Tập
4
Cuốn
65
KINH:
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Nếu thiện
nam tử, thiện nữ nhân, thọ trì Bát nhã ba la mật và thân
cận, nhớ nghĩ đúng, thời trọn không bị bệnh mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân; thân không tàn tật, cũng không suy già, trọn
không bị hoạnh tử. Vô số trăm ngàn vạn ức chư thiên,
trời Tứ thiên vương, cho đến trời Tịnh cư, đều đi theo
nghe, lãnh thọ. Sáu ngày trai là mỗi tháng mồng 8, 23, 14, 15,
29, 30, chư thiên tu hội; thiện nam tử làm pháp sư, tại chỗ
thuyết Bát nhã ba la mật, chư thiên đều tập đến. Thiện
nam tử, thiện nữ nhân ấy ở giữa đại chúng nói Bát nhã
ba la mật, được phước đức vô lượng vô biên vô số,
không thể nghĩ bàn, không thể cân lường.
Phật
bảo Tu bồ đề: Như vậy, như vậy! Thiện nam tử, thiện
nữ nhân ấy, nếu trong sáu ngày trai mỗi tháng là mồng 8,
23, 14, 29, 15, 30, mà ở trước chư thiên ấy thuyết Bát nhã
ba la mật, thì thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy được phước
đức vô lượng vô biên vô số không thể nghĩ bàn, không
thể cân lường, vì sao? Tu bồ đề! Vì Bát nhã ba la mật
là trân bảo lớn. Thế nào là trân bảo lớn? Là Bát nhã
ba la mật ấy, cứu được địa ngục, súc sanh, ngạ qủy
và người bần cùng, hay cấp cho dòng lớn Sát lợi, Bà la
môn, đại gia cư sĩ; cấp cho Tứ thiên vương thiện xứ, cho
đến phi hữu tưởng, phi vô tưởng xứ; cấp cho quả Tu đà
hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, Bích chi
Phật đạo, Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, vì sao? Vì trong
Bát nhã ba la mật có nói rộng đến mười thiện đạo, bốn
thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc, bốn niệm
xứ cho đến tám Thánh đạo phần; Thí ba la mật, Giới ba
la mật, Nhẫn ba la mật, Tấn ba la mật, Thiền ba la mật. Nói
rộng nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, nói rộng
Phật mười lực, cho đến trí nhất thiết chủng. Từ trong
pháp ấy học, xuất sanh ra dòng Sát lợi, Bà la môn, đại
gia cư sĩ; xuất sanh ra trời Tứ thiên vương, trời Ba mươi
ba, trời Dạ ma, trời Ðâu suất đà, trời Hóa lạc, trời
Tha hóa tự tại, trời Phạm Thân, trời Phạm Phụ, trời Phạm
Chúng, trời Ðại Phạm, trời Quang, trời Thiểu Quang, trời
Vô lượng quang, trời Quang AÂm, trời Tịnh, trời Thiểu Tịnh,
trời Vô lượng tịnh, trời Biến tịnh, trời A tra bà già,
trời Phước Sanh, trời Quảng Quả, trời Vô tưởng, trời
Vô phiền, trời Vô nhiệt, trời Thiện Kiến, trời Thiện
Hiện, trời Sắc cứu cánh, trời Không vô biên xứ, trời
Vô sở hữu xứ, trời Phi hữu tưởng, Phi vô tưởng xứ.
Học từ trong pháp ấy, được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà
hàm, quả A na hàm, quả A la hán, được Bích chi Phật đạo,
được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Vì vậy Tu bồ đề,
nên Bát nhã ba la mật gọi là trân bảo lớn (Kinh Ðại Bát
Nhã ghi: Bát nhã ba la mật như vậy gọi là bảo tạng lớn,
trân bảo công đức xuất thế gian, đều nương Bát nhã ba
la mật thâm thâm mà xuất hiện N.D). Trong trân bảo Ba la mật
không có pháp khả đắc, hoặc sanh hoặc diệt, hoặc nhơ hoặc
sạch, hoặc thủ hoặc xả; trong trân bảo Ba la mật cũng không
có pháp hoặc thiện hoặc bất thiện, hoặc thế gian hoặc
xuất thế gian, hoặc hữu lậu hoặc vô lậu, hoặc hữu vi
hoặc vô vi; vì vậy, Tu bồ đề nên gọi là trân bảo Ba la
mật không sở đắc.
Tu
bồ đề, trân bảo Ba la mật ấy không có pháp làm ô nhiễm
được, vì sao? Vì pháp ô nhiễm không thể có được. Tu bồ
đề, vì vậy gọi là vô nhiễm Ba la mật.
Tu
bồ đề, nếu Bồ tát ma ha tát khi tu Bát nhã ba la mật, cũng
không biết như vậy, cũng không phân biệt như vậy, cũng không
được như vậy, cũng không hý luận như vậy, ấy có thể
tu hành Bát nhã ba la mật, cũng có thể lễ cẩn chư Phật,
từ một nưóc Phật đi đến một nước Phật, cúng dường
cung kính, tôn trọng tán thán chư Phật; dạo qua các cõi Phật,
thành tựu tuệ giác cho chúng sanh, nghiêm tịnh cõi Phật.
Tu
bồ đề, Bát nhã ba la mật ấy, đối với các pháp không
có lực, không có phi lực, cũng không có nhận, không có cho,
không sanh không diệt, không nhơ không sạch, không tăng không
giảm. Ba la mật ấy cũng chẳng phải quá khứ, chẳng phải
vị lai, chẳng phải hiện tại, không bỏ cõi Dục, không trú
cõi Dục, không bỏ cõi Sắc, không trú cõi Sắc. Bát nhã ba
la mật ấy không cho cũng không bỏ Thí ba la mật,không cho
cũng không bỏ Giới ba la mật,không cho cũng không bỏ Nhẫn
ba la mật, không cho cũng không bỏ Tấn ba la mật, không cho
cũng không bỏ Thiền ba la mật, không cho cũng không bỏ Bát
nhã ba la mật; không cho cũng không bỏ nội không, cho đến
không cho cũng không bỏ vô pháp hữu pháp không, không cho cũng
không bỏ bốn niệm xứ, cho đến không cho cũng không bỏ
tám thánh đạo phần; không cho cũng không bỏ Phật lực, cho
đến không cho cũng không bỏ quả Tu đà hoàn, cho đến không
cho cũng không bỏ quả A la hán, không cho cũng không bỏ Bích
chi Phật đạo, cho đến không cho cũng không bỏ trí nhất
thiết chủng.
Bát
nhã ba la mật ấy không cho pháp A la hán, không bỏ pháp phàm
phu; không cho pháp Bích chi Phật, không bỏ pháp A la hán; không
cho pháp Phật, không bỏ pháp Bích chi Phật.
Bát
nhã ba la mật ấy không cho pháp vô vi, không bỏ pháp hữu
vi, vì sao? Vì có chư Phật hoặc không có chư Phật, tướng
các pháp ấy thường trú không biến dị, pháp tướng, pháp
trụ, pháp vị, thường trú không lầm không mất.
LUẬN:
Hỏi: Hoặc thọ trì, nhớ nghĩ đúng Bát nhã, còn có các hoạn
nạn, làm sao nói không bị bệnh mắt v.v...?
Ðáp:
Việc này, phẩm công đức và địa ngục ở trên đã nói
rộng. Ðó là nói nghiệp chẳng phải chắc chắn thọ báo,
nên không có các hoạn nạn, lại thường thọ trì, nhớ nghĩ
đúng; thật hành Bát nhã như đã nói, nên không có các hoạn
nạn; thí như thuốc hay trị được các bệnh, nếu không chữa
trị thích hợp, thời không lành bệnh, không phải lỗi tại
thuốc. Lại như người tuy có khí cụ, mà không ngăn được
nạn, chẳng phải lỗi tại khí cụ, người tu cũng như vậy,
đời trước tội nặng, đời nay không tu đúng như điều
được nói, nên không có thế lực Bát nhã, chứ chẳng phải
lỗi tại Bát nhã.
