỉ có danh tự, như
nói danh tự ngã, ngã rốt ráo chẳng sinh, giống như ngã; các
pháp cũng như vậy, không có tự tánh.
Những
sắc gì rốt ráo không sinh; những thọ. tưởng, hành, thức
gì rốt ráo không sinh? Bạch Thế Tôn! Rốt ráo không sinh không
gọi là sắc, rốt ráo không sinh không gọi là thọ, tưởng,
hành, thức. Bạch Thế Tôn! Nếu pháp rốt ráo không sinh, nên
dạy đó là Bát nhã ba la mật ư? Lìa rốt ráo không sinh cũng
không có Bồ tát tu hành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nếu Bồ tát nghe nói lời này mà tâm không chìm đắm ưu hối,
không kinh, không hãi, không sợ, nên biết Bồ tát ma ha tát
như vậy, có thể tu hành Bát nhã ba la mật.
Xá
lợi phất hỏi Tu bồ đề: Do nhân duyên gì nên nói Bồ tát
ma ha tát tiền tế không thể có được, hậu tế không thể
có được, trung tế không thể có được?
Tu
bồ đề! Do nhân duyên gì nên nói sắc vô biên, nên biết
Bồ tát cũng vô biên? Thọ, tưởng, hành, thức vô biên, nên
biết Bồ tát cũng vô biên?
Tu
bồ đề! Do nhân duyên gì nên nói sắc là Bồ tát cũng không
thể có được? Thọ, tưởng, hành, thức là Bồ tát cũng
không thể có được?
Tu
bồ đề! Do nhân duyên gì nên nói nơi hết thảy chủng, hết
thảy chỗ tìm Bồ tát không thể có được, nên dạy Bát
nhã ba la mật cho những Bồ tát như thế nào?
Tu
bồ đề! Do nhân duyên gì nên nói Bồ tát chỉ có danh tự?
Tu
bồ đề! Do nhân duyên gì nên như nói danh tự ngã, ngã rốt
ráo không sinh, như ngã, các pháp cũng như vậy, đều không
có tự tánh?
Tu
bồ đề! Những sắc gì rốt ráo không sinh? Những thọ, tưởng,
hành, thức gì rốt ráo không sinh?
Tu
bồ đề! Do nhân duyên gì nên nói rốt ráo không sinh không
gọi là sắc; rốt ráo không sinh không gọi là thọ, tưởng,
hành, thức?
Tu
bồ đề! Do nhân duyên gì nên nói nếu pháp rốt ráo không
sinh, nên dạy Bát nhã ba la mật ấy chăng?
Tu
bồ đề! Do nhân duyên gì nên nói lìa rốt ráo không sinh thì
cũng không có Bồ tát tu hành Vô thượng Chánh đẳng chánh
giác?
Tu
bồ đề! Do nhân duyên gì nên nói, nếu Bồ tát nghe lời nói
ấy mà tâm không chìm đắm, không ưu hối, không kinh, không
hãi, không sợ, nếu tu hành được như vậy, ấy gọi là Bồ
tát ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật?
Bấy
giờ, Tu bồ đề trả lời Xá lợi phất rằng: Vì chúng sinh
không có nên Bồ tát tiền tế không thể có được, vì chúng
sinh không, nên Bồ tát tiền tế không thể có được; vì
chúng sinh lìa, nên Bồ tát tiến tế không thể có được.
Xá
lợi phất! Vì sắc không có nên tiền tế không thể có được;
vì thọ, tưởng, hành, thức không có nên Bồ tát tiền tế
không thể có được; vì sắc không nên Bồ tát tiền tế
không thể có được; vì thọ, tưởng, hành, thức không nên
Bồ tát tiền tế không thể có được; vì sắc lìa nên Bồ
tát tiền tế không thể có được; vì thọ, tưởng, hành,
thức lìa nên Bồ tát tiền tế không thể có được.
Xá
lợi phất! Vì sắc tánh không có nên Bồ tát tiền tế không
thể có được; vì thọ, tưởng, hành, thức tánh không có
nên Bồ tát tiền tế không thể có được.
Xá
lợi phất! Vì Thí ba la mật không có nên Bồ tát tiền tế
không thể có được; vì Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật,
Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật không có
nên Bồ tát tiền tế không thể có được, vì sao? Xá lợi
phất! Vì trong không, tiền tế không thể có được, hậu
tế không thể có được, trung tế không thể có được. Không
chẳng khác Bồ tát, Bồ tát chẳng khác tiền tế. Xá lợi
phất! Không, Bồ tát, tiền tế, các pháp ấy không hai không
khác. Do nhân duyên ấy nên Bồ tát tiền tế không thể có
được.
Xá
lợi phất! Vì Thí ba la mật không nên Thí ba la mật lìa, vì
Thí ba la mật tánh không có, nên Bồ tát tiền tế không thể
có được; vì Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật,
Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật không nên Bát nhã ba la
mật lìa, vì Bát nhã ba la mật tánh không có, nên Bồ tát
tiền tề không thể có được, vì cớ sao? Xá lợi phất!
Trong không tiền tế không thể có được, hậu tế không thể
có được, trung tế không thể có được. Không chẳng khác
Bồ tát, Bồ tát cũng chẳng khác tiền tế. Xá lợi phất!
Không, Bồ tát, tiền tế không hai không khác. Do nhân duyên
ấy, Xá lợi phất, nên Bồ tát tiền tế không thể có được.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Nội không không có nên Bồ tát tiền
tế không thể có được, cho đến vô pháp hữu pháp không
không có nên Bồ tát tiền tế không thể có được.
Vì nội không không nên nội không lìa, vì nội không tánh
không có cho đến vô pháp hữu pháp không, vì không, vì lìa,
vì tánh không có nên Bồ tát tiền tế không thể có được.
