Tập
3
Cuốn
60
GIẢI
THÍCH: PHẨM MƯỜI THIỆN THỨ 38
(Kinh
Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Kinh Văn thứ 36)
KINH:
Phật bảo Thích đề hoàn nhơn: Kiều thi ca! Nếu có thiện
nam tử, thiện nữ nhân dạy trong một cõi Diêm phù đề hành
mười thiện đạo, ý ông nghĩ sao? Do nhân duyên ấy, được
phước nhiều chăng?
Ðáp:
Rất nhiều, bạch thế Tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân chép quyển
kinh Bát nhã ba la mật đem cho người khác khiến đọc tụng,
giảng nói, được phước nhiều, vì sao? Vì trong Bát nhã ba
la mật có nói rộng các pháp vô lậu. Thiện nam tử, thiện
nữ nhân học từ trong đó, đã học, nay học, sẽ học; được
vào trong chánh pháp vị, đã vào, nay vào, sẽ vào; được
Tu đà hoàn quả, đã được, nay được, sẽ được, cho đến
được A la hán quả. Cầu Bích chi Phật đạo cũng như vậy.
Các Bồ tát ma ha tát cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
được vào trong chánh pháp vị, đã vào, nay vào, sẽ vào;
được Vô thượng Chánh đẳng hánh giác, đã được, nay được,
sẽ được.
Kiều
thi ca! Những gì là pháp vô lậu? Ðó là bốn niệm xứ cho
đến tám Thánh đạo phần, bốn Thánh đế, nội không cho
đến vô pháp hữu pháp không, Phật mười lực, cho đến mười
tám pháp không chung. Thiện nam tử, thiện nữ nhân học pháp
ấy được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, đã được,
nay được, sẽ được.
Kiều
thi ca! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân dạy một người
khiến cho được quả Tu đà hoàn, người ấy được phước
đức hơn dạy người trong một cõi Diêm phù đề hành mười
thiện đạo, vì sao? Kiều thi ca! Vì dạy người trong một
cõi Diêm phù đề hành mười thiện đạo không lìa khỏi khổ
địa ngục, súc sinh, ngã quỷ. Kiều thi ca! Dạy một người
chứng được quả Tu đà hoàn thì lìa khỏi ba đường ác,
cho đến được quả A la hán, đạo Bích chi Phật cũng như
vậy.
Kiều
thi ca! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân dạy người trong
một cõi Diêm phù đề, được quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm,
A na hàm, A la hán, Bích chi Phật đạo, không bằng thiện nam
tử, thiện nữ nhân dạy một người khiến chứng được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác được phước nhiều, vì
sao? Kiều thi ca! Vì nhân nơi Bồ tát nên sinh ra Tu đà hoàn,
cho đến A la hán, Bích chi Phật; vì nhân nơi Bồ tát nên sinh
ra chư Phật.
Do
nhân duyên ấy nên, Kiều thi ca! Nên biết thiện nam tử, thiện
nữ nhân chép quyển kinh Bát nhã ba la mật cho người khác,
khiến chép, cất giữ, đọc tụng, giảng nói được phước
rất nhiều, vì sao? Vì trong Bát nhã ba la mật ấy có nói rộng
về các pháp lành. Học trong pháp lành ấy bèn xuất sinh dòng
lớn Sát lợi, dòng lớn Bà la môn, đại gia cư sĩ, trời Tứ
thiên vương, cho đến trời Phi hữu tưởng phi vô tưởng;
bèn có bốn niệm xứ cho đến Trí nhất thiết chủng; bèn
có Tu đà hoàn cho đến A la hán, Bích chi Phật; bèn có chư
Phật.
Kiều
thi ca! Không kể người trong một cõi Diêm phù đề, nếu có
thiện nam tử, thiện nữ nhân dạy chúng sinh trong thế giới
bốn châu thiên hạ hành mười thiện đạo, ý ông nghĩ sao?
Do nhân duyên ấy người đó được phước nhiều chăng?
Ðáp:
Rất nhiều, bạch Thế Tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân, chép quyển
kinh Bát nhã ba la mật cho người khác, bảo chép, cất giữ,
đọc tụng, giảng nói được phước nhiều. Ngoài ra như trên
đã nói.
Kiều
thi ca! Không kể chúng sinh trong thế giới bốn châu thiên hạ,
nếu dạy chúng sinh trong tiểu thiên thế giới hành mười
thiện đạo cũng như vậy.
Kiều
thi ca! Không kể chúng sinh trong tiểu thiên thế giới, nếu
dạy chúng sinh trong hai ngàn trung thế giới, bảo hành mười
thiện đạo, nếu lại có thiện nam tử, thiện nữ nhân chép
quyển kinh Bát nhã ba la mật cho người khác, bảo chép, cất
giữ, đọc tụng, người ấy được phước nhiều. Ngoài ra
như trên đã nói.
Kiều
thi ca! Không kể chúng sinh trong hai ngàn trung thế giới, nếu
dạy chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới, bảo hành
mười thiện đạo, nếu lại có người chép quyển kinh Bát
nhã ba la mật cho người khác, bảo chép, cất giữ, đọc tụng,
người ấy được phước đức nhiều.
