Tập
4
Cuốn
69
KINH:
Lại nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp có lòng tin có căn
lành, muốn chép, thọ trì cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã
ba la mật thâm sâu, song người nghe pháp không có lòng tin,
phá giới, làm việc ác, không muốn chép, thọ trì cho đến
nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết ấy là
Ma sự.
Tu
bồ đề, người nghe pháp có lòng tin, có căn lành, mà người
thuyết pháp, không có lòng tin, phá giới, làm việc ác, hai
bên không hòa hợp; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp, có thể bố thí tất
cả, tâm không lẫn tiếc, song người nghe pháp tâm lẫn tiếc
không thí xả; nên biết ấy là Ma sự. Tu bồ đề, người
nghe pháp bố thí được tất cả, tâm không lẫn tiếc, còn
người thuyết pháp lẫn pháp không bố thí, hai bên không hòa
hợp, không được chép, thọ trì, cho đến nhớ nghĩ đúng
Bát nhã ba la mật; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người nghe pháp muốn cúng dường người
thuyết pháp y phục, ẩm thực, đồ nằm, thuốc men, vật cần
dùng nuôi sống, song người thuyết pháp không muốn thọ nhận;
nên biết ấy là Ma sự. Tu bồ đề, người thuyết pháp muốn
cung cấp người nghe pháp y phục, cho đến vật cần dùng để
nuôi sống, mà người nghe pháp không muốn thọ nhận, hai bên
không hòa hợp, nên không được chép thành, thọ trì cho đến
nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp dễ ngộ, song người
nghe pháp ám độn, nên biết ấy là Ma sự. Tu bồ đề, người
nghe pháp dễ ngộ, mà người thuyết pháp ám độn, hai bên
không hòa hợp, không được chép thành, thọ trì cho đến
nhớ nghĩ đúng được Bát nhã ba la mật; nên biết ấy là
Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp biết nghĩa thứ lớp
mười hai bộ kinh, đó là Tu đa la cho đến Ưu ba đề xá,
song người nghe pháp không biết nghĩa thứ lớp mười hai bộ
kinh, nên biết ấy là Ma sự. Hoặc người nghe pháp biết nghĩa
thứ lớp mười hai bộ kinh, mà người thuyết pháp không biết
nghĩa thứ lớp mười hai bộ kinh; hai bên không hòa hợp, nên
không được chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba
la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp thành tựu sáu ba la mật,
song người nghe pháp không thành tựu sáu ba la mật, hai bên
không hòa hợp, không được chép cho đến nhớ nghĩ đúng
Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự. Hoặc
người nghe pháp có sáu ba la mật, mà người thuyết pháp không
có sáu ba la mật, hai bên không hòa hợp, nên không được
chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm
sâu; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp đối với sáu ba la mật,
có sức phương tiện, song người nghe pháp đối với sáu ba
la mật không có sức phương tiện, hai bên không hòa hợp,
không được chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba
la mật; nên biết ấy là Ma sự. Hoặc người nghe pháp đối
với sáu ba la mật có sức phương tiện, mà người thuyết
pháp đối với sáu ba la mật không có sức phương tiện, hai
bên không hòa hợp, nên không được chép thành cho đến nhớ
nghĩ đúng Bát nhã ba la mật; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp được Ðà la ni, song
người nghe pháp không có Ðà la ni, hai bên không hòa hợp,
không được chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba
la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự. Hoặc người nghe
pháp được Ðà la ni, mà người thuyết pháp không có Ðà
la ni, hai bên không hòa hợp, nên không được chép thành cho
đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết
ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp muốn khiến chép thọ
trì, đọc tụng cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật;
song người nghe pháp không muốn chép, thọ trì, đọc tụng
cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật, hai bên không hòa
hợp, nên không được chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng
Bát nhã ba la mật; nên biết ấy là Ma sự. Hoặc người nghe
pháp muốn chép, đọc tụng cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã
ba la mật, mà người thuyết pháp không muốn khiến chép Bát
nhã ba la mật, cho đến không muốn khiến giảng thuyết, hai
bên không hòa hợp, nên không được chép thành cho đến nhớ
nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma
sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp lìa tham dục, sân nhuế,
ngủ nghỉ, giao động, hối hận, nghi ngờ, song người thuyết
pháp thì tham dục, sân nhuế, ngủ nghỉ, giao động, hối hận,
nghi ngờ; nên biết ấy là Ma sự. Hoặc người nghe pháp lìa
tham dục, sân nhuế, ngủ nghỉ, giao động, hối hận, nghi
ngờ, mà người thuyết pháp thì tham dục, sân nhuế, ngủ
nghỉ, giao động, hối hận, nghi ngờ, hai bên không hòa hợp,
nên không được chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã
ba la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, trong khi chép cho đến nhớ nghĩ đúng Bát
nhã ba la mật thâm sâu ấy, hoặc có người đi đến nói việc
khổ thống trong ba đường ác, và khuyên sao người không ở
nơi thân này dứt khổ vào Niết bàn, dùng Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác ấy làm gì, hai bên không hòa hợp, nên không
được chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật;
nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, trong khi chép, thọ trì, đọc tụng, thuyết
giảng, nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu ấy, hoặc
có người đi đến tán thán các cõi trời Tứ Thiên vương,
trời Ba Mười Ba, trời Dạ ma, trời Ðâu suất đà, trời
Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại, trời Phạm thiên cho đến
trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng; tán thán Sơ thiền cho
đến Phi hữu tưởng Phi vô tưởng định, nói rằng: Này thiện
nam tử, dầu ở trong cõi Dục hưởng thọ khoái lạc năm dục,
ở trong cõi Sắc hưởng thọ cái vui do thiền định phát sanh,
ở trong cõi Vô sắc hưởng thọ cái vui tịch diệt, các việc
ấy cũng vô thường, khổ, không, vô ngã, là tướng biến
đổi, tướng diệt tận, tướng tan rã, tướng ly tán, tướng
hoại diệt, sao người không do nơi thân này thủ chứng quả
Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, đạo
Bích chi Phật? Cần gì chịu đủ thứ khổ trong thế gian sanh
tử để cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm gì? Hai
bên không hòa hợp, nên không được chép thành Bát nhã ba
la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp, sống một mình không
hệ lụy, tự tại vô ngại, song người nghe pháp nuôi dưỡng
nhiều người, hai bên không hòa hợp, nên không được chép
thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu;
nên biết ấy là Ma sự. Hoặc người nghe pháp sống một mình
không hệ lụy, tự tại vô ngại, mà người thuyết pháp lại
nuôi nhiều người, hai bên không hòa hợp, nên không chép thành
cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết
ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp nói như vầy: Ngươi
theo được ý ta, ta sẽ cho ngươi Bát nhã ba la mật khiến
chép, đọc tụng, thuyết giảng, nhớ nghĩ đúng, nếu không
theo ý ta, thời ta không cho ngươi, hai bên không hòa hợp, nên
không được chép thành, đọc tụng, thuyết giảng, nhớ nghĩ
đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết ấy Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người nghe pháp muốn được theo như ý
người thuyết pháp, mà người thuyết pháp không chịu, hai
bên không hòa hợp, nên không được chép thành cho đến nhớ
nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma
sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp muốn được tài vật
lợi dưỡng, nên đưa cho kinh Bát nhã ba la mật bảo chép,
thọ trì cho đến nhớ nghĩ đúng, song người nghe pháp vì
lý do ấy nên không muốn làm theo, hai bên không hòa hợp, nên
không được chép cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật
thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự. Hoặc người nghe pháp vì
tài vật lợi dưỡng, nên muốn chép, đọc tụng, thuyết giảng
Bát nhã ba la mật thâm sâu; còn người thuyết pháp vì lý
do ấy nên không muốn thuyết cho, hai bên không hòa hợp, nên
không đưọc chép thành, đọc tụng thuyết giảng Bát nhã
ba la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp muốn đi đến chỗ nguy
hiểm tánh mạng ở phương xa, song người nghe pháp không muốn
đi theo, hai bên không hòa hợp, nên không được chép thành
cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết
ấy là Ma sự. Hoặc người nghe pháp muốn đi đến chỗ nguy
hiểm tánh mạng ở phương xa, màngười thuyết pháp không
muốn đi, hai bên không hòa hợp, nên không được chép thành
cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết
ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp, muốn đi đến chỗ
đói khát, gạo hiếm, nước không, ở phương xa, song người
nghe pháp không muốn đi theo, hai bên không hòa hợp, nên không
được chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật
thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự. Hoặc người nghe pháp muốn
đi đến chỗ đói khát, gạo hiếm, nước không, ở phương
xa, còn người thuyết pháp không muốn đi, hai bên không hòa
hợp, nên không được chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng
Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp muốn đi đến chỗ giàu
vui ở phương xa, người nghe pháp muốn đi theo, người thuyết
pháp nói: Này thiện nam tử, ngươi vì lợi dưỡng mà đi theo
ta, ngươi hảy khéo tự suy nghĩ, hoặc được hoặc không được,
đừng để hối hận về sau. Vì chút ít lý do đó hai bên
không hòa hợp, người nghe pháp nghe nói như vậy tâm sanh chán,
nghĩ rằng ấy là đối nghịch không muốn cho ta đi theo, bèn
ngưng không đi; hai bên không hoà họp, nên không được chép
thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu;
nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp muốn đi qua chỗ đồng
trống, chỗ giặc đáng sợ, chỗ hạng Chiên đà la đáng sợ,
chỗ thợ săn, thú dữ, rắn độc đáng sợ, người nghe pháp
cũng muốn đi theo, người thuyết pháp nói: Này thiện nam tử,
ngươi cần gì đi đếùn đó, trong đó có nhiều điều đáng
sợ, giặc cho đến rắn độc đáng sợ, người nghe pháp nghe
nói như vậy, biết người kia không muốn cho chép, thọ trì
cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật, tâm chán không
muốn đi theo. Vì chút ít lý do đó, hai bên không hòa hợp;
nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, người thuyết pháp có nhiều Ðàn việt,
thường đến thăm hỏi, vì nhân duyên ấy, nói với người
nghe pháp rằng: Ta có nhân duyên, ngươi nên đi nơi khác. Người
nghe pháp biết ý kia bèn ngừng, hai bên không hòa hợp, nên
không được chép thành cho đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba
la mật thâm sâu; nên biết ấy là Ma sự.
LUẬN:
Hỏi: Có người chép, thọ trì, đọc tụng Bát nhã ba la mật,
nhưng không tu hành được mà phạm giới, hoặc có việc như
vậy, nếu không tin thì tại sao lại đi theo họ thọ pháp?
Ðáp:
người ấy không tin Bát nhã ba la mật nói về rốt ráo không,
song vì cầu danh nên đọc tụng, giảng rộng, giống như đệ
tử Phật không tin kinh sách ngoại đạo mà cũng giảng nói
cho người khác.
* Lại
nữa, không có tâm tin vui sâu xa về Bát nhãnên gọi là không
tin, chứ chẳng phải hoàn toàn không tin.
Hỏi:
Theo pháp thì đệ tử nên cúng dường thầy, cung phụng các
điều có được, vì sao lại nói thầy không thể bố thí
được.
Ðáp:
Ðệ tử nghĩ rằng: Thầy có vật ít mà không thí xả đưỡc,
huống gì xả thân, tuy tán thán việc bố thí, đó chỉ là
hư dối, thế nên gọi là không hòa hợïp. Ðệ tử muốn
lấy bốn việc cúng dường thầy, và thầy ít muốn biết
đủ nên không nhận, hoặc hổ thẹn giống như buôn bán pháp
nên không nhận. Hoặc thầy biết nhiều hiểu nhiều không
thiếu thứ gì, có thể cung cấp cho đệ tử song đệ tử
lại tự nghĩ rằng: Người ta sẽ cho mình tham cơm áo của
thầy nên đến thọ pháp, hoặc tự cho mình đức mỏng không
tiêu hóa nổi vật của thầy cho. Tâm ấy tuy tốt, mà không
thành Bát nhã, đó cũng là Ma sự.
Thầy
độn căn, là thầy tụng kinh, chẳng phải thầy hiểu nghĩa;
tụng mười hai bộ kinh, cũng là thầy tụng kinh.
* Lại
nữa, vị thầy có sáu ba la mật nghĩ rằng: Ðệ tử là người
có tội, độn căn, không hành được sáu ba la mật, say đắm
việc thế gian, chỉ có danh đệ tử, không có sự thật. Vị
thầy ấy không biết rằng đệ tử sau khi nghe Bát nhã được
việc lớn, chỉ vì hiện tiền không có sáu ba la mật, mà
không chịu giáo hóa. Trái lại đệ tử cũng nghĩ rằng lý
nghĩa sáu ba la mật, ta cũng tu hành được, còn thầy chỉ
nói miệng không thể tu hành, mà không biết rằng thầy gặp
nhân duyên chuyển đổi thân, sẽ thành đại sự; lại không
biết rằng thầy có sự lợi ích về đọc tụng, vì thế
nên hai bên không hòa hợp.
* Lại
nữa, đệ tử tin tưởng đắm trước thiện pháp, còn thầy
không đắm pháp, dùng phương tiện hành sáu ba la mật, đệ
tử bảo vì thầy không có tâm ưa vui sâu xa sáu ba la mật,
vì sao biết? Vì có khi thầy tán thán sáu ba la mật, có khi
vì dứt tâm chấp trước của người mà phá tán thán sáu
ba la mật. Trái lại, đệ tử có phương tiện (trí tuệ) cũng
như vậy.
Hỏi:
nếu đệ tử được Ðà la ni, mà thầy không được Ðà la
ni, vì sao làm thầy?
Ðáp:
Ðà la ni có nhiều thứ: Có đệ tử được văn trì Ðà la
ni (thứ thần chú nghe đâu nhớ đó - N.D) thọ trì đọc tụng,
mà không hiểu nghĩa, vị thầy có thể giải thuyết cho. Hoặc
đệ tử có được Ðà la ni hiểu nghĩa thật tướng các pháp,
mà không thể thứ lớp đọc tụng. Hoặc vị thầy đư?c Ðà
la ni văn trì, mà chưa có tâm đại bi, nên khinh thị đệ tử,
không thể dạy đạo.
Hỏi:
Ðệ tử muốn thọ trì Bát nhã ba la mật, mà thầy không dạy
cho, hoặc có việc như vậy, cớ sao thầy muốn dạy pháp cho
mà đệ tử không nhận?
Ðáp:
Như trước đáp, vì đệ tử thấy thầy có lỗi, nên không
muốn lãnh thọ pháp! Lại vị thầy muốn giáo hóa người
trước mặt làm đệ tử, mà người ấy hoặc vì có tà kiến,
các điều ác, nên không chịu thọ giáo.
* Lại
nữa, sở hành của hết thảy chúng sanh nếu đồng nhau thời
dễ hòa hợp, còn nếu một người lìa năm dục một người
không lìa nên khinh nhau, khinh nhau nên không hòa hợp. Tất cả
chúng sanh đều như vậy.
* Lại
nữa, trong khi chép tụng, nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật,
một người quở trách ba ác đạo, một người tán thán chư
thiên. Việc này như trước đã đáp, tuy không thể phá hoàn
toàn thiện hạnh người kia, chỉ phá hoại Ðại thừa của
người kia mà trao pháp Tiểu thừa.