Các nghĩa khác như trê đã nói.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Bốn niệm xứ không có nên Bồ tát tiền
tế không thể có được; bốn niệm xứ vì không, vì lìa,
vì tánh không có nên Bồ tát tiền tế không thể có được,
cho đến mười tám pháp không chung không có, nên Bồ tát tiền
tế không thể có được; mười tám pháp không chung, vì không,
vì lìa, vì tánh không có, nên Bồ tát tiền tế không thể
có được. Các nghĩa khác như trên đã nói. Do nhân duyên ấy,
Xá lợi phất, nên Bồ tát tiền tế không thể có được.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Hết thảy môn Tam muội, hết thảy môn
Ðà la ni không có nên Bồ tát tiền tế không thể có được;
môn Tam muội, môn Ðà la ni vì không, vì lìa, vì tánh không
có, nên Bồ tát tiền tế khôg thể có được. Các nghĩa khác
như trên nói.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Pháp tánh không có, nên Bồ tát tiền
tế không thể có được; pháp tánh vì không, vì lìa, vì tánh
không có, nên Bồ tát tiền tế không thể có được, các
nghĩa khác như trên đã nói.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Như như vì không có, vì không, vì lìa,
vì tánh không có; thật tế vì không có, vì không, vì lìa,
vì tánh không có; bất khả tư nghì tánh không có, vì không,
vì lìa, vì tánh không có, nên Bồ tát tiền tế không thể
có được. Các nghĩa khác như trên nói.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Vì Thanh văn không có nên Bồ tát tiền
tế không thể có được; Thanh văn vì không, vì lìa, vì tánh
không có nên Bồ tát tiền tế không thể có được; Bích
chi Phật vì không có, vì không, vì lìa, vì tánh không có nên
Bồ tát tiền tế không thể có được; Phật vì không có,
vì không, vì lìa, vì tánh không có nên Bồ tát tiền tế không
thể có được; Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác vì không
có, cho đến vì tánh không có nên Bồ tát tiền tế không
thể có được.
Lại
nữa, Trí nhất thiết chủng vì không có cho đến vì tánh
không có, nên Bồ tát tiền tế không thể có được, vì sao?
Xá lợi phất! Vì không, tiền tế không thể có được, hậu
tế không thể có được, trung tế không thể có được, nên
Bồ tát tiền tế không thể có được. Xá lợi phất! Không
chẳng khác Bồ tát, cũng chẳng khác tiền tế; không, Bồ
tát, tiền tế, các pháp ấy không hai không khác. Do nhân duyên
ấy, Xá lợi phất, nên Bồ tát tiền tế không thể có được;
hậu tế, trung tế cũng như vậy.
LUẬN.
Hỏi: Trước đã nói Bồ tát, danh tự Bồ tát không thể có
được, thì vì ai để nói Bát nhã ba la mật? Sao nay còn nói
lại?
Ðáp:
Không nên hỏi câu ấy. Vì Tu bồ đề tu không hạnh đệ nhất,
thường ưa nói không, nếu có nói, thì cũng thường đem không
môn để lợi ích chúng sinh.
Lại
nữa, trên mới lược nói, trong đây lấy mười thứ để
phân biệt rộng nghĩa Bồ tát không thể có được. Hành giả
nếu quán các pháp không, tùy thuận, vô tướng, vô tác, vì
tâm vô tác nên không muốn có tác vi, như vậy còn không thể
tự làm lợi ích cho mình, huống gì làm lợi ích cho người!
Nếu người ở vào tâm hữu ngã thời có thể phân biệt các
pháp tướng lành và chẳng lành, nhóm các pháp lành, bỏ các
pháp chẳng lành. Nay Phật dạy trong Bát nhã ba la mật không
nên có tâm chấp ngã, không nên phân biệt các pháp, chỉ tu
hành các thiện, việc ấy rất khó. Hành giả nghĩ rằng: Nếu
không có ngã, thời ai tu điều thiện? Nghĩ rằng: Trước có
ngã, nay vì Bát nhã ba la mật nên không có, nên sinh tâm lo
buồn. Vì thế nên Tu bồ đề nói lại: Ngã từ xưa lại đây
không có chứ chẳng phải trước có nay không. Hành giả biết
như vậy xưa nay tự không có, nay không mất gì, cho nên không
lo sợ; ví như cây lớn rễ sâu, không thể chặt một nhát
mà đứt, phải dùng sức chặt nhiều búa mới đứt được.
Bồ tát cũng như vậy, không thể nói một lần mà được,
vì vậy nên phải phân biệt rộng.
Tu
bồ đề khi hỏi Phật, nghĩ rằng: Nếu quyết định có Bồ
tát thời ba đời đều có, nay trong đời trước không có
Bồ tát, vì sao? Vì đời trước không có bắt đầu, đời
vị lai cũng như vậy, vì chưa có nhân duyên. Trước sau đối
đãi mới có trung gian, nếu không có trước sau thời không
có trung gian. Nếu cho năm uẩn là Bồ tát, năm uẩn không biên
giới, do trước do nhiều nhân duyên nói năm uẩn rốt ráo
không, nên vô lượng vô biên, vô lượng vô biên nên đồng
là pháp vô vi. Nếu Bồ tát vô biên, việc ấy không đúng.
Do nhân duyên ấy nên Bồ tát không thể có được, sẽ thuyết
cho ai? Trong tất cả chỗ, tất cả chủng, tất cả thời tìm
Bồ tát không thể có được, sẽ thuyết cho ai? Như ngã rốt
ráo không sinh, không, không có gì, năm uẩn cũng như vậy,
rốt ráo không sinh, không có gì; đã không có chúng sinh và
pháp năm uẩn, làm sao có Bồ tát?
Hỏi:
Chúng sinh và năm uẩn rốt ráo không sinh, người hiểu được
pháp ấy tức là Bồ tát sao?
Ðáp:
Rốt ráo không sinh, không gọi là sắc, không gọi là thọ,
tưởng, hành, thức; vì sao? Vì năm uẩn là tướng sinh, trong
rốt ráo không sinh không có tướng tự phân biệt ấy. Năm
uẩn rốt ráo không sinh thì không thể đem ra giáo hóa; xa lìa
rốt ráo không sinh, cũng không có Bồ tát hành đạo, vậy
sẽ dạy ai? Bồ tát nghe như vậy, không sợ, không hãi, ấy
là có thể tu hành Bồ tát đạo.
Hỏi:
Ngã với Bồ tát là một vật, cớ sao lấy ngã ví dụ Bồ
tát?
Ðáp:
Trong Bát nhã ba la mật, hết thảy pháp đều không, đối với
kẻ sơ học không tiện vì họ nói không, nên trước tiên
phải phân biệt tội phước, bỏ tội tu phước. Phước đức
quả
báo
vô thường, vô thường nên sinh khổ, thế nên bỏ phước,
nhàm chán thế gian, cầu đạo vào Niết bàn.
