Tập
3
Cuốn
54
GIẢI
THÍCH: PHẨM THIÊN VƯƠNG THỨ 27
(Kinh
Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Ðề Thích thứ 25)
KINH:
Bấy giờ, ba ngàn đại thiên thế giới các trời Tứ thiên
vương cùng với vô số trăm ngàn ức chư thiên đều đến
tập hội. Ba ngàn đại thiên thế giới các Thích đề hoàn
nhơn và các trời Ðao lợi, vua trời Tu dạ ma và các trời
Dạ ma, vua trời Ðâu suất đà và các trời Ðâu suất đà,
vua trời Tu niết mật đà và các trời Diệu Hóa, vua trời
Bà xá bạt đề và các trời Tự Tại Hành, mỗi mỗi cùng
vô số trăm ngàn ức chư thiên đều đến tập hội. Ba ngàn
đại thiên thế giới các Phạm vương cho đến các trời Thủ
đà hội, mỗi mỗi cùng vô số trăm ngàn ức chư thiên đều
đền tập hội. Các trời bốn Thiên vương cho đến các trời
Thủ đà hội có ánh sáng nơi thân từ nghiệp báo sinh, đối
với ánh sáng thường của Phật trăm phần, ngàn phần, ngàn
vạn ức phần không kịp một, cho đến không thể lấy toán
số thí dụ so sánh được. Ánh sáng của Thế Tôn tối thắng
tối diệu, tối thượng đệ nhất; ánh sáng do nghiệp báo
sinh của chư thiên ở bên ánh sáng Phật không thể chiếu
không thể hiện, như tim đèn cháy so với vàng Diêm phù đàn.
Bấy
giờ Thích đề hoàn nhơn (Ðế thích – Indra) bạch đại đức
Tu bồ đề; Ba ngàn đại thiên thế giới các trời bốn Thiên
vương cho đến các trời Thủ đà hội, hết thảy hòa hợp
muốn nghe Tu bồ đề nói nghĩa Bát nhã ba la mật. Tu bồ đề!
Bồ tát ma ha tát làm sao nên trụ trong Bát nhã ba la mật? Sao
gọi là Bồ tát ma ha tát Bát nhã ba la mật? Làm sao Bồ tát
ma ha tát nên trụ Bát nhã ba la mật?
Tu
Bồ đề nói với trời Thích đề hoàn nhơn rằng: Kiều thi
ca! Tôi nay sẽ thừa thuận ý Phật, thừa thuận thần lực
Phật mà vì các Bồ tát ma ha tát nói Bát nhã ba la mật, như
Bồ tát ma ha tát đã nên trụ trong Bát nhã ba la mật (Kinh
Ðại Bát nhã ghi:Như Bồ tát ma ha tát có thể nơi trong đó
nên trụ như vậy, nên học như vậy – ND)
Các
Thiên tử! Ai chưa phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
nay hãy nên phát tâm.
Các
Thiên tử! Nếu vào chánh vị Thanh văn, người ấy không thể
phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì sao? Vì đã
dựng ranh giới cách biệt chướng ngại với sanh tử. Người
ấy nếu phát tâm Vô thượng Chánh đẳng chánh giác, tôi cũng
tùy hỷ, vì cớ sao? Vì thượng nhân còn nên cầu thượng
pháp; tôi trọn không dứt công đức của họ.
Kiều
thi ca! Sao gọi là Bát nhã ba la mật? Bồ tát ma ha tát tâm
tương ưng với Trí nhất thiết chủng mà niệm sắc vô thường,
niệm sắc khổ, niệm sắc không, niệm sắc vô ngã, niệm
sắc như bệnh, như thư, như ung, như ghẻ, như mũi tên vào
thân, thống não, suy hoạn, lo sợ bất an, vì không có sở
đắc; niệm thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Niệm
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; niệm địa chủng, thủy, hỏa,
phong, không, thức chủng, quán nó vô thường cho đến lo sợ
bất an, vì cũng không có sở đắc.
Quán
sắc tịch diệt, lìa, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng
sạch; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Quán địa chủng
cho đến thức chủng tịch diệt, lìa, chẳng sinh chẳng diệt,
chẳng nhơ chẳng sạch, cũng vì không có sở đắc.
Lại
nữa, Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát tâm tương ưng với Trí
nhất thiết chủng quán vô minh làm duyên các hành, cho đến
già chết làm nhân duyên cho nhóm khổ lớn, cũng vì không có
sở đắc. Quán vô minh diệt nên các hành diệt, cho đến sinh
diệt nên già chết diệt, già chết diệt nên ưu bi sầu não
nhóm khổ lớn diệt, vì khôg có sở đắc.
Lại
nữa, Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát tâm tương ưng Trí nhất
thiết chủng, tu bốn niệm xứ, vì không có sở đắc, cho
đến tu Phật mười lực, mười tám pháp không chung, vì không
có sở đắc.
Lại
nữa, Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát tâm tương ưng với Trí
nhất thiết chủng, tu Thí ba la mật, vì không có sở đắc;
tu Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba
la mật, vì không có sở đắc.
Lại
nữa, Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát tu Bát nhã ba la mật, quán
như vầy: chỉ có các pháp với các pháp làm nhân duyên, thuấn
nhuần, tăng ích cho nhau, phân biệt so tính trong ấy không có
ngã, ngã sở. Bồ tát tâm hồi hướng không ở trong tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, tâm Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác không ở trong tâm hồi hướng; tâm hồi hướng
không thể có được nơi tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không thể có
được nơi tâm hồi hướng. Bồ tát tuy quán hết thảy pháp
cũng không có pháp có thể được. Ấy gọi là Bồ tát ma
ha tát Bát nhã ba la mật.
Thích
đề hoàn nhơn hỏi Tu bồ đề: Tại sao tâm hồi hướng của
Bồ tát không ở trong tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Tại sao tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không ở trong
tâm hồi hướng? Tại sao tâm hồi hướng không thể có được
nơi tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Tại sao tâm Vô
thượng Chánh đẳg Chánh giác không có thể có được nơi
tâm hồi hướng.
Tu
bồ đề nói với Thích đề hoàn nhơn rằng: Kiều thi ca! Tâm
hồi hướng, tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là chẳng
phải tâm, chẳng phải tâm tướng; trong chẳng phải tâm tướng
không thể có hồi hướng; chẳng phải tâm tướng ấy thường
chẳng phải tâm tướng; tướng không thể nghĩ bàn thường
tướng không thể nghĩ bàn, ấy gọi là Bát nhã ba la mật
của Bồ tát ma ha tát. (Kinh Ðại Bát nhã ghi: Kiều thi ca!
Tâm hồi hướng của các Bồ tát ma ha tát thời chẳng phải
tâm, tâm Bồ đề cũng chẳng phải tâm; không thể chẳng phải
tâm hồi hướng nơi chẳng phải tâm, tâm cũng không thể hồi
hướng nơi chẳng phải tâm, chẳng phải tâm, không thể hồi
hướng nơi tâm, tâm cũng không thể hồi hướng nơi tâm, vì
sao? Vì chẳng phải tâm tức là không thể nghĩ bàn, không
thể nghĩ bàn tức là chẳng phải tâm. Hai thứ ấy đều không
có gì, trong không có gì, không có nghĩa hồi hướng. Kiều
thi ca! Tâm không có tự tánh , tâm tánh không có, nên tâm cũng
không; tâm và tâm sở đã không có tự tánh, nên tân cũng
không có nghĩa tâm hồi hướng. Kiều thi ca! Nếu quán xét
như vậy, ấy gọi là Bồ tát ma ha tát Bát nhã ba la mật –
ND)
Bấy
giờ, Phật tán thán Tu bồ đề rằng Lành thay, lành thay!