* Lại
nữa, thầy ít muốn biết đủ, không ưa tụ tập đông người,
còn đệ tử thì có đông người. Vị thầy nghĩ rằng: Ðệ
tử tuy tốt có thể độ được, mà nuôi đồ chúng nhiều.
Trái lại thầy cứ đắm sâu vào thiện pháp, xa lìa đệ tử,
đệ tử sống một mình cũng như vậy.
* Lại
nữa, ý người thuyết pháp là nếu đệ tử tu hành theo ý
ta, hoặc đi hoặc ở, tùy lúc hỏi han v.v... còn người nghe
pháp chỉ muốn cầu cái lợi của giáo pháp, không thể hành
xử việc chúng, thế là không hòa hợp. Hoặc có khi người
nghe pháp theo ý tới lui hỏi han v.v... mà người thuyết pháp
không cho, nghĩ rằng: Cần gì việc ấy, tổn công đức ta;
ý người nghe pháp cho đó là khinh thị, không hoan hỷ với
nhau được. Thế là không hòa hợp.
* Lại
nữa, vị thầy vì lợi dưỡng nên muốn dạy pháp cho, tâm
đệ tử thì không kính thầy, tại sao thầy lại muốn bán
kinh pháp. Trái lại, đệ tử cũng như vậy, vì tài vật lợi
dưỡng nên đọc tụng Bát nhã, chứ chẳng phải tâm thanh
tịnh. Thầy biết tâm đệ tử như thế, thời khinh bạc không
chịu dạy cho. Thế nên không hòa hợp.
* Lại
nữa, vị thầy muốn đi đến phương xa, trải qua đường
hiểm nạn, đệ tử vì tiếc thân mạng không đi theo, nghĩ
rằng: Ta có thân vậy sau mới cầu pháp. Trái lại đệ tử
muốn đi cũng như vậy, muốn đi đến chỗ đói khát, gạo
hiếm, nước không, cũng như vậy.
* Lại
nữa, vị thầy muốn đi đến chỗ giàu vui, đệ tử không
muốn đi theo thầy, mà thầy hoặc hổ thẹn không muốn đem
đi, hoặc đệ tử quen thói vui chơi không thể laàu7841?n lội
đi xa, hoặc đường sá xa thẳm, hoặc thầy biết rõ nưóc
kia, còn đệ tử không hiểu mà cho thầy khen tốt nước kia,
chứ chưa chắc có thật như vậy, hoặc nghĩ rằng: Thầy ham
ăn uống nên đi. Do các nhân duyên như vậy, thầy nói với
đệ tử như người nghe nói những điều ở nước kia, không
hẳn có đủ nhân duyên như vậy, hãy tự suy tính, nếu muốn
đi thì đi đừng do tài vật giàu vui mà đi, khi đến nước
kia không được vừa ý, chớ thán oán. Thầy lại nói người
nghe nước kia giàu vui nên đi chứ không phải vì pháp, nên
không cần theo ta. Thầy có lòng tốt ngăn đệ tử, mà không
biết đó là nhân duyên phá hoại Bát nhã ba la mật, đệ tử
nghe lời ấy, kính sợ thầy nên không đáp được, liền ngưng
không đi, nên không hòa hợp.
Hoặc
thầy muốn đi đến nước xa, trong đó có đủ thứ cọp beo,
giặc, trộm, nói với đệ tử rằng: Chỗ kia có nhiều tai
nạn, người không cần đi, đệ tử nghe rồi ngưng không đi,
thầy chỉ biết ở kia có nạn sự nên ngăn đệ tử màkhông
biết đó là nhân duyên phá hoại Bát nhã ba la mật.
Hỏi:
Nếu ở nước xa có nhiều nạn, cớ sao thầy đi một mình?
Ðáp:
Có người trả lời, vì thầy sanh ra ở nước đó, đã chịu
quen ở nước đó, có thể tự phòng hộ được. Có người
nói: Ở nước kia có thầy giỏi, có kinh sách, nên không tiếc
thân mạng rồi đi, thầy nghĩ rằng thân ta chết một mình
thời có thể, chứ cớ sao làm oan uổng đệ tử, vì lẽ đó
nên ngăn không để đệ tử đi.
Hoặc
thầy có nhiều Ðàn việt quen biết, tâm sanh vui đắm, còn
đệ tử ít muốn biết đủ, không tham đắm Ðàn việt; thầy
thường tùy thời hỏi han Ðàn việt, còn đệ tử chỉ muốn
cầu pháp, không ưa việc ấy. Thầy biết ý, nói rằng: Ta
có nhân duyên, không nói pháp cho ngươi được. Ðệ tử nghe
rồi không vui, thầy quí caí duyên thế tục, không qui pháp
thế là không hòa hợp.
KINH:
Lại nữa, Tu bồ đề, ác Ma hiện làm thân tướng Tỳ kheo
đi đến, dùng phương tiện phá hoại Bát nhã ba la mật, không
để cho được chép thành, giữ gìn, đọc tụng, thuyết giảng,
nhớ nghĩ đúng.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng : Bạch đức Thế Tôn, vì nhân duyên
gì ác ma hiện làm hình tướngTỳ kheo, dùng phương tiện phá
hoại Bát-nhã ba-la-mật, không để cho được chéo thành, giữ
gìn, cho đến nhớ nghĩ đúng? Phật dạy: Aùc Ma hiện làm
thân tướng Tỳ kheo đi đến phá hoại tâm thiện nam tử thiện
nữ nhân, làm cho xa lìa Bát nhã ba la mật, nói rằng: "Như
kinh của ta nói tức Bát nhã ba la mật, còn kinh này chẳng
phải Bát nhã ba la mật".
Tu
bồ đề, trong đây khi các Tỳ jheo phá hoại, có vị Bồ tát
chưa được thọ ký liền roi vào nghi hoặc, rơi vào nghi hoac
nenân không chép kinh Bát nhã ba la mật thâm sâu; không thọ,
không trì cho đến không nhớ nghĩ thành Bát nhã ba la mật,
cho đến nhớ nghĩ đúng. Nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, ác Ma hiện làm thân tướng Tỳ kheo đi đến
chỗ Bồ tát nói rằng: Nếu Bồ tát tu hành Bát nhã nhã ba
la mật thì thật tế chỉ chứng được quả Tu đà hoàn, quả
Tư đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, được Bích chi Phật
đạo. Vì không hòa hợp như thế không đưọc chép thành cho
đến nhớ nghĩ đúng Bát nhã ba la mật thâm sâu; nên biết
ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đềà, trong khi nói Bát nhã ba la mật thâm sâu
ấy, có nhiều ma sự khởi lên, làm chướng nạn Bát nhã ba
la mật, ấy là ma sự. Bồ tát ma ha tát hãy gíac tri, giác
tri rồi xa lìa. Tu bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, những
gì là ma sự làm chướng nạn, Bồ tát nên phải giác tri,
giác tri rồi xa lìa?
Phật
dạy: Chính Bát nhã ba la mật tương tợ, là ma sự khởi lên,
Thiền ba la mật tương tợ, Giới ba la mật tương tợ, Tấn
ba la mật tương tợ, Nhẫn ba la mật tương tợ, Thí ba la mật
tương tợ, là ma sự khởi lên, mà Bồ tát nên phải giác
tri, giác tri rồi xa lìa.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, các kinh của hàng Thanh văn, Bích chi Phật,
phải hành trì, Bồ tát ma ha tát nên biết đó là ma sự, mà
xa lìa nó.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, nội không cho đến vô pháp hữu pháp không,
bốn niệm xứ cho đến tám thánh đạo phần, ba môn giải
thoát là không, vô tướng, vô tác, hành trì theo pháp này thì
chứng được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả A na hàm,
quả A la hán, đạo Bích chi Phật. Các kinh như vậy, ác ma
giả hiện làm hình tướng Tỳ kheo, khéo léo đem cho Bồ tát.
