Tập
4
Cuốn
73
GIẢI
THÍCH: PHẨM CHẲNG THOÁI CHUYỂN THỨ 55
KINH:
Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đùc Thế Tôn, do hạnh
gì, tướng mạo gì, biết đó là Bồ tát chẳng thoái chuyển?
Phật
bảo Tu bồ đề: Nếu Bồ tát ma ha tát biết được địa
vị phàm phu, địa vị Thanh văn, địa vị Bích chi Phật, địa
vị Phật; các địa vị ấy trong tướng "như " không hai không
khác, cũng chẳng niệm, cũng chẳng phân biệt. Vào trong "như
" ấy nghe việc ấy vượt thẳng qua không nghi ngờ, vì sao?
Vì trong "như " ấy không có tướng một, tướng hai. Bồ tát
ấy cũng chẳng nói lời vô ích, chỉ nói lòi tương ưng với
lợi ích, không thấy người khác hay, hay dỡ. Tu bồ đề,
do hành, loại, tướng mạo ấy biết đó là Bồ tát chẳng
thoái chuyển.
Tu
bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, lại do hành, loại, tướng,
mạo gì, biết đó là Bồ tát chẳng thoái chuyển?
Phật
bảo Tu bồ đề: Nếu hết thảy pháp không có hành, không
có loại, không có tướng mạo, nên biết ấy là Bồ tát chẳng
thoái chuyển.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, nếu hết
thảy pháp không có hành, không có loại, không có tướng mạo,
thời Bồ tát thoái chuyển đối với pháp gì, gọi là chẳng
thoái chuyển?
Phật
dạy: Nếu Bồ tát chuyển tâm đắm nhiễm sắc, chuyển tâm
đắm nhiễm đối với thọ, tưởng, hành, thức, ấy gọi
là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
*
Lại nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chuyển tâm đắm nhiễm Thí
ba la mật cho đến chuyển tâm đắm nhiễm Bát nhã ba la mật;
chuyển tâm đắm nhiễm nội không, cho đến vô pháp hữu pháp
không; chuyển tâm đắm nhiễm bốn niệm xứ, cho đến mười
tám pháp không chung; chuyển tâm đắm nhiễm Thanh văn, Bích
chi Phật địa cho đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển, vì sao? Vì tánh
sắc không có, Bồ tát ấy trụ ở đâu? Cho đến tánh Vô
thượng Cháng đẳng Chánh giác không có, Bồ tát ấy trụ
ở đâu?
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát không xem diện mạo ngôn ngữ đạo
Sa môn, hoặc Bà la môn, không nghĩ rằng ngoại đạo hoặc
sa môn hoạc Ba la môn ấy thực biết, thực thấy; nếu nói
theo chánh kiến thời không có các việc ấy.
* Lại
nữa, Bồ tát không sanh nghi ngờ, không đắm theo giới thủ,
không rơi vào tà kiến, cũng không cầu việc tốt của thế
tục cho là thanh tịnh, không lấy hoa hương, anh lạc, phan lọng,
kỹ nhạc, lễ bái cúng dường chư thiên. Tu bồ đề, do hành
loại tướng mạo ấy, nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái
chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, vị Bồ tát chẳng thoái chuyển, thường
không sanh vào nhà hạ tiện, cho đến không sanh vào chỗ có
tám nạn, thường không thọ thân người nữ. Do hành, loại,
tưóng mạo ấy nên biết đó là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề , Bồ tát thường tu mười thiện đạo, tự
mình không sát sanh, không dạy người sát sanh, tán thán việc
không sát sanh, hoan hỷ tán thán người không sát sanh; cho đến
tự mình không tà kiến, không dạy người tà kiến, cũng không
tán thán việc tà kiến, không hoan hỷ tán thán người theo
tà kiến. Do các hành, loại, tướng mạo ấy nên biết ấy
là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát ma ha tát cho đến trong mộng cũng
không làm mười bất thiện đạo. Do các hành, loại, tướng
mạo ấy, nên biết đó là Bồ tát chẳng toái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát vì lợi ích hết thảy chúng sanh
nên tu Thí ba la mật cho đến vì lợi ích cho hết thảy chúng
sanh nên tu Bát nhã ba la mật. Do các hành, loại, tướng mạo
ấy nên biết đó là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát có được các pháp như Khế kinh,
cho đến luận nghị, thọ, trì, đọc tụng, giảng nói, nhớ
nghĩ đúng. Bồ tát ấy khi pháp thí nghĩ rằng: Nhờ nhân duyên
của pháp thí ấy làm mãn nguyện của hết thảy chúng sanh;
đem công đức pháp thí ấy cho hết thảy chúng sanh cùng hồi
hướng đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do các hành,
loại, tướng mạo ấy nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái
chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát ma ha tát đối với pháp thậm thâm
không nghi, không hối.
Tu
bồ đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, Bồ tát ma ha tát đối
với pháp thậm thâm vì nhân duyên gì nên không nghi, không
hối?
Phật
dạy: Bồ tát chẳng thoái chuyển ấy hoàn toàn không thấy
có pháp nào hoặc sắc, thọ, tưởng, hành, thức cho đến
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác có thể sanh nghi, không thấy
pháp ấy chỗ nào có thể sanh nghi, sanh hối. Do các hành, loại,
tướng mạo ấy nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lạinữa,
Tu bồ đề, Bồ tát thân, khẩu, ý nhu nhuyến. Do các hành,loại,
tướng mạo nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát do thành tựu thân, khẩu, ý từ
ái. Do hành, loại, tướng mạo ấy nên biết ấy là Bồ tát
chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát không cùng với năm triền cái là
tham dục, sân nhuế, thùy miên, trạo hối, nghi. Do các hành,
loại, tướng mạo ấy nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái
chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát không ưa đắm tất cả nơi chỗ.
Do hành, loại, tướng mạo ấy nên biết ấy là Bồ tát chẳng
thaói chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát ra vào đi lại, mằm, ngồi, đi,
ở thường niệm nhất tâm; ra vào đi lại, ngồi, nằm, đi,
ở, dỡ chân, để chân, an ổn, thong thả, thường niệm nhất
tâm ngó xuống đất mà đi. Do các hành, loại, tướng mạo
ấy nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát mặc y phục và các đồ nằm, người
ta không chê nhớp, ưa sạch sẽ, ít bệnh tật. Do hành. loại,
tướng mạo ấy nên ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, thường tronbg thân người, có tám vạn hộ
trùng xâm thực, thân Bồ tát chẳng thoái chuyển, không có
loại trùng ấy, vì sao? Vì công đức Bồ tát vượt quá thế
gian. Công đức Bồ tát ấy tăng ích, tùy theo công đức ấy
được thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh. Do hành, loại, tướng
mạo ấy nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, làm sao Bồ
tát được thân thanh tịnh, tâm thanh tịnh?
Phật
dạy: Bồ tát tùy theo sự có được tăng thêm thiện căn,
diệt trừ tâm quanh co tà vạy, ấy gọi là Bồ tát thân thanh
tịnh, tâm thanh tịnh. Vì thân tâm thanh tịnh nên vượt quá
Thanh văn, Bích chi Phật địa mà vào Bồ tát địa. Do hành,
loại, tướng mạo ấy nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái
chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát không quí lợi dưỡng; tuy tu mười
hai hạnh đầu đà mà không quí pháp A lan nhã (nơi thanh vắng),
cho đến không quí việc chỉ mặc ba y. Do hành, loại, tướng
mạo ấy nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát thường không sanh tâm xan tham, không
sanh tâm phá giới, tâm sân động, tâm giải đãi, tâm tán
loạn,tâm ngu si, tâm tật đố. Do hành, loại, tướng mạo
ấy nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát tâm an trú bất động, trí tuệ
thâm nhập, nhất tâm nghe, lảnh thọ pháp được nghe và việc
thế gian đều hợp cùng Bát nhã ba la mật. Bồ tát ấy không
thấy tài sản, sự nghiệp gì chẳng vào pháp tánh, hết thảy
việc đều thấy hợp cùng Bát nhã ba la mật. Vì nhân duyên
ấy nên gọi đó là tướng trạng của Bồ tát chẳng thoái
chuyển.