Kiều
thi ca! Không kể chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới,
nếu dạy chúng sinh trong thế giới nhiều như cát sông Hằng,
bảo hành mười thiện đạo, nếu lại có người chép quyển
kinh Bát nhã ba la mật cho người khác, bảo chép, cất giữ,
đọc tụng, phước ấy nhiều. Ngoài ra như trên nói.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Có người dạy chúng sinh trong một cõi Diêm
phù đề, bảo an trú bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn
định vô sắc, năm thần thông. Ý ông nghĩ sao? Thiện nam tử,
thiện nữ nhân ấy được phước đức nhiều chăng?
Thích
đề hoàn nhơn thưa: Rất nhiều, bạch Thế Tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân chép quyển
kinh Bát nhã la mật cho người khác, bảo chép, cất giữ, đọc
tụng, được phước nhiều, vì sao? Vì trong Bát nhã ba la mật
có nói về các pháp lành. Ngoài ra như trên nói.
Kiều
thi ca! Không kể chúng sinh cõi Diêm phù đề, lại không kể
chúng sinh trong thế giới bốn châu thiên hạ, chúng sinh trong
tiểu thiên thế giới, chúng sinh trong hai ngàn trung thế giới,
chúng sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới. Kiều thi ca! Nếu
có người dạy chúng sinh trong mười phương thế giới nhiều
như cát sông Hằng , bảo an trú bốn thiền, bốn tâm vô lượng,
bốn định vô sắc, năm thần thông, ý ông nghĩ sao? Người
ấy được phước đức nhiều chăng?
Ðáp:
Rất nhiều, bạch Thế Tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân chép quyển
kinh Bát nhã ba la mật cho người khác, bảo chép, cất giữ,
đọc tụng, được phước nhiều, vì sao? Vì trong Bát nhã
ba la mật có nói rộng về các pháp lành. Ngoài ra như trên
nói.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân lãnh
thọ Bát nhã ba la mật, cất giữ, đọc tụng, giảng nói,
nhớ nghĩ đúng, phước đức người ấy hơn dạy người cõi
Diêm phù đề hành mười thiện đạo, an trú bốn thiền, bốn
tâm vô lượng, bốn định vô sắc, năm thần thông.
Nhớ
nghĩ đúng là thọ trì, thân cận Bát nhã ba la mật cho đến
nhớ nghĩ đúng không với hai pháp, không với chẳng hai pháp.
Thọ trì, thân cận Thiền ba la mật, Tấn ba la mật, Nhẫn
ba la mật, Giới ba la mật, Thí ba la mật cho đến nhớ nghĩ
đúng không với hai pháp, không với chẳng hai pháp. Vì Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác, nhớ nghĩ đúng, nội không
cho đến Trí nhất thiết chủng không với hai pháp, không với
chẳng hai pháp.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Hoặc có thiện nam tử, thiện nữ nhân dùng
nhiều nhân duyên diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật, khai thị
phân biệt làm cho người khác dễ hiểu.
Kiều
thi ca! Thế nào là nghĩa Bát nhã ba la mật? Kiều thi ca! Nghĩa
Bát nhã ba la mật, chẳng phải quán với hai tướng, chẳng
phải quán với chẳng hai tướng, chẳng phải có tướng chẳng
phải không có tướng, chẳng vào chẳng ra, chẳng tăng chẳng
giảm, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng sinh chẳng diệt, chẳng
lấy chẳng bỏ, chẳng trụ chẳng không trụ, chẳng thật
chẳng hư, chẳng hợp chẳng tán, chẳng đắm chẳng phải
không đắm, chẳng nhân chẳng phải không nhân, chẳng pháp
chẳng phải không pháp, chẳng như chẳng phải không như, chẳng
thật tế chẳng phải không thật tế.
Kiều
thi ca! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân lấy được nghĩa
Bát nhã ba la mật ấy, dùng các nhân duyên diễn nói, khai thị,
phân biệt làm cho người khác dễ hiểu, thiện nam tử, thiện
nữ nhân ấy được phước đức rất nhiều hơn người tự
thọ trì Bát nhã ba la mật, thân cận, đọc tụng, giảng nói,
nhớ nghĩ đúng.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân tự thọ trì
Bát nhã ba la mật, thân cận, đọc tụng, giảng nói, nhớ
nghĩ đúng, dùng các nhân duyên diễn nói nghĩa Bát nhã ba la
mật, khai thị, phân biệt làm cho người khác dễ hiểu, thì
thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy được phước đức rất
nhiều!
Thích
đề hoàn nhơn bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Thiện
nam tử, thiện nữ nhân, nên như vậy diễn nói nghĩa Bát nhã
ba la mật, khai thị, phân biệt làm cho dễ hiểu.
Phật
dạy Thích đề hoàn nhơn: Như vậy, Kiều thi ca! Thiện nam
tử, thiện nữ nhân ấy nên như vậy diễn nói Bát nhã ba
la mật, khai thị, phân biệt làm cho dễ hiểu.
Kiều
thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, diễn nói nghĩa Bát nhã
ba la mật, khai thị, phân biệt làm cho dễ hiểu như vậy,
được vô lượng, vô biên, vô số phước đức. Nếu thiện
nam tử, thiện nữ nhân, cúng dường mười phương vô lượng
vô số chư Phật đến suốt đời, tùy chỗ nhu cầu, cung kính,
tôn trọng, tán thán, hương hoa, cho đến phan lọng cúng dường.