Thế là không hoà hợp, không được chép thành Bát nhã ba
la mật thâm sâu; cho đến nhớ nghĩ đúng, nên biết ấy là
Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, ác ma giả hiện làm thân Phật, sắc vàng
tỏa sáng một trượng, đi đến chỗ Bồ tát, Bồ tát ấy
vì tham đắm, nên bị hao tổn trí Tát bà nhã. Thế là không
hòa hợp, không được chép thành Bát nhã ba la mật, cho đến
nhớ nghĩ đúng; nên biết ấy là Ma sự.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, ác ma giả hiện làm thân Phật và Tỳ kheo
Tăng, đi đến trước Bồ tát, Bồ tát ấy khởi tâm tham đắm,
nghĩ rằng: Ta đời sau cũng sẽ làm Tỳ kheo Tăng, như vậy
để thuyết pháp cho người; Bồ tát tham đắm thân ma nên
bị hao tổn trí Tát bà nhã, không được chép thành Báøt
nhã ba la mật cho đến nhớ nghĩ đúng; nên biết ấy là Ma
sự.
Lại
nữa, Tu bồ đề, Ác ma hóa làm vô số trăm ngàn vạn ức
Bồ tát tu hành Thí ba la mật, Giới ba la mật, Nhẫn ba la mật,
Tấn ba la mật, Thiền ba la mật, Bát nhã ba la mật, rồi chỉ
bày cho thiện nam tử, thiện nữ nhân ấy, thiện nam tử thiện
nữa nhân ấy thấy rồi tham đắm nên bị hao tổn trí Tát
bà nhã, không được chép thành Bát nhã ba la mật cho đến
nhớ nghĩ đúng; nên biết ấy là ma sự, tại sao? Vì trong
Bát nhã ba la mật thâm sâu, không có sắc, không có thọ, tưởng,
hành, thức; cho đến không có Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác.
Tu
bồ đề, Bát nhã ba la mật, nếu không có sắc, cho đến không
có Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, thời trong ấy không
có Phật, không có Thanh văn, không có Bích chi Phật, không
có Bồ tát, tại sao. Vì hết thảy pháp tự tánh không vậy.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, thiện nam tử thiện nữ nhân, khi chép Bát
nhã ba la mật thâm sâu, thọ trì, đọc tụng, thuyết giảng,
nhớ nghĩ đúng, thường có nhiều chướng nạn nổi lên. Tu
bồ đề! Thí như trong cõi Diêm phù đề, những thứ trân
bảo, vàng, bạc, lưu ly, xà cừ, mã não, san hô v.v... thường
gặp nhiều nạn giặc. Như vậy, Tu bồ đề, thiện nam tử
thiện nữ nhân, trong khi chép Bát nhã ba la mật thâm sâu, cho
đến nhớ nghĩ đúng, thường gặp nhiều giặc chướng nạn
khởi lên.
tu
bồ đề bạch Phật rằng: Như vậy, bạch đức Thế Tôn!
Trong cõi Diêm phù đề các thứ trân bảo, vàng, bạc, lưu
ly, xà cừ, mã não, san hô v.v... thường có nhiều giặc nhiều
nạn. Bạch đức Thế Tôn! Thiện nam tử thiện nữ nhân cũng
như vậy, trong khi chép thành Bát nhã ba la mật thâm sâu cho
đến nhớ nghĩ đúng, thường có nhiều giặc nhiều nạn khởi
lên, có nhiều ma sự, tại sao? Ấy vì người ấy ngu si bị
ma sai sử, trong khi thiện nam tử thiện nữ nhân chép Bát nhã
ba la mật thâm sâu cho đến nhớ nghĩ đúng, nó phá hoại làm
cho xa lìa.
Bạch
đức Thế Tôn, người ngu si ấy rất ít trí tuệ, nên khi
chép Bát nhã ba la mật cho đến nhớ nghĩ đúng, Ma đến phá
hoại làm cho xa lìa. Người ngu si ấy tâm không ưa pháp lớn,
cho nên không chép Bát nhã ba la mật, không thọ, không đọc,
không tụng, không nhớ nghĩ đúng, không tu hành như nói, ma
cũng phá hoại người khác, khiến cho không được chép thành
Bát nhã ba la mật thâm sâu, cho đến tu hành như nói.
Phật
dạy: Như vậy, như vậy, Tu bồ đề! Thiện nam tử thiện
nữ nhân mới phát tâm Ðại thừa, bị ma sai sử, không trồng
căn lành, không cúng dường chư Phật, không theo thiện tri
thức, nên không được chép thành Bát nhã ba la mật cho đến
không nhớ nghĩ đúng, nên gây chướng nạn. Thiện nam tử
thiện nữ nhân ấy, ít trí ít tuệ, tâm không ưa Ðại thừa,
thế nên không thể chép kinh Bát nhã ba la mật thâm sâu, cho
đến nhớ nghĩ đúng, vì Ma sự khởi lên.
Tu
bồ đề, nếu thiện nam tử thiện nữ nhân khi chép được
kinh Bát nhã ba la mật thâm sâu, cho đến nhớ nghĩ đúng, thời
ma sự không khởi lên, còn có thể đầy đủ Thiền ba la mật
cho đến Thí ba la mật; có thể đầy đủ bốn niệm xứ cho
đến trí nhất thiết chủng.
Tu
bồ đề, nên biết nhờ Phật lực thiện nam tử thiện nữ
nhân có thể chép kinh Bát nhã ba la mật thâm sâu cho đến
nhớ nghĩ đúng, cũng có thể đầy đủ Thiền ba la mật cho
đến Thí ba la mật, nội không cho đến vô pháp hữu pháp
không, đầy đủ bốn niệm xứ cho đến tám Thánh đạo phần,
đầy đủ Phật lực cho đến trí nhất thiết chủng.
Tu
bồ đề, vô lượng vô biên vô số chư Phật trong mười phương
hiện tại, cũng hỗ trợ cho thiện nam tử thiện nữ nhân
ấy, khiến chép được thành Bát nhã ba la mật thâm sâu; cho
đến nhớ nghĩ đúng. Các Bồ tát ở địa vị bất thối
trong mười phương, cũng ủng hộ phò trợ cho thiện nam tử
thiện nữ nhân ấy, chép Bát nhã ba la mật cho đến nhớ nghĩ
đúng.
LUẬN:
Ma hiện làm hình tướng Sa môn, có oai đức long trọng, làm
cho người ta nghe theo lời nó, thường cầm kinh quyển cùng
với đông đủ chúng đệ tử, nói với các Tỳ kheo rằng:
Bát nhã ba la mật, như trong kinh của ta nói mới chân thật
Phật nói, còn Bát nhã ngươi nghe trước đó, không thật,
chẳng phải Phật nói, chê bai trước, mỗi mỗi tự tán thán
lời mình nói. Bồ tát độn căn tin thọ lời ấy sanh tàkiến;
còn Bồ tát lợi căn nhưng chưa được thọ ký thời sanh nghi,
vì sao? Vì nghĩ rốt ráo "không". vô tướng của Phật nói,
trí tuệ khó hiểu, nên không hòa hợp. Có khi ma nói với Bồ
tát rằng: "Bát nhã ba la mật, ba cửa giải thoát, nói rộng
chỉ là "Không". Ông thường tập theo cái không đó, trong ấy
chứng được, không chứng được. Làm sao làm Phật? Cách
làm Phật là trước phải tu bố thí, trì giới v.v... tu phước
đức về 32 tướng, đến khi ngồi đạo tràng, bấy giờ mới
dùng "không". Nghe nói vậy, Bồ tát hoặc tin hoặc nghi, lìa
bỏ Bát nhã ba la mật.