Tu bồ đề! Ông đã vì các Bồ tát ma ha tát nói Bát nhã ba
la mật, an ủy tâm các Bồ tát ma ha tát!
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Con nên báo
ân, không nên không báo ân. Quá khứ các đức Phật và các
đệ tử đã vì các Bồ tát nói sáu Ba la mật, chỉ dạy lợi
ích vui mừng; Thế Tôn lúc bấy giờ cũng ở trong đó học,
đã chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Con nay
cũng vì các Bồ tát nói sáu Ba la mật, chỉ dạy lợi ích
vui mừng, nay chứng được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
LUẬN.
Hỏi: Trong phẩm đầu Phật phóng ra ánh sáng thù thắng, chư
thiên đã tập hội đông đảo, nơi đây sao còn nói lại?
Ðáp:
Có người nói đây là hội sau. Có người nói chính là hội
trước. Chư thiên cho rằng Tu bồ đề khéo nói Bát nhã ba
la mật thâm sâu, nên chư thiên hoan hỷ, vì vậy nên Phật
mỉm
cười.
Ánh sáng thường càng phát sáng thời ánh sáng chư thiên không
còn hiện. Như lúc mặt trời mọc, thì sao, trăng đèn, đuốc
không còn chiếu sáng; thí như tim đèn cháy ở bên vàng Diêm
phù đàn.
Bốn
trời Thiên vương là Thiên vương phương đông tên là Ðề
đa la tra (Dhritaràstra), Trung Hoa dịch là Trị quốc, hoặc Trì
quốc, làm chủ Càn thát bà và Tỳ xá giá; Thiên vương phương
nam tên Tỳ lưu ly (Viràdhaka), Trung Hoa dịch là Tăng Trưởng,
làm chủ loài Câu bàn trà và Tỳ lệ đa; Thiên vương phương
tây tên Tỳ lưu ba xoa (Virùpiska), Trung Hoa dịch là Tạp ngữ
hay Quảng mục, là chủ các vua rồng và loài Phú đa na; Thiên
vương phương bắc tên Tỳ sa môn (Vaisramana), Trung Hoa dịch
là Ða văn (Dhananda), làm chủ loài Dạ xoa và La sát. Thích
đề hoàn nhơn [Thích là Thích ca (Sakya), Trung Hoa dịch là Năng;
Ðề là Ðề bà (Deva), Trung Hoa dịch là Thiên]; Nhân đề Trung
Hoa dịch là Chủ, hợp lại gọi là Thích đề Bà na dân (Indra)
Ðế thích thiên, ở cõi trời Ðao lợi.
Cõi
trời Tu dạ ma, Thiên vương tên Dạ ma, Trung Hoa dịch là Diệu
thiện.
Cõi
trời Sách đâu suất đà, Thiên vương tên Ðâu suất đà,
Trung Hoa dịch là Diệu túc.
Cõi
trời Tu niết mật đà, Thiên vương tên là hóa lạc.
Cõi
trời Bà xá bạt đề, Trung Hoa dịch là trời Tha hóa tự tại.
Ở
đây có Phạm thiên vương tên Thi khí (Sikhi), Trung Hoa dịch
là Lửa.
Từ
Phạm thiên cho đến cõi trời Thủ đà bà, Thiên vương tên
Thủ đà bà, Trung Hoa dịch là trời Tịnh cư.
Ánh
sáng nơi thân do nghiệp báo sinh là ánh sáng của trời cõi
Dục giống như ánh sáng của đèn, đuốc, ngọc... do bố thí,
trì giới, thiền định thanh tịnh nên thân thường chiếu
sáng, không cần mặt trời mặt trăng.
Trời
cõi Sắc do hành lìa dục, tu tập hỏa Tam muội, nên thân thường
chiếu ánh sáng đẹp hơn cả mặt trời mặt trăng và ánh
sáng quả báo của trời cõi Dục. Ánh sáng của trời Ly dục,
cốt yếu mà nói là do tâm thanh tịnh mà có được.
Ánh
sáng thường của Phật mỗi phía tỏa ra một trượng; ánh
sáng của chư thiên rộng lớn tuy vô lượng do tuần mà ở
bên hòa quang của Phật thì bị che lấp không hiện.
Thích
đề hoàn nhơn thấy thần lực hòa quang của Phật, nghĩ rằng:
Hào quang của Phật hay che lấp ánh sáng của chư thiên, ánh
sáng trí tuệ của Phật cũng phá ngu tối của ta!
Lại
vì Phật sai Tu bồ đề nói Bát nhã, cho nên nói: Hết thảy
chư thiên đều tập hội đông đủ, muốn nghe Tu bồ đề
nói nghĩa Bát nhã. Nay chư thiên đại phước đức đều tập
họp, muốn nghe nghĩa Bát nhã.
Sao
gọi là Bát nhã ba la mật? Ðây là hỏi về thế Bát nhã.
Làm
sao tu hành? Ðây là hỏi bắt đầu vào phương tiện tu hành.
Thế
nào là trú? Ðây là hỏi về thâm nhậprốt ráo an trú.
Tu
bồ đề nhận lời hỏi ấy, đáp rằng: Nếu người đói
khát, cấp cho đủ ăn uống, thời họ cám ơn rất sâu, Bồ
tát cũng như vậy, vì người phát tâm cầu Phật đạo, mà
nói Bát nhã thời được lợi ích lớn, nên cám ơn cũng sâu,
vì thế nên nói Bát nhã. Nếu người chưa phát tâm thời sẽ
phát, người đã vào Thánh đạo thời không thể đảm nhận,
vì lậu hoặc hết, không còn tái sinh nên nói không thể đảm
nhận.
Hỏi:
Nếu người ấy không thể đảm nhận, cớ sao nói người
ấy nếu phát tâm thời ta cũng tùy hỷ, không làm chướng
ngại công đức kia, thượng nhơn nên tiếp cầu thượng pháp?
Ðáp:
Tu bồ đề tuy là Tiểu thừa, nhưng thường tập hành không,
nên không chấp đắm đạo Thanh văn. Vì vậy nên giả thiết
nói: Nếu phát tâm thì có lỗi gì? Trong đây Tu bồ đề tự
nói hai nhân duyên: Một là không làm chướng ngại tâm phước
đức kia. Hai là thượng nhân nên tiếp cầu thượng pháp.
Vì vậy nên thượng nhân cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác không lỗi gì, nếu thượng nhân mà cầu tiểu pháp mới
đáng hổ thẹn. Vì nửa chừng gặp các việc bên cạnh nên
lại nêu hỏi.
Thế
nào là Bát nhã ba la mật? Ðó là tâm tương ưng với Trí nhất
thiết chủng, quán sắc vô thường, khổ, không, vô ngã, như
trước nói.
Quán
năm uẩn hay sinh các phiền não, nên nói như bệnh. Có người
nghe nói năm uẩn như bệnh, cho là còn nhẹ, nên nói nó như
ung thư. Có người lại cho ung thư tuy khó trị có khi có thể
chữa lành, nên lại nói nó như mũi tên bịt sắt đâm vào
thân, không thể rút ra được. Có người lại cho mũi tên
bịt sắt đâm vào thân chìm sâu khó nhổ ra, nhưng thuốc hay
diệu thuật còn có thể nhổ ra được, nên lại nói nó thường
thống não, như người gặp vận suy, thường có điều chẳng
lành. Năm uẩn cũng như vậy, nếu người theo đuổi nó thường
không an ổn. Vì có suy nên thường ôm lòng lo sợ. Ở chung
với năm uẩn như ở chung với hổ lang, Sư tử, thường ôm
lòng lo sợ. Năm uẩn có lỗi là vô thường hư dối nên thường
chẳng an ổn.