Bấy
giờ, nên suy nghĩ rằng: Nhân nơi ngã nên sinh các phiền não,
ngã ấy ở trong sáu thức tìm không thể có được, chỉ do
điên đảo nên chấp ngã, thế nên hiểu lý vô ngã dễ, dễ
nên có thể lãng thọ giáo hóa. Nếu nói sắc không, thời
khó hiểu, tuy tai nghe nói không, mắt thường thấy thật có,
thế nên trước phá cái ngã đối với tội ác sau mới phá
tất cả pháp. Tất cả những Phật tử đắc đạo tự biết
tự chứng vô ngã, người chưa đắc đạo thì tin các pháp
không, chẳng thể như tin vô ngã; thế nên lấy vô ngã để
ví dụ.
Trong
đây Tu bồ đề nói hết thảy pháp không, suy đến không có
Bồ tát, nên dùng vô ngã để ví dụ, lấy nhỏ ví dụ lớn,
như lấy đường phèn ví dụ cam lồ.
Hỏi:
Xá lợi phất đã biết nghĩa không, vô ngã, có gì còn mỗi
việc mỗi hỏi?
Ðáp:
Tu bồ đề là thuộc hàng Thanh văn, đức không bằng Bồ tát
mà ở trước Phật nói Bát nhã thâm sâu, thời tâm hàng Bồ
tát mới học hoặc sinh nghi. Trên kia Phật khen tuy ông nói
về Ðại thừa tùy thuận Bát nhã, vẫn cho là Phật muốn
thuận theo Tu bồ đề. Xá lợi phất muốn dứt cái nghi ấy,
nên hỏi.
Lại
nữa, Phật muốn cùng Tu bồ đề nói Bát nhã cho đến rốt
ráo, nên Xá lợi phất mỗi việc mỗi hỏi khiến Tu bồ đề
khéo phân biệt thâm nghĩa, khiến mọi người kính tin. Vì
vậy nên hỏi trong quá khứ Bồ tát không thể có được,
cho đến vẫn không sợ không hãi. Tu bồ đề đáp nghĩa: Ngã,
chúng sinh, người chính là một vật, nhưng khi chưa đắc đạo
gọi là phàm phu, khi mới vào đạo cho đến A la hán gọi là
người Thanh văn. Khi quán pháp nhân duyên ngộ lý không, chưa
sâu, ít thương xót chúng sinh, gọi là người Bích chi Phật.
Khi sâu vào pháp không, hành sáu Ba la mật, đại từ đại
bi, ấy gọi là người Bồ tát. Vì công đức khác nhau nên
tên gọi cũng khác. Như ngã, chúng sinh, người là một việc,
mà do mắt thấy việc nên gọi là người ấy, ý biết được
nên gọi là người biết, thọ khổ vui nên gọi là người
thọ. Ngã, chúng sinh, người trước đã nói do các nhân duyên
không có nên Bồ tát cũng phải không có. Thế nên Tu bồ đề
nói với Xá lợi phất: Vì chúng sinh không có nên trong ba đời
không có Bồ tát.
Hỏi:
Do năm uẩn hòa hợp có Bồ tát, vậy Bồ tát lẽ phải không
có, còn năm uẩn lẽ phải có?
Ðáp:
Vì phá việc ấy nên nói không có chúng sinh, không có ngã;
không có ngã thời nên năm uẩn không thuộc về đâu; không
thuộc về đâu nên không, vì không nên không có Bồ tát.
Hỏi:
Nếu năm uẩn không, không tức là Bồ tát?
Ðáp:
Năm uẩn không cũng chẳng phải Bồ tát. Không, không có gì
nên không có phân biệt. Năm uẩn lìa, năm uẩn vô tánh cũng
không có Bồ tát, nếu nói không có Bồ tát thời ba đời
đều không có. Quán các pháp thế gian năm uẩn v.v... và quán
đạo pháp sáu Ba la mật v.v... ấy gọi là Bồ tát. Vì pháp
ấy không nên Bồ tát cũng không. Trong đây Phật tử nói nhân
duyên về các pháp không không khác Bồ tát, Bồ tát không
khác các pháp không. Bồ tát không và ba đời không không hai
không khác, từ pháp sáu Ba la mật cho đến Trí nhất thiết
chủng, tu theo pháp ấy nên gọi là Bồ tát. Vì các pháp ấy
không, nên Bồ tát cũng không. Pháp không này Thanh văn, Bích
chi Phật chứng nhập không ấy gọi là Thanh văn, Bích chi Phật,
Thanh văn, Bích chi Phật chứng nhập nhân không, Bồ tát cũng
như vậy.
KINH:
Như Xá lợi phất nói, vì sắc vô biên nên biết Bồ tát cũng
vô biên; thọ, tưởng, hành, thức vô biên, nên biết Bồ tát
cũng vô biên.
Xá
lợi phất! Sắc như hư không; thọ, tưởng, hành, thức như
hư không, vì sao? Xá lợi phất! Ví như hư không biên tế không
thể có được, trung gian không thể có được, không có biên
tế, không có trung gian, nên chỉ gọi là hư không. Như vậy,
Xá lợi phất! Sắc biên tế không thể có được, trung gian
không thể có được, vì sắc ấy không; trong không cũng không
có biên tế, cũng không có trung gian; thọ, tưởng, hành, thức
biên tế không thể có được, trung gian không thể có được,
vì thức ấy không, trong không, không có biên tế, không có
trung gian. Do nhân duyên ấy, nên Xá lợi phất! Sắc không biên
tế nên biết Bồ tát cũng không có biên tế; thọ, tưởng,
hành, thức không có biên tế, nên biết Bồ tát cũng không
có biên tế, cho đến mười tám pháp không chung như vậy.
Như
Xá lợi phất nói: Sắc là Bồ tát, ấy cũng không thể có
được; thọ, tưởng, hành, thức là Bồ tát cũng không thể
có được. Xá lợi phất! Sắc, sắc tướng không, thọ, tưởng,
hành, thức, thức tướng không. Thí ba la mật, Thí ba la mật
tướng không, cho đến Bát nhã ba la mật cũng như vậy.
Nội
không, tướng nội không cũng không, cho đến vô pháp hữu
pháp không, tướng vô pháp hữu pháp không cũng không, bốn
niệm xứ, tướng bốn niệm xứ không, cho đến mười tám
pháp không chung, mười tám pháp không chung tướng không. Như
như, pháp tánh, thật tế, bất khả tư nghì tánh, bất khả
tư nghì tánh tướng không; môn Tam muội, tướng môn Tam muội
không; môn Ðà la ni, tướng môn Ðà la ni không; nhất thiết
trí, tướng nhất thiết trí không; đạo chủng trí, tướng
đạo chủng trí không; Trí nhất thiết chủng, tướng Trí
nhất thiết chủng không.