Hỏi:
Trên trời cũng có Bát nhã ba la mật, cớ sao chư thiên trong
sáu ngày trai, đi theo người mang thân bất tịnh, cầu nghe
nói Bát nhã?
Ðáp:
Trên trời có kinh quyển, truyền nghe như vậy, chẳng phải
chính Phật nói. Nếu có thì trên trời Ðao lợi, trời Ðâu
suất sẽ có, vì sao? Vì khi A tu la chiến đấu với trời Ðao
lợi, Phật dạy Ðế thích ông nên tụng niệm Bát nhã, còn
trên trời Ðâu suất thường có Bồ tát bổ xứ, nói cho hàng
chư thiên, nên có thể có Bát nhã. Chư thiên cõi Sắc, thân
và y phục nhẹ mỏng vi tế, thường ưa yên lặng, hưởng
mùi vị thiền định, cho nên không thể có kinh quyển Bát
nhã. Chư thiên đắm hai thứ vui là vui ngũ dục và vui thiền
định; không thể siêng chép, thọ trì Bát nhã ba la mật. Còn
người cõi Diêm phù đề, thường tinh tấn, viết chép, trì
tụng, thọ học, nhớ nghĩ đúng, như kinh nói người cõi Diêm
phù đề do ba nhân duyên mà hơn chư thiên và người cõi Uất
đơn việt (Bắc Cu lô châu): 1. Có thể đoạn dâm dục. 2.
Có sức nhớ biết. 3. Tinh tấn dõng mãnh. Người cõi Diêm
phù đề hay viết chép, đọc tụng, thọ trì nên chư thiên
xuống đến lễ bái kinh quyển Bát nhã, hoaàu7841?c muốn nghe
nói.
Lại
có người nói: Trên trời nếu có kinh quyển, còn từ xa đi
đến cúng dường, thì phước đức tăng thêm. cầu Bát nhã
ba la mật không biết chán đủ. Cũng có trời Bồ tát muốn
làm cho Bát nhã tôn trọng, nên xuống đến, muốn làm cho chúng
sanh càng thêm tin kính, chư thiên còn đi đến, huống gì chúng
ta? Hành giả hoặc nghe mùi thơm, hoặc thấy ánh sáng, có những
việc hy hữu như thấy, cho nên thâm tâm tin ưa Bát nhã.
Lại
người chưa lìa dục, ác qủi, Ma dân thường tìm chỗ hở,
làm cho rơi vào chỗ ác. Từ trời Tứ thiên vương cho đến
trời Tịnh cư, là chư thiên có sức lớn đến, thì tiểu
quỷ tránh đi. Bồ tát thường sanh đại tâm thanh tịnh, như
phẩm trước nói, thế nên đi đến theo pháp sư.
Sáu
ngày trai, chư thiên đi đến xem tâm người, ngày 15, ngày 30,
trở lại báo với chư thiên.
* Lại
nữa, 6 ngày trai ấy là 6 ngày ác, làm cho người suy xấu,
nếu có người trong các ngày ấy thọ 8 giới, trì trai, bố
thí, nghe pháp, khi ấy chư thiên hoan hỷ, tiểu qủy không được
dễ dàng phá hoại, lợi ích người tu. Ngày ấy pháp sư lên
tòa cao thuyết pháp. Có các nhân duyên như vậy, nên chư thiên
đều đến. Người thuyết pháp tán thán vô lượng vô biên
vô thượng pháp, tức là Bát nhã ba la mâït, cũng được vô
lượng vô biên phước đức. Nếu nói cho người, người độn
căn, phước đức mỏng, nên được phước ít, nói cho chư
thiên, chư thiên lợi căn, phước đức nhiều, ruộng phước
tốt, nên được phước nhiều. Nên Phật dạy người tu trong
các ngày trai ở giữa chư thiên và đại chúng nói Bát nhã,
được phước vô lượng. Trong đây Phật hứa nhận lời Tu
bồ đề nói, lại tự nói vô lượng nhân duyên của phước
đức, đó là Bát nhã ba la mật. Ðại trân Bát nhã ba la mật
ấy như ngọc báu như ý; hay thỏa mãn ước nguyện của mọi
người, còn Bát nhã ba la mật này hay làm thỏa mãn ước nguyện
của tất cả chúng sanh, tức lìa khổ được vui.
Lìa
khổ là Bát nhã ba la mật hay cứu vớt chúng sanh địa ngục,
súc sanh, ngạ qủy và người nghèo cùng.
Cho
vui là cho dòng lớn Sát lợi, cho đến Vô thượng Chánh đẳng
Bồ đề. Pháp lành là nhân duyên của cái vui ấy, ở trong
Bát nhã ba la mật có nói rộng. Ðó là mười thiện đạo,
cho đến nhất thiết trí, cũng như ngọc như ý, hay phát xuất
y phục, ẩm thực, vàng bạc v.v... tùy ý cần dùng, Bát nhã
ba la mật cũng như vậy, hay làm cho được mười thiện đạo,
cho đến nhất thiết trí, dòng lớn Sát lợi cho đến Phật.Vì
việc ấy nên gọi là trân bảo Ba la mật.
* Lại
nữa, trân bảo Ba la mật là như người được ngọc như ý,
thời tùy ý cần chi đều được nấy; mất nó thời ưu não,
còn Bát nhã ba la mật này chẳng sanh chẳng diệt, thường
không mất; đời đời cho chúng sanh vui, cuối cùng làm cho
được thành Phật. Như người được ngọc như ý thời tâm
tự cao, khinh hèn người khác, ấy là nhân duyên suy hoại,
nếu người được Bát nhã ba la mật thế gian, cũng phân biệt
như vậy, đắm các thiện pháp, bỏ các ác pháp, sanh tâm cao
ngạo, khinh miệt người khác, thời đó là mở cửa các tội.
Còn trong trân bảo Bát nhã ba la mật, xuất thế gian Bát nhã
ba la mật, không phân biệt lành chẳng lành, ấy gọi là đại
trân bảo Ba la mật, hay làm lợi ích chúng sanh, rốt ráo không
ưu não. Trân bảo Ba la mật ấy, thiện pháp còn không làm
ô nhiễm, huống gì pháp bất thiện. Như trong đây nói, như
vậy cũng chẳng có kẻ biết, như trên tướng nói Bát nhã,
cũng không khởi lên là biết, không khởi lên là kẻ biết.
Không thủ tướng cũng không sanh tâm chắp đắm; không phân
biệt, không tìm định tướng; ấy gọi là không có tội lỗi,
không có pháp ái, dứt các hý luận. Như vậy, người chân
thật tu hành Bát nhã ba la mật, dùng pháp lễ Phật, tự được
lợi ích thật pháp, nên hay làm lợi ích chúng sanh; hay tự
lìa ác, hay khiến chúng sanh lìa ác. Cho nên nghiêm tịnh được
thế giới Phật; do lực phương tiện không sở đắc, nên
biết pháp tướng rốt ráo tịch tịnh, nhưng hay vì chúng sanh
nên phân biệt các thiện pháp.
Bát
nhã ba la mật rốt ráo thanh tịnh, nên không có lực, không
có phi lực, thí như hư không tuy không có pháp, mà nhân nơi
hư không mới có được sở tác. Không có một pháp gì có
tướng nhất định có thể thủ trước, nên không có lực;
được thật tướng các pháp, đối các thiện pháp không ngại,
cho đến hàng phục Ma quân mà thành Phật, chẳng phải không
có lực.