Nếu lại có thiện nam tử, thiện nữ nhân, dùng các nhân
duyên diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật, khai thị, phân biệt,
làm cho người khác dễ hiểu, thì thiện nam tử, thiện nữ
nhân này được phước đức rất nhiều, vì sao? Vì chư Phật
quá khứ, vị lai, hiện tại, đều học nơi Bát nhã ba la mật
ấy mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; đã được,
nay được, sẽ được.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân tu, Thí
ba la mật trong vô lượng vô biên vô số kiếp không bằng
thiện nam tử, thiện nữ nhân đem nghĩa Bát nhã ba la mật,
giảng nói. khai thị, phân biệt làm cho người khác dễ hiểu,
phước này rất nhiều, vì không có sở đắc.
Sao
gọi là có sở đắc? Kiều thi ca! Nếu Bồ tát ma ha tát vì
có sở đắc nên bố thí, trong khi bố thí nghĩ rằng: ta cho,
kia nhận, đây vật thí, ấy gọi là có sở đắc bố thí,
không được gọi thành Ba la mật; ta giữ giới, đây là giới,
ấy gọi là sở đắc giới, không được thành Ba la mật,
ta nhẫn nhục, nhẫn nhục vì người kia, ấy gọi là sở đắc
nhẫn nhục, không được thành Ba la mật; ta tinh tấn, tinh
tấn vì việc ấy, ấy gọi là sở đắc tinh tấn, không được
thành Ba la mật; ta tu thiền, pháp tu là thiền, ấy gọi là
sở đắc thiền, không được thành Ba la mật; ta tu tuệ, pháp
tu là tuệ, ấy gọi là sở đắc tuệ, không được thành
Ba la mật.
Kiều
thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân nào tu như vậy không
được đầy đủ Thí ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn ba la
mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật và Bát nhã ba la mật.
Thích
đề hoàn nhơn bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn! Bồ tát ma
ha tát làm sao đầy đủ Thí ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn
ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật?
Phật
bảo Thích đề hoàn nhơn: Bồ tát ma ha tát khi bố thí không
thủ đắc người cho, không thủ đắc người nhận, không
thủ đắc vật thí, người ấy được đầy đủ Thí ba la
mật cho đến khi tu Bát nhã ba la mật, không thủ đắc trí,
không thủ đắc trí được tu, người ấy được đầy đủ
Bát nhã ba la mật.
Kiều
thi ca! Ấy là Bồ tát ma ha tát đầy đủ Thí ba la mật cho
đến Bát nhã ba la mật. Thiện nam tử, thiện nữ nhân tu Bát
nhã ba la mật như vậy, nên vì người khác mà diễn nói nghĩa
kia, khai thị, phân biệt làm cho dễ hiểu. Tu Thiền ba la mật,
Tấn ba la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật, Thí ba la mật,
nên diễn nói nghĩa kia, khai thị, phân biệt làm cho dễ hiểu,
vì sao? Kiều thi ca! Vì đời vị lai sẽ có thiện nam tử,
thiện nữ nhân muốn nói Bát nhã ba la mật mà nói tương tợ
Bát bhã ba la mật. Có thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát
tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nghe tương tợ Bát
nhã ba la mật ấy, bị mất chánh đạo. Thiện nam tử, thiện
nữ nhân nên vì người ấy diễn nói đầy đủ nghĩa Bát
nhã ba la mật, khai thị, phân biệt làm cho dễ hiểu.
Thích
đề hoàn nhơn bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Thế
nào là Bát nhã ba la mật tương tợ?
Phật
dạy: Có thiện nam tử, thiện nữ nhân nói Bát nhã ba la mật
có chỗ thủ đắc, ấy là Bát nhã ba la mật tương tợ.
Thích
đề hoàn nhơn bạch Phật rằng: Như thế nào là thiện nam
tử, thiện nữ nhân, nói Bát nhã ba la mật có sở đắc, ấy
là Bát nhã ba la mật tương tợ?
Phật
dạy: Thiện nam tử, thiện nữ nhân nói Bát nhã ba la mật
có sở đắc đắc, gọi là Bát nhã ba la mật tương tợ, là
nói sắc vô thường và nói rằng tu được như vậy là tu
Bát nhã ba la mật. Hành giả tìm sắc vô thường, ấy là tu
Bát nhã ba la mật tương tợ.
Nói
mắt vô thường cho đến nói ý vô thường, nói sắc vô thường
cho đến nói pháp vô thường, nói nhãn giới vô thường, sắc
giới, nhãn thức giới vô thường cho đến nói ý giới,
pháp giới, ý thức giới vô thường. Nói địa chủng (địa
giới) vô thường, cho đến nói thức chủng vô thường, nói
nhãn thức thân (nhãn thức chủng) vô thường, cho đến nói
ý thức thân vô thường; nói nhãn xúc vô thường cho đến
nói ý xúc vô thường; nói nhãn và xúc làm nhân duyên sinh
thọ vô thường, cho đến nói ý và xúc làm nhân duyên sinh
thọ vô thường. Rộng nói như năm uẩn. Nói sắc khổ, cho
đến nói ý và xúc làm nhân duyên sinh thọ khổ; nói sắc
vô ngã, cho đến nói ý và xúc làm nhân duyên sinh thọ vô
ngã, đều nói như năm uẩn.