Thanh
văn thừa, tướng Thanh văn thừa không; Bích chi Phật thừa,
tướng Bích chi Phật thừa không; Phật thừa, tướng Phật
thừa không; người Thanh văn, tướng người Thanh văn không;
Bích chi Phật, tướng Bích chi Phật không; Phật, tướng Phật
không. Trong không, sắc không thể có được; thọ, tưởng,
hành, thức không thể có được. Do nhân duyên ấy, nên Xá
lợi phất! Sắc là Bồ tát cũng không thể có được; thọ,
tưởng, hành, thức là Bồ tát cũng không thể có được.
Như Xá lợi phất nói do nhân duyên gì nơi tất cả chủng,
tất cả xứ, tìm Bồ tát không thể có được, thời sẽ
dạy Bồ tát nào về Bát nhã ba la mật?
Xá
lợi phất! Sắc không thể có được trong sắc, sắc không
thể có được trong thọ; thọ không thể có được trong thọ,
thọ không thể có được trong sắc; thọ không thể có được
trong tưởng, tưởng không thể có được trong tưởng; tưởng
không thể có được trong sắc, thọ; tưởng không thể có
được trong hành; hành không thể có được trong hành; hành
không thể có được trong sắc, thọ, tưởng, hành không thể
có được trong thức, thức không thể có được trong thức;
thức không thể có được trong sắc, thọ, tưởng, hành.
Xá
lợi phất! Mắt không thể có được trong mắt, mắt không
thể có được trong tai; tai không thể có được trong tai,
tai không thể có được trong mắt; tai không thể có được
trong mũi, mũi không thể có được trong mũi, mũi không thể
có được trong mắt; tai , mũi không thể có được trong lưỡi;
lưỡi không thể có được trong lưỡi, lưỡi khôg thể có
được trong mắt,tai, mũi; lưỡi không thể có được trong
thân; thân không thể có được trong thân, thân không thể
có được trong mắt, tai, mũi, lưỡi; thân không thể có được
trong ý; ý không thể có được trong ý, ý không thể
có được trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Sáu nhập, sáu
thức, sáu xúc; sáu xúc làm nhân duyên sinh thọ cũng như vậy.
Thí
ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật, nội không cho đến vô
pháp hữu pháp không, bốn niệm xứ, cho đến mười tám pháp
không chung, hết thảy môn Tam muội, hết môn Ðà la ni, tánh
pháp cho đến Bích chi Phật pháp, Sơ địa cho đến Thập địa,
Nhất thiết trí, Ðạo chủng trí, Trí nhất thiết chủng cũng
như vậy. Tu đà hoàn cho đến A la hán, Bích chi Phật,
Bồ tát, Phật cũng như vậy.
Bồ
tát không thể có được trong Bồ tát, Bồ tát không thể
có được trong Bát nhã ba la mật; Bát nhã ba la mật không
thể có được trong Bát nhã ba la mật; Bát nhã ba la mật không
thể có được trong Bồ tát. Trong Bát nhã ba la mật; giáo
hóa là vô sở hữu không thể có được trong giáo hóa; giáo
hóa là vô sở hữu, không thể có được trong giáo hóa, Bồ
tát và Bát nhã ba la mật là vô sở hữu, không thể có được.
Như
vậy,Xá lợi phất! Hết thảy pháp là vô sở hữu không thể
có được. Do nhân duyên ấy nên nơi hết thảy chủng, hết
thảy xứ tìm Bồ tát không thể có được, nên dạy Bồ tát
nào về Bát nhã ba la mật?
Như
Xá lợi phất nói: Do nhân duyên gì nên nói Bồ tát ma ha tát
chỉ có giả danh? Xá lợi phất! Sắc là giả danh; thọ, tưởng,
hành, thức là giả danh. Tên sắc chẳng phải sắc; tên thọ,
tưởng, hành, thức là giả danh. Tên sắc chẳng phải sắc;
tên thọ, tưởng, hành, thức chẳng phải thức, vì sao? Vì
tên, tướng tên không, nếu không thời chẳng phải Bồ tát.
Do nhân duyên ấy, nên Xá lợi phất! Bồ tát chỉ có giả
danh.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Thí ba la mật chỉ có danh tự, trong danh
tự chẳng phải có Thí ba la mật, trong Thí ba la mật chẳng
phải có danh tự. Do nhân duyên ấy nên Bồ tát chỉ có giả
danh; Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật Thiền
ba la mật, Bát nhã ba la mật chỉ có giả danh. Trong danh tự
không có Bát nhã ba la mật, trong Bát nhã ba la mật không có
danh tự. Do nhân duyên ấy, nên Bồ tát chỉ có giả danh.
Xá
lợi phất! Nội không chỉ có danh tự, cho đến vô pháp hữu
pháp không chỉ có danh tự; trong danh tự không có nội không,
trong nội không không có danh tự, vì sao? Vì danh tự và nội
không đều không thể có được, cho đến vô pháp hữu pháp
không cũng như vậy. Do nhân duyên ấy, nên Xá lợi phất! Bồ
tát chỉ có giả danh.
Xá
lợi phất! Bốn niệm xứ chỉ có danh tự, cho đến mười
tám pháp không chung chỉ có danh tự, hết thảy môn Tam muội,
hết môn Ðà la ni, cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như
vậy. Do nhân duyên ấy, nên Xá lợi phất! Tôi nói Bồ tát
chỉ có giả danh.
Như
Xá lợi phất nói: Do nhân duyên gì nên nói danh tự ngã rốt
ráo không sinh? Xá lợi phất! Ngã rốt ráo không thể có được,
làm sao có sinh, cho đến kẻ biết kẻ thấy rốt ráo không
thể có được, làm sao có sinh? Xá lợi phất! Sắc rốt ráo
không thể có được, làm sao có sinh, thọ, tưởng, hành, thức
rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Mắt rốt ráo
không thể có được cho đến ý và xúc làm nhân duyên sinh
thọ rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Thí ba
la mật rốt ráo không thể có được, cho đến Bát nhã ba
la mật rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Nội
không rốt ráo không thể có được,cho đến vô pháp hữu
pháp không, rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh?
Bốn
niệm xứ rốt ráo không thể có được, cho đến mười tám
pháp không chung rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh?
Các môn Tam muội, các môn Ðà la ni rốt ráo không thể có
được, làm sao có sinh? Thanh văn cho đến Phật rốt ráo không
thể có được, làm sao sinh?
