Tập
5
Cuốn
100
KINH:
Bấy giờ Tát-đà-ba-luân và người con gái của vị trưởng
giả cùng 500 người hầu gái đi đến chỗ Ðàm-vô-kiệt rải
hoa trời Mạn-đà-la, đầu mặt đảnh lễ xong lui ngồi một
bên. Ðàm-vô-kiệt thấy các người ấy ngồi xong, bảo
Tát-đà-ba-luân rằng: Này thiện nam tử, hãy lắng nghe, khéo
lãnh thọ, nay Ta sẽ vì ông nói tướng Bát-nhã ba-la-mật.
Này thiện nam tử, vì các pháp bình đẳng nên biết Bát-nhã
ba-la-mật cũng bình đẳng; vì các pháp lìa tướng nên biết
Bát-nhã ba-la-mật cũng lìa tướng; vì các pháp bất động
nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng bất động; vì các pháp không
nhớ nghĩ nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng không nhớ nghĩ;
vì các pháp không sợ nên Bát-nhã ba-la-mật cũng không sợ;
vì các pháp một vị nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng một
vị; vì các pháp vô biên nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng
vô biên; vì các pháp vô sinh nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng
vô sinh; vì các pháp vô diệt nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng
vô diệt; vì hư không vô biên nên biết Bát-nhã ba-la-mật
cũng vô biên; vì nước biển lớn vô biên nên biết Bát-nhã
ba-la-mật cũng vô biên; vì núi Tu-di trang nghiêm nên biết Bát-nhã
ba-la-mật cũng trang nghiêm; vì hư không không có phân biệt
nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng không có phân biệt; vì sắc
vô biên nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng vô biên; vì thọ,
tưởng, hành, thức vô biên nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng
vô biên; vì địa chủng vô biên nên biết Bát-nhã ba-la-mật
cũng vô biên; vì thủy chủng, hỏa chủng, phong chủng vô biên
nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng vô biên; vì không giới vô
biên nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng vô biên; vì như kim cang
bình đẳng nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng bình đẳng; vì
các pháp không có phân biệt nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng
không có phân biệt; vì các pháp tính không thể có được
nên biết Bát-nhã ba-la-mật tính cũng không thể có được;
vì các pháp không có sở hữu, bình đẳng; nên biết Bát-nhã
ba-la-mật cũng không có sở hữu, bình đẳng; vì các pháp
không làm nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng không làm; vì các
pháp không thể nghĩ nghì nên biết Bát-nhã ba-la-mật cũng
không thể nghĩ nghì.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân ngay nơi chỗ ngồi được các tam-muội,
đó là tam-muội Các pháp bình đẳng, tam-muội Các pháp lìa
tướng, tam-muội Các pháp không sợ, tam-muội Các pháp một
vị, tam-muội Các pháp vô biên, tam-muội Các pháp không sinh,
tam-muội Các pháp không diệt, tam-muội Hư không vô biên, tam-muội
Nước biển lớn vô biên, tam-muội Núi Tu-di trang nghiêm, tam-muội
Hư không không có phân biệt, tam-muội Sắc vô biên, tam-muội
Thọ, tưởng, hành, thức vô biên, tam-muội Ðịa giới vô
biên, tam-muội Thủy giới, hỏa giới, phong giới, không giới
vô biên, tam-muội Như kim cang bình đẳng, tam-muội Các pháp
không có phân biệt, tam-muội Các pháp không thể nghĩ bàn;
như vậy thảy đều được trăm ngàn vạn ức môn tam-muội.
Bấy
giờ Phật bảo Tu-bồ-đề: Như Ta nay ở giữa ba ngàn đại
thiên thế giới có các Tỳ-kheo Tăng vây quanh, với tướng
ấy, với tướng mạo ấy, với danh tự ấy nói Bát-nhã ba-la-mật.
Tát-đà-ba-luân được 600 vạn môn tam-muội, thấy phương
đông, tây, nam, bắc, bốn góc, trên, dưới. Chư Phật
trong thế giới đại thiên ba ngàn số như cát sông Hằng với
các Tỳ-kheo cung kính vây quanh; do tướng như vậy; tướng
mạo như vậy, danh từ như vậy, thuyết Bát-nhã ba-la-mật
cũng như vậy. Tát-đà-ba-luân từ đó về sau trí tuệ
nghe nhiều không thể nghĩ bàn, như nước biển lớn; thường
không xa lìa Phật, thường sinh trong nước có Phật, cho đến
trong mộng chưa từng lúc nào không thấy Phật. Hết thảy
các nạn đều dứt sạch, theo nguyện vãng sinh ở nước có
Phật. Này Tu-bồ-đề, nên biết nhân duyên của Bát-nhã
ba-la-mật ấy có thể làm thành tựu hết thảy công đức
của Bồ-tát, được trí Nhất thiết chủng. Vì thế,
nên các Bồ-tát nếu muốn học sáu Ba-la-mật hãy nên vào
sâu trí tuệ chư Phật, muốn được trí Nhất thiết chủng
hãy nên thọ trì Bát-nhã ba-la-mật, đọc tụng, nhớ nghĩ
đúng, rộng vì người nói, cũng viết chép quyển kinh cúng
dường, tôn trọng, tán thán, cúng hương hoa cho đến kỹ nhạc,
vì sao? Vì Bát-nhã ba-la-mật là mẹ của mười phương
chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại; được mười phương
chư Phật tôn trọng.