LUẬN:
Hỏi: Từ trước lại đây nơi nơi đã nói tướng mạo chẳng
thoái chuyển, cớ sao nay còn hỏi?
Ðáp:
Trên kia tuy nơi nơi lược nói, nay muốn nói rộng. Trong đây
phần nhiều nói về tướng mạo chẳng thoái chuyển nên gọi
là phẩm "chẳng thoái chuyển". Lại nữa, trên đây giải nói
tướng mạo Ba la mật, thứ đến nói nhân duyên khiến ma phá
hoại Bát nhã. nay nói người tín thọ Bát nhã ba la mật là
chẳng thoái chuyển, muốn nói tướng mạo nó nên Tu bồ đề
hỏi.
* Lại
nữa, Bồ tát từ khi mới phát tâm lại đây, vì nhân duyên
tu hành, quả báo chứng đắc là chẳng thoái chuyển, được
thọ ký chắc chắn sẽ làm Phật. Như người nhận chức tước
đã được ấn tín, tâm không còn nghi. Lại như hàng Thanh
văn tu các hạnh, đều là bốn quả Sa môn. Chẳng thoái chuyển
là đia vị quyết định an ổn vượt quá phàm phu, không vào
Nhị thừa địa, tuy chưa thành Phật đạo có thể làm ruộng
phước cho thế gian. Việc ấy vi diệu khó biết được, nên
Tu bồ đề hỏi tướng mạo nó. Phật vốn khiến Tu bồ đề
nói Bát nhã ba la mật nên Tu bồ đề hỏi Phật địa vị
chẳng thoái chuyển. Có hành, loại, tướng mạo gì.
Hỏi:
Ba việc ấy có gì ssai khác?
Ðáp:
Có người nói ba việc ấy cùng một nghĩa, do đó biết là
chẳng thoái chuyển, chẳng phải chẳng thoái chuyển. Lại
có người nói: HÀNH là thân, khẩu, ý, nghiệp của Bồ tát
chẳng thoái chuyển khác với người khác. Do hành vi ấy biểu
thị trí tuệ thậm thâm chẳng thoái chuyển. LOẠI là phân
biệt biết các Bồ tát chẳng thoái chuyển hay chẳng phải
chẳng thoái chuyển. TƯỚNG MẠO là trừ hành và loại,
do các nhân duyên khác biết được tướng mạo chẳng thoái
chuyển.
Phật
nói nghĩa lý, nếu Bồ tát đầy đủ được năm Ba la mật,
thâm nhập Bát nhã ba la mật, có lực phương tiện nên không
đắm trước Bát nhã ba la mậït, chỉ quán " như nghĩa" là
thật tướng các pháp. Bồ tát lúc bấy giờ không cho hàng
địa vị phàm phu Nhị thừa là hạ tiện, không cho địa vị
Phật là cao quí vì đều nhập các pháp "như ", trong các pháp
như ấy không có phân biệt hai pháp. Chỉ lấy "như " nhập
vào "như " không còn việc chi khác, cũng không phân biệt chấp
thủ tướng, vì sao? Vì "như " bình đẳng nên người có thể
nhập như vậy tức nhập vào pháp tạng chư Phật, tâm không
sanh nghi để trở lại tìm tướng quyết định của các pháp.
Thế nên kinh nói: Phàm phu địa cho đến Phật địa trong tướng
"như " không hai không khác. Chứng được pháp như vậy là
hành, loại, tướng mạo của chẳng thoái chuyển. Lại nữa,
lược nói nghĩa ấy: Bồ tát nhân các pháp "như ", nghĩa là
rốt ráo không nên xả bỏ hết thảy việc thế gian, cũng
không trụ vào rốt ráo không, vì sao? Vì thật tướng các
pháp rốt ráo thanh tịnh. Nếu Bồ tát nghe pháp không có nương
tựa, tâm không có nghi hối, không đến việc nương tựa.
Các
việc như trên là thể tướng chính yếu của chẳng thoái
chuyển; từ đây trở xuống đều là hạnh quả của rốt
ráo không. Vì được rốt ráo không nên tâm thuần thục tịch
diệt, không nói lời vô ích. Nói ra thường là pháp, chẳng
phải là phi pháp; nói ra đều là thật, chẳng phải vọng
thuyết; lời nói nhu nhuyến, không thô lậu, đều đem tâm
từ bi mà nói, không dùng tâm sân nhuế; nói hợp thời, đúng
với cơ hội, quán sát lòng người tùy theo phong tục địa
phương. Nay trong đây lược nói lời lợi ích; hoặc dạy Phật
đạo, hoặc dạy Nhị thừa, hoặc nhơn thiên đạo, hoặc đời
nay được cái vui không tạo tội. Vì thường xa lìa bốn việc
ác nơi miệng, vì đối với chúng sanh có tâm từ bi rộng
lớn, lại có thể tự mình chẻ mỏng các phiền não, nên
có thể dùng các nhân duyên nói những lời lợi ích.
Hỏi:
Hàng Thanh văn đi thẳng tới Niết bàn có thể không xem xét
đến người khác. Còn Bồ tát xem chúng sanh như con, thường
muốn giáo hoá, cớ sao không xem xét đến việc hay dỡ của
họ?
Ðáp:
nếu chúng sanh không thể chiếc phục, không thể hóa độ,
hạng như vậy chẳng cần xem xét, vì sao? Vì nếu đem tâm
tốt dạy bao thời họ ghét mình, tâm họ như dao cắt, đã
không ích gì còn thêm tội cho họ cho nên không nên xem xét
hay dỡ.
* Lại
nữa, Bồ tát nên nghĩ rằng: Như chư Phật đủ Nhất thiết
trí, tập khí phiền não sạch hết, còn không thể độ hết
chúng sanh, huống gì ta chưa được Bồ tát thần thông, chưa
được trí vô ngại làm sao có thể xem xét khắp chúng sanh.
Bồ tát chẳng thoái chuyển có vị được thần thông, có
vị không được. Ðược chẳng thoái chuyển rồi, riêng tu
thần thông đạo mới được. Nếu trước đã được thần
thông, vì không đầy đủ nên không thể xem xét khắp.
Hỏi:
Tu bồ đề lúc đầu hỏi hành, loại, tướng mạo, cớ sao
Phật không đáp ngay là không có hành, loại, tướng mạo nay
trong đây mới nói?
Ðáp:
Lúc đầu hỏi, vì chúng sanh chưa tham đắm tướng mạo chẳng
thoái chuyển, nên Phật đáp hoặc nói về không tướng, hoặc
nói về hữa tướng; nay vì chúng sanh tham đắm tướng mạo
chẳng thoái chuyển, muốn từ phàm phu nhập vào địa vì chẳng
thoái chuyển, thế nên Phật nói hết thảy không có hành,
không có loại, không có tướng mạo.
Tu
bồ đề lại hỏi: Nếu các pháp đều không, cớ gì còn nói
đối với pháp gì chuyển tâm đắm nhiễm gọi là chẳng thoái
chuyển? Nên từ phàm phu địa chuyển, đối Phật địa không
chuyển sao?
Phật
đáp: nếu Bồ tát quán được sắc pháp v.v... không, không
có gì của chính nó, chuyển tâm nhiễm trước sắc, cho nên
ở trong Phật đạo không thoái chuyển. Sắc pháp v.v... hòa
hợp nhân duyên sanh, Bồ tát biết đó là pháp hữu vi, tội
lỗi, không nên trú ở trong đó. Vì các pháp không, nên có
thể chuyển tâm nhiễm trước, chuyển tâm nhiễm trước nên
gọi là không thoái chuyển.