Do
nhân duyên ấy, nên Xá lợi phất! Tôi nói như danh tự ngã,
ngã cũng rốt ráo không sinh.
Luận.
Hỏi: Tâm tâm số pháp vô hình, không thể thấy, nên có thể
vô biên, còn sắc có hình, có thể thấy, làm sao vô biên?
Ðáp:
Không chỗ nào không có sắc, không thể trù lượng nó xa gần
nặng nhẹ được. Như Phật dạy: Bốn đại không nơi nào
không có, nên gọi là đại, không thể dùng năm thức biết
được gìới hạn của nó, không thể dùng cân đấu lượng
nó nhiều ít nặng nhẹ được, nên nói sắc là vô biên.
Lại
nữa, sắc ấy ở thời quá khứ, lúc sơ thủy không thể có
được, trong thời vị lai, không có giới hạn kiếp số nhiều
như hằng hà sa, sắc sẽ có cùng tận, nên không có ngần
mé sau. Ngần mé đầu, ngần mé sau không có, nên đoạn giữa
cũng không có.
Lại
nữa, ngằn mé là tướng của sắc. Sắc ấy bị phân biệt
phá tan nên ngần mé không thể có được, vì không có bản
tướng.
Lại
nữa, pháp vô vi chẳng sinh chẳng diệt, nên vô số vô lượng
vô biên, do pháp không quán quán sắc đều không, cùng với
hư không và vô vi đồng tướng. Trong vô số vô lượng vô
biên cho đến mảy may vi trần cũng không thể có được, huống
gì Bồ tát? Thế nên nói năm uẩn vô biên, Bồ tát cũng vô
biên. Như sắc vô biên, cho đến mười tám pháp không chung
cũng như vậy, tùy theo tướng mà phân biệt như trước nói.
Năm uẩn ấy vô lượng vô biên vô số, nên không được nói
sắc là Bồ tát. Bốn uẩn kia cũng như vậy.
Lại
nữa, sắc nếu lìa tâm tâm số pháp thời như cây cỏ ngói
đá, làm sao gọi là Bồ tát? Nếu tâm tâm số pháp lìa sắc
thời không có chỗ nương dựa, cũng không thể làm được
gì, làm sao gọi là Bồ tát?
Lại
nữa, sáu Ba la mật, mười tám không, ba mươi bảy phẩm, mười
lực, cho đến mười tám pháp không chung, như như, pháp tánh,
thật tế, bất khả tư nghì tánh, ba môn giải thoát, môn Ðà
la ni, các môn Tam muội, Nhất thiết trí (Tát bà nhã), Ðạo
chủng trí, Trí nhất thiết chủng, ba thừa, người ba thừa,
hoặc tu hoặc quán các pháp ấy, gọi là Bồ tát. Các pháp
ấy đều vì tự tướng không nên không, đó là Thí ba la mật,
Thí ba la mật tướng không cho đến Phật, Phật tướng không.
Hết
thảy xứ là năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới, cho
đến Trí nhất thiết chủng.
Hết
thảy chủng là mười tám không, ba môn giải thoát, Bát nhã
ba la mật, quán hoặc thường hoặc vô thường v.v... vào một
môn, hai môn, cho đến vô lượng môn v.v... ấy gọi là hết
thảy chủng. Nơi xứ và chủng đó tìm cầu Bồ tát không
thể có được.
Lại
vì nơi tự pháp không có tự pháp, cũng không có tha pháp,
như trong đây nói sắc, không thể có được trong sắc, không
thể có được trong thọ; thọ không thế được trong thọ,
thọ không thể có được trong sắc, cho đến Bát nhã ba la
mật không thể có được trong Bát nhã ba la mật, cho đến
giáo hóa không thể có được trong giáo hóa. Chỉ có danh tự,
năm uẩn ấy phá hoại tán diệt như hư không không khác. Bồ
tát chỉ có danh tự, như người huyễn hóa, trong danh tự giả
lại lập danh tự.
Tu
bồ đề nói với Xá lợi phất: Không chỉ Bồ tát là danh
tự giả mà năm uẩn cũng đều là danh tự giả, trong danh
tự giả, tướng danh tự giả không thể có được, đều
nhập vào đệ nhất nghĩa. Nếu Không như vậy , tức chẳng
phải Bồ tát.
Lại
nữa, sáu Ba la mật cho đến Trí nhất thiết chủng, tu hành
pháp ấy nên gọi là Bồ tát. Pháp ấy cũng danh tự giả,
Bồ tát cũng danh tự giả, không, không có gì, các pháp ấy,
gượng đặt tên, do nhân duyên hòa hợp nên có, cũng không
có sự thật đó. Ngã, danh tự rốt ráo không sinh, như phần
đầu của phần này đã nói. Trong đó Tu bồ đề cũng lấy
chúng sinh không và pháp không để phá ngã, nghĩa là ngã rốt
ráo không thể có được, cho đến kẻ biết kẻ thấy không
thể có được, làm sao có sinh? Năm uẩn rốt ráo không thể
có được, làm sao có năm uẩn sinh? Cho đến ý và xúc làm
nhân duyên sinh thọ rốt ráo không thể có được, làm sao
có sinh? Sáu Ba la mật rốt ráo không thể có được, cho đến
các môn Ðà la ni, môn Tam muội, Thanh văn, Bích chi Phật, Phật
rốt ráo không thể có được, làm sao có sinh? Nếu pháp trước
đã có, vậy sau có thể hỏi nó sinh, pháp thể trước đã
không có, làm sao có sinh?
KINH:
Như Xá lợi phất nói: Như ngã, các pháp cũng như vậy không
có tự tánh. Xá lợi phất! Các pháp hòa hợp sinh nên không
có tự tánh.
Xá
lợi phất! Những gì hòa hợp sinh không có tự tánh?
Xá
lợi phất! Sắc hòa hợp sinh, không có tự tánh; thọ, tưởng,
hành, thức hòa hợp sinh, không có tự tánh, mắt hòa hợp
sinh, không có tự tánh, cho đến ý hòa hợp sinh, không có
tự tánh. Sắc cho đến pháp, nhãn giới cho đến pháp giới,
địa chủng cho đến thức chủng, nhãn xúc cho đến ý xúc,
nhãn và xúc làm nhân duyên sinh, thọ cho đền ý và xúc làm
nhân duyên sinh thọ hòa hợp sinh, không có tự tánh.
Thí
ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật hòa hợp sinh, không có
tự tánh. Bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung,
hòa hợp sinh, không có tự tánh.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Hết thảy pháp vô thường cũng chẳng
diệt mất.
