Tập
4
Cuốn
61
GIẢI
THÍCH: PHẨM TÙY HỶ THỨ 39
(Kinh
Đại Bát Nhã ghi: Phần 2, Phẩm Tùy Hỷ Hồi Hướng thứ 37)
KINH:
Bấy giờ Di Lặc Bồ tát ma ha tát nói với Tuệ mạng Tu bồ
đề rằng: Có Bồ tát ma ha tát đem phước đức tùy hỷ cho
tất cả chúng sanh để cùng hồi hướng đến Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, vì không sở đắc. Hoặc đem phước
đức của Thănh văn Bích chi Phật, hoặc phước đức bố
thí, trì giới, tu định, tùy hỷ của tất cả chúnh sanh so
với Bồ tát ma ha tát đem phước đức tùy hỷ cho tất cả
chúng sanh để cùnh hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, thì phước này tối thượng, đệ nhất, tối diệu,
vô thượng không thể sánh bằng, vì sao? Vì Thanh văn, Bích
chi Phật và tất cả chúnh sanh được phước đức do bố
thí, trì giới, tu định tùy hỷ, đêu vì tự diệu phục,
tự thanh tịnh, tự độ mà khỏi tu bốn niệm xứ, cho đến
tám thánh đạo phần, không, vô tướng, vô tác; còn Bồ tát
công đức tùy hỷ hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, đem công đức ấy vì điều phục hết thảy chúnh
sanh, vì thanh tịnh hết thảy chúnh sanh, vì độ hết thảy
chúng sanh mà khởi tu.
Bấy
giờ Tuệ mạng Tu bồ đề thưa Di lặc Bồ tát rằng: Các
Bồ tát ma ha tát nhớ đến vô lượng vô biên vô số các
đức Phật diệt độ trong mười phương vô lượng vô biên
vô số thế giới, từ khi mới phát tâm cho đến khi được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vào Vô dư Niết bàn cho
đến khi Pháp tận, ở khoảng trung gian ấy tạo các phước
thiện căn tương ưng sáu Ba la mật và thiện căn phước về
bố thí, trì giới, tu định của các người Thanh văn, thiện
căn vô lậu của các bậc hữu học, vô học; giới uẩn, định
uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn,
nhất thiết trí, đại từ đại bi và vô lượng vô số các
Phật pháp khác của chư Phật; và học từ pháp của chư Phật
thuyết, được quả Tu đà hoàn, cho đến quả A la hán, Bích
chi
Phật đạo, vào Bồ tát ma ha tát vị, và thiện căn của các
chúnh sanh khác, đem tất cả phước đức tùy hỷ với tất
cả thiện căn hòa hợp lại ấy, hồi hướng đến Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác là tối thượng, đệ nhất, tối diệu,
vô thưọng, không gì sánh bằng. Tùy hỷ như vậy rồi, đem
phước đức tùy hỷ ấy, hồi hướng dến Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác.
Nếu
có Thiện nam tử tu Bồ tát đạo, nghĩ rằng: Tôi đem tâm
này hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ấy
là sanh tâm duyên sự. Nếu Thiện nam tử chấp thủ tướng
mà hồi hướng đến Vô thượng Chánh đảng Chánh giác, có
thể được như sở niệm chăng?
Di
lặc Bồ tát nói với Tu bồ đề: Thiện nam tử ấy tu Bồ
tát đạo, hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác ấy là tâm duyên sự, nếu thiện nam tử chấp thủ tướng
như vậy, thời không thể được sở niệm.
Tu
bồ đề nói với Di lặc Bồ tát: Nếu các sự các duyên không
có gì của chính nó mà thiện nam tử ấy chấp thủ tướng,
tu Bồ tát đạo đối với các thiện căn của chư phương
Phật mười phương, từ khi mới phát tâm cho đến khi pháp
tận, và đối với các thiện căn của Thanh văn, thiện căn
của bậc học, vô học, tất cả phước đức tùy hỷ hòa
hợp hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
vì vô tướng, nên Bồ tát ấy không có điên đảo; không
có tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên đảo: vô
thường cho là thường; không có tưởng điên đảo, tâm điên
đảo, kiến điên đảo: bất tịnh cho là tịnh, khổ cho là
vui, vô ngã cho là ngã. Hoặc không có duyên như sự Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác cũng như vậy, tâm hồi hướng cũng
như vậy. Thí ba la mật, Giới, Nhẫn, Tấn, Thiền, Bát nhã
ba la mật, cho đến mười tám pháp không chung, cũng như vậy.
Nếu
như vậy, thế nào là duyên? Thế nào là sự? Thé nào là Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác? Thế nào là thiện căn? Thế
nào là tâm tùy hỷ hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác?
LUẬN:
Trong bảy phẩm trước Phật sai Tu bồ đề nói Bát nhã, giữa
chừng Đế thích hỏi nhiều, nói nhiều việc công đức. Nay
Di lặc thuận theo bổn ý Phật, trở lại muốn sai Tu bồ đề,
nhân pháp tùy hỷ mà nói rộng Bát nhã ba la mật.
* Lại
nữa, Đế thích nghe trên kia nói cúng dường Bát nhã bằng
hoa hương, kỹ nhạc, phan lọng, được phước rất nhiều,
tự vui mừng, may mắn sâu xa. Nghĩ rằng:" Các thứ cúng dường
ấy chỉ chúng tôi sắm được, chẳng phải người xuất gia
có được". Thế nên Di lặc muốn dẹp cái tâm tự cho mình
nhiều của ấy, nên nói Tu bồ đề, Bồ tát chỉ đem tâm
tùy hỷ, là hơn cả sự bố thí và các công đức vô lậu
của Thanh văn, Bích chi Phật và tất cả chúng sanh, huống
gì hương hoa cúng dường kinh quyển.
Phước
đức tùy hỷ là không nhọc thân miệng làm các công đức,
chỉ đem tâm phương tiện thiện xảo, thấy người khác tu
phước, vui mừng theo, nghĩ rằng: Giữa hết thảy chúng sanh,
người tu phước hành đạo được, là rất thù thắng, nếu
lìa phước đức thời người và súc sanh đồng hành ba việc:
Dâm dục, uống ăn, chiến đấu.