* Lại
nữa, Bồ tát chẳng thoái chuyển, nhập vào chánh vị nên
tâm quyết địng không nghi. Trong hết thảy ngoại đạo có
thật trí, nếu có thật trí không gọi là ngoại đạo. Như
thế là tướng mạo của chẳng thoái chuyển.
Hỏi:
Nay nói không sanh nghi, sau nói không nghi pháp thậm thâm. Hai
cái không nghi ấy có gì sai khác?
Ðáp:
Không nghi ở đây là chỉ cho kiến hoặc trong lý tứ đế
của Tu đà hoàn đoạn trừ; cái không nghi sau là không nghi
đối với pháp sâu xa của chư Phật chứng tri. Bồ tát có
lực phước đức và trí tuệ nên tuy không làm Tu đà hoàn,
chưa làm Phật, mà có thể không có hai cái nghi ấy. Giới
thủ là giới của ngoại đạo, tu giới ngoại đạo ấy không
được Niết bàn. Còn bốn kiến: thân kiến, biên kiến, kiến
thủ, tà kiến đều gọi là tà kiến. Vì thâm tín nghiệp
nhân duyên và quả báo nên không cầu việc tốt, không đem
hương hoa cúng dường chư thiên. Vì cầu đạo, phá cội gốc
kiêu mạn, nên thường không sanh vào nhà hạ tiện. Vì có
công đức, không làm chướng ngại người khác, thường làm
việc khuyến trợ nên không sanh vào chỗ tám nạn. Vì chẻ
mỏng dâm dục, xa lìa tâm xiểm nịnh, nên không thọ thân
người nữ.ù
* Lại
nữa, các ngưòi khác tuy tu mười thiện đạo, hoặc một,
hoặc hai, hoặc ba không thể đủ bốn thứ. Bồ tát có tâm
đại bi rất yêu thiện pháp nên tu đầy đủ bốn thứ. Thường
tu tập mười thiện nghiệp đạo cho đến trong mộng không
làm mười bất thiện đạo. Các người khác tu phước đức
chỉ vì thân mình; tiểu Bồ tát tuy vì chúng sanh cũng tự
vì mình; bậc chẳng thoái chuyển có làm phước gì đều vì
chúng sanh, không vì thân mình. Nếu phước đức có thể đem
cho người, thời Bồ tát đem cho hết chúng sanh, chỉ cầu
sự tu tập không thể đem cho; nên Bồ tát đem mười hai bộ
kinh giáo hóa chúng sanh, cũng chỉ vì chúng sanh, không vì tự
kỷ.
* Lại
nữa, vị Bồ tát có năm căn tín, tấn v.v... lanh lợi nên
tuy chưa làm Phật có thể tin các pháp. Trong đây Phật lại
nói nhân duyên của không; Bồ tát không thấy sắc pháp v.v...
nên không có chỗ sanh nghi.
* Lại
nữa, Bồ tát thường tu tâm từ bi nên ý nghiệp nhu nhuyến;
ý nghiệp nhu nhuyến nên từ thân nghiệp, từ khẩu nghiệp
thành tựu.
Hỏi:
Tâm từ bi ngoại đạo cũng có, cớ sao lại nói đó là tướng
mạo của bậc chẳng thoái chuyển?
Ðáp:
Ngoại đạo tuy có tâm từ bi mà không sâu, không thể trùm
khắp chúng sanh, cũng không thường có, vì không hoà hợp thật
tướng của các pháp, còn Bồ tát không như vậy.
* Lại
nữa, Bồ tát quở trách năm dục, trừ năm triền cái, vào
năm thiền chi, sơ thiền không cùng với năm triền cái. Vì
năm triền cái che tâm, làm hao mòn trí tuệ, phá Phật đạo
mở đường ma. Bồ tát biết hết thảy pháp hữu vi tạo tác,
hư dối, không thật, như huyễn, như mộng; còn pháp vô vi
"không", không có gì của chính nó, tướng tịch diệt nên
đối với hết thảy chỗ, không có gì ưa đắm. Ðối với
chúng sanh cho đến Phật cũng không ưa đắm, đối với pháp
cho đến Niết bàn cũng không ưa đắm. Sân và tội thô, tiểu
Bồ tát đã dứt cũng không nói; ái sâu xa, vi tế, khó dứt
nên nay nói.
* Lại
nữa, Bồ tát vào sâu thiền định nên thủ hộ hết thảy
chúng sanh, thủ hộ hết thảy chúng sanh nên thường nhất
tâm niệm, không não hại chúng sanh. Vì không phá giới nên
ra, vào, đến, đi an ổn, thong thả, nhất tâm. Dở chân, để
chân, trông xuống đất mà đi là vì bảo hộ chúng sanh, vì
tránh loạn tâm.
* Lại
nữa, Bồ tát lâu ngày tu tập vô lượng, vô biên thiện pháp,
trong thân không có tám muôn hộ trùng, cũng ít bệnh tật nên
áo chăng đồ nằm thường sạch sẽ không nhơ. Vì có lực
thiện căn chứng được thật tướng các pháp nên trong thân
không có tám muôn hộ trùng. Vì tâm thanh tịnh nên thân, miệng
cũng thanh tịnh; vì lìa hư dối, quanh co, tà vạy, hạ tiện
nên tâm thanh tịnh, vì hai sự thanh tịnh nên tuy ở thế gian
mà lìa khỏi các khổ não bức bách; vì tâm không nhàm chán
nên vượt quá Thanh văn, Bích chi Phật địa. Bồ tát vì qúy
Phật đạo nên không quí lợi dưỡng; tuy tu hạnh đầu đà
mà không quí hạnh ấy, vì hạnh ấy chỉ là nhân duyên phần
ít đối với đạo cứu cánh, chứ chẳng phải đạo cứu
cánh, ấy gọi là hành, loại, tướng mạo của Bồ tát chẳng
thoái chuyển.
Hỏi:
Bồ tát chưa được Phật dạo, chưa dứt các phiền não làm
sao thường không sanh các ác tâm xan than v.v...?
Ðáp:
Bồ tát chẳng thoái chuyển, khi được vô sanh pháp nhẫn,
thì đã dứt hết các phiền não, chỉ chưa dứt tập khí.
Nếu không dứt làm sao có thể thường không sanh tâm xan tham
làm chướng ngại đạo? Như kinh nói: Tu đà hoàn cho đến
A la hán tức là Bồ tát vô sanh pháp nhẫn.
* Lại
nữa, có người nói Bồ tát tu sáu Ba la mật, tu tập sâu xa
các công đức nên các phiền não bị chẻ mỏng, không sanh
trong tâm, nên gọi là thường không sanh.
* Lại
nữa, Bồ tát trải vô lượng đời, tu Thiền ba la mật nên
tâm an trú bất động; chưá tập Bát nhã, nên thâm nhập trí
tuệ. Bồ tát biết pháp vị vi diệu nên theo người khác nghe
pháp, nhất tâm thọ trì, vì tâm ưa pháp sâu xa nên nghe pháp
Tam thừa hoặc pháp ngoại đạo, hoặc pháp thế gian, vì tự
tâm thâm diệu nên các pháp ấy đều hòa hợp với Bát nhã,
không phá pháp tướng. Thí như người mạnh khỏe không có
bệnh, ăn vật gì đều tiêu hoá hết; lại như Phật được
cái tướng tối thượng vị, tuy gặp món ăn đắùng, cay,
không ngon, ở trong miệng Phật đều thành thượng vị. Lại
nữa, như nấu đường phèn sắp chín, đem vật gì bỏ vào
đều thành đường phèn vi sức vi diệu của nó mạnh. Bồ
tát cũng như vậy, sức Bát nhã ba la mật mạnh nên có thể
làm cho các pháp hợp thành một vị với Bát nhã, không có
lỗi.