Hỏi:
Vì sao sáu ba la mật tương tợ, gọi là ma sự?
Ðáp:
Như đã nói trong đoạn nói về Bát nhã ba la mật tương tợ.
* Lại
nữa, đem tâm chấp trước mà tu hành Bát nhã ba la mật, ấy
gọi là tương tợ. Trong kinh Thanh văn, Bích chi Phật, không
có nói từ bi, không cầu Phật đạo, chỉ muốn tự độ,
tuy là việc tốt, nhưng phá đạo Bồ tát, nên gọi là Ma sự.
Hỏi:
Nếu Bồ tát thấy thân Phật, thời tín tâm thanh tịnh, tại
sao gọi là ma sự?
Ðáp:
Tất cả phiền não chấp thủ tướng, đều là Ma sự. Tiểu
Bồ tát chưa nên thấy Phật thân, ma hiện làm thân Phật rất
dẹp, tâm Bồ tát nhiễm đắm, vì cái thân đẹp ấy nên gắng
tu đạo, như người chưa lìa dục, thấy hình con gái trời,
tâm nhiễm đắm sâu, không thể hưởng được sự dục lạc
cõi trời, mê muội mà chết, thế nên Ma được mãn nguyện.
Bồ
tát tuy được chút ít tịnh tâm, mà bỏ mất trí tuệ thật
tướng, như người tay cầm ngọc báu nặng cân, có người
đem chút ít vàng đối phỉnh, liền bỏ ngọc báu có giá trị
lớn, mà nhận lấy vật hèn, ấy gọi là hao tổn. Ma hiện
làm thân Phật, dẫn các Tỳ kheo chỉ cho thấy nhiều vị Bồ
tát tu sáu ba la mật cũng như trên. Trong đây Phật nói lý
do hết thảy sắc pháp v.v... tự tánh không.
* Lại
nữa, chúng hội sanh nghi: "Bát nhã ba la mật là pháp vô thượng,
có lợi ích nhiều, tại sao có người ganh ghét'? Vì thế Phật
nói thí dụ: Như trong cõi Diêm phù đề vì có vàng bạc, nên
có nhiều oán nhiều giặc xuất hiện chớ không vì ngói đá.
Bát
nhã ba la mật là diệu bảo trong kho tàng Phật pháp, vi diệu,
thậm thâm, kẻ độn căn giải đãi không thể hiểu được,
thế nên hủy báng. Ma vì cho rằng Bát nhã ba la mật làm cho
nhiều chúng sanh vào Niết bàn nên Ma làm giặc oán. Tu bồ
đề, vui mừng được lãnh thọ lời Phật, thuật lại lời
Ngài dạy về kẻ hủy báng phá hoại Bát nhã.
Bạch
đức Thế Tôn, người cuồng si ấy, bị Ma sai sử, không được
tự tại, vì thiếu trí nên không thể thông đạt ý Phật.
Người ấy không có tâm lớn, không biết pháp vị trong sạch,
chỉ biết ba tướng là tham vị, dâm dục, sân nhuế như súc
sanh, làm chướng nạn đối với Bát nhã.
Phật
ấn khả lời Tu bồ đề nói, nói với Tu bồ đề rằng: Nếu
Bồ tát ma ha tát chép Bát nhã, cho đến nhớ nghĩ đúng, Ma
sự chẳng khởi lên, nên biết đó là nhờ sự ủng hộ của
Phật lực và chư Phật Bồ tát trong mười phương , mà có
thể đầy đủ năm ba la mật cho đến trí nhất thiết chủng,
và cũng là do Phật lực trong hiện tại ở mười phương,
vì sao? Vì Ma là chúa tể cõi Dục, đầy đủ phước đức
trí tuệ thế gian; Ma là căn bản sanh tử thế gian.
Chư
thiên cõi Sắc, tuy có tà kiến mà thường vào thiền định,
nên tâm nhu nhuyến, không thể có sự phá hoại gì; trong cõi
Vô sắc thì vô hình và tâm vi tế, không thể làm gì; còn
các trời dưới cõi Dục, không có thế lực nên không thể
phá hoại như vậy.
Ma
ở cõi Dục do nhân duyên của nghiệp lực đời trước và
chỗ ở mà cướp lấy việc làm của người khác.
Chúa
giặc gọi là Ma, ấy là tướng Ma vậy. (nghi là chữ Ma pháp,
tức cách thức của ma) phá hoại việc tốt.
Bồ
tát mới phát tâm, trí tuệ mỏng nên tiếc thân, nếu chư
Phật, Bồ tát mười phưong không ủng hộ, tá trợ thì không
thành được. Thế nên chư Phật, Bồ tát, chư thiên là những
vị phá hoại Ma sự, mà Bồ tát ấy hoặc biết hoặc không
biết, giống như giặc đi quanh thành, người lớn thủ hộ
mà trẻ con không hay biết.
Lược
nói Ma sự như vậy, nói rộng thời vô lượng vô biên. Nhưng
ý Phật chỉ muốn khiến hành giả thành đại sự Bát nhã,
thế cho nên thầy trò nên phải hòa hợp, không nên để ý
vào các việc ác.
GIẢI
THÍCH: PHẨM PHẬT MẪU THỨ 48.
KINH:
Phật bảo Tu bồ đề, thí như người mẹ có hoặc 5 con, 10
con, 20 con, 30 con, 40, con, 50 con, hoặc trăm hoặc ngàn con, khi
mẹ mắc bệnh, các người con siêng năng tìm cầu cứu chữa,
nghĩ rằng: Chúng ta làm sao làm cho mẹ được an, không có
việc hoạn nạn đau khổ, không vui, gió, rét, lạnh, nóng,
muỗi nhặng, rắn rết xâm phạm thân mẹ là điều lo lắng
của chúng ta. Các người con thường tìm đồ vui thích, cúng
dường mẹ nó, vì sao? Vì mẹ sanh nuôi chúng ta, chỉ bày cho
chúng ta các sự nghiệp thế gian.
Như
vậy, Tu bồ đề, Phật thường lấy Phật nhãn quán sát hộ
niệm Bát nhã ba la mật thâm sâu, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật
thâm sâu ấy, hay chỉ bày thật tướng thế gian; mười phương
hiện tại chư Phật cũng lấy Phật nhãn xem thấy Bát nhã
ba la mật thâm sâu ấy, vì sao. Vì Bát nhã ba la mật thâm sâu
ấy hay sanh ra chư Phật, hay cho chư Phật nhất thiết trí,
hay chỉ bày thật tướng thế gian. Vì thế nên chư Phật thường
lấy Phật nhãn xem Bát nhã ba la mật thâm sâu ấy.
Lại
vì Bát nhã ba la mật hay sanh ra Thiền ba la mật, cho đếnThí
ba la mật; hay sanh nội không cho đến vô pháp hữu pháp không;
hay sanh bốn niệm xứ cho đến tám Thánh đạo phần, hay sanh
mười lực cho đến trí nhất thiết chủng của Phật; Bát
nhã ba la mật hay sanh Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la
hán, Bích chi Phật, chư Phật.
Tu
bồ đề, chư Phật đã được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác, nay được, sẽ được, đều do nhân duyên Bát nhã ba
la mật thâm sâu nên được.
Tu
bồ đề, nếu, thiện nam tử thiện nữ nhân cầu Phật đạo,
mà chép kinh Bát nhã ba la mật thâm sâu, cho đến nhớ nghĩ
đúng, chư Phật thường lấy Phật nhãn xem thấy người ấy.