Người
hành đạo tu phước được chúng sanh tôn trọng cung kính,
thí như lúc nóng bức, có trăng tròn mát mẻ, không ai không
ưa ngước xem, cũng như trước ngày đại hội chuẩn bị kỹ
nhạc, hào soạn đầy đủ, người ở gần xa đều hân hoan
phó hội. Người tu phước cũng như vậy.
Phước
đức làm nhân duyên được hai thứ vui là vui thế gian và
vui xuất thế gian. Xuất thế gian là các pháp vô lậu, tuy
không có phước báo, song hay sanh phước đức, nên gọi là
phước đức. Thế nên hữu lậu vô lậu, đều gọi là phước
đức.
* Lại
nữa, phước đức là gốc của Bồ tát ma ha tát, hay làm cho
mãn nguyện, được tất cả thánh nhân tán thán, bị người
vô trí hủy báng, chỗ người trí đạo đi, người vô trí
xa lìa. Do nhân duyên phước đức nên được làm vua người,
Thánh vương chuyển luân, vua trời, A la hán, Bích chi Phật,
chư Phật Thế Tôn, đại từ đại bi, mười lực, bốn điều
không sợ, trí thất thiết chủng, tự tại vô ngại, đều
từ trong phưóc đức sanh.
Các
thứ phước đức như vậy, vì được chánh kiến nên hoan
hỷ theo.
* Lại
nữa, Bồ tát tự suy nghĩ: Ta nên đem vui cho tất cả chúng
sanh, nên thấy chúng sanh tự tu hành phước đức; thế nên
tâm sanh hoan hỷ.
* Lại
nữa, tất cả chúng sanh hành thiện, tương tợ với ta, ấy
là cùng ta đồng bạn, thế nên hoan hỷ.
Các
Bồ tát ma ha tát đối với chư Phật rong mười phương ba
đời, và Bồ tát, Thanh văn, Bích chi Phật, và tất cả chúng
sanh tu phước, bố thí, trì giới, tu định, đối với các
phước đức ấy, sanh tùy hỷ phước đức, thế nên gọi
là phước đức. Đem phước đức tùy hỷ ấy chung với hết
thảy chúng sanh, hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác.
Chung
với hết thảy chúng sanh là phước đức ấy không thể đem
cho hết thảy chúng sanh, mà có thể cho quả báo, nghĩa là
Bồ tát đã được phước đức quả báo, là các thứ vui
thế gian như đem y phục, uống ăn v.v... làm lợi ích chúng
sanh.. Bồ tát do phước đức mà thân miệng thanh tịnh, được
người tín thọ, nói pháp cho chúng sanh, khiến được mười
thiện đạo, bốn thiền v.v... làm cho lợi ích đời sau, và
cuối cùng thành Phật, được quả báo phước đức, thân
có 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình, ánh sáng vô lượng, người
xem không chán, thanh tịnh vô lượng, phạm âm nhu hòa, các
Phật pháp giải thoát vô ngại, thị hiện ba việc (Biết tha
tâm, hiện thần lực, thuyết giáo môn - N.D) độ vô lượng
vô số chúng sanh, sau khi vào Niết bàn nát thân thành Xá lợi,
để cho người cúng dường, lâu về sau đều khiến cho đắc
đạo. Ấy là quả báo có thể đem cho hết thảy chúng sanh.
Do trong quả nói nhân, nên nói đem phước đức cho chúng sanh
chung hưởng. Nếu phước đức có thể đem cho người, thời
chư Phật từ khi mới phát tâm nhóm các phước đức, đem
cho người hết, sau lại tạo lại hay sao! Thể thiện pháp
không thể đem cho người, nay chính dùng sức vô không não
hại thí chúng sanh.
Ấy
gọi là phước đức tùy hỷ của Bồ tát ma ha tát so với
ba thứ phước đức của Thanh văn, Bích chi Phật và chúng
sanh, là tối thắng, tối thượng đệ nhất, tối diệu, vô
thượng, không thể sánh bằng.
Trong
đây nói nhân duyên tối thắng: Là phước đức Nhị thừa
là tự điều phục, tự thanh tịnh, tự độ thoát. Giữ giới
là tự điều phục, tu thiền là tự thanh tịnh, trí tuệ là
tự độ thoát.
* Lại
nữa, tự điều phục là tu chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh
mạng; tự thanh tịnh là tu chánh niệm, chánh định; tự độ
là tu chánh kiến, chánh tư duy, chánh phương tiện.
* Lại
nữa, do bố thí nên tự điều phục, do trì giới nên tự
thanh tịnh, do tu định nên tự độ thoát.
Tu
định là nhân duyên gần của pháp vô lậu. Pháp vô lậu là
37 phẩm, ba giải thoát môn. Bố thí, trì giới là nhân duyên
xa, nên không giải thích. Phước đức tùy hỷ của Bồ tát
tuy không có siêng năng mệt nhọc, mà vì độ chúng sanh nên
hơn.
Hỏi:
Thật không độ hết thảy chúng sanh, cớ sao nói độ hết
thảy chúng sanh hơn?
Đáp:
Lực công đức của chư Phật, Bồ tát, có thể độ hết
thảy chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không có nhân duyên hòa
hợp, ví như lửa lớn, thường có sức đốt, chỉ vì củi
không ở gần cho nên không cháy, gần thời cháy hết.
Bấy
giờ, Tu bồ đề lấy trí tuệ rốt ráo không, nạn hỏi Di
lặc Bồ tát: Niệm đến phước đức tùy hỷ hồi hướng
Vô thượng đạo của chư Phật, ấy là niệm việc quá khứ,
việc ấy có được như sở niệm chăng?
Di
lặc dùng hai nhân duyên để đáp: Không!
1.