* Lại
nữa, việc thế gian là Bồ tát khởi thân khẩu nghiêïp gì
đều thương xót hoá độ chúng sanh; tâm thương xót ấy là
cửa ban đầu vào Bát nhã ba la mật. Lại nhân duyên của các
việc thế gian cho đến ngồi, đứng, dậy đi, bước, ăn uống,
nói năng, thường nghĩ đến sự an ổn cho chúng sanh. Việc
đi, đến, v.v... đều vào pháp tánh như đã nói ở trong phẩm
"phá lai khứ" (Trung quán luận - ND). Các tài sản, sự nghiệp
cũng lại như vậy, ấy gọi là chẳng thoái chuyển.
KINH:
Lại nữa, Tu bồ đề, nếu ác ma ở trước vị Bồ tát chẳng
thoái chuyển hóa làm tám địa ngục lớn, trong mỗi địa
ngục có ngàn vạn ức Bồ tát đều bị thiêu đốt chịu
các khổ não cay chua, nói với Bồ tát rằng: "Các Bồ tát
ấy đều là bậc chẳng thoái chuyển được Phật thọ ký
vào địa ngục lớn, nếu ông là người được Phật thọ
ký chẳng thoái chuyển vào địa ngục lớn ấy; Phật vì ông
thọ ký cảnh địa ngục như vậy mà ông không như lời, trở
lại bỏ tâm Bồ tát, vậy ông có thể nào được không
đọa địa ngục mà được sanh cõi trời". Này Tu bồ đề,
nếu Bồ tát thấy việc ấy, nghe việc ấy tâm không động,
không nghi, không sợ, nghĩ rằng vị Bồ tát chẳng thoái chuyển,
nếu đọa vào địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ thời trọn không
có lẽ đó. Tu bồ đề, do hành, loại, tướng mạo ấy biết
đó là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Ác ma hoá làm Tỳ kheo mặc áo pháp đi đến
chỗ Bồ tát nói với Bồ tát rằng: "Ông trước nghe dạy
nên như vậy tịnh tu sáu Ba la mật cho đến nên như vậy tịnh
tu được Vô thượng Chánh đảng Chánh giác, việc ấy ông
phải hối hận bỏ gấp đi! Ông trước ở nơi chỗ chư Phật
quá khứ, vị lai, hiện tại từ khi mới phát tâm cho đến
pháp trụ, các thiện căn tạo được trong khoảng thời gian
ấy, tùy hỷ hồi hướng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
việc ấy ông cũng nên buông bỏ gấp đi; nếu ông bỏ gấp
ta sẽ nói cho ông chân Phật pháp, còn những điều ông nghe
trước đó đều phi Phật pháp, phi Phật giáo, đều là văn
chương trau chuốt, hợp lại tạo ra; điều ta nói mới là
chân Phật pháp". Nếu Bồ tát nghe lời nói mà tâm sợ, nghi,
hối nên biết Bồ tát ấy chưa được Phật thọ ký, chưa
quyết định an trú trong tánh chẳng thoái chuyển. Nếu Bồ
tát tâm không động, không sợ, không nghi, không hối, tùy
thuận, nương tựa pháp vô pháp vô sanh, không tin lời người
khác, không làm theo người khác; khi tu sáu Ba la mật không
theo lời người khác; cho đến khi tu Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác cũng không nghe theo lời người khác, thí như vị
A la hán sạch hết lậu hoặc, không tin lời người khác, không
làm theo người khác, hiện tiền thấy được thật tướng
các pháp; ác ma không thể làm lay chuyển. Như vậy, Tu bồ
đề, vị Bồ tát chẳng thoái chuyển cũng như thế. Người
cầu Thanh văn dạo, Bích chi Phật đạo không thể phá hoại,
không thể chiết phục tâm Bồ tát. Này Tu bồ đề, Bồ tát
ấy chắc chắn an trú trong địa vị chẳng thoái chuyển, không
nghe theo lời người khác, cho đến lời Phật nói cũng không
tín thủ ngay, huống gì tin lời của người cầu Thanh văn,
Bích chi Phật các ác ma, ngoại đạo, phạm chí, trọn không
có lẽ đó, vì sao? Vì Bồ tát ấy không thấy có pháp có
thể tin theo, đó là sắc hoặc tho, tưởng, hành, thức, hoặc
sắc "như " cho đến thức "như ", cho đến không thấy Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, huống gì Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác "như ". Này Tu bồ đề, do hành, loại, tướng mạo ấy
nên biết ấy gọi là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Ác ma hoá làm thân Tỳ kheo đi đến chỗ
Bồ tát nói rằng: "Pháp của người tu là pháp sanh tử chẳng
phải đạo Nhất thiết trí, thân người nay chỉ lấy việc
hết khổ làm chứng đắc. Khi ấy ác ma vì Bồ tát dùng pháp
tu hành của thế gian nói đạo pháp tương tợ, đạo pháp
tương tợ ấy là pháp ràng buộc trong ba cõi như Quán bất
tịnh đó là quán tướng xương trắng; hoặc Sơ thiền cho
đến Phi hữu tưởng Phi vô tưởng, nói với thiện nam tử
rằng: Dùng đạo ấy dùng tu hạnh ấy, sẽ được quả Tu
đà hoàn cho đến quả A la hán; ngươi tu đạo ấy đời nay
hết khổ, ngươi dùng cái pháp phải chịu mọi khổ não trong
đường sanh tử như vậy làm chi? Thân tứ đại ngày nay còn
không cần dùng lảnh thọ được, huống gì lại thọ thân
tương lai". Này Tu bồ đề, nếu Bồ tát nghe lời ấy mà tâm
không kinh, không nghi, không hối, nghĩ rằng: Vị Tỳ kheo ấy
lợi ích cho ta không ít, vì ta nói đạo pháp tương tợ, tu
đạo pháp tương tợ ấy, không được đến quả Tu đà hoàn,
A la hán, Bích chi Phật đạo, huống gì được đến Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác! Bồ tát ấy lại càng hoan hỷ nghĩ
rằng: Tỳ kheo ấy lợi ích cho ta không ít, vì ta nói pháp
làm chướng đạo, ta biết pháp làm chướng đạo ấy không
chướng ngại học đạo ba thừa.
Khi
ấy ác ma biết Bồ tát vui mừng liền nói tiếp rằng: "Thiện
nam tử, ngươi muốn thấy Bồ tát cúng dường chư Phật số
nhiều như cát sông Hằng với các đồ cần dùng nuôi sống
như áo mặc, cơm ăn, đồ nằm, thuốc thang chăng? Cũng ở
nơi chỗ hằng hà sa số chư Phật tu Thí ba la mật cho đến
Bát nhã ba la mật chăng? Cũng thân cận hằng hà sa số chư
Phật hỏi Bồ tát đạo: Bạch đức Thế Tôn, Bồ tát làm
sao an trú trong Bồ tát thừa? Làm sao tu Thí ba la mật cho đến
Bát nhã ba la mật, tu bốn niệm xứ cho đến đại từ đại
bi ? Bồ tát ấy theo như Phật dạy: Trụ như vậy, hành như
vậy, tu như vậy; Bồ tát ấy dạy như vậy, học như vậy
còn không được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, không
được Nhất thiết trí, huống gì ngươi làm sao đưọc Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác". Nếu Bồ tát nghe việc ấy,
tâm không đổi khác, không kinh sợ, lại còn vui mừng, nghĩ
rằng: Tỳ kheo ấy lợi ích cho ta không ít vì ta nói pháp làm
chướng đạo, pháp làm chướng đạo ấy khiến không được
đạo Tu đà hoàn cho đến không được đạo A la hán, Bích
chi Phật, huống gì được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Khi
ấy ác ma biết tâm Bồ tát ấy tâm không biến mất, không
kinh sợ, liền ở tại chỗ đó hóa làm nhiều Tỳ kheo nói
với Bồ tát rằng: Ðây đều là những Bồ tát phát tâm cầu
Vô thượng đạo, đều an trú địa vị A la hán, bọn ấy
còn không được Vô thượng Chánh đẳng Chánh gaíc, ngươi
làm sao được? Nếu Bồ tát liền nghĩ rằng ác ma ấy nói
đạo pháp tương tợ. Bồ tát hành Bát nhã ba la mật không
nên chuyển đổi tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng
không nên đọa vào Thanh văn, Bích chi Phật đạo. Lại nghĩ
rằng: Tu Thí ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật, cho đến
tu trí Nhất thiết chủng không được Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác; là không có lẽ ấy. Này Tu bồ đề, do hành, loại,
tướng mạo ấy, nên biết ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, tu bồ đề, nếu Bồ tát nghĩ rằng: Nếu Bồ tát theo
đúng lời Phật dạy, tâm không xa lìa Bát nhã ba la mật cho
đến trí Nhất thiết chủng, Bồ tát ấy trọn không thoái
chuyển Vô thượng Chánh đẳng Chánh gaíc; nếu Bồ tát giác
tri việc ma, thường không thoái mất Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Do hành, loại, tướng mạo ấy nên biết đó là
tướng của Bồ tát chẳng thoái chuyển.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, thoái chuyển
đối với pháp gì gọi là không thoái chuyển?