Xá
lợi phất hỏi Tu bồ đề: Những pháp gì vô thường cũng
chẳng diệt mất?
Tu
bồ đề đáp: Sắc vô thường cũng chẳng diệt mất; thọ,
tưởng, hành, thức vô thường cũng chẳng diệt mất, vì sao?
Vì nếu pháp vô thường, tức là tướng động, tức là tướng
không. Do nhân duyên ấy, nên Xá lợi phất! Hết thảy pháp
hữu vi vô thường cũng chẳng diệt mất.
Hoặc
pháp hữu lậu, hoặc pháp vô lậu, hoặc pháp hữu ký, hoặc
pháp vô ký, vô thường cũng chẳng diệt mất, vì sao? Vì nếu
pháp vô thường, tức là tướng động, tức là tướng không.
Do nhân duyên ấy, nên Xá lợi phất! Hết thảy pháp có tạo
tác vô thường cũng chẳng diệt mất.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Hết thảy pháp chẳng phải thường, chẳng
phải diệt mất.
Xá
lợi phất hỏi: Những pháp gì chẳng phải thường chẳng
phải diệt mất?
Tu
bồ đề đáp: Sắc chẳng phải thường chẳng phải diệt
mất, vì sao? Vì tánh nó tự như vậy. Thọ, tưởng, hành,
thức chẳng phải thường chẳng phải diệt mất, vì sao? Vì
tánh nó tự như vậy; cho đến thọ do ý và xúc làm nhân duyên
sinh ra chẳng phải thường chẳng phải diệt mất, vì sao?
Vì tánh nó tự như vậy. do nhân duyên ấy, nên Xá lợi phất!
Các pháp hòa hợp sinh, không có tự tánh.
Như
Xá lợi phất nói: Nhân duyên gì nên sắc rốt ráo chẳng sinh?
Thọ, tưởng, hành, thức rốt ráo chẳng sinh?
Tu
bồ đề đáp: Sắc chẳng phải pháp tạo tác, thọ, tưởng,
hành, thức chẳng phải pháp tạo tác, vì sao? Vì tác giả
không thể có được. Xá lợi phất! Mắt chẳng phải pháp
tạo tác, vì sao? Vì tác giả không thể có được, cho đến
ý cũng như vậy. Ranh giới mắt cho đến thọ do ý và xúc
làm nhân duyên sinh cũng như vậy.
Lại
nữa, Xá lợi phất! Hết thảy các pháp đều chẳng phải
khởi lên, chẳng phải tạo tác, vì sao? Vì tác giả không
thể có được. Do nhân duyên ấy, nên Xá lợi phất! Sắc
rốt ráo chẳng sinh; thọ, tưởng, hành, thức rốt ráo chẳng
sinh.
Như
Xá lợi phất nói: Do nhân duyên gì nên rốt ráo chẳng sinh
ấy chẳng gọi là sắc; rốt ráo chẳng sinh ấy chẳng gọi
là thọ, tưởng, hành, thức?
Tu
bồ đề đáp: Sắc tánh không, không ấy không sinh không diệt,
không trụ, không khác; thọ, tưởng, hành, thức tánh không,
không ấy không sinh, không diệt, không trụ, không khác. Mắt
cho đến hết thảy pháp hữu vi tánh không, không ấy không
sinh, không diệt, không trụ, không khác. Do nhân duyên ấy,
nên Xá lợi phất! Rốt ráo chẳng sinh, không gọi là sắc,
rốt ráo chẳng sinh, không gọi là thọ, tưởng, hành, thức.
Như
Xá lợi phất nói: Do nhân duyên gì nên pháp rốt ráo chẳng
sinh, nên dạy Bát nhã ba la mật ấy ư?
Tu
bồ đề đáp: Rốt ráo chẳng sinh tức là Bát nhã ba la mật,
Bát nhã ba la mật tức là rốt ráo chẳng sinh. Bát nhã ba la
mật và rốt ráo chẳng sinh không hai không khác. Do nhân duyên
ấy, nên Xá lợi phất! Nói rốt ráo chẳng sinh, nên dạy Bát
nhã ba la mật.
Như
Xá lợi phất nói: Do nhân duyên gì nên lìa rốt ráo chẳng
sinh, thời không có Bồ tát tu hành Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác?
Tu
bồ đề đáp: Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la mật,
không thấy rốt ráo chẳng sinh khác với Bát nhã ba la mật,
cũng không thấy rốt ráo chẳng sinh khác với Bồ tát, rốt
ráo chẳng sinh và Bồ tát không hai không khác.
Không
thấy rốt ráo chẳng sinh khác với sắc, vì sao? Vì rốt ráo
chẳng sinh và sắc không hai không khác. Không thấy rốt ráo
chẳng sinh khác với thọ, tưởng, hành, thức, vì sao? Vì rốt
ráo chẳng sinh và thọ, tưởng, hành, thức không hai không
khác; cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như vậy. Do hân
duyên ấy, nên Xá lợi phất! Lìa rốt ráo chẳng sinh thời
không có Bồ tát tu hành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Như
Xá lợi phất nói: Do nhân duyên gì nên Bồ tát nghe nói lời
ấy, tâm chẳng chìm đắm, chẳng ưu hối, chẳng kinh, chẳng
hãi, chẳng sợ, ấy gọi là Bồ tát tu hành Bát nhã ba la mật?
Tu
bồ đề đáp: Bồ tát ma ha tát không thấy các pháp có giác,
tri, tưởng, chỉ thấy hết thảy các pháp như mộng, như huyễn,
như sóng nắng, như ảnh, như biến hóa. Xá lợi phất! Do nhân
duyên ấy, nên Bồ tát nghe lời ấy tâm không chìm đắm, không
hối, chẳng kinh, chẳng hãi, chẳng sợ.
LUẬN:
Luận giả nói: Các pháp không có tự tánh là lấy tánh không
phá mỗi mỗi tánh của các pháp. Trong đây Tu bồ đề tự
nói: Các pháp hòa hợp sinh, không có tự tánh như hòa hợp
pháp năm uẩn và thiện pháp sáu Ba la mật, từ ấy xuất ra
danh tự Bồ tát. Bồ tát ấy là pháp do tạo tác, các pháp
hòa hợp sinh nên chẳng phải do một pháp tạo thành, vì thế
nên nói là giả danh. Các pháp ấy cũng từ bên hòa hợp sinh;
thí như có mắt, có sắc, có ánh sáng, có khoảng không, có
tâm muốn thấy, đủ các nhân duyên ấy hòa hợp sinh nhãn
thức. Trong đây không được nói mắt là cái thấy, hoặc
thức là cái thấy, hoặc sắc là cái thấy, hoặc ánh sáng
là cái thấy. Nếu mắt, sắc, thức mỗi mỗi không thấy được
gì, thì hòa hợp lại cũng không thể có thấy. Vì vậy cái
thấy rốt ráo không, như huyễn, như mộng. Hết thảy các
pháp cũng như vậy.