Quá khứ vô lượng vô số kiếp, chư Phật diêt độ đã lâu,
không còn để lại gì, còn Bồ tát hoặc không có trí túc
mạng, hoặc có mà không thể biết kịp, chỉ theo như chỗ
được nghe mà ức tưởng phân biệt, cho nên không được
như sở niệm.
2.
Chư Phật và công đức đều ra ngoài ba cõi, ba đời, bặt
dứt đường nói năng hý luận, như tướng Niết bàn rốt
ráo không, thanh tịnh.
Tùy
hỷ là phân biệt công đức thiện căn của chư Phật và chư
đệ tử, tâm hồi hướng ấy và đạo Vô thượng chẳng phải
thật, cho nên đáp không!
Tu
bồ đề nạn rằng: Nếu không có việc ấy, mà Bồ tát ức
niệm phân biệt thời phải rơi vào điên đảo, nếu việc
ấy thanh tịnh, rốt ráo không, mà ức niệm cũng rơi vào điên
đảo, công đức của chư Phật quá khứ cũng như vậy, không
có phân biệt, không có khác, làm sao được tùy hỷ theo? Đây
lược nói nghĩa, rộng thời như Kinh nói: Nghĩa là Tu bồ đề
hỏi Di lặc Bồ tát ma ha tát: Nếu Bồ tát niệm các đức
Phật đã diệt độ trong mười phương vô lượng vô biên
vô số thế giới quá khứ, là Bồ tát muốn phát khởi công
đức tùy hỷ. Phật là chủ công đức, cho nên ức niệm Phật,
nghe kinh sách nói, có danh hiệu Phật quá khứ, nên nhân nơi
danh hiệu ấy, ức niệm rộng đến hết thảy Phật quá khứ.
Từ
khi mới phát tâm là bắt đầu phát tâm lập nguyện ta sẽ
độ hết thảy chúng sanh. Tâm ấy tương ưng với ba thiện
căn là không tham, không sân, không si, thiện căn tương ưng
các thiện pháp và thiện căn khởi thân nghiệp, khẩu nghiệp,
hòa hợp pháp ấy, gọi là phước đức. Từ khi mới phát
tâm tu sáu Ba la mật, vào Bồ tát vị, được mười địa,
cho đến ngồi đạo tràng, trong đó, Bồ tát tu phước đức
hòa hợp được Phật đạo, cho đến vào vô dư Niết bàn.
Sau khi diệt độ, Xá lợi và giáo pháp lưu lại, đều là
công đức tự thân Phật hòa hợp. Nhân nơi chư Phật, người
Đại thừa tu sáu Ba la mật và tương ưng phước đức. Tương
ưng là trừ sáu Ba la mật các pháp hành khác của Bồ tát
đều nhiếp vào trong sáu Ba la mật; cho nên nói tương ưng
với sáu Ba la mật hòa hợp, nếu người cầu Thanh văn, Bích
chi phật thời gieo trồng phước đức bố thí, trì giới,
tu định v.v..
Người
Thanh văn, Bích chi Phật có 2 hạng:
1.
Hạng hết lậu gọi là vô học.
2.
Hạng được đạo, lậu hoặc chưa hết, gọi là học.
Hai
hạng người này có thiện căn hơn hơn các phước đức, cho
nên chỉ nói thiện căn.
Trên
nói người cầu Nhị thừa là chỉ chung cả phàm phu, thánh
nhân; đây nói vô học là thuần chỉ về thánh nhân.
Tướng
tốt là sắc pháp vô ký, chẳng phải là công đức lành, nên
chỉ nói năm uẩn vô học (tức năm pháp uẩn giới, định,
tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến - ND) của Phật.
Đại
từ, đại bi và Phật pháp, nghiẽ như trong phẩm đầu đã
nói.
Pháp
của Phật nói, học Pháp ấy được quả Tu đà hoàn, cho đến
vào Bồ tát vị là sau khi Phật diệt độ, từ trong giáo pháp
kưu lại mà được đạo, thế nên nói lại.
Và
các chúng sanh khác gieo trồng căn lành là trong khi Phật ở
đời và giáo pháp lưu lại chính là nhân duyên phước đức
của trời, người và cho đến súc sanh.
Bốn
đoạn phước đức trên, tâm hành giả duyên khắp, rồi ức
niệm tùy hỷ, cầu Phật đạo, nên hồi hướng, gọi là tùy
hỷ Vô thượng, tối thượng, không thể sánh bằng.
Hỏi:
Người cầu Phật đạo cớ sao không tự tạo công đức mà
lại đem tâm tùy hỷ.
Đáp:
Các Bồ tát có sức phương tiện, nên đối với công đức
người khác cực nhọc tạo được, phát tâm tùy hỷ, mà phước
đức hơn người tạo ra.
* Lại
nữa, phước đức tùy hỷ này tức là phước đức thật,
vì sao? Vì ức niệm quá khứ Phật tức là niệm Phật tam
muội, cũng là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới,
niệm Thí, niệm Thiên trong sáu niệm. Nhân tu giới thanh tịnh,
vào thiền định, khởi lên trí tuệ rốt ráo, hòa hợp lại
nên khởi lên tâm hỷ chơn chánh. Cho nên không chỉ tùy hỷ
mà thôi, cũng là tu hành Phật pháp ấy.
Các
duyên làsở duyên của tâm tùy hỷ, tức là công đức của
chư Phật và hết thảy chúng sanh tạo được.
Các
sự là gốc của sở duyên. Phước đức là trú xứ của công
đức sở duyên, tức chư Phật và chúng sanh, cùng đất dai,
núi rừng, tinh xá trú xứ, đều gọi là Sự.
Có
thể được như sở niệm chăng? Di lặc đáp: Không. Tu bồ
đề nói với Di lặc: Nếu các sự các duyên không có gì của
chính nó, cớ sao không rơi vào điên đảo? Điên đảo là
ba loại phân biệt về bốn điên đảo (vô thường chấp thường,
khổ cho là vui, bất tịnh chấp tịnh, vô ngã chấp ngã - ND).
Điên
đảo ấy là thí dụ. Không có Phật mà ức tưởng niệm Phật,
giống như vô thường mà tưởng niệm thường, bất tịnh
mà tưởng niệm tịnh.