Phật
dạy: Thoái chuyển đối với sắc tướng, thoái chuyển đối
với thọ, tưởng, hành, thức tướng; thoái chuyển đối với
tướng mười hai nhập, tướng mười tám giới, tướng tham
dục, sân nhuế, ngu si, tướng tà kiến, tướng bốn niệm
xứ cho đến tướng Thanh văn, Bích chi Phật và tướng Phật.
Do vậy, gọi là tướng Bồ tát chẳng thoái chuyển, vì sao?
Vì Bồ tát chẳng thoái chuyển do pháp "tự tướng không" ấy
vào Bồ tát vị, được vô sanh pháp nhẫn; cho đến mảy may
pháp cũng không thể thủ đắc, vì không thể thủ đắc nên
không tác khởi, vì không tác khởi nên không sanh, ấy gọi
là vô sanh pháp nhẫn. Do hành, loại, tướng mạo ấy nên biết
ấy là Bồ tát chẳng thoái chuyển.
LUẬN:
Ma biết rõ Bồ tát ấy là vị Bồ tát chẳng thoái chuyển,
không còn làm trở ngại; nếu chưa biết rõ thời dùng mọi
cách thí nghiệm phá hoại, hoặc hoá làm tám địa ngục lớn,
hoá làm vô số Bồ tát bị thiêu đốt ở trong đó và nói
với Bồ tát rằng: Các Bồ tát ấy đều là bậc chẳng thoái
chuyển, được Phật thọ ký. Ông nếu được Phật thọ ký
là thọ ký vào ở địa ngục.
Hỏi:
Ác ma vì nhân duyên gì nói người tu thiện thọ ký vào ở
địa ngục?
Ðáp:
Ác ma vì cho vị Bồ tát ấy muốn thay thế chúng sanh thọ
khổ nên nói thọ ký ở trong địa ngục; "ngươi nếu tu phước
đức để sanh cõi trời thời đó là tự vì mình chứ không
dính dự đến việc chúng sanh". Nếu Bồ tát nghe việc
ấy tâm kinh động, nghi hối, nếu tín thọ lời ma, nên biết
Bồ tát là chưa được thọ ký lên bậc chẳng thoái chuyển.
Nếu Bồ tát nghe việc ấy mà không nghi, không động, không
kinh nghĩ rằng: Bậc chẳng thoái chuyển vì ngộ được thật
tướng các pháp nên không đắm trước pháp, vì không đắm
trước pháp nên cho đến không sanh tội nhỏ, huống gì tội
đọa ba đường ác. Như trong lửa có nước, trong nước sanh
lửa, không có lẽ đó.
Lại
có ác ma hóa làm Tỳ kheo mặc áo pháp đi đến nói với Bồ
tát rằng: "Ngươi trước theo thầy nhỏ nghe dạy tu sáu Ba
la mật đó đều là hư dối, chứa nhóm tâm tùy hỷ công đức
cũng là hư dối. Những điều ngươi nghe từ trước đều
là hư dối, văn chương trau chuốt chẳng thật, chẳng phải
miệng Phật nói ra; nay ta vì ngươi nói, đều là chơn Phật
pháp, ngươi nên bỏ mau đi". Nếu Bồ tát nghe lời ấy mà
tâm kinh động, sân hận, nghi ngờ, nên biết Bồ tát ấy Phật
chưa thọ ký cho. Thí như vàng giả, lấy lửa mà mài đập,
hoặc đen, hoặc đỏ, hoặc trắng liền biết chẳng phải
vàng thật. Nếu Bồ tát nghe lời ấy mà không giận, không
nghi, tùy theo pháp vô sanh, vô diệt, vô khởi, vô tác, tu sáu
Ba la mật tự biết không nghe theo lời người khác; nên biết
ấy là thật chẳng thoái chuyển. Thí như vị A la hán sạch
hết lậu hoặc nên ác ma đi đến không phá hoại được;
vị Bồ tát chẳng thoái chuyển cũng như vậy, không ai hàng
phục được. Vì hiện tiền tự biết thật tướng các pháp
nên ác ma hiện làm thân Phật đi đến, nói lời khác với
pháp tướng cũng không tín thọ. Thí như con chó mang lốt sư
tử, các thú trông thấy tuy sợ nhưng khi nghe tiếng thời biết
đó là chó, huống gì biến hóa làm thân khác. Trong đây Phật
tự nói nhân duyên: Bồ tát thấy sắc pháp "không" v.v... nên
ai sẽ nghe theo lời người khác?
* Lại
nữa, ác Ma hiện thân làm Tỳ kheo đi đến nói với Bồ tát
rằng: "Sáu Ba la mật ấy đều là pháp sanh tử, vì do nhân
duyên của phước đức bố thí nên thọ phước vui trong cõi
Dục; do nhân duyên của Thiền ba la mật nên thọ vui trong cõi
Sắc; vì Bát nhã ba la mật không có tướng nhất định nên
gọi là pháp hư dối, xoay vần trong năm đường, không thể
tự ra khỏi đường sanh tử. Người ta dối với ngươi rằng:
Ðó là đạo Nhất thiết chủng trí, ta nay nói thật, ngươi
thủ chứng Niết bàn, đời nay hết khổ". Bồ tát nếu im
lặng, ma liền tiếp nói đạo pháp tương tợ: "Hoạc quán
36 thứ bất tịnh, hoặc quán bộ xương người, hoặc niệm
hơi thở ra vào, nhơn đạo ấy chứng được bốn thiền, bốn
định vô sắc; nhơn thiền định ấy có thể được quả
Tu đà hoàn cho đến quả A la hán. Thân này của ngươi do tội
báo sanh ra; Phật không tán thán thọ thân trở lại trong một
khoảnh khắc khảy móng tay, huống gì ở lâu trong sanh tử".
Vị Bồ tát chẳng thoái chuyển nghe việc ấy tâm vui mừng
nghĩ rằng: Tỳ kheo ấy rất lợi ích cho ta, vì ta nói
đạo pháp tương tợ, ta được đạo pháp tương tợ ấy liền
biết chơn đạo, như người đi đường, biết đường tà
thời biết nẽo chánh, pháp làm chướng ngại đạo cũng như
vậy. Bậc chẳng thoái chuyển vì là người lớn, quý trọng,
nên không tranh cải với Tỳ kheo ấy.