Chẳng
thọ lãnh chẳng cho, chẳng sanh chẳng diệt v.v... cho đến
chẳng bỏ pháp hữu vi, chẳng cho pháp vô vi, cũng như vậy.
Trong đây nói nhân duyên: Có Phật không có Phật, pháp tánh
vẫn thường trú thế gian.
Các
pháp tánh tức là thật tướng các pháp, thật tướng các
pháp là Bát nhã ba la mật. Nếu lấy thường vô thường mà
tìm thật tướng các pháp, đều là sai lầm. Nếu người vào
trong pháp tánh, thời không có sai lầm; vì pháp tánh thường
nên chẳng diệt chẳng mất.
KINH:
Bấy giờ các thiên tử đứng ở giữa hư không, phát âm thanh
lớn, nhảy nhót vui mừng, lấy hoa Ưu bát la, hoa Ba đầu na,
hoa Câu vật đầu, hoa Phân đà lị rãi trên Phật, nói như
vầy: Chúng con ở cõi Diêm phù đề, thấy Phật chuyển pháp
luân lần thứ hai, trong ấy vô lượng trăm ngàn thiên tử,
được vô sanh pháp nhẫn.
Phật
bảo Tu bồ đề: Pháp luân ấy chẳng phải chuyển lần thứ
nhất, chẳng phải chuyển lần thứ hai. Bát nhã ba la mật
chẳng vì chuyển nói mà xuất hiện, chẳng vì qui hoàn mà
xuất hiện, vì vô pháp hữu pháp không.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Tại sao vì
vô pháp hữu pháp không nên Bát nhã ba la mật chẳng vì chuyển
nói chẳng vì quy hoàn nên xuất hiện?
Phật
dạy: Bát nhã ba la mật, tưóng Bát nhã ba la mật không; cho
đến Thí ba la mật, tướng Thí ba la mật không; nội không,
tướng nội không không, cho đến vô pháp hữu pháp không,
tướng vô pháp hữu pháp không không; bốn niệm xứ, tướng
bốn niệm xứ không, cho đến tám Thánh đạo phần, tướng
tám Thánh đạo phần không; Phật mười lực, tướng Phật
mười lực không, cho đến mười tám pháp không chung, tướng
mười tám pháp không chung không; quả Tu đà hoàn, tướng quả
Tu đà hoàn không; quả Tu đà hàm, tướng quả Tu đà hàm không;
quả A la hán, tướng quả A la hán không; Bích chi Phật đạo,
tướng Bích chi Phật đạo không; trí nhất thiết chủng, tướng
trí nhất thiết chủng không.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã ba
la mật của Bồ tát ma ha tát là đại Ba la mật, vì sao? Vì
tuy hết thảy pháp tự tướng không, mà các Bồ tát ma ha tát
nhân nơi Bát nhã ba la mật chứng được Vô thượng Chánh
đẳng Bồ đề, cũng không có pháp có thể được chuyển
pháp luân, cũng không có pháp có thể chuyển, cũng không có
pháp có thể hoàn; ở trong đại Ba la mật ấy, cũng không
có pháp có thể thấy, vì sao? Vì pháp ấy không thể có được,
hoặc chuyển hoặc hoàn, vì hết thảy pháp rốt ráo chẳng
sanh, vì sao? Vì tướng không, không thể chuyển, không thể
hoàn; tướng vô tướng không thể chuyển không thể hoàn tướng
vô tác, không thể chuyển không thể hoàn. Nếu nói Bát nhã
ba la mật được như vậy, giáo hóa, chiếu soi, khai mở, chỉ
bày, phân biệt hiển hiện, giải thích, cạn dễ, người giáo
hóa được như vậy, gọi là thanh tịnh nói Bát nhã ba la mật,
cũng không có người nói, cũng không có người lãnh thọ,
cũng không có người chứng. Nếu không có nói, không có thọ,
không có chứng, cũng không có người diệt hoại, đối với
người thuyết pháp ấy cũng không có phước điền rốt ráo
nhất định.
LUẬN:
Chư thiên nghe nói Bát nhã, rất vui mừng nhảy nhót, chư thiên
thân nhẹ căn lợi, phân biệt chấp tướng, biết có nhẹ
nặng, nghe nói Bát nhã ba la mật rốt ráo thanh tịnh, thật
tướng bình đẳng, đại lợi ích cho chúng sanh, không chi hơn
được, nên nhảy nhót vui mừng, khởi thân nghiệp khẩu nghiệp,
mang đồ cúng dường, hoa sen v.v... cúng dường Phật, nói rằng:
Chúng con ở tại cõi Diêm phù đề, thấy Phật chuyển pháp
luân lần thứ hai.
Hỏi:
Ban sơ thuyết pháp khiến người đắc đạo, gọi là chuyển
pháp luân, sao nay nói pháp luân chuyển lần thứ hai? Nếu do
Phật nói gọi là chuyển pháp luân; đều là pháp luân, chứ
đâu có giới hạn lần thứ hai?
Ðáp:
Ban sơ thuyết pháp gọi là định thật một pháp luân, nhân
chuyển nói ban đầu cho đến khi pháp tận, chung gọi là chuyển.
Chư thiên thấy trong chúng hội nay có nhiều người phát tâm
Vô thượng đạo, được vô sanh pháp nhẫn, vì thấy lợi
ích ấy, nên tán thán nói chuyển pháp luân thứ hai. Sơ chuyển
pháp luân, tám vạn chư thiên được vô sanh pháp nhẫn, một
mình A nhã Kiều trần như được sơ đạo quả (Dự lưu),
nay vô lượng chư thiên được vô sanh pháp nhẫn, thế nên
nói chuyển pháp luân thứ hai; nay chuyển pháp luân giống như
sơ chuyển.
Hỏi;
Nay chuyển pháp luân, nhiều người đắc đạo, sơ chuyển
pháp luân người đắc đạo ít, cớ sao lấy lớn dụ nhỏ.
Ðáp:
Việc của chư Phật có hai thứ: 1. Mật. 2. Hiển. Sơ chuyển
pháp luân, người Thanh văn thấy tám vạn một người được
Sơ đạo quả, hàng Bồ tát thấy vô lương vô số người
được Thanh văn đạo, vô số người gieo nhân Bích chi Phật
đạo, vô lượng vô số người phát tâm vô thượng đạo,
vô lượng vô số người tu sáu Ba la mật đạo, được các
môn tam muội Ðà la ni sâu xa, mười phương vô lượng chúng
sanh được vô sanh pháp nhẫn. Vô lượng vô số chúng sanh
trụ từ Sơ địa cho đến Thập địa, vô lượng vô số chúng
sanh được còn đòi bổ xứ làm Phật, vô lượng vô số chúng
sanh được ngồi đạo tràng, nghe pháp ấy mau thành Phật đạo.
Có
bất khả tư nghì tướng như vậy, ấy gọi là tướng mật
chuyển pháp luân, thí như mưa lớn, cây lớn thời hưởng
nhiều, cây nhỏ thời hưởng ít, vì vậy nên biết sơ chuyển
pháp luân cũng lớn. Lấy sau thí dụ trước, không có lỗi.
Chuyển
pháp luân chẳng phải một chẳng phải hai là vì rốt ráo
không, và vì quả báo chuyển pháp luân là Niết bàn nên nói
như vậy, ấy là trong nhân nói quả. Pháp luân tức là Bát
nhã ba la mật, tướng Bát nhã ba la mật không khởi không tác,
cho nên không chuyển không hoàn. Như trong 12 nhân duyên, nói
vô minh rốt ráo không, nên không thể thật sanh ra các hành
v.v... vô minh hư vọng điên đảo, không có thật nhất định,
cho nên không có pháp có thể diệt. Nói pháp sanh thế gian
nên gọi là chuyển. Nói pháp diệt thế gian, nên gọi là hoàn.