Hỏi:
Kiến là gốc điên đảo, như người được Sơ quả, có thể
khởi tưởng điên đảo, tâm điên đảo, chứ không có kiến
điên đảo, vì khi thấy Tứ đế thì đã dứt kiến hoặc?
Đáp:
Điên đảo ấy khi sanh khác, khi dứt khác. Khi sanh thì tưởng
khởi trước, thứ đến tâm, sau hết kiến. Khi dứt thì trước
dứt kiến, thấy lý Tứ đế liền dứt. Thể tính điên đảo
là tướng của kiến, thấy lý Tứ đế liền dứt, còn tưởng
và tâm điên đảo là người học chưa lìa dục, quên ức
niêm (thất niệm) nên thủ lấy tướng tịnh, khởi ra các
kiết sử, khi trở lại được chánh niệm, liền dứt như
trong kinh nói thí dụ: Như nước giọt trên sắt nóng, liền
tiêu mất. Sai lầm nhỏ nên giả gọi là điên đảo, chẳng
phải thật điên đảo. Thế nên nói người phàm phu có ba
điên đảo, học nhân có hai điên đảo.
* Lại
nữa, các duyên, các sự như thật rốt ráo không, ức niệm
cũng không, Bồ đề cũng không, tâm tùy hỷ cũng không, Thí
Ba la mật cho đến mười tám pháp không chung cũng không. Nếu
các pháp một tướng tức là vô tướng, thời trong đó thế
nào là duyên, thế nào là sự, thế nào là tâm hồi hướng
vô thượng đạo?
KINH:
Di lặc Bồ tát nói với Tu bồ đề: Nếu các Bồ tát ma ha
tát tu lâu sáu Ba la mật, cúng dường chư Phật nhiều, trồng
căn lành; gần gũi thiện tri thức, khéo học pháp tự tướng
không; các Bồ tát ấy không thủ tướng duyên ấy, sự ấy;
đem phước đức tùy hỷ với các thiện căn của chư Phật
mà hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì pháp
không hai chẳng phải không hai, chẳng phải tướng chẳng phải
phi tướng, chẳng phải khả đắc chẳng phải bất khả đắc,
chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng sanh chẳng diệt, ấy mới gọi
là hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trái lại
nếu Bồ tát tu sáu Ba la mật không lâu, không cúng dường
chư Phật nhiều, không trồng thiện căn, không gần gũi thiện
tri thức, không khéo học pháp tự tướng không; Bồ tát ấy
tâm thủ tướng các duyên ấy, các sự ấy, đem phước đức
tùy hỷ với các thiện căn của chư Phật, mà hồi hướng
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ấy thời không gọi là
hồi hướng.
Tu
bồ đề! Nghĩa Bát nhã ba la mật cho đến nghĩa nhất thiết
chủng trí như vậy, tức là nội không cho đến vô pháp hữu
pháp không, không nên đem nói cho hàng Bồ tát tân học, vì
sao? Vì Bồ tát ấy có chút ít tâm thanh tịnh tin vui cung kính,
đều quên mất, chỉ nên nói cho hàng Bồ tát ở địa vị
bất thối chuyển. Nếu người có được thiện tri thức thủ
hộ, hoặc người đã cúng dường chư Phật nhiều, trồng
các thiện căn, thời nên nói nghĩa Bát nhã cho đến nghĩa
nhất thiết chủng trí cho họ, tức là nói nội không cho đến
vô pháp hữu pháp không; người ấy nghe pháp ấy, tâm không
thoái chuyển, không kinh, không hãi, không sợ.
Tu
bồ đề! Bồ tát ma ha tát nên đem phước đức tùy hỷ, nên
hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác như vậy, tức
là Bồ tát dụng tâm tùy hỷ công đức, hồi hướng Vô thượng
Chánh đảng Chánh giác, tâm ấy tận diệt biến lìa, các duyên
ấy, các sự ấy các thiện căn ấy cũng tận diệt biến lìa.
Trong
đây thế nào là tâm tùy hỷ? Thế nào là các duyên? Thế
nào là các sự? Thế nào là tùy hỷ cácthiện căn hồi hướng
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác? Hai tâm không cùng có, tâm
tánh ấy cũng không thể được hồi hướng, Bồ tát làm sao
đem tâm tùy hỷ hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác? Nếu Bồ tát ma ha tát khi hành Bát nhã ba la mật, biết
như vầy: Bát nhã ba la mật không có pháp, cho đến Thí ba
la mật cũng không có pháp, sắc không có pháp, thọ, tưởng,
hành, thức cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng
không có pháp. Bồ tát ma ha tát nên như vậy tùy hỷ công
đức hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Nếu
hồi hướng được như vậy, ấy gọi là đem công đức tùy
hỷ hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
LUẬN:
Ý Di lặc cho các pháp sâu xa vi diệu, nghĩa là không hoại
các pháp tướng, mà đem tâm tùy hỷ hồi hướng vô thượng
đạo, việc ấy rất khó. Tâm người phàm phu cang cường không
thể hành pháp ấy, thế nên Di lặc đáp: Nếu hành giả tu
sáu Ba la mật lâu ngày, có công đức thâm hậu nên bất động,
nghĩa là tin được, làm được, cúng dường chư Phật nhiều,
trồng căn lành, nhóm vô lượng vô biên vô số công đức,
bẻ gãy kiết sử, tâm được nhu nhuyến, đó là nhân duyên
đời trước, đời nay gặp được thầy tốt, đồng học
tốt, cũng tự học các pháp thật tướng không có phương
tiện thiện xảo nên không chấp trước không ấy.
Do
vô lượng nhân duyên như vậy, nên pháp tuy vô tướng, mà
có thể khởi tâm tùy hỷ, hồi hướng vô thượng đạo, thí
như sắt tuy cứng chắc, vào lò lửa thời mềm, tùy ý làm
đồ dùng. Tâm Bồ tát cũng như vậy, tu sáu Ba la mật lâu
ngày được thiện tri thức thủ hộ, tâm được nhu nhuyến,
đối với các duyên các sự, các thiện căn của chư Phật
quá khứ, không thủ tướng, mà khởi tâm tùy hỷ, dùng vô
tướng hồi hướng Vô thượng đạo.