Ác
ma thấy Bồ tát im lặng thì vui mừng nói: "Người ấy tín
thọ lời ta nên nói tiếp với Bồ tát rằng: Thiện nam tử,
có vô lượng Bồ tát cúng dường hằng hà sa số Phật, hỏi
han, khổ hạnh sáu Ba la mật và Bồ tát đạo, ở trước mặt
nhận lời Phật dạy, chịu thực hành hết thảy hạnh Bồ
tát còn không được Vô thượng đạo, nay đều thành A la
hán, vậy ngươi làm sao muốn được". Bồ tát nghe việc ấy
xong im lặng. Ở ngay chỗ đó ma liền hoá vô số Tỳ kheo A
la hán nói với Bồ tát rằng: "Các Tỳ kheo ấy đều tu Vô
thượng đạo đã lâu, nay đều thành A la hán, tại sao riêng
ngươi muốn thành Phật", Bồ tát lại vui mừng nghĩ rằng:
Tỳ kheo ấy vì ta nói pháp tợ đạo, chướng đạo. Bồ tát
thực hành sáu Ba la mật, được các công đức chắc chắn
không thối đọa vào Nhị thừa; như lời Phật nói tâm thường
không lìa sáu Ba la mật mà không được Vô thượng đạo là
không có lẽ ấy. Bồ tát nếu gặp tri ma sự ấy, thời được
lợi ích lớn không có mất, vì thế nên tâm Bồ tát không
động chuyển, ấy gọi là tướng chẳng thoái chuyển.
Bấy
giờ Tu bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, thoái
chuyển đối với pháp gì gọi là không thoái chuyển.
Phật
dạy: Ðối với sắc tướng thoái chuyển. Trên lược nói,
nay sẽ nói rộng. Nếu Bồ tát đối với sắc tướng v.v...
đều thoái chuyển được, ấy gọi là tu hết thảy pháp tánh
không, được vô sanh pháp nhẫn, vào Bồ tát vị. Vô sanh nhẫn
là cho đến pháp vi tế không thể thủ đắc huống gì pháp
lớn, ấy gọi là vô sanh. Ðược pháp vô sanh ấy không khởi
làm các nghiệp, ấy gọi là được vô sanh pháp nhẫn. Bồ
tát được vô sanh pháp nhẫn, ấy gọi là chẳng thoái chuyển.
Vô lượng loại, hành, tướng mạo như vậy là tướng của
chẳng thoái chuyển.
GIẢI
THÍCH: PHẨM CHUYỂN BÁNH XE BẤT THOÁI THỨ 56
(Kinh
Ma Ha Bát Nhã ghi: Phẩm Chuyển Bất Chuyển).
KINH:
Lại nữa Tu bồ đề, Ác ma đi đến chỗ Bồ tát, muốn phá
hoại tâm Bồ tát, nói rằng:"Nhất thiết trí với hư không,
không có tướng gì; các pháp cùng với hư không, không có
tướng gì. trong các pháp hư không, 'không", không có tướng
gì ấy, không có được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
cũng không có chẳng được. Các pháp ấy đều như hư không,
không có tướng gì, ngươi luống chịu siêng năng khổ nhọc;
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà ngươi được nghe nói
đều là ma sự, chẳng phải Phật nói, ngươi nên phóng xả
tâm nguyện ấy, ngươi chớ suốt ngày đêm chịu sự không
an ổn, lo khổ, đọa ác đạo". Các thiện nam tử, thiện nữ
nhơn ấy khi nghe lời chê trách đó nên nghĩ như vầy: Ðó
là ác ma phá hoại tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của
ta. Các pháp tuy như hư không, không có gì của chính nó, tự
tướng không mà chúng sanh không biết, không thấy, không hiểu,
ta đem nghĩa lý các pháp như hư không, không có gì của chính
nó, tự tướng không với đại thệ nguyện trang nghiêm, được
trí Nhất thiết chủng, vì chúng sanh nói pháp ấy, khiến được
giải thoát, được quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm, quả
A na hàm, quả A la hán, đạo Bích chi Phật và Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Này Tu bồ đề, Bồ tát từ khi mới phát
tâm lại đây nghe pháp như vậy nên kiên cố tâm mình, không
động không chuyển. Bồ tát đem tâm kiên cố, tâm không động
không chuyển ấy tu sáu Ba la mật sẽ vào Bồ tát vị.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, vì không động
chuyển nên gọi là chẳng thoái chuyển, động chuyển cũng
gọi là chẳng thoái chuyển?
Phật
dạy: Không động chuyển nên gọi là chẳng thoái chuyển,
động chuyển nên cũng gọi là chẳng thoái chuyển.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, tại sao không
động chuyển nên gọi là chẳng thoái chuyển, động chuyển
nên cũng gọi là chẳng thoái chuyển.
Phật
bảo Tu bồ đề: Nếu Bồ tát đối với Thanh văn, Bích chi
Phật địa không động chuyển nên gọi chẳng động chuyển.
Nếu Bồ tát đối với Thanh văn, Bích chi phật địa động
chuyển nên cũng gọi là chẳng thoái chuyển. Tu bồ đề do
hành, loại, tướng mạo ấy nên biết ấy là tướng của
Bồ tát chẳng thoái chuyển. Do hành, loại tướng mạo ấy
nên ác ma không thể phá hoại tâm Bồ tát, khiến lìa Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển, nếu muốn vào
Sơ thiền, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ thiền cho đến diệt
thọ tưởng định liền được vào.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển, nếu nuốn tu
bốn niệm xứ, cho đến tám thánh đạo phần, không, vô tướng,
vô tác, tam muội cho đến năm thần thông liền tu được.
Bồ tát ấy tuy tu bốn niệm xứ cho đến năm thần thông,
nhưng không thọ quả bốn niệm xứ; tuy tu các thiền, không
thọ quả các thiền, cho đến không thọ quả diệt thọ tưởng
định, không chứng quả Tu đà hoàn cho đến không chứng đạo
Bích chi Phật. Bồ tát ấy cố vì chúng sanh mà thọ thân,
theo chỗ thích ứng mà làm lợi ích cho họ. Tu bồ đề, do
hành, loại, tướng mạo ấy nên biết ấy gọi là Bồ tát
chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển ấy thường
nhớ đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác trọn không lìa
tâm Nhất thiết trí nên không quí sắc, không quí tướng,
không quí Thanh văn, Bích chi Phật, không quí Thí ba la mật
cho đến Bát nhã ba la mật; không quí bốn thiền, bốn tâm
vô lượng, bốn định vô sắc, năm thần thông, không qúi
bốn niệm xứ cho đến tám thánh đạo phần; không quí mười
trí lực cho đến mười tám pháp không chung của Phật, không
quí sự nghiêm tịnh cõi Phật, không qúi sự thành tựu tuệ
giác cho chúng sanh; không quí việc thấy Phật, không quí việc
gieo trồng thiện căn, vì sao? Vì hết thảy pháp tự tướng
không, không thấy pháp gì có thể sanh tâm quí, vì sao? Vì
hết thảy pháp cùng với hư không, không có gì của chính
nó, tự tướng không. Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển
thành tựu tâm ấy đối với bốn oai nghi của thân ra vào,
đến đi, ngồi nằm, đi ở, nhất tâm không loạn. Này tu bồ
đề, do hành, loại, tướng mạo ấy nên biết ấy là Bồ
tát chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển nếu ở nhà
dùng sức phưong tiện vì lợi ích cho chúng sanh nên thọ năm
dục, bố thí cho chúng sanh, cần ăn cho ăn, cần uống cho uống,
áo chăn đồ nằm cho đến đồ cần để nuôi sống đều
cấp cho cả. Bồ tát ấy tự mình tu Thí ba la mật, dạy người
tu thí, tán thán việc tu thí, hoan hỷ tán thán người tu Thí
ba la mật, tu Giới ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật cũng
như vậy. Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển khi ở nhà
có thể đem trân bảo đầy cõi Diêm phù đề thí cho chúng
sanh, cho đến đem trân bảo đầy cả ba ngàn đại thiên thế
giới thí cho chúng sanh; cũng không tự vì tu phạm hạnh, không
lấn ép khảo đánh người khác khiến họ ưu não. Tu bồ đề,
do hành, loại, tướng mạo ấy nên biết ấy gọi là Bồ tát
chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, chẳng thoái chuyển là vị thần cầm kim
cương thường theo dõi Bồ tát nguyện rằng: Bồ tát ấy sẽ
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ta thường theo dõi,
cho đến vị thần ngũ tánh cầm kim cương thường theo thủ
hộ. Vì thế nên hoặc trời hoặc ma, hoặc phạm, hoặc các
kẻ có sức lớn ở thế giới khác, không thể phá hoại tâm
Nhất thiết trí của Bồ tát ấy, cho đến khi Bồ tát ấy
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu bồ đề,
ấy gọi là tướng chẳng thoái chuyển của Bồ tát.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát thường đầy đủ năm căn là tín
căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, ấy gọi
là tướng chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển là bậc thượng
nhơn, chẳng phải hạ nhơn.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức thế Tôn, Thế nào là
thượng nhơn?