Hành
giả khi tu Thí ba la mật, vì nói sắc vô thường, khổ, vô
ngã, cho đến nói ý và xúc làm nhân duyên sinh thọ vô thường,
khổ,vô ngã.
Thí
ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật cũng như vậy. Tu bốn
thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc vì nó là nó
vô thường, khổ, vô ngã.Tu bốn niệm xứ, vì nó là
vô thường, khổ, vô ngã, cho đến khi tu Trí nhất thiết chủng
vì nói là vô thường, khổ, vô ngã, dạy như vậy. Người
tu được như vậy cho là tu Bát nhã ba la mật.Kiều thi ca!
Ấy gọi là Bát nhã ba la mật tương tợ.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân, ở đời
vị lai nói Bát nhã ba la mật tương tợ là nói rằng: Thiện
nam tử, các ông tu Bát nhã ba la mật, khi các ông tu Bát nhã
ba la mật, sẽ được Sơ địa cho đến sẽ được Ðịa thứ
mười. Tu Thiền ba la mật, cho đến tu Thí ba la mật cũng như
vậy. Hành giả do tương tợ có sở đắc, do tổng tướng
tu Bát nhã ba la mật. Kiều thi ca! Ấy gọi là Bát nhã ba la
mật tương tợ.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, muốn nói
Bát nhã ba la mật mà nói rằng: Thiện nam tử, các ông tu hành
Bát nhã ba la mật xong, sẽ vượt quá địa vị Thanh văn, Bích
chi Phật; ấy gọi là Bát nhã ba la mật tương tợ.
*Lại
nữa, thiện nam tử, thiện nữ nhân, vì người cầu Phật
đạo mà nói như vầy: Thiện nam tử, thiện nữ nhân,
các ông tu hành Bát nhã ba la mật rồi vào Bồ tát vị, được
vô sinh nhẫn, được vô sinh nhẫn rồi, bèn trú ở Bồ tát
thần thông, từ một cõi Phật đến một cõi Phật cúng dường
chư Phật, cung kính, tôn trọng, tán thán. Nói như vậy, ấy
gọi là Bát nhã ba la mật tương tợ.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, vì người
cầu Phật đạo mà nói như vầy: Thiện nam tử, thiện nữ
nhân, các ông học Bát nhã ba la mật, thọ trì, đọc tụng,
giảng nói, nhớ nghĩ đúng, sẽ được vô lượng vô biên
vô số công đức. Nói như vậy, ấy gọi là Bát nhã ba la
mật tương tợ.
*Lại
nữa, thiện nam tử, thiện nữ nhân vì người cầu Phật đạo
mà nói rằng: Như chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại có
gốc lành công đức, từ khi mới phát tâm đến khi thành Phật
đều tập hợp hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Nói như vậy, ấy gọi là Bát nhã ba la mật tương tợ.
Thích
đề hoàn nhơn bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Làm
sao thiện nam tử, thiện nữ nhân vì người cầu Phật đạo
không nói Bát nhã ba la mật tương tợ.
Phật
dạy: Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân,vì người cầu Phật
đạo mà nói Bát nhã ba la mật rằng: Này thiện nam tử, ông
tu hành Bát nhãba la mật, chớ quán sắc vô thường, vì sao?
Vì sắc, sắc tướng không, tánh sắc ấy chẳng phải pháp,
nếu chẳng phải pháp tức gọi là Bát nhã ba la mật; trong
Bát nhãba la mật, sắc chẳng phải thường, chẳng phải vô
thường, vì sao? Vì trong Bát nhã, sắc còn không thể có được,
huống chi thường, vô thường.
Kiều
thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân nói như vậy, ấy gọi
là không nói Bát nhã ba la mật tương tợ. Thọ, tưởng, hành,
thức cũng như vậy.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân vì người
cầu Phật đạo mà nói rằng: Thiện nam tử các ông tu hành
Bát nhã ba la mật, đối với các pháp chớ vượt qua, chớ
trụ lại, vì sao? Vì trong Bát nhã ba la mật không có pháp
có thể vượt qua, có thể trụ lại. Vì sao? Vì tất cả pháp
tự tánh không, tự tánh không là chẳng phải pháp, nếu chẳng
phải pháp tức là Bát nhã ba la mật. Trong Bát nhã ba la mật
không có pháp có thể vào có thể ra, có thể sinh có thể
diệt.
Kiều
thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy nói như vậy, ấy
gọi là không nói Bát nhã ba la mật tương tợ. Nói rộng như
trên.
Trái
với nói tương tợ là không nói Bát nhã ba la mật tương tợ.
Như
vậy, Kiều thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, nên diễn
nói nghĩa Bát nhã ba la mật như vậy. Nếu nói nghĩa Bát nhã
ba la mật như vậy, được công đức hơn người trước.