Vô
tướng là dừng được pháp chẳng hai chẳng không hai, cho
đến chẳng sanh chẳng diệt. Trái với vô tướng trên đây,
là không thể hồi hướng.
Di
lặc biết Tu bồ đề ưa nói không, nên nói: Nghĩa tùy hỷ
của Bát nhã ba la mật như vậy, không nên đem nói ở trước
hàng tân học Bồ tát, vì sao? Vì nếu người có ít thiện
căn phước đức, nghe nói pháp rốt ráo không, liền chấp
không, nghĩ rằng nếu các pháp rốt ráo không, không có gì
của chính nó, thời ta làm phước để làm gì, thời bị mất
tiền nghiệp. Vì vậy nên đối với Bồ tát mới phát tâm,
trước hãy dạy thủ tướng tùy hỷ, dần dần được trí
tuệ, mới có thể thật hành vô tướng tùy hỷ. Thí như chim
con, lông cánh chưa thành, không thể ép khiến bay cao, sáu thứ
lông cánh thành tựu thời mới bay xa được.
Đối
với Bồ tát ở địa vị bất thối, vào pháp vị, được
pháp nhẫn, có thể tin, có thể làm, mới nói cho. Nếu người
tu sáu Ba la mật lâu ngày, thân cận thiện tri thức, bên trong
có phước đức, bên ngoài có nhân duyên trợ lực, thời tuy
chẳng phải ở địa vị bất thối, có thể tin có thể làm.
Hai hạng người này, nghe nói Bát nhã thời tâm thanh tịnh;
tùy hỷ tín thọ, như người đói khát lâu ngày, được đồ
ăn uống ngon, như quá nóng được mát, quá lạnh được ấm;
tâm rất ưa thích hoan hỷ. Hai hạng Bồ tát này cũng như vậy,
được trí tuệ vô tướng ấy, nghĩ rằng: Ta nhân trí tuệ
này mà độ được vô lượng chúng sanh, đâu có kinh hãi sợ
sệt! Sợ sệt từ trong tâm ta sanh ra! Trong vô tướng, các
pháp tướng còn không, huống gì có ta để mà quyết định
thủ lấy tướng các pháp, nghe nói hết thảy pháp vô tướng,
thời sanh sợ sệt?
Đến
đây nói nghĩa thể tùy hỷ xong, sau sẽ dùng mỗi mỗi môn
sai khác để giải thích sự ấy.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát nên tư duy như vầy: Dùng tâm ấy
hồi hướng vô thượng đạo, song tâm ấy niệm niệm biến
dị tận diệt, không có thời gian ngưng trụ, còn các duyên
các sự, tức là chư Phật và thiện căn quá khứ, các duyên
và sự chư Phật ấy đã diệt lâu rồi tâm tùy hỷ nay diệt,
đã diệt không khác, thế nên trong kinh nói dùng tâm ấy hồi
hướng, thì tâm ấy tận diệt. Như vậy vì đều đi vào quá
khứ, vì vào thật tướng các pháp, nên không có phân biệt
là tâm, là duyên, là sự, là thiện căn. Nếu hồi hướng
được như vậy, là chánh hồi hướng.
* Lại
nữa, trong một lúc hai tâm không hòa hợp, khi có tâm tùy hỷ
thì không có tâm Bồ đề, hết thảy tâm tướng rốt ráo
không, không thể lấy tâm chấp thủ tướng hồi hướng, vì
sao? Vì Bồ tát biết Bát nhã ba la mật không, không có định
pháp. Như Bát nhã ba la mật, hết thảy pháp cho đến vô thượng
đạo cũng như vậy. Khi ấy dứt pháp ái, bỏ tâm chấp trước,
đối với không, không tranh luận, ấy gọi là Bồ tát chánh
hồi hướng.
KINH:
Bấy giờ Thích đề hoàn nhân nói với Tu bồ đề: Bồ tát
mới phát tâm nghe việv ấy, sẽ không kinh hãi sợ sệt chăng?
Tu bồ đề! Thế nào là Bồ tát mới phát tâm làm các thiện
căn, hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?
Lại thế nào là đem phước đức tùy hỷ hồi hướng đến
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Tu
bồ đề đáp: Thích đề hoàn nhân, nếu Bồ tát mới phát
tâm tu Bát nhã ba la mật, không chấp thủ Ba la mật ấy, vì
không sở đắc, vì vô tướng, cho đến Thí ba la mật cũng
như vậy. Phần nhiều tin hiểu nội không, cho đến phần nhiều
tin hiểu vô pháp hữu pháp không, phần nhiều tin hiểu bốn
niệm xứ cho đến mười tám pháp không chung. Thường thân
cận tri thức, thiện tri thức ấy nói cho nghĩa sáu Ba la mật,
mở bày phân biệt, dạy bảo như vậy, khiến thường không
lìa Bát nhã ba la mật, cho đến khi được vào pháp vị Bồ
tát, trọn không lìa Bát nhã ba la mật, cho đến không lìa
Thí ba la mật, không lìa bốn niệm xứ cho đến mười tám
pháp không chung. Cũng dạy việc của ma, nghe các việc của
ma rồi, tâm không thêm không bớt, vì sao? Vì Bồ tát ma ha
tát ấy không chấp thủ hết thảy pháp. Bồ tát ấy cũng
thường không lìa chư Phật, cho đến khi được Bồ tát vị,
ở trung gian ấy trồng các thiện căn, do thiện căn ấy nên
sanh vào nhà Bồ tát, cho đến khi được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, trọn không lìa thiện căn ấy.