Hỏi:
Năm uẩn chỉ có mười lăm điều ác như vậy, hay còn việc
khác nữa?
Ðáp:
Nói lược thời có mười lăm, nói rộng thời có vô lượng
vô biên, như trong kinh Tạp A Hàm nói năm uẩn có trăm thứ
tội lỗi.
Hỏi:
Sao thường nói nó vô thường, khổ, không, vô ngã, hoặc có
khi nói tám việc, như bệnh, như ung, như thư v.v... còn bảy
việc kia ít nơi nói?
Ðáp:
Người có thượng, trung, hạ. Vì người lợi căn nên nói
bốn việc, nghe liền ngộ Khổ đế. Người trung căn nghe nói
bốn việc thời không thể sinh tâm nhàm chán, nếu nghe nói
như bệnh, như ung v.v... tám việc, thời sinh tâm nhàm chán.
Người độn căn nghe nói tám việc còn không sinh tâm nhàm
chán, nên lại vì họ nói bảy việc thống não v.v... sau họ
mới nhàm chán. Người lợi căn dễ độ nên thường phần
nhiều nói bốn việc vô thường, khổ, không, vô ngã; người
độn căn có khi có thể độ nên ít khi nói các việc khác.
Tám việc trên phần nhiều bậc Thánh thực hành, còn bảy
việc kia thì phàm phu và Thánh nhân chung tu. Bốn việc đầu
nhiếp vào trong mười sáu Thánh hạnh, nên trong kinh Bát nhã
thường nói.
Lại,
nói Bát nhã là vì hàng Bồ tát lợi căn, nên phần nhiều
nói Thánh hạnh. Nay hỏi thế nào? Vì đó là pháp tu hành đầu
tiên, nên trong đây đều nói. Ngoài ra mười hai nhập cho đến
sáu chủng là địa chủng, thủy chủng, v.v... cũng nên quở
trách như vậy.
Mười
tám giới v.v... cũng nên nói đủ, vì người đọc hay quên
mất, vì sao? Vì mười tám giới là tên khác của năm uẩn,
không thể không nói. Nếu hành giả quán năm uẩn tịch diệt
viễn ly, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, đây
chỉ vì Bát nhã ba la mật, nên không nói chung với mười lăm
việc trên, vì mười lăm việc ấy cả ba thừa chung có.
Trí
lực của hàng thanh văn mỏng cho nên sơ thỉ không thể quán
năm uẩn hoặc viễn ly. hoặc tịch tịnh mà chỉ có thể quán
vô thường, khổ v.v...; khi vào Diệt đế mới có thể quán
tịch diệt. Bồ tát vì lợi căn nên ban đầu quán năm uẩn
thì liền ngộ được tướng tịch diệt.
Dùng
vô sở đắc là thườg dùng trí tuệ vô sở đắc không mà
quán các pháp tướng.
Lại
nữa, Thích đề hoàn nhơn hỏi tướng Bát nhã ba la mật chứ
không hỏi tai họa nhàm chán của năm uẩn, nên chỉ nói tướng
Bát nhã.
Tướng
Bát nhã là không lìa năm uẩn có Niết bàn; không lìa Niết
bàn có năm uẩn; thật tướng năm uẩn tức là Niết bàn,
vì vậy người độn căn khi mới phát tâm, trước tiên quán
vô thường, vậy sau mới quán năm uẩn tịch diệt v.v... Quán
mười hai nhân duyên cũng như vậy.
Lại
nữa, tu bốn niệm xứ cho đế tám Thánh đạo phần là pháp
chung, tâm tương ưng với Trí nhất thiết chủng, vì là không
có sở đắc, nên gọi là tướng Bát nhã ba la mật. Sáu Ba
la mật cho đến mười tám pháp không chung thì chỉ là pháp
Ðại thừa.
Hỏi:
Nếu nói tướng Bát nhã ba la mật tu hành, cớ gì trung gian
còn nói đến các pháp, các pháp ấy lại làm nhân duyên thấm
nhuần tăng ích?
Ðáp:
Tu bồ đề trên kia trước nói lỗi vô thường của các pháp;
vậy sau mới nói các pháp là viễn ly. tịch diệt, không, không
có sở đắc; vậy sau mới nói các pháp tuy không mà từ nhân
duyên hòa hợp nên có.
Tiếp
theo nói bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung,
tu hành vào Phật đạo. Người nghe nghĩ rằng: Trên nói viễn
ly tịch diệt không, nên biết chẳng phải thường; nói mười
hai nhân duyên, nên biết chẳng phải diệt. Nhưng không có
kẻ biết, không có kẻ thấy thì ai tu hành các pháp ấy để
thành Phật? Thế nên nói: Bồ tát nghĩ rằng: Các pháp không,
vô ngã, không có chúng sinh, song từ nhân duyên nên có bốn
đại, sáu thức, mười pháp ấy đều có lực năng sinh, năng
khởi, năng có chỗ tạo tác. Như đất hay giữ, nước hay
làm rã nát, lửa hay tiêu diệt, gió hay xoay chuyển, thức hay
phân biệt. Mười pháp ấy có chỗ tạo tác, vì chúng sinh
điên đảo nên cho đó là người làm, ta làm. Như da xương
hòa hợp lại nên có âm thanh, ngôn ngữ, người mê cho đó
là người nói. Như lửa đốt khô rừng tre, phát ra tiếng
lớn, trong đó không có người làm.
Lại
như người gỗ, người huyễn, người biến hóa tuy có động
tác mà không có người làm. Mười pháp này cũng như vậy.
Pháp sinh trước pháp sinh sau, nhân duyên hòa hợp, hoặc nhân
duyên cọng sinh, hoặc nhân duyên tương ưng, hoặc nhân quả
báo, nhân duyên thường tu thường tập làm cho quả báo tăng
trưởng. Như mùa xuân trồng cây trái, tùy thời rưới tẩm,
hoa quả tốt tươi. Lấy trí tuệ phân biệt biết các pháp
không có người làm. Bồ tát mới phát tâm hồi hướng, làm
nhân duyên với tâm Phật. Mà lúc mới phát tâm hồi hướng,
chưa có tâm Phật, trong tâm Phật không có tâm mới hồi hướng,
tuy không có mà có thể làm nhân duyên để phát.
Hỏi:
Nếu lúc mới phát tâm hồi hướng không có tâm Bồ đề,
thời hồi hướng về đâu?
Ðáp:
Trong thật tướng Bát nhã ba la mật, các pháp chẳng phải
tướng thường, chẳng phải tướng vô thường, chẳng phải
tướng có, chẳng phải tướng không, nên không nên nạn hỏi
rằng: Tâm hồi hướng đã diệt không còn có gì thời làm
sao làm nhân cho tâm Bồ đề? Nếu các pháp chẳng sinh chẳng
diệt, chẳng phải chẳng sinh, chẳng phải chẳng diệt, làm
sao đem sự chẳng sinh chẳng diệt nạn hỏi rằng: Không có
tâm Bồ đề thì hồi hướng về đâu?
Lại
nữa, Phật tự nói tướng Bồ đề chẳng phải quá khứ,
chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, làm sao nạn hỏi
rằng: Vị lai không có Bồ đề nên hồi hướng về đâu?