Trong Bát nhã ba la mật không có hai việc ấy, nên nói không
chuyển không hoàn. Vì vô pháp hữu pháp không; vô chuyển là
hữu pháp không, vô hoàn là vô pháp không.
Hỏi:
Cớ gì Tu bồ đề hỏi câu: Vì hữu pháp không, nên Bát nhã
ba la mật không vì chuyển, không vì hoàn mà xuất hiện; nhưng
Phật lại lấy "Không" mà đáp?
Ðáp:
Có người nói: Các pháp có 4 tướng: 1. Nói có. 2. Nói không.
3. Nói cũng có cũng không. 4. Nói chẳng phải có chẳng phải
không. Vì tà ức niệm đối 4 thứ ấy nên có thứ tà hạnh.
Chấp trước 4 thứ ấy nên gọi là tà đạo; vì chánh ức
niệm đối 4 thứ ấy nên có chánh hạnh, cũng không chấp
4 chánh hạnh nên gọi là chánh đạo. Trong đây vì phá chấp
tướng phi hữu phi vô, nên gọi là vô pháp hữu pháp không.
Phật dạy: Cho đến phá phi hữu phi vô, nên nói là không có
chuyển không có hoàn.
Phá
phi hữu phi vô có 2 cách: 1. Dùng 3 câu trên phá. 2. Dùng thật
tướng Niết bàn phá. Tu bồ đề! Tuy biết Phật dùng thật
tướng Niết bàn phá hữu vô, trong đó có Bồ tát mới phát
tâm, hoặc còn sai lầm, nên lấy 3 câu phá phi hữu phi vô;
đối với vô pháp hữu pháp không trở lại sanh tà kiến,
nên Phật nói hữu pháp vô pháp cũng tự tướng không, thế
nên nói Bát nhã ba la mật không chuyển không hoàn. Trong Bát
nhã ba la mật không có tướng Bát nhã ba la mật, vì hết thảy
pháp không có tướng, cho đến Thí ba la mật cũng như vậy,
nội không cho đến tướng trí nhất thiết chủng không cũng
như vậy.
Bấy
giờ Tu bồ đề và đại chúng hoan hỷ tán thán Bát nhã ba
la mật nói rằng: Ðại Ba la mật tức là Bát nhã ba la mật.
Ðại
Ba la mật là hết thảy pháp tuy tự tánh không mà Bát nhã
ba la mật hay lợi ích cho Bồ tát, làm cho chứng được Vô
thượng Chánh đẳng Bồ đề; tuy được cũng không sở đắc,
tuy chuyển pháp luân cũng không sở chuyển.
Hỏi:
Nếu các pháp không, Bát nhã ba la mật không, Vô thượng Chánh
đẳng Bồ đề cũng không, thời không nên tán thán Bát nhã
là đại Ba la mật?
Ðáp:
Trong đây nói hết thảy pháp tự tánh không, nên trong tự
tánh không cũng không có tự tánh không, thế nên gọi là đại
Ba la mật. Nếu không có tướng không, không nên vấn nạn;
Vì rốt ráo không, nên không có gì để phá, mà vẫn làm các
thiện pháp để chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ
đề. Ðây là nói theo thế tục, chẳng phải đệ nhất nghĩa.
Chư
Phật tuy thuyết pháp làm cho người khác đắc đạo, phá phiền
não, từ đây đến kia, gọi là chuyển, nay các phiền não
của chúng tôi hư dối điên đảo, vọng ngữ không có tướng
nhất định, thì đoạn cái gì? Nếu không đoạn cái gì, thì
cũng không có chuyển có hoàn, thế nên nói tuy chuyển pháp
luân cũng không có chuyển, hoàn, vì sao? Vì trong Bát nhã ba
la mật ấy, không có pháp để cho năm mắt có thể thấy được,
hoặc chuyển hoặc hoàn , vì hết thảy pháp từ xưa đến
nay rốt ráo chẳng sanh; là tự tánh không, rốt ráo không,
chẳng phải tướng chuyển, chẳng phải tướng hoàn. Vì sợ
đọa thường kiến nên chẳng chuyển, vì sợ đọa đo?n kiến
nên chẳng hoàn; vì sợ đọa hữu nên chẳng chuyển; vì sợ
đọa vô nên chẳng hoàn; vì sợ đắm thế gian nên chẳng
chuyển, vì sợ đắm Niết bàn nên chẳng hoàn.
Tự
tánh không, rốt ráo không, mười tám không, vô lượng các
không như vậy, là môn không giải thoát chẳng chuyển chẳng
hoàn; môn vô tướng, vô tác giải thoát cũng như vậy. Vào
ba môn giải thoát ấy, bỏ tâm chấp ta, chấp của ta, ấy
gọi là được giải thoát. Có được tâm không thủ tướng,
không chấp trước như vậy, mà thuyết, giáo, chiếu v.v...
Bát nhã ba la mật. Thuyết là học làm sách văn, học miệng
truyền nói; Giáo là tán thán Bát nhã khiến ngưòi thọ trì,
đọc tụng, nhớ nghĩ đúng. Chiếu là như người cầm đèn
chiếu vật, nếu người không biết Bát nhã, lấy ánh sáng
trí tuệ chiếu soi khiến biết. Khai là như kho báu đóng cửa,
tuy có vật tốt, mà không lấy được, nếu mở cửa thời
tùy ý lấy, nhu người nghi ngờ không tin Bát nhã, mở cánh
cửa tà nghi, bẻ chốt cửa vô minh, thời người ấy tùy ý
lấy.Thị là như người mắt thấy không rõ, lấy ngón tay
chỉ cho biết tốt xấu. Như người ít tin ít trí, chỉ cho
biết là đạo hay chẳng phải đạo, là có lợi hay thất lợi
v.v... Phân biệt là phân biệt các pháp là thiện hay bất thiện,
là tội hay phước, là thế gian hay Niết bàn. Kinh sách chỉ
nói lược, khó hiểu khó tin, phân biệt giải nói rộng rãi
cho họ được tin hiểu. Hiển hiện là Phật vì mỗi mỗi
chúng sanh thuyết mỗi mỗi pháp hoặc có khi chê bai thiện
pháp, hổ trợ pháp bất thiện, nhắm tới khiến chúng sanh
được hiểu.Thuyết pháp là nói ý thú của Phật thích ứng
với chúng sanh, khiến biết tướng nhẹ nặng.Giải thích là
như vật báu ở trong đảy, buộc miệng lại thời người
chẳng biết, nếu người mở cái đảy kinh quyển giải thích
lý nghĩa. Lại như vật nặng, làm cho nhẹ, dùng các nhân duyên
thí dụ giải thích gốc ngọn, làm cho dễ hiểu.Thiển dị
là như nước sâu khó lội qua, có người phân tán nước ấy
làm cho cạn, thời lội qua dễ dàng. Bát nhã ba la mật như
nước rất sâu, lấy sức luận nghị phương tiện giảng giải
nói làm cho cạn dễ, cho đến người tiểu trí cũng tin hiểu
được. Có thể lấy mười việc là thuyết, giáo, chiếu v.v...
ở trên để giảng nói nghĩa rất sâu xa, ấy gọi là thanh
tịnh nói Bát nhã ba la mật.
Trong
đệ nhất nghĩa, thật không có thuyết, vì rốt ráo không,
nên không có thuyết, không có thuyết nên không có tín thọ,
không có tín thọ nên không có chứng, không có chứng nên
không có diệt các phiền não, nếu không có diệt các phiền
não, thời không có ruộng phước.