LUẬN:
Luận giả nói Phật lại muốn bằng cửa khác làm rõ Bát
nhã ba la mật hơn, nên hỏi Ðế thích rằng: Nếu có người
dạy người trong một cõi Diêm phù đề tu mười thiện đạo,
phước ấy nhiều không? Như trong Kinh đã nói rộng, trong đó
nói nhân duyên: Sở dĩ hơn là vì Bát nhã ba la mật rộng nói
các pháp vô lậu, thành ba thừa đạo, vào Niết bàn, không
trở lại; còn mười thiện đạo chỉ là pháp thiện hữu
lậu, được hưởng phước lạc vô thường trong thế gian,
rồi trở lại chịu khổ, thế nên không bằng.
*Lại
nữa, trước là pháp thế gian, sau là pháp xuất thế gian;
trước là pháp sinh ra sinh tử, sau là pháp diệt sinh tử; trước
là nhân duyên của cái vui vô thường, sau là nhân duyên của
cái vui thường; trước là pháp chung giữa phàm phu và Thánh
nhân, sau chỉ là pháp của Thánh nhân. Có các sai biệt như
vậy.
Pháp
vô lậu là ba mươi bảy phẩm, mười tám pháp không chung,
cho đến vô lượng các Phật pháp. Muốn khiến việc ấy dễ
hiểu rõ ràng, nên lại nói nhân duyên rằng, dạy một người
khiến được quả Tu đà hoàn được phước đức lớn hơn
dạy người trong một cõi Diêm phù đề tu mười thiện đạo;
vì tuy tu mười thiện đạo, vẫn chưa thoát khỏi ba đường
dữ. Cho đến được A la hán, Bích chi Phật đạo cũng như
vậy.
Phật
lại nói thí dụ: Nếu có người dạy người trong một cõi
Diêm phù đề, khiến chứng được Thanh văn, Bích chi Phật
đạo, không bằng có người dạy một người khiến chứng
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, người ấy được
phước nhiều, vì sao? Vì Tu đà hoàn đến Bích chi Phật, đều
từ Bồ đề sinh. Trong Bát nhã ba la mật ấy, mỗi mỗi nói
nhân duyên về Phật đạo, thế nên chép Bát nhã ba la mật
cho người, hơn dạy mười thiện đạo cho bốn châu thiện
hạ, cho đến thế giới nhiều như cát sông Hằng.
*Lại
nữa dạy người trong một cõi Diêm phù đề cho đến người
trong thế giới nhiều như cát sông Hằng, khiến tu bốn thiền
v.v... cho đến năm thần thông cũng như vậy. Chỉ tu bốn thiền
là người ly dục sai khác với người tu mười thiện.
*Lại
nữa, nếu có người dạy người trong một cõi Diêm phù đề
cho đến trong thế giới nhiều như cát sông Hằng, khiến tu
mười thiện đạo, bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định
vô sắc, năm thần thông, không bằng người ấy thọ trì Bát
nhã ba la mật, đọc tụng, giảng nói, nhớ nghĩ đúng được
phước nhiều.
Ðược
phước nhiều là trên lấy quyển kinh Bát nhã cho người, nay
tự thực hành Bát nhã, khác nhau. Trước kia mười thiện đạo
cho đến năm thần thông nói riêng, nay hợp lại nói.
Hỏi:
Cớ sao không giải thích thọ trì, đọc tụng, giảng nói,
mà chỉ giải thích nhớ nghĩ đúng?
Ðáp:
Thọ trì, đọc tụng, giảng nói phước đức nhiều, còn nhớ
nghĩ đúng có đủ cả hai việc là phước đức và trí tuệ;
thế nên nói riêng. Như người hái cỏ thuốc, cho đến hòa
hợp thuốc mà chưa uống, bệnh không giảm, uống mới trừ
bệnh. Nhớ nghĩ đúng như uống thuốc trừ bệnh. Thế nên
chỉ giải thích nhớ nghĩ đúng.
Tướng
trạng nhớ nghĩ đúng là chẳng phải hai, chẳng phải chẳng
hai tu hành Bát nhã ba la mật. Nghĩa hai chẳng phải hai như
trước nói. Ban đầu lấy việc chép quyển kinh hơn xá lợi,
đoạn giữa lấy quyển kinh Bát nhã cho người, hơn dạy người
tu mười thiện đạo cho đến năm thần thông, khiến người
thọ trì, đọc tụng, giảng nói. Ðối với việc thọ trì,
việc nhớ nghĩ đúng hơn. Nay chư Phật thương xót chúng sinh
giải thích nghĩa kia làm cho dễ hiểu lại hơn tự thực hành
nhớ nghĩ đúng.
Khi
ấy, Phật muốn phân biệt rộng phước đức, nên nói: Nếu
có người suốt đời cúng dường mười phương Phật, không
bằng giải nói nghĩa Bát nhã cho người khác. Trong đây nói
nhân duyên hơn, là ba đời chư Phật đều học Bát nhã, mà
thành đạo Vô thượng.
*Lại
nữa, nếu Bồ tát tu sáu Ba la mật trong vô lượng kiếp, vì
có sở đắc, nên không bằng người giải nói Bát nhã ba la
mật cho người khác.
Có
sở đắc là lấy tâm chấp ngã thủ tướng các pháp. Phật
lại muốn nói chánh nghĩa Bát nhã nên đáp Ðế thích: Bồ
tát không có sở đắc tu sáu Ba la mật thời được đầy
đủ, đó tức là chánh nghĩa Bát nhã ba la mật.