Lại
nữa, như trong Phẩm Như nói: Ðời quá khứ không lìa đời
vị lai, đời vị lai không lìa đời quá khứ; đời quá khứ
như, đời vị lai như, một như không có hai như, làm sao nói
tâm Bồ đề không ở trong tâm hồi hướng? Tâm hồi hướng
không ở trong tâm Bồ đề? Nhưng Bồ tát nghe tán thán Phật
pháp, liền phát tâm ưa vui, nói rằng ta có công đức gì đều
hồi hướng đến Phật đạo. Từ khi mới phát tâm cho đến
chứng Phật đạo, tu công đức ấy, không ngừng không nghỉ,
dùnh như huyễn, như mộng, vô sở đắc nên gọi là Bồ tát
Bát nhã ba la mật, hay biết các pháp làm nhân duyên sinh quả
báo mà không có tướng nhất định.
Thích
đề hoàn nhơn nạn hỏi: Vì sao tâm hồi hướng không thể
có được ở trong tâm Bồ đề, tâm Bồ đề không thể có
được ở tronmg tâm hồi hướng?
Tu
bồ đề không vì nói theo thế đế như huyễn như mộng, chỉ
nói theo đệ nhất nghĩa đế: Hai tâm ấy đều không, chẳng
phải tâm tướng, vì cớ sao? Vì trong các pháp rốt ráo không,
không có thị tâm phi tâm, thì pháp như vậy làm sao có thể
có hồi hướng? Nếu có hai pháp mới có thể có hồi hướng;
thí như cưỡi xe đi từ phía tây, phía nam có chỗ dừng nghỉ,
nên mới quay xe về hướng đến. Vì xe và chỗ quay hướng
đến khác nhau mới có thể hồi hướng, chứ không được
chỉ có xe mà nói hồi hướng, vì không khác nhau.
Chẳng
phải tâm tướng thường chẳng phải tâm tướng là ý Tu bồ
đề muốn nói tâm tướng ấy như như thường trụ, chẳng
sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch. Vì chẳng phải tâm
tướng nên chẳng phải tâm, cũng không có chẳng phải tâm
ấy, cho nên nói không thể nghĩ bàn. Không thể nghĩ bàn cũng
thường không thể nghĩ bàn, không thể trù lượng tư duy chấp
thủ tướng.
Do
nhân duyên ấy, nên tâm làm nhân cho Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác tương tợ quả, không tương tợ thời không thể
sinh quả được. Nếu sơ tâm bất tịnh, sau không thể phát
sinh tịnh tâm, như luyện thiết không thể thành vàng.
Phật
vì Tu bồ đề thâm nhập trong nhân duyên Bát nhã ba la mật,
ấy là tên gọi Bát nhã ba la mật. Vì thâm nhập được nhân
duyên của các pháp, tức lấy làm tên. Vì không sai trái nên
ở giữa đại chúng tán thán: Lành thay, lành thay! Ông là người
Tiểu thừa mà hay khéo nói Bát nhã ba la mật thâm sâu.
An
ủy tâm các Bồ tát là vì lấy Bát nhã ba la mật chỉ bày
cho các Bồ tát: Ông chẳng tự cho mình phiền não chưa hết,
chưa thành Phật đạo để tự biếng nhác! Các pháp không
chướng không ngại, tâm đầu tâm cuối không có khác tướng,
chỉ siêng tinh tấn thời thành Phật đạo.
Tôi
nên báo ân là Tu bồ đề nghĩ rằng: Ta thực hành thật tướng
các pháp, được thoát khỏi khổ già , bệnh, chết, sao ta
không nhớ đại ân các pháp ấy? Vì vậy nên thường vui nói.
Lại
nữa, Phật có tâm đại bi, vui nói pháp độ chúng sinh, ta
nhờ ân Phật nên đắc đạo, ta cũng giúp Phật thuyết pháp
độ sinh. Ấy là báo ân.
Lại
biết đức Thế Tôn hôm nay nhân nơi chư Phật quá khứ mà
được thành Phật đạo, thế nên ta cũng ái kính chư Phật
quá khứ, như con ái kính cha, cũng ái trọng tổ phụ, cũng
ái kính quá khứ các Bồ tát và đệ tử hay thuyết pháp chỉ
dạy, đức Thế Tôn hôm nay cũng nhơn đó mà đắc đạo.
Tu
bồ đề có tâm thâm tín Tam Bảo, nên nói tôi biết ơn Thế
Tôn và pháp hôm nay, ơn chư Phật và đệ tử quá khứ. Pháp
tức là Pháp bảo, Phật hôm nay là Phật quá khứ tức là
Phật bảo, các Bồ tát và các đệ tử là Tăng bảo. Sáu
Ba la mật như trước đã nói.
Thị
là chỉ thị cho người biết việc tốt xấu, lành chẳng lành,
nên làm không nên làm; sinh tử là xấu, Niết bàn an ổn là
tốt. Phận biệt ba thừa, phân biệt sáu Ba la mật như vậy
gọi là chỉ thị.
Giáo
là dạy ông bỏ ác làm lành, ấy gọi là giáo.
Lợi
là khi chưa được mùi vị của thiện pháp, tâm dễ thối
mất, vì họ thuyết pháp dẫn dắt khiến ra khỏi. Ông chớ
tìm quả trong khi tu nhân, ông nay tuy cần khổ, nhưng khi quả
báo xuất hiện thời được lợi ích lớn, khiến tâm kia lợi,
nên gọi là lợi.
Hỷ
là tùy chỗ người ấy tu hành mà tán thán, khiến tâm người
kia vui mừng. Nếu người ưa bố thí mà nghe tán thán bố thí
thời vui mừng.
Vậy
nên lấy bốn việc ấy trang nghiêm việc thuyết pháp.
KINH:
Bấy giờ Tu bồ đề nói với Thích đề hoàn nhơn rằng: Kiều
thi ca, ông hãy lắng nghe! Bồ tát ma ha tát đối với Bát nhã
ba la mật như chỗ nên trú, chỗ không nên trú. Kiều thi ca!
Sắc, sắc không; thọ, tưởng, hành, thức không; Bồ tát,
Bồ tát không. Sắc không ấy với Bồ tát không không hai không
khác; thọ, tưởng, hành, thức không với Bồ tát không không
hai không khác. Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát trong khi tu Bát
nhã ba la mật nên trú như vậy.
Lại
nữa, mắt, mắt không, cho đến ý, ý không; Bồ tát, Bồ tát
không; mắt không cho đến Bồ tát không không hai không khác.
Sáu trần chũng như vậy. Ðịa chủng (địa giới), địa chủng
không, cho đến thức chủng, thức chủng không, Bồ tát, Bồ
tát không.
Kiều
thi ca! Ðiạ chủng không cho đến thức chủng không với Bồ
tát không không hai không khác. Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát
trong khi tu Bát nhã ba la mật,nên trú như vậy.
Vô
minh, vô minh không cho đến già chết, già chết không; vô minh
diệt, vô minh diệt không cho đến già chết diệt, già chết
diệt không với Bồ tát không. Kiều thi ca! Vô minh không cho
đến già chết không; vô minh diệt không cho đến già chết
diệt không; Bồ tát, Bồ tát không không hai không khác. Kiều
thi ca! Bồ tát ma ha tát trong khi tu Bát nhã ba la mật, nên trú
như vậy.
Thí
ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật, nội không cho đến vô
pháp hữu pháp không; bồn niệm xứ cho đến mười tám pháp
không chung; tất cả môn Tam muội, tất cả môn Ðà la ni,Thanh
văn thừa, Bích chi Phật thừa, Phật thừa, Thanh văn, Bích
chi Phật, Bồ tát, Phật cũng như vậy.