*Lại
nữa, Bồ tát ma ha tát mới phát tâm, đối với công đức
dứt đường sanh tử, dứt các hý luận, đạo, tận, bỏ gánh
nặng, dứt gai nhọn xóm làng, dứt các hữu kiết sử, chánh
trí được giải thoát của chư Phật trong mười vô lượng
vô biên vô số thế giới, và công đức của các đệ tử
Phật làm, , hoặc là các thiện căn của dòng lớn Sát lợi,
dòng lớn Bà la môn, đại gia cư sĩ, trời bốn Thiên vương,
cho đến trời Tịnh cư, tất cả công đức thiện căn ấy
hòa hợp cần lượng, đem tâm tùy hỷ tối thượng, đệ nhất,
tối diệu, vô thượng, vô đẳng đẳng, mà hồi hướng đến
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bấy
giờ, Di lặc Bồ tát nói với Tu bồ đề: Nếu Bồ tát ma
ha tát mới phát tâm, niệm đến thiện căn của chư Phật
và đệ tử, mà tùy hỷ công đức, tối thượng, đệ nhất,
tối diệu, vô thượng, vô đẳng đẳng; tùy hỷ rồi, nên
hồi hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Làm
sao Bồ tát không rơi vào tưởng điên đảo, tâm điên đảo,
kiến điên đảo?
Tu
bồ đề đáp: Nếu Bồ tát ma ha tát niệm Phật và Tăng, mà
nơi đó không sanh Phật tưởng, Tăng tưởng, không có thiện
căn tưởng, dùng tâm ấy hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác, trong tâm ấy cũng chẳng sanh tâm tưởng; Bồ tát
hồi hướng như vậy, tưởng không điên đảo, tâm không điên
đảo, kiến không điên đảo.
Nếu
Bồ tát ma ha tát nghĩ đến thiện căn của Phật và Tăng,
mà thủ tướng, thủ tướng rồi hồi hướng Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, Bồ tát như vậy gọi là tưởng điên đảo,
tâm điên đảo, kiến điên đảo. Nếu Bồ tát dùng tâm ấy
nghĩ đến các thiện căn của Phật và Tăng, khi tâm ấy niệm,
liền biết nó tận diệt, nếu tận diệt, thời pháp ayፊ
không thể được hồi hướng, tâm hồi hướng được dùng
cũng là tướng tận diệt, chỗ hồi hướng cũng là tướng
tận diệt. Nếu hồi hưóng như vậy, gọi là chánh hồi hướng,
chẳng phải tà hồi hướng, Bồ tát ma ha tát nên hồi hướng
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác như vậy.
* Lại
nữa, nếu Bồ tát ma ha tát nghĩ đến thiện căn của chư
Phật và đệ tử; thiện căn của người phàm phu biết nghe
pháp, hoặc thiện căn của chư Thiên, Rồng, Dạ xoa, Càn thát
bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già biết nghe pháp;
hoặc thiện căn của dòng lớn Sát lợi, dòng lớn Bà la môn,
đại gia cư sĩ, trời bốn Thiên vương, cho đến trời A ca
nị sắc biết nghe pháp, phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Đem tất cả công đức ấy hòa hợp cân lường, tùy
hỷ tối thưọng, đệ nhất, vô thượng, vô đẳng đẳng;
hồi hướng đến vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Khi ấy
Bồ tát nếu biết như vầy: Các pháp ấy tận diệt, chỗ
hồi hướng cũng tự tánh không. Hồi hướng được như vậy,
gọi là chơn hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
* Lại
nữa, nếu Bồ tát biết như vầy: không có pháp có thể hồi
hướng, vì sao? Vì hết thảy pháp tự tánh không. Nếu hồi
hướng được như vậy, gọi là chánh hồi hướng Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
Như
vậy, Bồ tát ma ha tát tu Bát nhã ba la mật cho đêhí
ba la mật không rơi vào tưởng điên đảo, tâm điên đảo,
kiến điên đảo, vì sao? Vì Bồ tát không chấp trước hồi
hướng, cũng không thấy chỗ tâm Bồ đề đem các thiện căn
hồi hướng, ấy gọi là Bồ tát ma ha tát vô thượng hồi
hướng.
LUẬN
- Hỏi: Bồ tát mới phát tâm nghe việc ấy, sẽ không kinh
hãi sợ sệt chăng? Nghĩa này trước đã hỏi đáp, sao nay
còn hỏi?
Đáp:
Trên kia, tuy Di lặc nói với Tu bồ đề không nên đem nói
cho hàng Bồ tát tân học, chỉ nói cho hàng Bồ tát bất thối
và người tu lâu. Vì hai hạng người ấy, nghe rồi có thể
tin làm. Đã nói nhân duyên của chánh hồi hưóng mà còn nói
pháp không, cho nên Đế thích nghi: Trong chúng có hạng mới
phát tâm làm sao lại nói không làm cho họ sợ hãi. Tu bồ
đề muốn thành tựu lời Di lặc nói, muốn khiến hàng mới
phát tâm nên chánh hồi hướng, nên đáp với Đế thích: Nếu
Bồ tát mới phát tâm, tuy không tin làm sáu Ba la mật, không
cúng dường chư Phật, song vì có lợi căn, gặp được thiện
tri thức, do có hai nhân duyên ấy, nên đủ sức chánh hồi
hướng. Thế nên nói với Đế thích: Bồ tát mới phát tâm,
tu Bát nhã ba la mật, không chấp thủ Bát nhã ấy, vì không
sở đắc, vì rốt ráo không, nên Bát nhã ba la mật cũng chẳng
được, chẳng trước, cho đến Thí ba la mật cũng như vậy.
Phần
nhiều tin hiểu nội không là thường tu ưa vào tam muội quán
nội không, nên tin hiểu, cho đến đối với mười tám pháp
không chung, phần nhiều tin hiểu cũng như vậy.
Tướng
mạo thiện tri thức, trước đã nói, trong đậy chỉ nói rõ
ngưới hay nói theo nghĩa sáu Ba la mật, người nghe nghĩa ấy
rồi, thường không rời Bát nhã ba la mật, cho đến khi được
vào Bồ tát pháp vị; có người tu lâu vào Bồ tát vị, có
người mới phát tâm vào Bồ tát vị.