Phật
bảo tu bồ đề: Nếu Bồ tát nhất tâm tu Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác tâm không tán loạn, ấy gọi là thượng
nhơn. Do hành, loại, tướng mạo ấy nên biết ấy là tướng
chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, Tu bồ đề, Bồ tát chẳng thoái chuyển nhất tâm thường
niệm Phật đạo; không làm chú thuật, hoà hợp thuốc thang,
không chú thuật quỷ thần khiến nhập vào trai gái để hỏi
việc lành dữ, trai gái, bỗng lộc, thọ mệnh dài ngắn, vì
sao? Vì Bồ tát ấy biết các pháp ấy tự tưóng không, vì
không thấy tướng các pháp nên không làm việc nuôi sống
một cách tà vạy, mà làm việc nuôi sống một cách thanh tịnh.
Này, Tu bồ đề, do hành, loại, tướng mạo ấy nên biết
ấy gọi là tướng của Bồ tát chẳng thoái chuyển.
LUẬN:
Lại có tướng của Bồ tát chẳng thoái chuyển là nếu ác
ma nghĩ rằng:: Nhất thiết trí với hư không bình đẳng. Nhất
thiết trí có các danh tự hoặc gọi Nhất thiết trí, hoặc
gọi Nhất thiết chủng trí, hoặc gọi Vô thượng đạo, hoặc
gọi Vô lượng Phật pháp, hoặc gọi Bồ đề, đều là danh
tự của Nhất thiết trí. Trong đây nói Nhất thiết trí nên
biết là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hết thảy Bồ
tát đều nguyện muốn được Nhất thiết trí, ma đi đến
muốn phá hoại nói rằng:"Nhất thiết trí ấy trống không,
không có gì của chính nó, chỉ các sư dối người vậy thôi,
như hư không không có gì của chính nó, không sắc, không hình,
không thể biết, Nhất thiết trí cũng như vậy. Thế nên nói
cùng với hư không bình đẳng. Các pháp là các pháp trợ đạo
giúp đưa đến trí Nhất thiết chủng như sáu Ba la mật v.v...
pháp ấy cũng không. Trí Bát nhã không, không có tướng gì
của chính nó, các pháp chỉ có danh tự, không có thật sự.
Ở trong đó không có người được Nhất thiết trí, không
có đi đến Nhất thiết trí, không có trợ đạo. Ngươi chỉ
luống chịu cay đắng. thầy ngươi thường dạy ngươi xa lìa
ma sự, nhưng Nhất thiết trí chính là Ma sự, vì sao? Vì bỏ
Niết bàn mà thủ lấy sanh tử. Các kinh ngươi nghe trước
đó hoặc nghĩa lý về sáu Ba la mật, đều chẳng phải Phật
pháp, đều do người tạo ra, nay ngươi hối hận gấp, bỏ
tà tâm ấy; nếu không bỏ, suốt ngày đêm chịu khổ trong
ba đường ác".
Bồ
tát chẳng thoái chuyển nghe việc ấy liền giác tri Ma sự,
Ma hủy báng Nhất thiết trí, muốn khiến ta xa lìa Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, vì sao? Vì hết thảy pháp tuy không,
không có gì của chính nó nhưng vì chúng sanh phàm phu, điên
đảo che tâm nên không biết, không thấy, ta sẽ lấy "tự
tướng không" làm trang nghiêm được Nhất thiết trí, vì chúng
sanh nói pháp. Nếu hết thảy pháp không mà ta lấy thật hữu
làm trang nghiêm là không tương ứng, nếu các pháp không, trang
nghiêm cũng không ấy là tương xứng; vì chúng sanh thuyết
pháp cũng như vậy. Khiến chúng sanh được quả Tu đà hoàn;
quả Tu đà hoàn có hai: 1. Là pháp vô vi dứt ba kiết sử;
2. Là quả Tu đà hoàn hữu vi tương ưng với không, vô tướng,
vô tác tam muội. hai thứ ấy đều không: Trong pháp hữu vi
do ba môn giải thoát nên không; trong pháp vô vi do không có
tướng sanh, trụ, diệt nên không; cho đến Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác cũng như vậy. Bồ tát chẳng thoái chuyển,
từ khi mới phát tâm trở đi, nghe pháp ấy kiên cố tâm mình
không động, không chuyển. Mũi tên phiền não không vào được
nên gọi là kiên cố; ngoại đạo ác Ma không lay chuyển được
nên gọi là không động; không thoái chuyển Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, nên gọi là không chuyển. Bồ tát đem ba
tâm như vậy tu sáu Ba la mật vào Bồ tát vị. Nghĩa chữ Bồ
tát vị như trước đã nói. Vào Bồ tát vị gọi là chẳng
thoái chuyển.
Tu
bồ đề hỏi: Không chuyển nên gọi là chẳng thoái chuyển,
sao chuyển nên gọi là chẳng thoái chuyển?
Phật
đáp: Phật đáp bằng hai cách bằng lấy hai đế là Thế đế
và Ðệ nhất nghĩa đế. Nếu Bồ tát vào Bồ tát vị thời
chuyển tâm Thanh văn, Bích chi Phật mà thẳng vào Bồ tát vị,
ấy gọi là chuyển; không chuyển là vào đệ nhất nghĩa chẳng
thoái chuyển. Trong các pháp "nhứt tướng" nghĩa là "vô tướng"
còn không có định tướng Nhất thừa, huống gì Tam thừa
thời không có gì để chuyển. Vì không có gì để chuyển
nên gọi là chẳng thoái chuyển.
* Lại
nữa, chẳng thoái chuyển, tuy hành theo pháp cõi Dục để độ
chúng sanh mà đối với thiền định thì ra vào tự tại; vì
đối với thiền định tự tại nên nếu muốn giáo hóa người
khác tu bốn niệm xứ cho đến tám thánh đạo phần,
ba môn giải thoát, năm thần thông đều được tự tại. Tuy
vào thiền định mà tâm kia nhu nhuyến, thanh tịnh nên không
hưởng thọ cái phước sống lâu ở cõi trời, chỉ ở cõi
Dục để giáo hóa, nên tuy tu bốn niệm xứ cũng không chứng
quả Tu đà hoàn cho đến Bích chi Phật đạo. Bồ tát ấy
xem xét mười phương quốc độ biết chỗ nào có thể làm
lợi ích chúng sanh thời thọ thân sanh ở cõi ấy; như vậy
gọi là tướng của chẳng thoái chuyển. Bồ tát ấy nhất
tâm thâm niệm, thường không xa lìa Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác nên chỉ quí Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
không việc khác nghĩa là thân kim sắc đủ 32 tướng của
Phật; vì không bỏ bản nguyện độ sanh nên không quí Thanh
văn, Bích chi Phật đạo. Người ấy vì quí pháp rốt ráo
không vô sở đắc nên không quí việc bố thí, cho đến
không quí việc gieo trồng căn lành, huống gì lợi dưỡng
ngũ dục của thế gian, vì sao? Vì Bồ tát xem xét hết thảy
pháp tự tướng không, không thấy có thật pháp nhất định
có thể sanh tâm quí.
* Lại
nữa, có người vì có chỗ tham quí nên tâm lay động không
tự an, nếu được thời vui mừng, mất thời lo buồn; Bồ
tát thời không quí gì, không tham gì nên đối với được
mất tâm thanh tịnh không lay động. Thân hành, khẩu hành điều
hòa không khác, nên bốn oai nghi nơi thân, nhất tâm thường
nhớ không có trái lỗi.