Tu
bồ đề, thiện nam tử thiện nữ nhân cầu Bồ tát đạo,
được mười phương Phật thường thủ hộ, làm cho không
thối thất Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Như Thế Tôn nói Bát nhã ba la mật
hay sanh ra chư Phật, hay chỉ bày tướng thế gian. Bạch đức
Thế Tôn, Bát nhã ba la mật làm sao hay sanh chư Phật, hay chỉ
bày thật tướng thế gian? làm sao chư Phật từ Bát nhã ba
la mật sanh ra? Làm sao chư Phật nói tướng thế gian?
Phật
bảo Tu bồ đề: Từ trong Bát nhã ba la mật ấy sanh ra mười
lực cho đến mười tám pháp không chung, trí nhất thiết chủng
của chư Phật.
Tu
bồ đề, do được các công đức ấy nên gọi là Phật, Bát
nhã ba la mật thâm sâu hay sanh chư Phật; chư Phật nói năm
uẩn là tướng thế gian.
Tu
bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, trong Bát nhã ba la mật
thâm sâu nói tướng năm uẩn thế nào? Trong Bát nhã ba la mật
thâm sâu chỉ bày năm uẩn thế nào?
Tu
bồ đề, trong Bát nhã ba la mật không nói, không chỉ bày
năm uẩn có phá, có hoại, có sanh có diệt, có nhơ có sạch,
có tăng có giảm, có vào có ra, không chỉ bày qúa khứ, vị
lai, hiện tại, vì sao? Vì tướng "không" không có phá không
có hoại, tướng "vô tướng" không có phá không có hoại,
tướng "vô tác" không có phá không có hoại. Chỉ bày như
vậy. Pháp không khởi, pháp không sanh, pháp không có gì của
chính nó, pháp tánh, không có tướng phá, không có tướng
hoại. Chỉ bày như vậy.
Như
vậy, Tu bồ đề, Phật nói trong Bát nhã ba la mật thâm sâu
chỉ bày thật tướng thế gian.
* Lại
nữa, Tu bồ đề! Chư Phật nhân nói Bát nhã ba la mật thâm
sâu mà biết rõ tâm sở hành của vô lượng vô biên vô số
chúng sanh.
Tu
bồ đề! Trong Bát nhã ba la mật thâm sâu ấy không có chúng
sanh, không có danh tự chúng sanh, không sắc không có danh tự
sắc; không có thọ, tưởng, hành, thức; không có danh tự
thọ, tưởng, hành, thức; không có mắt cho đến không có
ý, không có cái biết của mắt cho đến cái biết của ý;
không có cái xúc chạm của mắt cho đến cái xúc chạm của
ý; cho đến không có trí nhất thiết chủng, không có danh
tự trí nhất thiết chủng. Như vậy, Tu bồ đề, là Bát nhã
ba la mật thâm sâu chỉ bày thật tướng thế gian.
Tu
bồ đề, Bát nhã ba la mật thâm sâu ấy không chỉ bày sắc,
không chỉ bày thọ, tưởng, hành, thức; cho đến không chỉ
bày trí nhất thiết chủng, vì sao? Tu bồ đề, vì trong Bát
nhã ba la mật thâm sâu còn không có Bát nhã ba la mật huống
gì có sắc cho đến trí nhất thiết chủng.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, sở dĩ có danh tự số lượng chúng sanh,
hoặc có sắc,hoặc không có sắc, hoặc có tưởng, hoặc không
có tưởng, hoặc chẳng phải có tưởng chẳng phải không
có tưởng. Hoặc ở thế giới này, hoặc khắp thế giới
mười phương, các chúng sanh trong đó hoặc nhiếp tâm, hoặc
loạn tâm, chư Phật đều biết đúng như thật nhiếp tâm,
loạn tâm ấy.
Tu
bồ đề, làm sao Phật biết tướng nhiếp tâm loạn tâm của
chúng sanh? Do pháp tướng nên biết.
Dùng
pháp tướng gì nên biết?
Tu
bồ đề, trong pháp tướng ấy còn không có tướng pháp tướng,
huống gì có nhiếp tâm loạn tâm. Tu bồ đề, do pháp tướng
ấy, nên Phật biềt chúng sanh nhiếp tâm loạn tâm.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Phật biết chúng sanh nhiếp tâm loạn tâm,
làm sao biết? Vì tướng tận nên biết, vì tướng không nhiễm
ô nên biết, vì tướng tịch diệt nên biết, vì tướng đoạn
trừ nên biết, vì tướng tịch tịnh nên biết, vì tướng
xa lìa nên biết.
Như
vậy, Tu bồ đề, Phật nhân nơi Bát nhã ba la mật thâm sâu
nên biết chúng sanh nhiếp tâm loạn tâm.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Phật nhân nơi Bát nhã ba la mật nên chúng
sanh tâm ô nhiễm, như thật biết tâm ô nhiễm; tâm sân hận,
tâm ngu si, như thật biết tâm sân hận; tâm ngu si.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, làm sao Phật
biết chúng sanh tâm ô nhiễm, như thật biết tâm ô nhiễm?
Tâm sân hận, tâm ngu si, như thật biết tâm sân hận, tâm
ngu si?
Phật
bảo Tu bồ đề: Tướng như thật của tâm ô nhiễm thời
không có tướng tâm ô nhiễm, vì sao? Vì trong tướng như thật,
tâm và tâm số pháp (Tâm sở) không thể có được, huống
gì có được tâm ô nhiễm, tâm không ô nhiễm!
Tu
bồ đề, tướng như thật của tâm sân hận, tâm ngu si, thời
không có tướng sân hận, tướng ngu si, vì sao? Vì trong tướng
như thật, tâm và tâm số pháp còn không thể có được huống
gì có được tâm sân hận tâm không sân hận, tâm ngu si tâm
không ngu si.
Như
vậy, Tu bồ đề! Phật do Bát nhã Bát nhã ba la mật, nên chúng
sanh tâm ô nhiễm, như thật biết tâm ô nhiễm; tâm sân hận,
tâm ngu si, như thật biết tâm sân hận tâm ngu si.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Phật do Bát nhã ba la mật, nên chúng sanh
tâm không ô nhiễm, như thật biết tâm không ô nhiễm; tâm
không sân hận, tâm không ngu si, như thật biết tâm không sân
hận không ngu si.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, làm sao chúng
sanh tâm không ô nhiễm, như thật biết tâm không ô nhiễm;
tâm không sân hận, như thật biết tâm không sân hận; tâm
không ngu si, như thật biết tâm không ngu si?
Phật
bảo Tu bồ đề: Trong tướng tâm không ô nhiễm ấy, tướng
nhiễm ô tướng không ô nhiễm không thể có được, vì sao?
Tu bồ đề! Vì hai tâm không cùng có một lần.
Tu
bồ đề, Phật do Bát nhã ba la mật, nên chúng sanh tâm không
ô nhiễm, như thật biết tâm không ô nhiễm.
Tu
bồ đề, trong tướng tâm không sân hận, tâm không ngu si ấy,
tâm ngu si, tâm không ngu si không thể có được, vì sao? Vì
sao hai tâm không cùng có một lần.
Như
vậy, Tu bồ đề, Phật do Bát nhã ba la mật, nên chúng sanh
tâm rộng lớn, như thật biết tâm rộng lớn.
* Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, làm sao Phật
do nơi Bát nhã ba la mật, nên chúng sanh ấy có tâm rộng lớn,
như thật biết tâm rộng lớn?