Lại
nữa, hết thảy các pháp vô thường cũng chẳng mất, vô thường
thời phá điên đảo chấp thường, chẳng mất thời phá điên
đảo chấp đoạn. Pháp vô thường chẳng mất ấy chính là
vào cửa thật tướng. Thế nên Tu bồ đề nói với Xá lợi
phất: Vô thường tức tướng động, tức là tướng không.
Hết thảy pháp cũng như vậy.
Lại
nữa, hết thảy pháp chẳng phải thường chẳng phải mất,
là như nghĩa sau cùng của mười tám không.
Sắc
rốt ráo chẳng sinh là vì năm uẩn, tác gìả, sinh giả, khởi
giả không thể có được.
Lại
nữa, tướng sinh không thể có được, như trước đã nói
trong đoạn phá sinh. Hết thảy pháp cũng như vậy, vì sao?
Nếu nói sắc chẳng sinh là chẳng phải sắc, chẳng phải
thọ, tưởng, hành, thức. Trong đây Tu bổ đề nói: Sắc từ
nhân duyên sinh, không có tự tánh, thường tướng không. Nếu
pháp thường tướng không, pháp ấy không có tướng sinh, không
có tướng diệt, không có tướng trụ, tướng dị; thọ, tưởng,
hành, thức cũng như vậy. Thế nên pháp tướng chẳng sinh,
tức là vô vi, chẳng phải tướng hữu vi. Các pháp khác cũng
như vậy, rốt ráo chẳng sinh, thì sẽ dạy Bát nhã cho ai?
Rốt ráo chẳng sinh tức là thập tướng các pháp, thật tướng
các pháp tức là Bát nhã ba la mật, làm sao lấy Bát nhã ba
la mật dạy Bát nhã ba la mật? Nếu lìa rốt ráo chẳng sinh
mà có Bồ tát thời nên dạy Bát nhã ba la mật, song Bồ tát
và Bát nhã ba la mật ấy rốt ráo chẳng sinh, không hai không
khác, làm sao dạy cái rốt ráo chẳng sinh hành đạo được?
Trong lần nói ở trên đã kết hợp giải thích. Bồ tát nghe
điều ấy mà không thối nất, không hối, Bồ tát ấy đối
với hết thảy pháp không thấy ngã, chúng sinh cho đến kẻ
biết kẻ thấy, cũng không có kẻ nói, cũng không có kẻ nghe,
không có tà thuyết, không có chánh thuyết, cũng không có kẻ
không thuyết. Biết hết thảy pháp do nhân duyên hòa hợp nên
sinh, các duyên xa lìa nên diệt, không có cái sinh khởi, không
có cái diệt mất, cho nên không sợ, không hãi, không chìm
đắm, không ưu hối. Bồ tát biết hết thảy pháp hư dối
không thật, không định, hoặc khi chết gấp, hoặc đọa
địa ngục A tỳ, tâm còn không động, huống gì nghe nói Thanh
văn mà sợ hãi, như người trong mộng thấy việc sợ hãi,
thức dậy, thời không có tâm sợ, biết việc mộng dối gạt
tâm, không có sự thật. Bồ tát cũng như vậy, vào trong tâm
mộng của thế gian thấy có sợ hãi, khi ngộ được thật
tướng các pháp, thời không có sợ, biết các pháp chỉ là
hư dối, không có chơn thật.
Lại
nữa, thí như sự huyễn, người trí tuy thấy, tâm không mê
hoặc, biết đó là pháp hư dối. Bồ tát cũng như vậy, biết
hết thảy pháp như huyễn, hay dối tâm người, trong đó không
có gì thật, vì vậy nên chẳng sợ hãi. Như sóng nắng, như
ảnh, như hóa cũng như vậy.
KINH:
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát
ma ha tát tu hành Bát nhã ba la mật, quán các pháp như vậy,
khi ấy Bồ tát chẳng thọ sắc, chẳng chỉ thị sắc, chẳng
trụ sắc, chẳng đắm sắc (Kinh Ðại Bát nhã ghi: Không thọ,
không thủ, không trụ, không trước – ND), chẳng nói đó
là sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng chẳng lãnh thọ, chẳng
chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là
thọ, tưởng, hành, thức.
Ðối
với mắt chẳng thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng
đắm, cũng chẳng nói đó là mắt, tai. mũi, lưỡi, thân, ý
cũng chẳng lãnh thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng
đắm, cũng chẳng nói đó là ý.
Thí
ba la mật chẳng thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng
đắm, cũng chẳng nói đó là Thí ba la mật; Giới ba la mật,
Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba
la mật, chẳng thọ, chẳng thị, chẳng trụ, chẳng đắm,
cũng chẳng nói đó là Bát nhã ba la mật.
Nội
không chẳng thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm,
cũng chẳng nói đó là nội không; cho đến vô pháp hữu pháp
không cũng như vậy.
Lại
nữa, Bạch đức Thế tôn! khi Bồ tát ma ha tát tu hành Bát
nhã ba la mật, đối với bốn niệm xứ chẳng thọ, chẳng
chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói đó là
bốn niệm xứ, cho đến mười tám pháp không chung chẳng thọ,
chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng nói
đó là mười tám pháp không chung. Hết thảy môn Tam muội,
hết thảy môn Ðà la ni, cho đến Trí nhất thiết chủng chẳng
thọ, chẳng chỉ thị, chẳng trụ, chẳng đắm, cũng chẳng
nói đó là Trí nhất thiết chủng.
Lại
nữa, Bạch đức Thế Tôn! Khi Bồ tát ma ha tát tu hành Bát
nhã ba la mật, chẳng thấy sắc cho đến chẳng thấy Trí nhất
thiết chủng, vì sao? Vì sắc chẳng sinh là chẳng phải sắc;
thọ, tưởng, hành, thức chẳng sinh là chẳng phải thức.