Trí
nhất thiết chủng, Trí nhất thiết chủng không, Bồ tát,
Bồ tát không; Trí nhất thiết chủng không với Bồ tát không
không hai không khác. Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát trong khi
tu Bát nhã ba la mật, nên trú như vậy.
Bấy
giờ Thích đề hoàn nhơn hỏi Tu bồ đề rằng: Thế nào là
chỗ không nên trú trong khi tu hành Bát nhã ba la mật?
Tu
bồ đề đáp: Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát trong khi tu hành
Bát nhã ba la mật không nên trú sắc, vì có sở đắc. Không
nên trú thọ, tưởng, hành, thức, vì có sở đắc. không
nên trú mắt cho đến không nên trú ý, không nên trú sắc
cho đến không nên trú pháp; không nên trú nhãn thức cho đến
ý thức, nhãn xúc cho đến ý xúc, thọ do nhãn và xúc làm
nhân duyên sinh cho đến thọ do ý và xúc làm nhân duyên sinh,
vì có sở đắc. Không nên trú nơi địa chủng cho đến thức
chủng, vì có sở đắc. Không nên trú nơi Thí ba la mật, cho
đến Bát nhã ba la mật, bốn niệm xứ cho đến mười tám
pháp không chung, vì có sở đắc. Không nên trú nơi quả Tu
đà hoàn, vì có sở đắc, cho đến không nên trú nơi quả
Tu đà hoàn, vì có sở đắc, cho đến không nên trú nơi quả
A la hán, đạo Bích chi Phật, đạo Bồ tát, Phật đạo, không
nên trú nơi Trí nhất thiết chủng, vì có sở đắc.
Lại
nữa, Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát khi tu hành Bát nhã ba la
mật, sắc là thường không nên trú, sắc là vô thường không
nên trú; thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Không nên
trú sắc hoặc vui, hoặc khổ, hoặc tịnh, hoặc bất tịnh,
hoặc ngã, hoặc vô ngã, hoặc không, hoặc chẳng không, hoặc
tịch diệt, hoặc chẳng tịch diệt, hoặc lìa, hoặc chẳng
lìa, vì vô sở đắc. Không nên trú thọ, tưởng, hành, thức
cũng như vậy.
Kiều
thi ca! Bồ tát ma ha tát không trú quả Tu đà hoàn tướng vô
vi, quả Tư đà hàm tướng vô vi, quả A na hàm tướng vô vi,
quả A la hán tướng vô vi; không nên trú đạo Bích chi Phật
tướng vô vi, Phật đạo tướng vô vi. Không nên trú phước
điền Tu đà hoàn, không nên trú phước điền Tư đà hàm,
A na hàm, A la hán, Bích chi Phật, Phật.
Lại
nữa, Kiều thi ca! Bồ tát ma ha tát không nên trú Sơ địa
vì có sở đắc, cho đến không nên trú địa thứ mười vì
có sở đắc.
Lại
nữa, Bồ tát ma ha tát, trú trong sơ phát tâm, nghĩ rằng ta
sẽ đầy đủ Thí ba la mật, không nên trú, cho đến ta sẽ
đầy đủ Bát nhã ba la mật, không nên trú; đầy đủ sáu
Ba la mật sẽ vào Bồ tát vị, không nên trú; vào Bồ tát
vị rồi ta sẽ trú địa vị bất thối chuyển, không nên
trú; Bồ tát sẽ đầy đủ năm thần thông, không nên trú,
vì có sở đắc; Bồ tát trú năm thần thông rồi ta sẽ dạo
qua vô lượng A tăng kỳ thế giới, lễ kính, cúng dường
chư Phật và nghe pháp; nghe pháp rồi lại vì người khác nói,
Bồ tát ma ha tát không nên trú như vậy, vì có sở đắc.
Như
thế giới chư Phật nghiêm tịnh, ta cũng sẽ trang nghiêm thế
giới, không nên trú, vì có sở đắc; thành tựu chúng sinh
khiến vào Phật đạo, không nên trú; đi đến vô lượng A
tăng kỳ thế giới chỗ chư Phật, tôn trọng ái kính cúng
dường, lấy hương hoa, anh lạc, hương xoa, hương bột, tràng
phan, lọng hoa, trăm ngàn ức thứ y báu, cúng dường chư Phật,
không nên trú, vì có sở đắc. Ta sẽ khiến vô lượng A tăng
kỳ chúng sinh phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
Bồ tát không nên trú như vậy. Ta sẽ sinh năm mắt, mắt thịt,
mắt trời, mắt tuệ, mắt pháp, mắt Phật, không nên trú;
ta sẽ sinh tất cả môn Tam muội, không nên trú; tùy ý muốn
dạo chơi các Tam muội, không nên trú; ta sẽ sinh tất cả
môn Ðà la ni, không nên trú; ta sẽ được mười lực của
Phật, không nên trú; ta sẽ được bốn điều không sợ, bốn
trí vô ngại, mười tám pháp không chung, không nên trú; ta
sẽ đầy đủ đại từ đại bi, không nên trú; ta sẽ đầy
đủ 32 tướng, không nên trú; ta sẽ đầy đủ 80 vẻ đẹp
tùy hình, không nên trú như vậy, vì có sở đắc.
Ðây
là người thứ tám, là người hành theo lòng tin, là người
hành theo sự hiểu pháp, không nên trú như vậy. Ðây là Tu
đà hoàn cùng tột bảy đời, đây là Gia gia, đây là Tu đà
hoàn mạng chung sạch hết lậu hoặc, đây là Tu đà hoàn trung
gian vào Niết bàn, đây là người hướng đến chứng
quả Tư đà hàm, đây là người Tư đà hàm nhất lai vào Niết
bàn, đây là người hướng đến chứng quả A na hàm, đây
là người Tư đà hàm nhất chủng, đây là người A na hàm
ở trong kia vào Niết bàn, đây là người hướng đến chứng
quả A la hán, đây là người A la hán đời này vào Vô dư
Niết bàn, đây là Bích chi Phật, quá Thanh văn, Bích chi Phật
địa, ta sẽ trú Bồ tát địa, đây là đạo chủng trí, không
nên trú như vậy, vì có sở đắc.
Biết
tất cả chủng, tất cả pháp rồi dứt các phiền não và
tập khí, không nên trú như vậy. Phật được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác sẽ Chuyển pháp luân, không nên trú;
làm Phật sự độ vô lượng A tăng kỳ chúng sinh vào Niết
bàn, không nên trú; bốn Như ý túc, không nên trú; trú vào
Tam muội ấy sẽ sống lâu hằng hà sa kiếp, không nên trú;
ta sẽ được sống lâu vô lượng số kiếp, không nên trú;32
tướng, mỗi mỗi tướng có 100 phước trang nghiêm, không nên
trú; một thế giới của ta như mười phương hằng hà sa thế
giới, không nên trú; ba ngàn đại thiên thế giới của ta
thuần là Kim cang, không nên trú; khiến cây Bồ đề của ta
sẽ xuất ra hương thơm như vậy, không nên trú; chúng sinh
ngửi được không còn dâm dục, sân nhuế, ngu si, không có
tâm Thanh văn, Bích chi Phật, những người ấy chắc sẽ chứng
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, không nên trú; nếu
chúng sinh ngửi được mùi thơm ấy, thân bệnh, tâm bệnh
thảy đều tiêu trừ, không nên trú; sẽ khiến trong thế giới
của ta không có danh tự sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không
nên trú; sẽ khiến trong thế giới của ta không có danh tự
Thí ba la mật cho đến không có danh tự Bát nhã ba la mật,
không nên trú; sẽ khiến trong thế giới của ta không có danh
tự bốn niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung, cũng
không có danh tự Tu đà hoàn, cho đến Phật, không có danh
tự Phật, không nên trú, vì có sở đắc,vì sao? Vì chư Phật
khi được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, hết thảy pháp
không có sở đắc.