Này
Tu bồ đề, Phật biết tâm tướng của chúng sanh không rộng
không hẹp, không tăng không giảm, không đến không đi; vì
tâm tướng lìa, nên tâm ấy không rộng cho đến không đến
không đi, vì sao? Vì tâm ấy không có tự tánh, vậy cái gì
rộng cái gì hẹp, cho đến không đến không đi cũng như vậy.
Tu
bồ đề, Phật do nơi Bát nhã ba la mật, nên chúng sanh có
tâm rộng, như thật biết tâm rộng.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Phật do Bát nhã ba la mật, nên chúng sanh
có tâm lớn, như thật biết tâm lớn.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, làm sao Phật
do Bát nhã ba la mật, nên chúng sanh ấy có tâm lớn, như thật
biết tâm lớn?
Phật
bảo Tu bồ đề: Phật do Bát nhã ba la mật, không thấy tâm
chúng sanh có tướng đến tướng đi, không thấy tâm chúng
sanh có tướng sanh, tướng diệt, tướng trụ, tướng khác,
vì sao? Vì các tâm ấy không có tự tánh; vậy cái gì đến,
cái gì đi, cái gì sanh, diệt, trụ, dị?
Như
vậy, Tu bồ đề, Phật do Bát nhã ba la mật nên chúng sanh
ấy có tâm lớn, như thật biết tâm lớn.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Phật do Bát nhã ba la mật nên chúng sanh
có tâm vô lượng, như thật biết tâm vô lượng.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, làm sao Phật
do Bát nhã ba la mật, nên chúng sanh có tâm vô lượng, như
thật biết tâm vô lượng?
Phật
bảo Tu bồ đề: Phật do Bát nhã ba la mật nên biết tâm chúng
sanh ấy, chẳng thấy trụ, chẳng thấy không trụ, vì sao?
Vì tướng tâm vô lượng ấy, không có nơi nương dựa, vậy
cái gì có chỗ trụ không trụ.
Như
vậy, Tu bồ đề, Phật do Bát nhã ba la mật, nên chúng sanh
có tâm vô lượng, như thật biết tâm vô lượng.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Phật do Bát nhã ba la mật, nên tâm của
chúng sanh không thể thấy, Phật như thật biết tâm không
thể thấy.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, làm sao Phật
do bát nhã ba la mật, nên tâm của chúng sanh không thể thấy,
Phật như thật biết tâm không thể thấy?
Phật
bảo Tu bồ đề: Tâm chúng sanh là vô tướng, Phật như thật
biết vô tướng, vì tự tướng "không" vậy.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Phật biết năm mắt không thể thấy tâm
chúng sanh.
Như
vậy, Tu bồ đề, Phật do Bát nhã ba la mật, nên tâm của
chúng sanh không thể thấy, Phật như thật biết tâm không
thể thấy.
LUẬN:
Ở trên nói mười phương chư Phật và đại Bồ tát ủng
hộ người viết chép đọc tụng cho đến nhớ nghĩ đúng
Bát nhã ba la mật, không để Ma tìm được thuận tiện. Thính
giả ở trong hội chúng nghe việc ấy, suy nghĩ rằng: Chư Phật
chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác tướng tịch diệt,
đối với các pháp và chúng sanh không có yêu ghét, vậy cớ
sao ủng hộ người viết chép, giữ gìn cho đến nhớ nghĩ
đúng? Vì thế nên Phật bảo Tu bồ đề,để nói thí dụ
như đứa con vì biết ân thủ hộ mẹ nó. Bát nhã là mẹ
của mười phương chư Phật, nếu có ma v.v... chướng nạn,
muốn phá hoại Bát nhã ba la mật, chư Phật tuy hành tướng
tịch diệt, nhưng vì thương xót chúng sanh, vì biết ân, nên
đem tâm từ bi thường niệm, dùng Phật nhãn thường thấy,
mà thủ hộ người tu hành Bát nhã, khiến được tăng ích,
không mất Phật đạo. Trong đây Phật nói nhân duyên: Các
hiền thánh và pháp của hiền thánh đều từ trong Bát nhã
sanh ra.
Hỏi:
Tu bồ đề hỏi bốn việc, cớ sao Phật đáp thẳng ba việc,
mà không nói chư Phật từ trong Bát nhã sanh ra?
Ðáp:
Bát nhã sanh ra chư Phật, chư Phật từ Bát nhã sanh, nghĩ a
không khác.
Có
người nói các pháp hòa hợp sanh ra Bát nhã ba la mật, Bát
nhã ba la mật sanh ra chư Phật. Có người tu hành Bát nhã ba
la mật và các hạnh khác mà được thành Phật. 1. Nói về
tác giả, 2. nói về pháp. Hoặc nói cành gãy làm chết người,
hoặc nói cây gãy làm chết người, hai việc ấy giống nhau,
cho nên không đáp riêng. Hoặc Bát nhã ba la mật sanh ra chư
Phật, tức là nói chư Phật từ Bát nhã sanh.
Hỏi:
Như các kinh khác nói vì năm uẩn bị phá hoại nên gọi là
thế gian, sao trong đây nói Bát nhã ba la mật giải bày năm
uẩn, không có tướng phá hoại sanh diệt?
Ðáp:
Kia là việc Tiểu thừa, đây là pháp Ðại thừa. Trong pháp
Tiểu thừa phần nhiều nói vô thường, trong pháp Ðại thừa
phần nhiều nói pháp không. Trong pháp Tiểu thừa trước nói
vô thường, sau nói pháp không, trong pháp Ðại thừa mở đầu
liền nói pháp không. Trong pháp Tiểu thừa nói vô thường
làm chúng sanh sợ hãi, Ðại thừa thời không như vậy, thế
nên không có phá hoại, sanh diệt. Trong đây Phật tự nói
nhân duyên: Không, vô tướng, vô tác, trọn không phá hoại.
Trong Bát nhã ba la mật chỉ bày tướng thế gian như vậy.
* Lại
nữa, năm uẩn gọi là chúng sanh thế gian, có hình sắc dễ
biết, còn tâm và tâm số pháp vô hình khó biết, thế nên
Phật nói với Tu bồ đề, tâm sở hành của vô lượng vô
số chúng sanh Phật đều biết. Trong Bát nhã tuy không có chúng
sanh và các pháp sắc cho đến trí nhất thiết chủng, song
do lực phương tiện Bát nhã mà biết được tâm sở hành
của chúng sanh, vì trong Bát nhã ba la mật rốt ráo không, nên
không chỉ bày sắc pháp cho đến trí nhất thiết chủng. Trong
đây Phật nói nhân duyên: trong Bát nhã ba la mật còn không
có tướng Bát nhã, huống gì có sắc pháp v.v...
* Lại
nữa, Bát nhã ba la mật chỉ bày tướng thế gian là tất cả
chúng sanh hoặc sắc hoặc vô sắc. Sắc là chúng sanh ở cõi
Dục cõi Sắc; Vô sắc là chúng sanh ở cõi Vô sắc, Hữu tưởng
là trừ cõi trời Vô tưởng và cõi trời Phi Hữu tưởng Phi
Vô tưởng, ngoài ra là hữu tưởng; vô tưởng là chúng sanh
ở cõi trời vô tưởng; Phi hữu tưởng phi vô tưởng là chúng
sanh ở cõi trời hữu đảnh.
Thế
giới ở đây là thế giới ba ngàn đại thiên. Khắp cả mười
phương là các vô lượng vô biên thế giới khác. Chúng sanh
ba đời trong sáu đường tại các thế giới ấy nhiếp tâm
hay loạn tâm, Phật đều biết rõ.
Tu
bồ đề hỏi xong, tâm nghi ngờ quái lạ: Chư Phật thường
ưa hành pháp "không" tịch tịnh, sao nay biết khắp vô thỉ
vô biên chúng sanh nhiếp tâm loạn tâm? tâm Phật chỉ có một
làm sao trong một lúc biết hết vô lượng tâm chúng sanh? Vì
vậy nên hỏi Phật vì sao biết? Phật đáp: Do trí tuệ biết
thật tướng các pháp nên biết chúng sanh nhiếp tâm, loạn
tâm.