Thọ
là tín thọ, đọc tụng tu pháp ấy được quả Sa môn, vào
vô sanh pháp nhẫn, ấy gọi là chứng. Khi chứng thời các
phiền não dứt, được hữu dư Niết bàn; được hữu dư
Niết bàn nên chắc chắn đó là ruộng phước. Chắc chắn
là các pháp đồng tánh với Niết bàn, cho nên nói cũng không
có ruộng phước chắc chắn.
GIẢI
THÍCH: PHẨM CÁC BA LA MẬT THỨ 44
(Kinh
Ma ha Bát nhã ghi: Phẩm Bách Ba la mật Biến Thán)
(Kinh
Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Bất Khả Ðắc thứ 42).
KINH:
Bấy giờ, Tuệ mạng Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức
Thế Tôn! Bát nhã ba la mật vô biên là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Ví như hư không vô biên.
Bạch
đức Thế Tôn, bình đẳng Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì các pháp bình đẳng.
Bạch
đức Thế Tôn, lìa Ba la mật là Bát nhã ba la mật. (Kinh Ðại
Bát nhã ghi: Bát nhã ba la mật đa như vậy là vô biên Ba la
mật đa; Phật dạy: Như vậy! Thí như hư không, không biên
tế. Bát nhã ba la mật đa như vậy là bình đẳng Ba la mật
đa; Phật dạy: Như vậy, vì hết thảy pháp tánh bình đẳng.
Bát nhã ba la mật đa như vậy là viễn ly Ba la mạt đa; Phật
dạy như vậy, vì rốt ráo không v.v... N.D). Phật dặy: Vì
rốt ráo không.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng hoại Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì hết thảy pháp chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, không bờ kia Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì không có danh không có thân.
Bạch
đức Thế Tôn, không chủng Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì hơi thở ra vào chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, bất khả thuyết Ba la mật là Bát nhã ba la
mật.
Phật
dạy: Vì giác quán chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô danh Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì thọ, tưởng, hành, thức, chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, không đi Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì hết thảy pháp không đến.
Bạch
đức Thế Tôn, không di chuyển Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì hết thảy pháp không nép dấu.
Bạch
đức Thế Tôn, tận Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì hết thảy pháp rốt ráo tận hết.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng sanh Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì hết thảy pháp chẳng diệt.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng diệt ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì hết thảy pháp chẳng sanh.
Bạch
đức Thế Tôn, không tạo tác Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì tác giả chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô tri Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì tri giả chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng đến Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì sanh tử chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng mất Ba la mật là Bát nhã ba la mật.
Phật
dạy: Vì hết thảy pháp chẳng mất.
LUẬN:
Ba la mật vô biên là Tu bồ đề nghe Phật nói nghĩa Ba la mật
đại trân bảo, nhân đó mà tự tán thán Bát nhã là đại
Ba la mật. Lại lấy trí tuệ vào sâu mỗi mỗi pháp môn, quán
Bát nhã ba la mật như nước biển lớn vô lượng vô biên,
biết sâu công đức Bát nhã ba la mật, nhân đó phát tâm đại
hoan hỷ. Muốn lấy mỗi mỗi nhân duyên tán thán Bát nhã;
cho nên bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn! vô biên Ba la
mật là Bát nhã ba la mật. Nghĩa vô biên thì từ đầu phẩm
cho đến hết đều là nghĩa vô biên, vì trở ngại nói việc
khác nên lược nói. Nếu nói rộng thời vô lượng.
* Lại
nữa, thường là một bên, vô thường là một bên, ngã vô
ngã, có, không, thế gian có biên giới không biên giới, chúng
sanh có biên giới không biên giới, các pháp như vậy gọi
là tà kiến biên; được Bát nhã ba la mật thời không có
các biên ấy, nên gọi là vô biên.
* Lại
nữa, thí như chỗ vật cùng tận gọi là biên, hư không, không
có sắc không có hình, cho nên vô biên; Bát nhã ba la mật rốt
ráo thanh tịnh không có biên, không có tận, không có chỗ
thủ, không có chỗ thọ nhân, không có chỗ chắp đắm, thế
nên Phật đáp: "Như hư không vô biên nên Bát nhã ba la mật
cũng vô biên".
Bồ
tát được pháp nhẫn, quán hết thảy pháp đều bình đẳng,
thế nên nói vì hết thảy pháp bình đẳng nên nói Bát nhã
ba la mật bình đẳng.
Bồ
tát dùng tâm rốt ráo không, lìa các phiền não, cũng lìa các
pháp, thế nên gọi là lìa Ba la mật. Bồ tát dùng Bát nhã
ba la mật ấy tìm tướng chung tướng riêng các pháp, không
thấy được có tướng nhất định bằng lông tóc, vì chẳng
thể có được, nên đối với hết thảy pháp tâm không chấp
trước. Nếu người có tà kiến hý luận, dùng tâm tà kiến
chấp trước, muốn phá hoại Bồ tát, vì Bồ tát ấy tâm
không chấp trước, nên không phá hoại được; ấy gọi là
chẳng hoại Ba la mật.
Bờ
này gọi là sanh tử, bờ kia là Niết bàn, ở giữa có sông
lớn các phiền não, hết thảy người xuất gia, muốn bỏ
bờ này tham đắm bờ kia, mà Bát nhã ba la mật không có bờ
kia. Bờ kia là Niết bàn, không có sắc không có danh, nên nói
vì không có sắc không có danh, ấy gọi là không bờ kia Ba
la mật.
Có
hư không thời có hơi thở ra vào, hơi thở ra vào đều từ
nghiệp nhân duyên hư dối sanh; thở ra chẳng phải thở vào,
thở vào chẳng phải thở ra, niệm niệm sanh diệt, không có
thật tướng khả đắc. Vì hơi thở không thể có được,
nên hết thảy pháp cũng không thể có được. Không thể có
được nên gọi là không chủng (không giới) Ba la mật.]
Hết
thảy pháp tướng không tịch, nên chẳng cần giác quán. Vì
không có giác quán thời không có ngôn thuyết, vì không có
ngôn thuyết nên nói Bát nhã ba la mật dứt đường nói năng,
ấy gọi là bất khả thuyết Ba la mật.
Hau
pháp thu nhiếp hết mọi pháp đó là danh và sắc. Bốn đại
và bốn đại tạo tác, thu nhiếp về sắc; bốn uẩn thọ,
tưởng, hành, thức thu nhiếp về danh. Phân biệt các pháp
là nói Bát nhã ba la mật là tướng trí tuệ nên nhiếp về
danh. Song nay không lìa sắc là danh, không lìa danh là sắc,
vì Bát nhã ba la mật không có tướng biết, nên nói thọ,
tưởng, hành, thức chẳng thể có được, ấy gọi là vô
danh ba la mật.
Hết
thảy pháp không đi không lại, nên gọi là không đi Ba la mật.
Bát
nhã ba la mật là pháp tạng của ba đời mười phương chư
Phật, ấn bằng ba pháp ấn, không có trời người phá được,
nên gọi là không di chuyển Ba la mật.
Các
pháp hữu vi, niệm niệm tận diệt, không có lúc ngưng trụ,
nếu như vậy, pháp quá khứ chẳng cùng tận, pháp vị lai
cũng chẳng cùng tận, pháp hiện tại cũng chẳng ngưng trụ
nên chẳng cùng tận. Tướng ba đời cùng tận chẳng thể
có được, nên gọi là rốt ráo cùng tận, vì rốt ráo cùng
tận nên gọi là tận Ba la mật.
Hết
thảy pháp sanh trong ba đời chẳng thể có được, cho nên
không có sanh, vì không có sanh nên gọi là vô sanh Ba la mật,
không diệt Ba la mật cũng như vậy.