Như
vậy,Kiều thi ca! Bồ tát trong khi tu Bát nhã ba la mật, không
nên trú tướng,vì không có sở đắc.
Bấy
giờ tâm Xá lợi phất nghĩ rằng: Nay Bồ tát nên làm thế
nào trú trong Bát nhã ba la mật?
Tu
bồ đề biết tâm Xá lợi phất nghĩ, bèn nói với Xá lợi
phất rằng: Ý ông nghĩ sao? Chư Phật trú ở đâu?
Xá
lợi phất đápTu bồ đề: Chư Phật không có chỗ trú, chư
Phật không trú nơi sắc, không trú nơi thọ, tưởng, hành,
thức, không trú nơi tánh hữu vi, không trú nơi tánh vô vi,
không trú nơi bốn niệm xứ, cho đến không trú nơi mười
tám pháp không chung, không trú nơi Trí nhất thiết chủng.
Xá
lợi phất! Bồ tát ma ha tát nên trú như vậy trú Bát nhã
ba la mật; như chư Phật trú nơi các pháp, chẳng phải trú
chẳng phải chẳng trú.
Xá
lợi phất! Bồ tát ma ha tát trong khi tu Bát nhã ba la mật,
nên học như vậy: Ta sẽ trú không trú pháp tướng.
LUẬN:
Luận giả nói: Trú trong Bát nhã ba la mật là năm uẩn, năm
uẩn tướng không. Năm uẩn tướng không là vì quán theo mười
tám không.
Lại
nữa, trong kinh Bát nhã ba la mật nói nghĩa không là năm uẩn
tướng không, chỉ vì phàm phu điên đảo nên chấp thủ tướng
năm uẩn, năm uẩn hòa hợp lại chấp thủ tướng Bồ tát.
Trong Bát nhã ba la mật lấy chúng sinh không, trừ chúng sinh,
tức không có tướng Bồ tát; lấy pháp không trừ năm uẩn,
thời không có tướng năm uẩn. Hai không không có sai khác
nên nói năm uẩn không, với Bồ tát không không hai không khác.
Như lửa củi Chiên đàn tắt với lửa phân, cỏ cây tắt,
cách tắt không khác nhau. Lấy tướng lửa khi chưa tắt để
nói khi tắt, nên có khác nhau, trong khi tắt thời không khác
cho đến Trí nhất thiết chủng cũng như vậy.
Không
nên trú là, không nên trú trong năm uẩn.
Hỏi:
Nên nói như nghĩa trú, cớ sao nói không trú?
Ðáp:
Nều có thể đối với năm uẩn tâm xa lìa không trú, thời
ấy là nghĩa trú. Thế nên nói vì có sở đắc, nên không
nên trú; cho đến đối với Trí nhất thiết chủng cũng như
vậy.
Trước
nói đối với năm uẩn không nên trú, chẳng biết không nên
trú môn gì. Nay nói trong các môn thường, vô thường chẳng
nên trú, cho đến xa lìa; không nên trú.
Hỏi:
Quả Tu đà hoàn v.v... tướng vô vi, không nên trú, có thứ
lớp gì?
Ðáp:
Bồ tát trước tiên quán các pháp không, không có gì, tâm
thối mất, muốn sớm chứng Niết bàn, Niết bàn tức là tướng
vô vi. Thế nên nói quả Tu đà hoàn v.v... tướng vô vi, không
nên trú. Nếu quả Tu đà hoàn, tướng vô vi thời không có
pháp để có thể chấp đắm, vậy thì đắm cái gì, chấp
cái gì? Còn nếu là tướng vô vi, tướng hữu vi thời hư
dối không thật cũng không nên trú. Thế nên nói quả Tu đà
hoàn tướng vô vi không nên trú, cho đến Phật tướng vô
vi không nên trú cũng như vậy. Như Bồ tát muốn hành Phật
đạo, đầu tiên tu Thí ba la mật, nên cầu phước điền,
vì sao? Vì do công đức phước điền mà sở nguyện được
viên mãn, như gieo ruộng tốt thời thâu hoạch nhiều; như
Phật nói các ruộng khác, quả báo có giới hạn, còn ruộng
Thánh hiền vô lượng, quả báo cũng vô lượng. Bồ tát nghe
nói ruộng phước Tu đà hoàn có quả báo vô lượng nên muốn
làm Tu đà hoàn, thế nên nói ruộng phước Tu đà hoàn, không
nên trú, cho đến Bích chi Phật cũng như vậy.
Hỏi:
Nhị thừa nhỏ nên vượt qua không trú, còn phước điền
của Phật, tại sao trú?
Ðáp:
Pháp của Bồ tát là phải bình đẳng đối với các pháp,
nếu vì Phật là lớn, chúng sinh là nhỏ, thời phá tướng
bình đẳng của các pháp.
*Lại
nữa, vì không, nên tất cả chỗ đều không nên trú.
*Lại
nữa, tâm Bồ tát bình đẳng bố thí, nếu phân biệt phước
điền, thời phá tâm đại bi, cũng phá sự bố thí với ba
phần thanh tịnh.
Trong
Sơ địa không nên trú là, nếu không bỏ Sơ địa thời không
được Nhị địa. Cầu ích lớn thì nên bỏ lợi nhỏ.
*Lại
nữa, vì tâm chấp trước thủ tướng nên không nên trú, cho
đến địa thứ mười cũng như vậy.
Hỏi:
Nếu pháp của Bồ tát ma ha tát, từ khi mới phát tâm nên
tu hành sáu Ba la mật, tu hành sáu Ba la mật nên vào pháp vị,
vào pháp vị nên trú địa vị bất thối chuyển. Trú địa
vị bất thối chuyển rồi, nên phát khởi năm thần thông
cúng dường mười phương chư Phật, như sau nói rộng, nay
vì cớ sao đều nói không nên trú?
Ðáp:
Không phá cách trú thanh tịnh, chỉ phá tâm chấp ngã tà kiến
thủ tướng mà trú; ví như sửa sang ruộng, chỉ trừ bỏ
cỏ rác.
*Lại
nữa, vì dứt pháp ái, nên không nên trú. Không muốn trái
với trí tuệ rốt ráo không của chư Phật dạy, nên không
nên trú. Nếu đem tâm phương tiện không trú trước, thương
xót chúng sinh nên tuy trú cũng không lỗi, cho đến đối với
80 tướng tốt tùy hình cũng như vậy.
Người
thứ tám là hạng người hành theo lòng tin (tín hành), hạng
người hành theo sự hiểu pháp thuộc kiến đế đạo (pháp
hành).
Có
Tu đà hoàn cùng tột bảy đời; có Tu đà hoàn ngay đời này
hết phiền não chứng được A na hàm; có Tu đà hoàn gia gia
trải qua ba đời sinh, ba đời sinh rồi vào Niết bàn, có trung
gian Tu đà hoàn, trừ sinh đời thứ ba, các người kia trung
gian vào Niết bàn.
Trú
trong sáu vô ngại đạo, năm giải thoát đạo, đều là Tu
đà hoàn hướng.
Tư
đà hàm dứt sáu phẩm tư hoặc của cõi Dục, sinh lên trời,
từ trời sinh trở lại cõi người rồi vào Niết bàn, gọi
là A na hàm.