Tu
bồ đề hỏi: Thế nào là thật tướng các pháp? Ðáp: Ðó
là rốt ráo không. Rốt ráo không ấy, tánh rốt ráo không
thể có được, huống gì nhiếp tâm loạn tâm.
Hỏi:
Trong thật tướng các pháp rốt ráo không, không có phân biệt
tâm và tâm số pháp, làm sao Phật biết được tâm ấy?
Ðáp:
Trong đây Phật tự nói: Tánh các pháp thật tướng cũng không
thể có được, lấy trí tuệ ấy biết chúng sanh nhiếp tâm
loạn tâm, vì sao? Vì nếu "tánh không' có thể có được,
nên mới có nạn vấn, còn "tánh không" không thể có được
làm sao nạn vấn, nay Phật đã vượt qua hết thảy pháp do
ức tưởng phân biệt hư vọng, an trú nơi thật tướng, nên
như thật biết tâm hết thảy chúng sanh, còn tâm chúng sanh
vì trú trong pháp hư vọng, nên không thể như thật biết các
chúng sanh khác. Trước lược nói biết tâm kẻ khác, sau phân
biệt chúng sanh nhiếp tâm loạn tâm, gọi là tâm có ba độc,
tâm không có ba độc, tâm rộng lớn vô lượng, không thể
thấy ra vào co duỗi v.v...
Tu
bồ đề hỏi từng việc, ban đầu đáp do thật tướng các
pháp nên biết nhiếp tâm loạn tâm, kế đáp do tận, do không
có ô nhiễm, do tịch diệt, đoạn tịch tịnh, ly tướng nên
biết.
Tận
là tuệ quán vô thường. Bồ tát tu hành tuệ tâm quán vô
thưòng ấy, lìa bỏ ô nhiễm của thế gian; dùng thế gian
đạo ngăn dứt kiết sử, nên gọi là Diệt; Dùng vô lậu
đạo để dứt, nên gọi là Ðoạn; đoạn các kiết sử xong,
quán Niết bàn tịch tịnh, lìa tướng. Do nhân duyên ấy được
thật tướng các pháp; do thật tướng các pháp, biết chúng
sanh nhiếp tâm loạn tâm, đều là thật tướng.
* Lại
nữa, tâm ấy niệm niệm sanh diệt, ở đời vị lai không
có nên không thể biết, hiện tại niệm niệm diệt, không
có lúc ngừng, nên không thể biết,người phàm phu thủ lấy
tướng mà phân biệt, đối với ba đời, ức tưởng vọng
thấy, cho là biết đưọc tâm niệm.
Quán
theo tận môn tức là rốt ráo không, rốt ráo không nên không
đắm trước gì, khi ấy đắc đạo. Biết thật tướng các
pháp, đối với các pháp không vọng tưởng phân biệt, thời
như thật biết tâm người khác.
Tâm
nhiễm ô là hết thảy pháp vào trong pháp tánh đều là thanh
tịnh, thế nên nói trong thật tướng của tâm ô nhiễm không
có tâm ô nhiễm, vì sao? Vì trong tánh như thật không có tâm,
không có tâm số pháp huống gì có tâm ô nhiễm. Tâm sân hận,
tâm ngu si cũng như vậy. Trong tướng tâm không có ô nhiễm,
trong ấy không có tướng trạng tâm ô nhiễm. Tâm ô nhiễm
từ xưa nay không có, nên cũng không có tâm chẳng ô nhiễm,
tâm không ô nhiễm là tướng tịch diệt, không có phân biệt
gì.
Trong
đây Phật tự nói nhân duyên, Tu bồ đề, vì hai tâm không
cùng có, theo pháp của chúng sanh, thời tâm tâm thứ lớp sanh,
khi tâm không ô nhiễm thời tâm không ô nhiễm, vì sao? Vì
tâm ô nhiễm quá khứ đã diệt, vị lai chưa có, hiện tại
không có, thời không có tâm ô nhiễm. Tâm ô nhiễm không có
nên cũng không có tâm chẳng ô nhiễm, vì pháp đối đãi không
có. Thế nên trong thật tướng không ô nhiễm, không có tâm
ô nhiễm, tâm chẳng ô nhiễm; không có tâm sân hận, không
có tâm ngu si cũng như vậy. Tâm rộng hẹp thêm bớt đều
là vì chúng sanh thủ tướng phân biệt. Phật không biết như
vậy, vì sao? Vì tâm ấy không sắc không hình, không có trú
xứ, niệm niệm diệt, thời không có rộng hẹp thêm bớt
sai khác.
Trong
đây Phật tự nói nhân duyên: Tánh và tướng của tâm không
có, nên rộng hẹp v.v... không thể có được. Nghĩa của rộng,
hẹp, thêm, bớt, lớn, nhỏ là như trong đoạn bốn tâm vô
lượng đã nói.
Tâm
vô lượng là tâm rộng tâm lớn tức là vô lượng. Lại duyên
vô lượng chúng sanh nên gọi là vô lượng. Lại duyên pháp
Niết bàn vô lượng nên gọi là vô lượng. Lại tâm tướng
không thể chấp thủ, nên gọi là vô lượng. Như có mắt
có sắc làm nhân duyên nên nhãn thức sanh, thức ấy không
ở mắt, không ở sắc, không ở chặng giữa, không ở đây
không ở kia, thế nên không có trú xứ. Nếu thật không có
trú xứ thời làm sao có thể tạo tác gì, hoặc tốt hoặc
xấu, như việc thấy trong mộng, không thể tìm tướng chắc
thật nhất định của nó. Tâm cũng như vậy, không có chỗ
nương tựa, nên không có tướng nhất định, nên gọi là
vô lượng. Rộng và lớn cũng theo nghĩa mà phân biệt như
vậy.
Hỏi:
Nếu biết tâm không thể thấy, sao Phật nói như thật, biết
tâm không thể thấy?
Ðáp:
Có người tọa thiền, ức tưởng phân biệt, thấy tâm ấy
như sợi dây xâu trong hạt ngọc trong sạch, quán sát trong
người với bộ xương trắng, thấy tâm thứ lớp nối nhau
sanh, có khi thấy tâm ở nơi thân, có khi thấy tâm ở nơi
cảnh, như ở vô biên thức xứ, chỉ thấy thức vô lượng
vô biên, để phá các chỗ hư vọng như vậy, nên Phật nói
như thật biết tâm chúng sanh, tâm chúng sanh tự tướng không,
nên nó là tướng vô tướng.
* Lại
nữa, Phật lấy năm mắt quán sát thấy tâm ấy không thể
có được. Mắt thịt, mắt trời duyên sắc nên không thấy.
Mắt tuệ duyên Niết bàn nên không thấy. Mắt pháp của kẻ
sơ học, phân biệt biết các pháp lành chẳng lành, có phiền
não không phiền não; mắt pháp ấy vào trong thật tướng thời
không phân biệt, như trước nói, hết thảy pháp không có
kẻ biết, không có kẻ thấy, thế nên không thể thấy. Mắt
Phật quán sát tướng tịch diệt nên không thể thấy. Phật
thấy tâm chúng sanh là như thật thấy, chứ không như người
phàm phu ức tưởng phân biệt thấy.
* Lại
nữa, năm mắt do nhân duyên hòa hợp sanh, đều là pháp bị
tạo tác, hư dối không thật. Phật không tin không dùng, thế
nên không dùng năm mắt thấy.
(Hết
cuốn 69 theo bản hán)