Tạo
tác có hai:1. Chúng sanh tạo tác. 2. Pháp tạo tác. Chúng sanh
tạo tác là bố thí, trì giới v.v... Pháp tạo tác là lửa
cháy, nước làm rã nát, tâm thức hay biết. Vì chúng sanh "không"
nên không có tác giả. Vì hết thảy pháp độn, tướng không
khởi không tác, nên pháp cũng không tạo tác. Vì hai không
tạo tác ấy nên gọi là vô tác Ba la mật.
Vô
tri Ba la mật cũng như vậy, vì hết thảy pháp độn nên không
biết.
Thiên
nhãn thấy có sanh tử, dùng tuệ nhãn không tướng thấy sanh
tử chẳng thể có được. Vì sanh tử chẳng thể có được,
nên chúng sanh chết đời nay không có đi đến đời sau; chỉ
có năm uẩn do nhân duyên của nghiệp đời trước tương tục
sanh ra, nên gọi là chẳng đến Ba la mật. Bát nhã ba la mật
chẳng làm mất thật tướng các pháp, cũng làm cho hết thảy
pháp chẳng mất thật tướng, còn lìa Bát nhã ba la mật, hết
thảy pháp đều mất. Quán thật tướng hết thảy pháp, được
Bát nhã ba la mật, nên gọi là chẳng mất Ba la mật.
KINH:
Bạch đức Thế Tôn, mộng Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Cho đến việc thấy trong mộng chẳng thể có
được.
Bạch
đức Thế Tôn, tiếng vang Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì kẻ nghe tiếng chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, bóng Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì mặt trong gương chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, sóng nắng Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Dòng nước chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, huyễn Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì huyễn thuật chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng nhơ Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì các phiền não chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng sạch Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì phiền não hư dối.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng ô cấu Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì nơi chỗ chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, không hý luận Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì hết thảy hý luận bị phá hoại.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng niệm Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì hết thảy niệm bị phá.
Bạch
đức Thế Tôn, bất động Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì pháp tánh thường trú.
Bạch
đức Thế Tôn, không nhiễm Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì biết hết thảy pháp vọng giải (Kinh Ðại
Bát Nhã ghi: Vì biết hết thảy pháp hư vọng - N.D).
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng khởi Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì hết thảy pháp không phân biệt.
Bạch
đức Thế Tôn, tịch diệt Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì hết thảy pháp tướng chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô dục Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì dục chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô sân Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì sân hận không thật.
Bạch
đức Thế Tôn, vô si Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vìvô minh tối tăm dứt.
Bạch
đức Thế Tôn, không phiền não Ba la mật là Bát nhã ba la
mật? - Phật dạy: Vì phân biệt ức tưởng hư vọng.
Bạch
đức Thế Tôn, không có chúng sanh Ba la mật là Bát nhã ba
la mật? - Phật dạy: Vì chúng sanh không có.
Bạch
đức Thế Tôn, đoạn dứt Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì các pháp không khởi.
Bạch
đức Thế Tôn, không có nhị biên Ba la mật là Bát nhã ba
la mật? - Phật dạy: Vì lìa nhị biên.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng phá hoại Ba la mật là Bát nhã ba la
mật? - Phật dạy: Vì hết thảy pháp chẳng lìa nhau.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng thủ Ba la mật là Bát nhã ba la mậ?
- Phật dạy: Vì quá địa vị Thanh văn, Bích chi Phật.
Bạch
đức Thế Tôn, chẳng phân biệt Ba la mật là Bát nhã ba la
mật? - Phật dạy: Vì các vọng tưởng chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô lượng Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì các pháp lượng chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế` Tôn, hư không Ba la mật là Bát nhã ba la mật? -
Phật dạy: Vì hết thảy pháp không có.
LUẬN:
Tu bồ đề tán thán Bát nhã ba la mật, khai thị chúng sanh
thế gian không, như mộng. Phật dạy: Mộng cũng chẳng thể
có được, nên gọi là mộng Ba la mật.Tiếng vang, bóng, sóng
nắng, huyễn cũng như vậy. Tâm người cho tiếng là thật,
vang là hư giả, bóng thì lấy mặt gương làm thật, tưởng
là hư giả; sóng nắng thì lấy gió, bụi, ánh sáng mặt trời
làm thật, nước là hư giả; huyễn thì lấy chú thuật làm
thật, vật do chú thuật làm ra hư giả.
Tu
bồ đề tán thán Bát nhã lấy không làm ví dụ, Phật dạy:
Dụ và việc chính đều không, vì việc chính đều không nên
dụ cũng không.
Bát
nhã ba la mật ấy không nhơ, đoạn diệt được hết thảy
nhơ. Phật dạy: Các phiền não từ xưa lại đây thường không
có, nay đoạn cái gì? thế nên gọi là không nhơ Ba la mật.
Ba
la mật không sạch cũng như vậy.
Không
có phiền não tức là sạch, các phiền não dâm dục, sân nhuế
v.v... gọi là ô cấu. Bát nhã ba la mật ấy, tất cả pháp
ô cấu không thể làm ô cấu được. Sáu căn là trú xứ của
các phiền não, sáu căn và hết thảy pháp là chỗ các phiền
não duyên. Vì trú xứ đều chẳng thể có được nên gọi
là chẳng ô cấu Ba la mật.
Ðược
Bát nhã ba la mật ấy, hết thảy ức tưởng phân biệt hý
luận đều dứt, nên gọi là chẳng hý luận Ba la mật.
Vì
hết thảy pháp rốt ráo không, không ức, không niệm tưởng;
không ức, không niệm tưởng nên gọi là vô niệm Ba la mật.
Bồ
tát an trú pháp tánh, tất cả các luận nghị đều không thắng
được. Tất cả kiết sử tà kiến không che lấp được,
tất cả pháp vô thường phá hoại, tâm không sanh lo; do các
nhân duyên như vậy nên gọi là bất động Ba la mật.
Hết
thảy pháp đều hư vọng, chẳng phải chỉ ái nhiễm, nên
gọi là vô nhiễm Ba la mật.
Ức
tưởng phân biệt là căn bản của tất cả kiết sử. Kiết
sử hay tạo nghiệp đưa đến thân sau, biết được ức tưởng
phân biệt là hư vọng, thời tất cả nghiệp đưa đến sanh
ra thân sau không còn khởi lên nữa, nên gọi là chẳng khởi
Ba la mật.
Trong
Bát nhã ba la mật không thủ tướng ba độc tịch diệt, mà
hết thảy pháp tướng đều chẳng thể có được. Bát nhã
ba la mật ấy, cho đến đối với thiện pháp còn không tham,
huống gì các tham dục khác.
Phật
dạy: Vì dục từ xưa lại đây chẳng thể có được, tham
dục hư dối, tự tánh chẳng thể có được, nên gọi là
vô dục Ba la mật, chứ chẳng phải vì lìa dục nên gọi là
vô dục.
Tánh
sân nhuế rốt ráo không có nên gọi là vô sân Ba la mật,
chứ chẳng phải lìa sân nên gọi là vô sân.
Ðối
với hết thảy pháp, vô minh tối tăm bị phá trừ, nên gọi
là vô si Ba la mật, chứ chẳng phải diệt si nên gọi là vô
si.
Ba
la mật không có phiền não là vì Bồ tát được vô sanh pháp
nhẫn, nên tất cả phiền não dứt.
Phật
dạy: Ức tưởng phân biệt là căn bản của phiền não, ức
tưởng phân biệt không có, huống gì phiền não, nên gọi
là không phiền não Ba la mật.
Bát
nhã hay phá cái điên đảo chấp có chúng sanh đối với không
có chúng sanh, nên gọi là không có chúng sanh Ba la mật.
Phật
dạy: Chúng sanh từ xưa lại đây chẳng sanh, vì không có gì
của chính nó, nên gọi là không có chúng sanh.