Dứt
phẩm tư hoặc thứ bảy của cõi Dục, gọi là hướng A na
hàm, dứt phẩm tư hoặc thứ tám cũng gọi là hướng A na
hàm, lại gọi là nhất chủng tử A na hàm, nơi đây chết
sinh nơi kia vào Niết bàn. Dứt được hết thảy kiết sử
của cõi Dục gọi là A na hàm, nơi đây chết, sinh vào cõi
Sắc, Vô sắc mà vào Niết bàn, không còn sinh trở lại nữa.
Có A na hàm đời nay vào Niết bàn; có A na hàm ở thân trung
ấm vào Niết bàn; có A na hàm ngay khi sinh vào Niết bàn; có
A na hàm sau khi sinh khởi tâm tu các hạnh rồi vào Niết bàn;
có A na hàm không cần cầu các hạnh mà vào Niết bàn; có
A na hàm đi lên cho đến cõi Sắc cứu cánh; có A na hàm sinh
cõi Vô sắc mà vào Niết bàn; có A na hàm được thân chứng
mà vào Niết bàn. Ấy gọi là A na hàm, cũng gọi là hướng
A na hàm.
A la
hán có chín hạng, khi hết lậu hoặc, xả báo thân gọi là
vào Vô dư Niết bàn. Qua khỏi Thanh văn, Bích chi Phật địa,
trú Bồ tát địa, có Ðạo chủng trí, Trí nhất thiết chủng,
biết hết thảy pháp, dứt hết thảy phiền não và tập khí,
thành Phật, Chuyển Pháp luân, đủ 32 tướng, khắp thế giới
độ vô lượng chúng sinh, sống lâu vô lượng, đều như trong
Luận nghị đã nói trước kia.
Người
Thanh văn khéo tu bốn như ý túc, được lực Tam muội ấy,
có thể duy trì sống một kiếp, hoặc dưới một kiếp. Bồ
tát khéo tu bốn Như ý Tam muội, hoặc muốn sống lâu nhiều
kiếp như cát sông Hằng, cũng được như ý.
Ba
ngàn đại thiên thế giới thuần Kim cang là các thế giới
khác tuy dưới đáy có Kim cang, và chỗ Phật đi Phật ngồi
có Kim cang, mà chỗ khác đều không có, ấy là Bồ tát nguyện
thế giới đều là Kim cang.
Mùi
thơm cây Bồ đề độ chúng sinh là như trước Luận nghị
nói.
Hỏi:
Việc trong đây tuy hy hữu đều có thể tin; còn nói không
có danh tự sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không có danh tự
Thí ba la mật, không có danh tự Phật là điều khó tin?
Ðáp:
Có thế giới nơi người phước đức trí tuệ sinh ra. Cây
cối, hư không, cõi đất, núi sông v.v... thường phát ra âm
thanh diễn về thật tướng các pháp, pháp pháp đều là chẳng
sinh chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng sạch, không, vô tướng,
vô tác v.v... Chúng sinh sinh ra liền
nghe
âm thanh ấy, tự nhiên chứng được Vô sanh pháp nhẫn. Ở
trong thế giới như vậy, không cần có danh tự phân biệt
các pháp, rằng ấy là năm uẩn, mười hai nhập v.v... ấy
là Thí ba la mật cho đến mười tám pháp không chung, ấy là
Tu đà hoàn cho đến chư Phật. Chúng sinh ở thế giới ấy
đều có 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình trang nghiêm thân,
có ánh sáng vô lượng, một chủng đạo, một chủng quả.
Trong
ấy không nên trú là, nếu Bồ tát tự nghĩ ta có thể sinh
ra thế giới như vậy, thời sinh tâm cao mạn, thế nên không
nên thủ tướng mà trú.
Trong
đây Tu bồ đề tự nói nhân duyên không trú, chư Phật khi
đắc đạo, đối với các pháp không thấy có tướng thật
nhất định, sẽ trú chỗ nào?
Nay
Xá lợi phất nghĩ rằng: Nếu hoàn toàn không chỗ trú, vậy
sẽ trú chỗ nào để thành Phật đạo?
Tu
bồ đề biết tâm Xá lợi phất nghĩ, nên nói với Xá lợi
phất rằng: Các Bồ tát đều là Phật tử, phép làm con nên
như sở hành của cha. Tâm chư Phật không trú hết thảy pháp
từ sắc cho đến Trí nhất thiết chủng, thì Bồ tát cũng
nên học như vậy, dùng tâm không trú vào đâu cả mà hành
Bát nhã ba la mật. Như chư Phật trong tâm không trú vào đâu
cả cũng không trú, trong tâm chẳng phải không trú cũng không
trú,vì rốt ráo thanh tịnh, nên các Bồ tát cũng nên trú theo
Phật, vì rốt ráo thanh tịnh, các Bồ tát cũng nên học theoPhật.
KINH:
Bấy giờ trong hội chúng có các Thiên tử nghĩ rằng: Các
Dạ xoa nói ra ngôn ngữ tự cú, còn có thể hiểu, mà Tu bồ
đề nói ra ngôn ngữ luận nghĩa giải thích Bát nhã ba la mật,
hoàn toàn không thể hiểu!
Tu
bồ đề biết tâm niệm của các Thiên tử, nói với các Thiên
tử rằng: Không thể hiểu không thể biết ư?
Các
Thiên tử nói: Thưa Ðại đức! Không thể hiểu không thể
biết.
Tu
bồ đề nói với các Thiên tử rằng: Các ông! Pháp không
thể biết, tôi không có luận thuyết, cho đến không nói một
chữ, cũng không có người nghe, vì sao? Vì các chữ chẳng
phải Bát nhã ba la mật, trong Bát nhã ba la mật không có người
nghe. Chư Phật chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, không
chữ không lời. Các Thiên tử! Như Phật biến hóa làm người,
người biến hóa ấy lại hóa ra bốn bộ chúng Tỳ kheo, Tỳ
kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, người biến hóa thuyết pháp
ở giữa bốn bộ chúng, ý các ông nghĩ sao? Trong đó có người
nói, người nghe, người biết ư?
Các
Thiện tử đáp: Thưa không, Ðại đức!
Tu
bồ đề nói: Hết thảy pháp đều như biến hóa, trong đó
không có người nói, không có người nghe, không có người
biết.
Các
thiên tử! Ví như người trong mộng thấy Phật thuyết pháp,
ý các ông nghĩ sao? Trong ấy có người nói, người nghe, người
biết chăng?
Các
Thiên tử đáp: Thưa không, Ðại đức!
Tu
bồ đề: Các Thiên tử! Hết thảy pháp đều như mộng, không
có nói, không có nghe, không có biết.
Các
Thiên tử! Ví như hai người ở trong khe sâu lớn, mỗi người
ở mỗi phía, tán thán Phật Pháp Tăng, có hai tiếng vang dội
ra, ý các Thiên tử nghĩ sao? Tiếng vang của hai người ấy
có triển chuyển hiểu nhau chăng?
Các
Thiên tử đáp:Thưa không, Ðại đức! Tu bồ đề nói: Các
Thiên tử! Hết thảy pháp cũng như vậy, không có nói, không
có nghe, không có biết.
Các
Thiên tử! Ví như thầy huyễn thuật khéo, ở giữa ngã tư
đường hóa làm Phật và bốn bộ chúng, thuyết pháp nơi ấy,
ý các Thiên tử nghĩ sao? trong ấy có người nói, người nghe,
người biết chăng?
Các
Thiên tử đáp: Thưa không, Ðại đức!
Tu
bồ đề nói: Các Thiên tử! Hết thảy các pháp như huyễn,
không có người nói, không có người nghe, không có người
biết.