* Lại
nữa, đối với Bồ tát mới phát tâm ấy, thiện tri thức
nói cho nghe việc Ma, nghe việc Ma xong, không tăng không giảm,
nhờ khéo tu tập tướng các pháp. Nếu Ma muốn phá, là vì
muốn phá "Không", thời "không" không có phá; nếu có tăng
ích, thì như huyễn như mộng, tăng ích cái gì, thế nên nói
không tăng không giảm.
Do
nhân duyên ấy, nên thường không lìa chư Phật, thường sanh
nhà Bồ tát, đời đời không rời thiện căn, cho đến khi
chứng vô thượng đạo. Bồ tát mới phát tâm ấy được
có nhân duyên như vậy nên cùng Bồ tát phát tâm đã lâu không
khác.
* Lại
nữa, tùy hỷ hồi hướng là hàng Bồ tát mới phát tâm đối
với đoạn đạo của chư Phật trong mười phuơng vô lượng
vô số thế giới quá khứ là dứt đường sanh tử, vào Vô
dư Niết bàn. Vì các hý luận dứt nên nói là dứt các hý
luận; lấy tam muội không không v.v... xã tám Thánh đạo phần,
nên nói là đạo tận; năm uẩn hay sanh khổ não nên nói là
gánh nặng. Có hai lối xả năm uẩn: 1. Trong Hữu dư Niết
bàn, xả phiền não, là nhân duyên của năm uẩn. 2. Trong Vô
dư Niết bàn, xả quả năm uẩn (tức là năm uẩn). Hết thảy
nhà bạch y cư sĩ gọi là Xóm làng ; người xuất gia nương
hàng bạch y cư sĩ mà sống, song nhà bạch y có thứ gai năm
dục. Vì ăn nên đi vào rừng cây quả có gai nhọn, để lấy
quả nên bị gai chích. Như người mang guốc gỗ đạp gai,
thời gai bị đạp gãy, ấy là chư Phật lấy guốc thiền
định trí tuệ đạp gãy gai năm dục, gọi là đoạn dứt
năm hạ phần kiết (tham, sân, thân kiến, giới thủ, nghi -
N.D). Kiết sử hữu phần dứt hết, gọi là đoạn năm thượng
phần kiết, (sắc ái, vô sắc ái, trạo cữ, kiêu mạn, vô
minh - N.D) Trí tuệ tương ưng với các pháp thật tướng Kim
Cang tam muội, dứt hết thảy phiền não và tập khí, nên nói
là chánh trí được giải thoát. Như vậy đều gọi là tán
thán.
Công
đức của quá khứ chư Phật và đệ tử làm là đệ tử
có ba hạng là Bồ tát, Bích chi Phật, Thanh văn, dòng lớn
Sát lợi cho đến trời Tịnh cư. Nơi ấy trồng thiện căn,
là bốn nơi làm nhân ruộng phước, là nơi gieo phước đức,
tâm tùy hỷ với phước đức hòa hợp cân lường, tối thượng,
không thể sánh, hồi hướng vô thượng đạo, tâm hồi hướng
ấy chẳng phải chánh chẳng phải tà, vì cớ sao? Nay Di lặc
hỏi Tu bồ đề: Nếu Bồ tát mới phát tâm, niệm đến công
đức chư Phật, rồi hồi hướng vô thượng đạo, làm sao
không đọa vào điên đảo? Tu bồ đề đáp: Hoặc Bồ tát
ấy vì Bát nhã ba la mật làm sức phương tiện nên đối với
chư Phật không sanh Phật tưởng, và đối với thiện căn
của các đệ tử không sanh thiện căn tưởng, vì hết thảy
pháp do hòa hợp sanh, không có tự tánh, nên không có pháp
nhất định, gọi là Phật, thế nên không sanh Phật tưởng
v. v... tâm hồi hướng ấy, cũng không sanh tâm tưởng. Thế
nên Bồ tát không đọa vào điên đảo. Trái với đây tức
là đọa vào điên đảo.
* Lại
nữa, Bồ tát lấy tâm ấy niệm chư Phật và các thiện căn,
khi tâm ấy diệt tận liền biết diệt tận, tâm diệt tận
không được hồi hướng, vì sao? Vì biến mất diệt hoại.
Tâm ấy cũng vào cửa vô thường đến trong pháp tánh, trong
pháp tánh không có phân biệt là tâm, là phi tâm, là Phật,
là thiện căn, là vô thượng đạo. Tâm hồi hướng, tướng
hồi hướng, tướng diệt tận cũng như vậy. Sơ tâm là tâm
ức niệm đến công đức tùy hỷ của chư Phật quá khứ,
hậu tâm là tâm hồi hướng. Nếu hồi hướng được như
vậy, gọi là chánh hồi hướng.
Hỏi:
Sơ tâm. hậu tâm là tướng sanh diệt, có thể vô thường,
còn chỗ hồi hướng là vô thượng đạo, ở vào thời vị
lai, làm sao nói diệt tận?
Đáp:
Ông không nghe tôi đáp trước kia, vào cửa vô thường đến
trong pháp tánh, rong đó không nói diệt tận là vô thường,
chỉ nói thật tướng các pháp là diệt tận. Trước cũng
đã nói Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ra khỏi ba đời,
vượt quá ba cõi, không có tướng chấp thủ. Hồi hướng
được như vậy, gọi là chánh hồi hướng.
* Lại
nữa, chẳng phải chánh, chang phải tà hồi hướng, là Bồ
tát đối với thiện căn của chư Phật quá khứ, cho đến
vô thượng, không thể sánh, hồi hướng vô thượng đạo.
Có Bồ tát biết việc ấy đều tận diệt, biết chỗ hồi
hướng cũng tự tánh không, biết diệt, biết không, là chơn
hồi hướng. Nếu pháp quá khứ vô thường, vô thường nên
không thể hồi hướng nơi pháp tự tánh không. Nếu pháp quá
khứ "Không", không, nên không thể hồi hướng trong pháp tự
tánh không. Dùng trí tuệ như vậy mà hồi hướng, ấy gọi
là chánh hồi hướng.