Có
người trong đời vị lai nói Bát nhã tương tợ là, ở trong
hội chúng có người nghe nói nhớ nghĩ đúng, suy nghĩ rằng:
Thế nào là nhớ nghĩ sai? Thế nên nói cho biết tướng Bát
nhã ba la mật tương tợ. Như người biết rõ là đạo phi
đạo, nên bỏ phi đạo hành chánh đạo.
*Lại
nữa, vì thương xót chúng sinh đời vị lai không gặp Phật
và các đại Bồ tát, chỉ gặp kinh sách, nhớ nghĩ tà, nên
theo đó chấp đắm âm thanh, nói Bát nhã ba la mật tương tợ.
Tương
tợ là danh tự ngữ ngôn đồng mà tâm và nghĩa khác. Như
đem tâm chấp trước thủ tướng nói năm uẩn v.v... vô thường,
cho đến không sinh không diệt, đó là Bát nhã tương tợ.
Nếu không đem tâm chấp trước, không chấp thủ tướng nói
năm uẩn vô thường, chỉ vì để phá điên đảo chấp thường
nên không chấp vô thường, như vậy là Bát nhã chân thật.
Người
thuyết pháp này, dạy bỏ Bát nhã ba la mật tương tợ mà
tu tập Bát nhã chơn thật; ấy gọi là nói chánh nghĩa Bát
nhã ba la mật, công đức hơn trước.
KINH:
Lại nữa, Kiều thi ca! Ðối với chúng sinh trong cõi Diêm phù
đề đều dạy khiến được Tu đà hoàn, ý ông nghĩ sao? Người
ấy được phước nhiều chăng?
Ðáp:
Rất nhiều, bạch Thế Tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân bằng mỗi
mỗi cách diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật, khai thị phân
biệt làm cho người dễ hiểu, nói như vầy: Thiện nam tử,
ông đến lãnh thọ Bát nhã ba la mật, siêng học, tụng nói,
nhớ nghĩ đúng và thực hành như trong Bát nhã ba la mật nói,
vì sao? Vì từ trong Bát nhã ba la mật ấy xuất sinh Tu đà
hoàn.
Kiều
thi ca! Không kể chúng sinh trong cõi Diêm phù đề, lại không
kể chúng sinh trong bốn châu thiên hạ, tiểu thiên thế giới,
hai ngàn trung thế giới, ba ngàn đại thiên thế giới, nếu
có người dạy chúng sinh trong thế giới nhiều như cát sông
Hằng dạy tất cả khiến chứng được Tu đà hoàn. Ý ông
nghĩ sao? Người ấy được phước nhiều chăng?
Ðáp:
Rất nhiều, bạch Thế Tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân bằng mỗi
mỗi cách diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật, khai thị phân
biệt làm cho người dễ hiểu, nói như vầy: Thiện nam tử,
ông đến lãnh thọ Bát nhã ba la mật, siêng đọc, tụng nói,
nhớ nghĩ đúng, thực hành như trong Bát nhã ba la mật nói,
vì sao? Vì từ trong Bát nhã ba la mật ấy xuất sinh Tu đà
hoàn.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân, dạy
người trong cõi Diêm phù đề khiến được Tư đà hàm, A
na hàm, A la hán, ý ông nghĩ sao? Người ấy được nhiều phước
chăng?
Ðáp:
Rất nhiều, bạch Thế tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy, bằng
mỗi mỗi cách diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật, khai thị,
phân biệt làm cho người dễ hiểu, nói như vầy: Ông đến
đây, thiện nam tử, lãnh thọ Bát nhã ba la mật, siêng đọc,
tụng nói, nhớ nghĩ đúng, thực hành như trong Bát nhã ba la
mật nói, vì sao? Vì từ trong Bát nhã ba la mật ấy xuất sinh
Tư đà hàm, A na hàm, A la hán. Cho đến dạy chúng sinh trong
thế giới mười phương nhiều như cát sông Hằng cũng như
vậy.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân, dạy
chúng sinh trong một cõi Diêm phù đề khiến được Bích chi
Phật đạo, ý ông nghĩ sao? Người ấy được phước nhiều
chăng?
Ðáp:
Rất nhiều, bạch Thế Tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân bằng mỗi
mỗi cách diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật, khai thị, phân
biệt, làm cho người dễ hiểu, nói như vầy: Ông hãy đến
lãnh thọ Bát nhã ba la mật, siêng đọc, tụng nói, nhớ nghĩ
đúng, thực hành như trong Bát nhã ba la mật nói, vì sao? Vì
từ trong Bát nhã ba la mật ấy xuất sinh các Bích chi Phật
đạo, dạy chúng sinh trong bốn châu thiên hạ, cho đến trong
thế giới mười phương nhiều như cát sông Hằng cũng như
vậy.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, dạy chúng
sinh trong một cõi Diêm phù đề, khiến phát tâm Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, ý ông nghĩ sao? Người ấy được
phước nhiều chăng?