Mắt chẳng sinh là chẳng phải mắt; tai, mũi, lưỡi, thân,
ý chẳng sinh là chẳng phải ý. Thí ba la mật chẳng sinh là
chẳng phải Thí ba la mật, cho đến Bát nhã ba la mật chẳng
sinh là chẳng phải Bát nhã ba la mật, vì cớ sao? Vì sắc
và chẳng sinh không hai không khác, cho đến Bát nhã ba la mật
và chẳng sinh không hai không khác.
Nội
không chẳng sinh là chẳng phải nội không, cho đến vô pháp
hữu pháp không chẳng sinh là chẳng phải vô pháp hữu pháp
không, vì sao? Vì nội không cho đến vô pháp hữu pháp không
và chẳng sinh không hai không khác.
Bạch
đức Thế tôn! Bốn niệm xứ chẳng sinh là chẳng phải bốn
niệm xứ, vì sao? Vì bốn niệm xứ và chẳng sinh không hai
không khác, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Pháp chẳng sinh ấy
chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải
khác. Vì vậy nên bốn niệm xứ và chẳng sinh không hai không
khác; cho đến mười tám pháp không chung chẳng sinh là chẳng
phải mười tám pháp không chung, vì sao? Vì mười tám pháp
không chung và chẳng sinh không hai không khác, vì sao? Bạch
đức Thế Tôn! Pháp chẳng sinh ấy chẳng phải một, chẳng
phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải khác. Vì vậy, nên mười
tám pháp không chung chẳng sinh chẳng phải mười tám pháp
không chung.
Bạch
đức Thế Tôn! Như như chẳng sinh là chẳng phải như như,
cho đến tánh bất khả tư nghì chẳng sinh là chẳng phải
tánh bất khả tư nghì.
Bạch
đức Thế Tôn! Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chẳng sinh,
Nhất thiết trí, Trí nhất thiết chủng chẳng sinh là chẳng
phải Trí nhất thiết chủng, vì sao? Vì Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác ấy cho đến Trí nhất thiết chủng và chẳng sinh
không hai không khác, vì sao? Bạch đức Thế tôn! Pháp chẳng
sinh ấy chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải ba,
chẳng phải khác. Vì vậy nên cho đến Trí nhất thiết chủng
chẳng sinh là chẳng phải Trí nhất thiết chủng.
Bạch
đức Thế Tôn! Sắc chẳng có tướng diệt là chẳng phải
sắc, vì sao? Vì sắc và tướng chẳng diệt không hai không
khác, vì sao? Bạch đức Thế Tôn! Vì pháp chẳng diệt ấy
chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải
khác. Vì vậy, nên sắc chẳng có tướng diệt là chẳng phải
sắc, thọ, tưởng, hành, thức tướng chẳng diệt là chẳng
phải thức, vì sao? Vì thức và tướng chẳng diệt không hai
không khác, vì sao? Bạch đức thế Tôn! Pháp chẳng diệt ấy
chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải ba, chẳng phải
khác. Vì vậy, nên thức chẳng có tướng diệt là chẳng phải
thức. Thí ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật, nội không
cho đến vô pháp hữu pháp không, bốn niệm xứ cho đến mười
tám pháp không chung cũng như vậy. Bạch đức thế Tôn! Vì
vậy nên sắc nhập pháp số không hai; thọ, tưởng, hành,
thức nhập pháp số không hai, cho đến Trí nhất thiết chủng
nhập pháp số không hai.
LUẬN:
Luận giả nói: Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bồ tát quán
các pháp như vậy, đối với năm uẩn có năm hạnh chánh quán;
nghĩa là chẳng thọ, vì nơi năm uẩn có lửa vô thường đốt
cháy tâm.
Chẳng
chỉ thị tức là chẳng chấp thủ tướng, chẳng phải chỉ
quán cái lỗi vô thường v.v... còn quán năm uẩn ấy không,
không chấp thủ tướng.
Chẳng
trụ là không nương tựa năm uẩn, vì sợ giặc phiền não
kéo đến, không dám trụ lâu; ví như chỗ làng trống, chỗ
giặc ở, người trí không nên ở lâu.
Chẳng
đắm là năm uẩn nếu có một tội còn không nên đắm, huống
gì thân có nhiều tội như đói, khát, lạnh, nóng, già, bệnh,
chết v.v...; tâm thì có ưu sâu, sợ hãi, ganh ghét, sân hận
v.v...
đời sau đọa vào ba đường ác. Hết thảy đều vô thường,
khổ, không, vô ngã, chẳng được tự tại, có vô lượng
vô biên tội lỗi như vậy, làm sao đắm trước được!
Không
nói là sắc, vì không lấy tà kiến nói sắc hoặc thường
hoặc vô thường, không nói năm uẩn có tướng nhất định
như vậy, cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như vậy, vì
sao? Vì đối với sắc tu hành năm thứ chánh hành, năm uẩn
ấy đều không có tướng sinh, đều một tướng, một tướng
thời là vô tướng. Nếu vô tướng thời chẳng phải có năm
uẩn, cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như vậy.
Nếu
hết thảy pháp tướng chẳng sinh cùng Bát nhã ba la mật không
hai không khác, có được tâm vô sinh ấy tức là Bát nhã ba
la mật, được Bát nhã ba la mật tức là biết các pháp chẳng
sinh chẳng diệt. Vì thế nên Bát nhã ba la mật tức là chẳng
sinh, không hai không khác.
Lại
nữa, Tu bồ đề tự nói nhân duyên rằng pháp vô sinh ấy
chẳng phải tướng một, chẳng phải tướng hai, chẳng phải
tướng ba, chẳng phải tướng khác, vì sao? Vì các pháp vô
sinh là một tướng, cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như
vậy. Như vô sinh, vô diệt cũng như vậy.
Hỏi:
Vì sao cuối cùng nói đến sắc cho đến Trí nhất thiết chủng
nhập vào pháp số không hai?
Ðáp:
Bồ tát nếu chưa phá sắc thời sinh kiết sử tham ái đắm
theo sắc ấy; phá sắc rồi thời sinh tà kiến đắm vào sắc
không ấy. Nay dùng trí tuệ quán không, để quán sắc... đều
không, không có hai tướng. Các pháp ấy hư vọng không thật,
nhiếp vào nội nhập và ngoại nhập gọi là hai; sắc cho đến
Trí nhất thiết chủng, lìa hai nên gọi không hai.
Nay
Tu bồ đề thương xót chúng sinh nên nói các pháp ấy không
hai, nhập vào số pháp không hai.
(Hết
cuốn 52 theo bản Hán)