* lại
nữa, nếu Bồ tát biết hết thảy pháp nhân duyên sanh, nên
không có tự lực thường trú, tự pháp tướng bất động,
huống gì có tạo tác. Không có tạo tác nên trong hết thảy
pháp, không có pháp hồi hướng pháp, ấy gọi là chánh hồi
hướng.
Bồ
tát như vậy, tuy tu thiện pháp sáu Ba la mật, cũng không rơi
vào điên đảo vì không chấp trước hết thảy pháp.
KINH:
Lại nữa, nếu Bồ tát ma ha tát biết phước đức được
khởi tạo xa lìa năm uẩn, mười hai nhập, mười tám giới,
cũng biết Bát nhã ba la mật là tướng xa lìa, cho đến Thí
ba la mạt là tướng xa lìa; nội không cho đến vô pháp hữu
pháp không là tướng xa lìa; bốn niệm xứ cho đến mười
tám pháp không chung là tướng xa lìa, Bồ tát ma ha tát tâm
tùy hỷ khởi lên phước đức như vậy, hồi hướng đến
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. (Kinh Đại Bát Nhã ghi:
Nếu Bố tát đối với phước nghiệp đã tu tạo, như thật
biết rõ nó lìa uẩn xứ giới; cũng lìa Bát nhã ba la mật
đa, cho đến Bố thí ba la mật đa, cũng lìa nội không cho
đến vô tánh hữu tánh, cũng lìa bốn niệm trụ cho đến
mười tám pháp không chung. Bồ tát ma ha tát ấy, đối với
phước nghiệp đã tu tạo, như thật biết rõ rồi, thâm tâm
tùy hỷ hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề - N.D)
* Lại
nữa, Bồ tát ma ha tát ấy tùy hỷ phước đức, biết tùy
hỷ phước đức tự tánh xa lìa, cũng biết chư Phật xa lìa
Phật tánh, các thiện căn cũng xa lìa tánh thiện căn, Bồ
đề tâm cũng xa lìa tánh Bồ đề tâm, hồi hướng cũng xa
lìa tánh hồi hướng, Bồ tát cũng xa lìa tánh Bồ tát, Bát
nhã ba la mật cũng xa lìa tánh Bát nhã ba la mật, Thiền ba
la mật, Tấn ba la mật, Nhẫn ba la mật, Giới ba la mật, Thí
ba la mật, cũng xa lìa tánh Thí ba la mật, cho đến mười tám
pháp không chung cũng xa lìa tánh mười tám pháp không chung.
Bồ tát ma ha tát nên như vậy tập hành Bát nhã ba la mật
lìa tướng, ấy gọi là Bồ tát ma ha tát từ trong Bát nhã
ba la mật sanh tùy hỷ phưóc đức.
* Lại
nữa, Bồ tát ma ha tát, đối với thiện căn của chư Phật
qúa khứ đã diệt độ, nếu muốn hồi hướng, nên hồi hướng
như vầy, nghĩ rằng: Như tướng chư Phật diệt độ, tướng
các thiện căn cũng như vậy, tướng pháp diệt độ cũng như
vậy, ta dụng tâm hồi hướng, tướng tâm ấy cũng như vậy,
nên biết đó là hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề,
không đọa vào tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến điên
đảo. Nếu Bồ tát ma ha tát khi tu Bát nhã ba la mật mà chấp
thủ tướng thiện căn của chư Phật, mà hồi hướng Vô thượng
Chánh đẳng Bồ đề, ấy thời không gọi là hồi hướng,
vì sao? Vì chư Phật và thiện căn quá khứ, chẳng phải duyên
tướng, chẳng phải duyên vô tướng. Nếu Bồ tát ma ha tát
cũng thủ tướng như vậy, ấy thời gọi là thiện căn hồi
hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Bồ tát ma ha tát
như vậy, bị đọa vào tưởng điên đảo, tâm điên đảo,
kiến điên đảo.
Nếu
Bồ tát ma ha tát đối với chư Phật và thiện căn, và các
tâm, không thủ tướng, ấy gọi là lấy các thiện căn hồi
hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Bồ tát ma ha tát
ấy, không đọa vào tưởng điên đảo, tâm điên đảo, kiến
điên đảo.
Bấy
giờ Di lặc Bồ tát hỏi Tu bồ đề: Làm sao Bồ tát ma ha
tát đối với các thiện căn không thủ tướng, có thể hồi
hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Tu
bồ đề đáp; Vì sự ấy, nên biết Bồ tát ma ha tát trong
khi học Bát nhã ba la mật nên có Bát nhã ba la mật và sức
phương tiện, nếu phưóc đức ấy lìa Bát nhã ba la mật thời
không được hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề,
vì sao? Vì trong Bát nhã ba la mật thời chư Phật không thể
có được, các thiện căn không thể có được, tâm hồi hướng
Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề cũng không thể có được.
Trong đây, khi Bồ tát ma ha tát tập hành Bát nhã ba la mật,
nên suy nghĩ như vầy: Thân chư Phật và đệ tử quá khứ
đã diệt, các thiện căn cũng diệt, ta nay thủ tướng phân
biệt chư Phật, các thiện căn và các tâm, thủ tướng như
vậy mà hồi hương Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, chư Phật
không hứa cho, vì sao? Vì thủ tướng là có sở đắc,nghĩa
là đối với chư Phật quá khứ có thủ tướng phân biệt,
thế nên Bồ tát ma ha tát, muốn lấy các thiện căn hồi hướng
Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, không nên có sở đắc, không
nên thủ tướng.. Như vậy hồi hướng, nếu có đắc, và
thủ tướng hồi hướng, thời chư Phật không cho đó là có
lợi ích lớn, vì sao? Vì hồi hướng ấy tạp độc; thí như
đồ ăn ngon có tạp độc, tuy có sắc đẹp, hương thơm, được
người tham ưa mà tạp độc, kẻ ngu si vào vui mừng, tham sắc
đẹp