Ðáp:
Rất nhiều, bạch Thế Tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân dùng nhiều
cách diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật, khai thị, phân biệt
làm cho người dễ hiểu, nói như vầy: Ông hãy học theo Bát
nhã ba la mật sẽ được Nhất thiết trí, ông nếu được
Nhất thiết trí, ông bèn được tu hành Bát nhã ba la mật
tăng ích đầy đủ; nếu được tu hành Bát nhã ba la mật
tăng ích đầy đủ, ông sẽ được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, vì sao? Kiều thi ca! Vì từ trong Bát nhã ba la mật
xuất sinh các Bồ tát ma ha tát mới phát tâm, cho đến dạy
chúng sinh trong thế giới mười phương nhiều như cát sông
Hằng cũng như vậy.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Thiện nam tử, thiện nữ nhân, dạy chúng
sinh trong một cõi Diêm phù đề, khiến an trụ địa vị bất
thối chuyển, ý ông nghĩ sao? Người ấy phước đức nhiều
chăng?
Ðáp:
Rất nhiều, bạch Thế Tôn!
Phật
dạy: Không bằng thiện nam tử, thiện nữ nhân, dùng mỗi
mỗi cách diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật, khai thị, phân
biệt làm cho người dễ hiểu, nói như vầy: Thiện nam tử,
ông hãy đến lãnh thọ Bát nhã ba la mật cho đến thực hành
như trong Bát nhã ba la mật nói, ông bèn được Nhất thiết
trí, được Nhất thiết trí rồi, cho đến được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, vì sao? Vì từ trong Bát nhã ba la mật
xuất sinh các Bồ tát ma ha tát an trú địa vị bất thối
chuyển, cho đến dạy chúng sinh trong thế giới mười phương
nhiều như cát sông Hằng cũng như vậy.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Chúng sinh trong một cõi Diêm phù đề phát
tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nếu lại có thiện
nam tử, thiện nữ nhân, diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật
cho người khác hiểu, khai thị phân biệt, nói như vầy: Thiện
nam tử, ông hãy đến lãnh thọ Bát nhã ba la mật cho đến
thực hành như trong Bát nhã ba la mật nói, học xong, ông sẽ
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Lại có người
diễn nói nghĩa Bát nhã ba la mật cho một vị Bồ tát an trú
địa vị bất thối chuyển, khai thị phân biệt, nói như vầy:
Thiện nam tử, ông hãy lãnh thọ Bát nhã ba la mật, cho đến
thực hành như trong Bát nhã ba la mật nói, học xong, ông sẽ
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác; thời thiện nam
tử này được công đức rất nhiều. Cho đến dạy chúng
sinh trong thế giới mười phương nhiều như cát sông Hằng
cũng như vậy.
*Lại
nữa, Kiều thi ca! Nếu có chúng sinh trong một cõi Diêm phù
đề đều được địa vị bất htối chuyển Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, lại có thiện nam tử, thiện nữ nhân diễn
nói nghĩa Bát nhã ba la mật cho người khác; trong số đó có
một Bồ tát muốn mau chứng được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân diễn giải
nghĩa Bát nhã ba la mật cho vị Bồ tát ấy thì người này
có công đức rất nhiều, cho đến dạy chúng sinh trong thế
giới mười phương nhiều như cát sông Hằng cũng như vậy.
Thích
đề hoàn nhơn bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bồ
tát ma ha tát như vậy là vị chuyển gần đến chứng được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, như vậy hãy nên triển
chuyển giáo giới giáo thọ tu Thí ba la mật, Giới ba la mật,
Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba
la mật, nên giáo thọ nội không cho đến vô pháp hữu pháp
không, bốn niệm xứ cho đến tám Thánh đạo phần, Phật
mười lực, bốn điều không sợ, bốn trí vô ngại, mười
tám pháp không chung, cũng nên cúng dường y phục, ngọa cụ,
ẩm thực, thuốc thang, theo chỗ cần dùng. Thiện nam tử, thiện
nữ nhân này pháp thí, tài thí cúng dường vị Bồ tát ấy,
được công đức hơn người trước, vì sao? Bạch Thế Tôn!
Vì Bồ tát ma ha tát ấy mau được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
Bấy
giờ Tuệ mạng Tu bồ đề nói với Thích đề hoàn nhơn rằng:
Lành thay, lành thay, Kiều thi ca! Ông vì Thánh đệ tử mà an
ủi các Bồ tát ma ha tát, vì Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác nên đem pháp thí, tài thí làm lợi ích, lẽ nên như vậy,
vì sao? Vì từ trong Bồ tát xuất sinh Thánh chúng của chư
Phật. Nếu Bồ tát không phát tâm Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, thời Bồ tát ấy không thể học sáu Ba la mật
cho đến mười tám pháp không chung, nếu không học sáu Ba
la mật cho đến mười tám pháp không chung thời không thể
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nếu không thể
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thời không có Thanh
văn, Bích chi Phật. Vì vậy, Kiều thi ca! Các Bồ tát ma ha
tát khi học sáu Ba la mật cho đến mười tám pháp không chung
thời được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác nên dứt địa ngục, súc sinh,
ngã quỷ đạo, thế gian bèn có dòng lớn Sát lợi, dòng lớn
Bà la môn, đại gia cư sĩ, trời Tứ thiên vương, cho đến
trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng; bèn có Bố thí, Trì giới,
Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Bát nhã ba la mật; có
nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, bốn niệm xứ
cho đến mười tám pháp không chung xuất hiện ở đời. Thanh
văn, Bích chi Phật thừa, Phật thừa đều xuất hiện ở đời.