Ý
Tu bồ đề cho Bát nhã dứt được hết thảy pháp hữu lậu,
nên gọi là đoạn dứt Ba la mật.
Phật
dạy: Các pháp chẳng khởi chẳng sanh, không tạo tác, tướng
các pháp tự nhiên đoạn, nên gọi là đoạn.
Nhị
biên là ngã và vô ngã, đoạn và vô đoạn, pháp khả đoạn
và pháp không khả đoạn, thường và đoạn, có và không,
vô lượng nhị biên như vậy. Trong Bát nhã ba la mật không
có các biên ấy nên gọi là không có nhị biên Ba la mật.
Phật
dạy: Các biên ấy từ xưa lại đây không có, chỉ do điên
đảo hư vọng chấp trước. Bồ tát cầu sự thật, cho nên
lìa các bên điên đảo. Bát nhã ba la mật ấy vì nhất tướng
không, nên không thể phá.
Phật
dạy: không chỉ Bát nhã ba la mật mà tất cả pháp đều không
có tướng sai khác nhất định, như quả chẳng lìa nhân, nhân
chẳng lìa quả; pháp hữu vi chẳng lìa pháp vô vi, Bát nhã
ba la mật chẳng lìa hết thảy pháp, hết thảy pháp chẳng
lìa Bát nhã ba la mật; thật tướng hết thảy pháp tức là
Bát nhã ba la mật, nên gọi là chẳng phá Ba la mật. Phá là
các pháp mỗi mỗi lìa tán. Hết thảy pháp có các lỗi thường
vô thường v.v... thế nên Bát nhã ba la mật chẳng thủ hết
thảy pháp.
Phật
dạy: hết thảy pháp cho đến pháp xuất thế gian thanh tịnh
của Nhị thừa, cũng chẳng thủ, nên gọi là Ba la mật chẳng
thủ. Phân biệt là tâm sanh ra chấp thủ tướng, vọng tưởng
phân biệt, Bát nhã là thật tướng nên không có vọng tưởng
phân biệt ấy.
Phật
dạy: Nhân ức tưởng phân biệt mà phân biệt có không, nay
chính ức tưởng phân biệt, từ xưa lại đây không có, nên
gọi là không có phân biệt Ba la mật.
Bát
nhã ba la mật xuất sanh bổn vô lượng, nên gọi là Ba la mật
vô lượng.
* Lại
nữa, rốt ráo không, là được Niết bàn vô lượng, nên gọi
là vô lượng.
* Lại
nữa, trí tuệ không thể đạt đến bờ mé, nên gọi là vô
lượng.
Lượng
gọi là sáu thức trù lượng. Pháp ấy "không", không có tướng,
không có sanh diệt, vì sao? Vì vật nhiều mà đồ đo lường
nhỏ.
Phật
dạy: Chẳng phải chỉ Bát nhã ba la mật ấy vô lượng mà
hết thảy pháp sắc v.v... chẳng thể có được, nên đều
vô lượng. Nhu hư không, không có sắc không có hình, không
có làm và việc làm; Bát nhã ba la mật cũng như vậy. Phật
dạy: Chẳng phải chỉ hư không, không có gì của chính nó
mà các pháp sắc v.v...cũng đều không có gì của chính nó,
nên gọi là hư không Ba la mật.
KINH:
Bạch đức Thế Tôn, vô thường Ba la mật là Bát nhã ba la
mật? - Phật dạy: Vì hết thảy pháp bị phá hoại.
Bạch
đức Thế Tôn, khổ Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì hết thảy pháp có tướng bức não.
Bạch
đức Thế Tôn, vô ngã Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì hết thảy pháp không chấp trước.
Bạch
đức Thế Tôn, "Không" Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì hết thảy pháp chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô tướng Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì hết thảy pháp chẳng sanh.
Bạch
đức Thế Tôn, nội không Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì nội không chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, nội ngoại không Ba la mật là Bát nhã ba la
mật? - Phật dạy: Vì nội ngoại pháp chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, không không Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì pháp không không chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, đại không Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì hết thảy pháp chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, đệ nhất nghĩa không Ba la mật là Bát nhã
ba la mật? - Phật dạy: Vì Niết bàn chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, hữu vi không Ba la mật, là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì pháp hữu vi chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô vi không Ba la mật, là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì pháp vô vi chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, rốt ráo không Ba la mật, là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì các pháp rốt ráo chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô thỉ không Ba la mật, là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì các pháp vô thỉ chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, tán không Ba la mật, là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì pháp phân tán chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, tánh không Ba la mật, là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì pháp hữu vi vô vi chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, các pháp không Ba la mật, là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì hết thảy pháp chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, tự tướng không Ba la mật là Bát nhã ba la
mật? - Phật dạy: Vì tự tướng xa lìa.
Bạch
đức Thế Tôn, vô pháp không Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì vô pháp chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, hữu pháp không Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì hữu pháp chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô pháp hữu pháp không Ba la mật, là Bát nhã
ba la mật? - Phật dạy: Vì vô pháp hữu pháp chẳng thể có
được.
Bạch
đức Thế Tôn, niệm xứ Ba la mật là Bát nhã ba la mật? -
Phật dạy: Vì thân, thọ, tâm, pháp chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, Như ý túc Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì bốn Như ý túc chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, căn Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì năm căn chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, lực Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì năm lực chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, giác Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì bảy giác phần chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, đạo Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì tám Thánh đạo phần chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô tác Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì vô tác chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, "Không" Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy:
Vì không tướng chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, vô tướng Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì tướng tịch diệt chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, bội xả Ba la mật là Bát nhã ba la mật? -
Phật dạy: Vì tám bội xã chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, định Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì chín thứ đệ định chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, Thí Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì xan than chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, giới Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy; Vì phá giới chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, nhẫn Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì nhẫn không nhẫn nhục chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, tấn Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì giải đãi tinh tấn chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, thiền Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì định và loạn chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, Bát nhã ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì si và tuệ chẳng thể có được.
Bạch
đức Thế Tôn, mười lực Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì đạt hết thảy pháp không thể khuất phục.
Bạch
đức Thế Tôn, bốn Ðiều không sợ Ba la mật là Bát nhã
ba la mật? - Phật dạy: Vì hết thảy pháp không có chướng
ngại.
Bạch
đức Thế Tôn, Phật pháp Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì vượt qua hết thảy pháp Thanh văn, Duyên giác.
Bạch
đức Thế Tôn, nói như thật Ba la mật là Bát nhã ba la mật?
- Phật dạy: Vì tất cả ngữ ngôn đều như thật.
Bạch
đức Thế Tôn, tự nhiên Ba la mật là Bát nhã ba la mật? -
Phật dạy: Vì đối hết thảy pháp tự tại.
Bạch
đức Thế Tôn, Phật Ba la mật là Bát nhã ba la mật? - Phật
dạy: Vì biết hết thảy pháp, hết thảy chủng (trong Kinh
văn, cuối mỗi lời Phật dạy đều có ghi số thứ tự chữ
nhỏ, từ 1 đến 90 câu. 90 câu này theo văn trong Ðại Bát
Nhã đều ghi ngược lại như: Bạch đức Thế Tôn! Bát nhã
ba la mật như vậy là tự nhiên Ba la mật. Phật dạy: Vì đối
hết thảy pháp tự nhiên chuyển nói. Bạch đức Thế Tôn!
Bát nhã ba la mật như vậy là Chánh đẳng giác Ba la mật.
Phật dạy: Vì đối với hết thảy pháp hiện chứng được
vậy. - N.D).