* Lại
nữa, vì thâm nhập Thiền ba la mật. nên bốn oai nghi nơi thân
không có trái lỗi.
Hỏi:
Trong kinh nói Bồ tát chẳng thoái chuyển có lực phương tiện,
vì lợi ích chúng sanh nên hưởng thọ năm dục ấy là phương
tiện gì?
Ðáp:
Thí như lấy kềm gắp lửa, tuy gắp mà mà không bị cháy
tay. Năm dục lạc như lửa hay đốt cháy thiện căn của người.
Bồ tát suy nghĩ ta xuất gia, chỉ có cái thân duy nhất làm
sao dùng để bố thí, nhiếp hóa chúng sanh? chúng sanh cần
nhiều ăn uống, y phục mà vật chu cấp của ta lại ít. Bồ
tát vì nhiếp hóa chúng sanh nên sanh vào nhà giàu sang để
bố thí cho chúng sanh tự do theo chỗ cần dùng của họ, chúng
sanh xuất gia, tại gia đều được lợi ích. Thí như đại
địa, nhân dân chim thú đều mong nhờ lợi nhuận. Khi ấy
bốn cách tu sáu Ba la mật. Nếu xuất gia tán thán việc bố
thí thì hoặc có người nói: Ông chỉ có một thân không có
tài sản mà chỉ dạy người bố thí thời người ta không
thể tín thọ; thế nên Bồ tát phương tiện làm người cư
sĩ, đem tài sản làm sung mãn cho tất cả mà khuyên người
bố thí, thời người ta tín thọ. Bồ tát hoặc làm Chuyển
luân Thánh vương, trong khi khởi tâm nghĩ đến việc bố thí
thời châu báu đầy cõi Diêm phù đề, như vua Ðảnh sinh ở
trong cung điện, khởi tâm muốn châu báu thời có châu báu
đến bên đầu gối; hoặc làm Ðế thích, hoặc làm Phạm
vương, mưa châu báu đầy ba ngàn thế giới cúng dường chư
Phật sung mãn hết thảy. Vì nhiếp hóa chúng sanh nên không
tự thọ hưởng. Người hưởng thụ năm dục thời tâm sanh
kiêu mạn, lấn ép người khác. Bồ tát thường dứt tham dục,
các phiền não mỏng, không sanh kiêu mạn; vì không sanh kiêu
mạn, nên không lấn ép người khác, ấy là tướng của chẳng
thoái chuyển.
* Lại
nữa, nếu Bồ tát được vô sanh pháp nhẫn vào Bồ tát vị,
được thọ ký, tức thời thần kim cương theo dõi thủ hộ;
khi thành Phật đạo thời hiện thân kia, khiến người trông
thấy. Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Hoặc người, hoặc
phi nhân không thể phá hoại; người phá hoại là hoặc giết,
hoặc trói, hoặc luận nghị hơn. Phi nhơn phá hoại là làm
cho bệnh, cuồng, hoặc cướp mạng, hoặc hiện thân hung dữ
làm cho sợ hãi, hoặc biến làm thân Phật nói tà đạo. Những
việc như vậy không thể chiết phục Bồ tát.
Hỏi:
Nếu được thần kim cương thủ hộ thế là Bồ tát tự mình
không có sức sao?
Ðáp:
Bồ tát tự mình cũng có sức, lại do công đức của Bồ
tát nên hay khiến thần kim cương thủ hộ; vì thần kim cương
thủ hộ nên tuy chưa được pháp thân mà công đức vẫn tăng
thêm. Lại khiến thiên thần thấy thần kim cương hộ vệ
nên càng thêm kinh sợ. Bồ tát đầy đủ năm căn là nếu
như người không có năm căn mắt, tai v.v... thời không khác
gì cây đá; do lực năm căn nên hay thấy, hay nghe. Trong tâm
Bồ tát không có năm căn tín, tấn, niệm, định, tuệ tức
là phàm phu, không vào hàng Thánh.
Hỏi:
Như kinh A tỳ đàm nói: Ai thành tựu năm căn là người không
dứt thiện căn, cớ sao nay nói người không có năm căn tín,
tấn v.v... tức là phàm phu?
Ðáp:
Chúng sanh không dứt thiện căn, tuy thành tựu năm căn nhưng
không thể phát khởi tác dụng. Thí như trẻ nhỏ tuy có các
phiền não, tham dục v.v... nhưng chưa thể phát sanh tác dụng,
nên nói là không có. Năm căn, tín, tấn, niệm, định, tuệ
cũng như vậy, chúng sanh tuy có mà không phát khởi tác dụng
thế nên không kể. Năm căn tín, tấn, niệm, định, tuệ có
hai loại: 1. là thuộc Thanh văn, Bích chi Phật; 2. Là thuộc
Phật và Bồ tát. Năm căn thuộc Thanh văn, Bích chi Phật hay
thâm tín Niết bàn, hay dùng trí tuệ biết thế gian vô thường,
không, biết được Niết bàn tịch diệt; năm căn thuộc Bồ
tát hay sanh tâm từ bi sâu xa đối với chúng sanh oán ghét,
cũng hay quán thật tướng các pháp là vô sanh, vô diệt, tuy
chưa được thành Phật cũng có thể tín thọ việc Phật.
Lại do năm căn của Bồ tát nên hay thấy, hay nghe, hay biết
lực thần thông của Phật, chẳng phải hàng Thanh văn, Bích
chi Phật bắt kịp. Như trong kinh Bất Khả Tư Nghì Giải Thoát
nói: Xá lợi phất, Mục liên, Tu bồ đề v.v... tuy ở hai bên
Phật, song vì không có năm căn của Bồ tát nên không thấy
Bồ tát đại hội và lực thần thông, cũng không nghe Phật
nói lý bất khả tư nghì giải thoát. Thế nên nói, nếu Bồ
tát đầy đủ năm căn tín, tấn v.v... thời gọi là chẳng
thoái chuyển.
Hỏi:
Trong các kinh khác nói: Người lành thời thân, khẩu, ý nghiệp
không có dữ, biết ân, báo ân, hay vì chúng sanh nên từ bỏ
cái vui của mình để an ổn cho chúng sanh, có làm việc lợi
ích gì không cầu quả báo, như vậy là tướng của Thượng
nhơn. Vì sao chỉ nói có một việc tâm không tán loạn, tu
vô thượng đạo gọi là Thượng nhơn?
Ðáp:
Trong đây Phật tự lược nói chỉ một việc nhất tâm không
tán loạn là thu nhiếp các pháp lành, vì sao? Vì quí trọng
Phật đạo nên các phiền não bị bẻ mỏng, sanh từ tâm sâu
xa đối với chúng sanh, tự đem thân mạng cấp thí huống
gì không biết ân, báo ân. Thường nhất tâm niệm tưởng
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, giữ giới thanh tịnh, nên
không sống theo tà mạng là không làm chú thuật, hoà hợp
thuốc thang. Chú thuật là có thể dấu thân khiến người
khác không thấy, có thể biến người làm súc thú. Hòa hợp
thuốc thang là dùng mỗi cầu Tiên giáng và hòa hợp các thứ
thuốc chữa bệnh để cầu tài danh cầu danh. Chú quỷ là
có người muốn biết việc vị lai, phù chú ma quỷ khiến
nhập vào con trai, con gái để hỏi việc lành dữ, sanh con
trai hay con gái, thọ mạng dài ngắn giàu, vui, hơn, thua v.v...
Nếu có làm là vì nhiếp hóa chúng sanh, phá tâm kiêu mạn
của nó, không vì tài lợi danh vọng, vì sao? Vì người ấy
biết hết thảy pháp tự tướng không; nên không thấy các
pháp tướng là thân mình, vợ, con, nam nữ; vì không thấy
tướng ấy nên không làm việc tà để nuôi sống.
(Hết
cuốn 73 theo bản Hán)