LUẬN:
Luận giả nói: Giáo hóa người trong cõi Diêm phù đề cho
đến trong thế giới nhiều như cát sông Hằng khiến được
Thanh văn, Bích chi Phật đạo không bằng diễn nói nghĩa Bát
nhã ba la mật cho người khác. Trong đây nói nhân duyên rằng:
Vì các bậc Thánh hiền đều từ Bát nhã ba la mật xuất sinh.
Nhỏ
không bằng là đại Bồ tát, Bích chi Phật, A la hán; càng
không bằng nửa là A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn. Ái niệm
cúng dường người biết thật tướng các pháp là các vua
Trời, vua người, và những người phước đức trong thế
gian. Vì thế nên thường nói Bát nhã ba la mật xuất sinh các
Hiền thánh, dòng lớn Sát lợi cho đến hết thảy các trời.
*Lại
nữa, giáo hoá người trong một cõi Diêm phù đề cho đến
trong thế giới nhiều như cát sông Hằng, phát tâm Vô thượng
đạo cho đến an trú địa vị bất thối chuyển, không bằng
giải nói chánh nghĩa Bát nhã ba la mật cho người.
Hỏi:
Trên nói pháp phàm phu, pháp Nhị thừa không bằng thì có thể
được, nay nói giáo hóa người phát tâm Vô thượng đạo
đạt được địa vị bất thối chuyển là việc Phật đạo,
cớ sao không bằng?
Ðáp:
Nói chánh nghĩa Bát nhã có hai hạng: 1. Hạng Bồ tát còn mang
nhục thân sinh tử. 2. Hạng Bồ tát mang pháp tánh sinh thân,
không sinh không tử. Ðối với Bồ tát này chỉ cần nói việc
quá trên việc của Bồ tát ở địa vị bất thối chuyển
là việc giáo hóa chúng sinh, tịnh cõi nước Phật, phân biệt
tâm hạnh nghiệp nhân duyên của hết thảy chúng sinh trong
ba đời vô lượng kiếp, phân biệt các thế giới thành hoại
kiếp số nhiều ít, có tâm đại từ đại bi, Nhất thiết
trí, có vô lượng các Phật pháp. Vì hạng người này mà
nói pháp, hơn giáo hóa chúng sinh trong cõi Diêm phù đề cho
đến trong thế giới nhiều như cát sông Hằng, khiến họ
phát tâm.
Lại
đạt đến địa vị bất thối chuyển, từ địa vị bất
thối chuyển trở lên đến Phật đạo, trung gian còn có một
hạng người gần Phật đạo muốn mau thành Phật, giáo hóa
cho hạng người này về chánh nghĩa Bát nhã ba la mật, phước
kia rất nhiều, vì sao? Vì ruộng phước lớn nên phước đức
cũng lớn. Thí như cúng dường tất cả Thánh nhân cho đến
Bồ tát sắp ngồi đạo tràng trong mười phương thế giới
nhiều như cát sông Hằng, không bằng cúng dường một đức
Phật. Ví như phạm đến một thái tử đắc tội quá hơn
phạm đến hết thảy người; nếu cúng dường thái tử thời
có ân hơn cúng dường hết thảy phàm phu. Nếu phạm đến
quốc vương đắc tội nặng hơn phạm đến thái tử. Nếu
cúng dường quốc vương hơn cúng dường thái tử. Như vậy,
giáo hóa cúng dường cho vị Bồ tát gần thành Phật công
đức hơn sự cúng dường giáo hóa cho Bồ tát ở địa vị
bất thối chuyển nhiều như cát sông Hằng, vì sao? Vì ruộng
phước thâm hậu, việc ấy có thể làm cho chúng sinh tăng
trưởng.
Bấy
giờ, Ðế thích rõ biết pháp ấy có sức lớn, nên bạch
Phật rằng: Ðối với Bồ tát chuyển dần gần đến Vô thượng
đạo, như vậy nên giáo hóa cúng dường, công đức chuyển
dần nhiều hơn.
Bấy
giờ, Tu bồ đề tán thán Ðế thích rằng: Lành thay, lành
thay! Ông có thể an ủy khuyến tấn các Bồ tát, vì Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác mà dùng tài, pháp bố thí. Tài thí
là cúng dường cơm áo v.v... , pháp thí là dạy sáu Ba la mật
v.v...
Ðế
thích đắc đạo nên gọi là Thánh đệ tử. Pháp của Thánh
đệ tử là phải an ủy khuyến tấn các Bồ tát. Trong đây
nói nhân duyên rằng: Các Thánh chúng ấy đều từ trong Bồ
tát xuất sinh, vì sao? Vì nếu Bồ tát không thực hành sáu
Ba la mật, không thành Vô thượng đạo, thời không có Tu đà
hoàn cho đến Bích chi phật. Do nhân duyên của Bồ tát nên
có mười thiện đạo, cho đến vô lượng Phật pháp xuất
hiện ở đời. Thế nên ba ác đạo bị dứt, và có dòng lớn
Sát lợi, cho đến có chư Phật xuất hiện ở đời. Thế
nên Bồ tát giải nói chánh nghĩa Bát nhã ba la mật, dạy cho
người gần thành Phật, phước đức rất lớn.
(Hết
cuốn 60 theo bản Hán)
- HẾT
TẬP 3 -