LUẬN:
Trong Bát nhã ba la mật có thánh hạnh quán vô thường nên
gọi là vô thường Ba la mật. Phật dạy: Chẳng phải chỉ
trong Bát nhã có vô thường, mà vì quán hết thảy pháp vô
thường, nên gọi là vô thường Ba la mật.
Hỏi:
Từ trước lại đây nói Bát nhã ba la mật pháp tánh thường
trú sao nay nói vô thường?
Ðáp:
Bát nhã ba la mật là trí tuệ, quán pháp do nhân duyên hòa
hợp sanh, là pháp hữu vi nên vô thường, còn chỗ sở duyên
của Bát nhã ba la mâït là Như, pháp tánh, thật tế, là pháp
vô vi nên thường. Tu bồ đề nói hữu vi Bát nhã nên nói
Bát nhã vô thường.
Hỏi:
Nếu như vậy cớ sao Phật nói hết thảy pháp tận là phá
hoại vô thường; pháp vô vi không có tướng phá hoại?
Ðáp:
hết thảy pháp gọi là sáu căn sáu trần, trong ngoài, đều
là pháp tạo tác. Pháp tạo tác nên chắc chắn quy về tướng
phá hoại; lìa pháp hữu vi không có pháp vô vi, cũng lại không
có tướng pháp, chỉ nhân nơi tướng pháp hữu vi nên nói
pháp vô vi chẳng sanh chẳng diệt.
* Lại
nữa, tất cả pháp hữu vi có hai loại: 1. Danh tự tất cả.
2. Thật tất cả. Tất cả pháp hữu vi phá hoại nên gọi
là tất cả vô thường, khổ v.v... cho đến vô pháp hữu pháp
không cũng như vậy.
Tu
bồ đề nói: Tất cả pháp tướng để tán thán Bát nhã,
Phật nêu tất cả pháp ra đáp. Chánh quán bốn thứ thân,
thọ, thân, pháp từ bốn niệm xứ phát sanh. Bốn niệm xứ
là cửa ban đầu của bốn đế; bốn đế là cửa ban đầu
của bốn quả Sa môn. Phân biệt quả A la hán, tức là ba thừa.
Bốn niệm xứ ở trong Bát nhã ba la mật mỗi mỗi nói rộng.
Phật dạy: Chỗ bốn pháp duyên ấy từ xưa lại đây đều
chẳng thể có được, nên gọi là niệm xứ Ba la mật. Từ
bốn Chánh cần cho đến Bát nhã ba la mật cũng như vậy.
Hỏi:
Có thể lấy các pháp khác tán thán Bát nhã, cớ sao lại lấy
Bát nhã tán thán Bát nhã?
Ðáp:
Có hai thứ Bát nhã: 1. Bát nhã thường trú riêng biệt. 2.
Ði chung với năm Ba la mật kia có dùng Bát nhã ba la mật. Tu
bồ đề tán thán Bát nhã ba la mật hữu dụng, có thể phá
vô minh tối tăm, có thể cho trí tuệ chân thật, thế nên
Phật nói trong thường trú Bát nhã ba la mật, si và tuệ chẳng
thể có được. Bồ tát tu Bát nhã ba la mật ấy, ban đầu
được Bồ tát mười lực, sau được Phật mười lực. Thế
nên nói là mười lực Ba la mật. Phật dạy: Chẳng phải chỉ
mười lực là không thể phá hoại, không thể khuất phục,
mà thật tướng tất cả pháp, cũng không thể phá hoại, không
thể khuất phục. Ý Phật vì chúng sanh nên nói mười lực,
chứ Phật lực vô lượng vô biên. Giống như Phật lực, thật
tướng tất cả pháp cũng như vậy, không thể khuất phục,
nên gọi là mười lực Ba la mật. Bồ tát được lực Bát
nhã ba la mật ấy, có thể ở trước Phật nói pháp luận
nghị, huống gì ở chỗ khác; còn chẳng sợ Ma vương, huống
gì ngoại đạo, nên gọi là Ba la mật không sợ.
Phật
dạy: Ðạo chủng trí không thối mất; đạo chủng trí gọi
là pháp nhãn, biết tất cả chúng sanh dùng đạo gì mà được
niết bàn. Bát nhã ba la mật tướng thường tịch diệt không
thể nói, Bồ tát ấy dùng đạo chủng trí, để dẫn đạo
chúng sanh, nên ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử.
Ðạo chủng trí được tăng ích nên không thối mất, không
sợ, không tự kiêu mạn cho ta có pháp ấy, nên gọi là Ba
la mật không sợ.
Tu
bồ đề theo Phật nghe pháp, tính không sợ càng sâu, nên tán
thán Bát nhã ba la mật là vô ngại Ba la mật. Phật dạy: Chẳng
phải chỉ có bốn vô ngại, mà tất cả pháp vào như như,
pháp tánh, thật tế, đều là tướng vô ngại. Bồ tát nhân
nơi Bát nhã ba la mật hay chứa nhóm mười lực, bốn điều
không sợ, bốn trí vô ngại, đại từ đại bi các Phật pháp,
nên gọi là Phật pháp Ba la mật.
Phật
dạy: Pháp Thanh văn hơn pháp phàm phu, pháp Bích chi Phật hơn
pháp Thanh văn, Phật pháp tối thắng hơn hết thảy pháp. Như
trong tất cả sắc, hư không là rộng lớn. Phật pháp tối
thắng không chi sánh kịp, không thể ví dụ, vượt quá tất
cả pháp, nên gọi là Phật pháp Ba la mật. Như quá khứ Phật
tu sáu Ba la mật được tướng Như của các pháp, Phật nay
cũng như vậy, tu sáu Ba la mật được Phật đạo, nên gọi
là Ða đà a già độ (Tathagatatha) Ða đà a già độ là Như
Lai; hoặc gọi là Nói như thật, hoặc gọi là Biết như thật.
Trong
đây Phật dạy chẳng phải chỉ Phật nói, gọi là nói như
thật, mà tất cả ngôn ngữ đều là như thật, nên gọi là
nói như thật Ba la mật.
Bát
nhã ba la mật ấy đầy đủ, thân sau tự nhiên làm Phật,
nên gọi là Ba la mật tự nhiên. Tự nhiên gọi là Phật, vì
Phật nói nên gọi là tự nhiên Ba la mật.
* Lại
nữa, Bát nhã ba la mật thật tướng tự nhiên, chẳng do cái
khác làm ra, nên gọi là tự nhiên.
Phật
dạy: Phật được lực tự tại đối với các pháp nên gọi
là tự nhiên Ba la mật.
Ðầy
đủ mười địa, được mười lực, bốn điều không sợ,
chuyển xe pháp, đánh trống pháp, giác tĩnh chúng sanh đang
ngủ trong vô minh, nên gọi là Phật Ba la mật.
Phật,
Trung Hoa dịch là người giác ngộ, người biết, sao vậy?
Là chánh tri hết thảy pháp, hết thảy chủng (hành tướng)
nên gọi là giác. Tất cả pháp là năm uẩn, mười hai nhập,
mười tám giới.
* lại
nữa, tất cả pháp là kinh sách ngoại đạo, kỷ thuật, thiền
định v.v... lược nói có 5 thứ: 1. Pháp phàm phu, 2. Pháp Thanhvăn,
3. Pháp Bích chi Phật, 4. Pháp Bồ tát, 5. Pháp Phật.
Phật,
lược biết có 2 tướng: là tổng tướng và biệt tướng.
Lại lấy tướng phân biệt, tướng rốt ráo không mà biết
rộng tất cả chủng, tất cả chủng là vô lượng vô biên
pháp môn. Vì việc ấy nên gọi là Phật Ba la mật, chứ không
vì lấy Phật thân gọi là Phật Ba la mật, mà chỉ lấy trí
nhất thiết chủng.
(Hết
cuốn 65 theo bản Hán)