Bấy
giờ tâm các Thiên tử nghĩ rằng: Lời Tu bồ đề nói muốn
làm cho dễ hiểu lại càng sâu càng diệu!
Tu
bồ đề biết tâm các Thiên tử nghĩ, nói với các Thiên tử
rằng: Sắc chẳng phải sâu, chẳng phải diệu; thọ, tưởng,
hành, thức chẳng phải sâu, chẳng phải diệu; sắc tánh chẳng
phải sâu chẳng phải diệu; thọ, tưởng, hành, thức tánh
chẳng phải sâu chẳng phải diệu. Nhãn tánh cho đến ý tánh,
sắc tánh cho đến pháp tánh, nhãn giới tánh cho đến ý gìới
tánh; nhãn thức cho đến ý thức, nhãn xúc cho đến ý xúc,
thọ do nhãn và xúc làm nhân duyên sinh, cho đến thọ do ý
và xúc làm nhân duyên sinh; Thí ba la mật cho đến Bát nhã
ba la mật, nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, bốn
niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung, tất cả các
môn Tam muội, tất cả các môn Ðà la ni, cho đến Trí nhất
thiết chủng, tánh Trí nhất thiết chủng chẳng phải sâu
chẳng phải diệu.
Các
Thiên tử lại nghĩ rằng: Trong sự thuyết pháp này không nói
sắc, không nói thọ, tưởng, hành, thức, không nói mắt cho
đến thọ do ý và xúc làm nhân duyên sinh, không nói Thí ba
la mật cho đến Bát nhã ba la mật, không nói nội khôngcho
đến vô pháp hữu pháp không (Kinh Ðại Bát nhã ghi: Vô tánh
tự tánh không – ND), không nói bốn niệm xứ cho đến mười
tám pháp không chung, không nói môn Ðà la ni, môn Tam muội,
cho đến Trí nhất thiết chủng, không nói quả Tu đà hoàn
cho đến quả A la hán, không nói đạo Bích chi Phật, không
nói đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, trong pháp ấy
không nói danh tự ngữ ngôn.
Tu
bồ đề biết tâm các Thiên tử nghĩ, nói với các Thiên tử
rằng: Như vậy! như vậy! Các Thiên tử! Các pháp như vậy
cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật,
tướng không thể nói. Trong ấy cũng không có người nói,
cũng không có người nghe, cũng không có người biết.
Vì
vậy nên, các Thiên tử! Thiện nam tử, thiện nữ nhơn nào
muốn trú muốn chứng quả Tu đà hoàn, người ấy cũng nhân
nơi nhẫn này molói trú chứng được; muốn trú muốn chứng
Tư đà hàm, A na hàm, A la hán, Bích chi Phật, Phật đạo, cũng
nhân nơi nhẫn này mới trú chứng được.
Như
vậy, các Thiên tử! Bồ tát ma ha tát từ lúc mới phát tâm,
trong khi tu Bát nhã ba la mật, nên trú như vậy, vì không nói
không nghe vậy.
LUẬN.
Hỏi: Lời các Dạ xoa nói tuy u uẩn bất chính, mà sự việc
quê hèn thiết cận, còn lời nói Bát nhã ba la mật sâu xa,
tuy dùng ngôn từ thông thường mà chỉ thú u thâm huyền viễn,
việc khác lý trái, sao đem so sánh nhau?
Ðáp:
Chư thiên thích đem việc người đời không hiểu để ví
việc mình chưa ngộ, không nhất thiết phải sự lý đều
đồng nhau mới lấy làm ví dụ. Có người nói Thiên đế
có 999 cửa, mỗi cửa đều dùng sáu Dạ xoa áo xanh canh giữ.
Các Dạ xoa ấy nói năng phù phiếm hư ngụy, tình tứ gian
siếm, chư thiên khinh hèn không thèm để ý, cho nên không hiểu
nó nói, mà ý so sánh kia có thể không cần ngôn biện để
ghi nhận, nên nói còn có thể hiểu biết. Nay nghe nói Bát
nhã sâu xa, lời nói như tuồng hiểu được mà chỉ thú u
huyền thấm thúy, tìm đến càng sâu, lạc mất càng xa, nên
lấy lời nói của Dạ xoa mà so sánh chỗ chẳng biết. Lại
lời nói của Dạ xoa tuy khó hiểu, mà mắt thấy tướng, truyền
lời nó, đo lường tâm nó thời đều có thể biết được;
thí như nguồn sâu nước chảy, có thuyền thì qua được.
Tu
bồ đề nói về Bát nhã ba la mật, nghĩa rốt ráo không,
không có định tướng, không thể chấp thủ, không thể truyền
dịch mà được ngộ; không được nói có, không được nói
không có, không được nói vừa có vừa không có, không được
nói chẳng phải có chẳng phải không có, chẳng phải chẳng
phải có, chẳng phải chẳng phải không có cũng không có,
hết thảy chỗ tâm đi dứt, đường ngôn ngữ đoạn, thế
nên các Thiên tử kinh ngạc, nghi ngờ, mê muội.
Tu
bồ đề đáp: Ðiều các Thiên tử không hiểu, pháp tự nhiên
như vậy. Pháp ấy không chỗ nói, cho đến không nói một
chữ, có thể đắm có thể lấy, không chữ không lời, ấy
là Phật đạo. Vì sao? Vì danh tự đều không, hư dối không
thật, như trong đoạn phá danh tự đã nói. Dùng danh tự thời
có ngôn ngữ, nếu không có danh tự thời không có ngôn ngữ.
Các
Thiên tử nghĩ rằng: Nếu không nói, nếu không nghe, thì nay
hòa hợp tụ hội để làm gì?
Tu
bồ đề muốn giải thích nghĩa ấy nên lấy ví dụ để làm
rõ.
Các
Thiên tử lại nghĩ rằng: Muốn lấy ví dụ để giải ngộ
cho chúng tôi, song ví dụ này lại càng thêm thâm diệu. Ví
dụ lấy thô dụ tế, lấy việc cố định làm rõ việc bất
định, nay ví dụ cũng vi diệu, không có định tướng!
Tu
bồ đề biết tâm các Thiên tử, nơi trong Bát nhã mê mờ
không thể tự ra khỏi, vì vậy nên nói Bát nhã ba la mật
không khác năm uẩn, thật tướng năm uẩn tức là Bát nhã
ba la mật. Nay năm uẩn này chẳng phải thâm chẳng phải diệu,
cho đến Trí nhất thiết chủng chẳng phải thâm chẳng phải
diệu.
Các
Thiên tử bấy giờ rất biết Tu bồ đề miệng tuy nói sắc
mà tâm không nói, cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
cũng như vậy.
Tu
bồ đề biết tâm các Thiên tử, nên đáp rằng: Như vậy,
như vậy! Chẳng phải riêng tôi như vậy, khi Phật chứng được
Bồ đề cũng không nói, trong tướng tịch diệt thật không
có người nói, không có người nghe. Thế nên quả Tu đà hoàn
cho đến Phật đạo đều nhận nơi pháp vô vi mà có được.
Lìa pháp ấy được nhẫn ấy thời không có Tu đà hoàn, cho
đến Phật đạo cũng như vậy. Bồ tát từ khi mới phát tâm
cho đến thành Phật, giữa khoảng trung gian đó, hết thảy
pháp không có mói, không có nghe. Vì các quán diệt, vì ngôn
ngữ dứt nên không thể nói; không thể nói nên không thể
nghe; không thể nghe nên không thể biết; không thể biết nên
đối với hết thảy pháp không lãnh thọ, không chấp trước,
thời vào Niết bàn.
(Hết
cuốn 54 theo bản Hán)