LUẬN:
Ðàm-vô-kiệt đã đi ra đến pháp tòa, xem khắp không có ai
hơn mình, bấy giờ mới ngồi. Khi ấy Tát-đà-ba-luân
biết đã ngồi chắc, đi đến đầu mặt đảnh lễ dưới
chân rồi ngồi một bên.
Ðảnh
lễ có ba cách: Một là miệng lễ, hai là quỳ gối mà đầu
không sát đất, ba là đầu sát đất; đó là sự lễ cao thượng.
Trong một thân người, đầu ở trên hết, chân ở dưới hết;
đem đầu lễ chân là cung kính cùng tột.
Ðàm-vô-kiệt
thấy người kia đã ngồi xong, biết người từ xa đi đến
không tiếc thân mạng, chịu mọi siêng khổ, chỉ vì muốn
nghe Pháp. Lúc mới thấy nhau, vì mặt trời sắp lặn
nên thời gian nghe Pháp ngắn. Ðàm-vô-kiệt vì thấy mặt
trời lặn nên đứng dậy đi vào cung; nay vì Pháp nên bảy
năm khát ngưỡng không sinh tâm khác. Khi Ðàm-vô-kiệt
sắp đi ra, thời Tát-đà-ba-luân lấy máu rưới đất, biết
người kia vì Pháp, không tiếc thân mạng, tâm kia không thoái
chuyển, quyết định không nghi ngờ, có thể nhận sự giáo
hóa, nên bảo rằng: Này thiện nam tử, hãy nhất tâm lắng
nghe. Ở trên nói nghi Phật từ đâu đến, đi về đâu
đã dứt, nay chỉ muốn nghe Bát-nhã ba-la-mật sâu xa, nên nói
cho tướng Bát-nhã ba-la-mật.
Tướng
Bát-nhã ba-la-mật là như trước đã nói trong các nghĩa: Các
pháp bình đẳng nên Bát-nhã ba-la-mật bình đẳng v.v...
Hoặc
có người nói: Vì sức Bát-nhã ba-la-mật nên quán các pháp
đều bình đẳng, chứ chẳng phải tính các pháp bình đẳng.
Thế nên Ðàm-vô-kiệt nói: Vì các pháp bình đẳng nên Bát-nhã
ba-la-mật bình đẳng, vì sao? Vì nhân quả giống nhau.
Lúc mới quán các pháp bình đẳng là nhân, khi tâm quyết định
được Bát-nhã ba-la-mật là quả.
Hỏi:
Quán các pháp bình đẳng tức là Bát-nhã, Bát-nhã tức là
bình đẳng, cớ gì phân biệt làm nhân, quả?
Ðáp:
Bát-nhã và các pháp tuy một tướng, không hai không khác, song
hành giả khi quán các pháp bình đẳng là nhân, quán xong gọi
là quả. Như đạo Tu-đà-hoàn có đắc và hướng.
Lại như năm uẩn hữu lậu, khi ở trong tập gọi là nhân,
khi ở trong quả gọi là quả. Hết thảy pháp sắc v.v...
bình đẳng tức là Bát-nhã ba-la-mật bình đẳng.
Hỏi:
Nên nói tướng Bát-nhã ba-la-mật, nay cớ gì nói bình đẳng?
Nhân không có bình đẳng nên mới có bình đẳng, nhân có
bình đẳng nên mới có không bình đẳng? Ðối với Bát-nhã
cũng chẳng phải một tướng, cũng chẳng phải khác tướng,
cớ gì ông muốn thủ lấy một tướng?
Ðáp:
Bát-nhã rất sâu xa, vi diệu, không dùng phương tiện thuyết
thời không ai hiểu được. Thế nên, nếu phân biệt
không có bình đẳng thời sinh ra phiền não. Ba độc tăng
trưởng, đó là thân yêu, oán ghét, yêu thiện, ghét bất thiện.
Bồ-tát đối với hai thứ ấy quán hết thảy pháp đều bình
đẳng, nơi chúng sinh quán oán thân, thương ghét đều bình
đẳng, mở cửa phước đức, đóng các đường ác. Trú
trong pháp bình đẳng thời các ức tưởng phân biệt và tâm
thủ tướng chấp trước đối với hết thảy pháp đều dứt
trừ , chỉ thấy các pháp không; không tức là bình đẳng.
Có
người được các pháp bình đẳng không ấy, đi thẳng đến
đạo Bồ-tát, đối với không, không còn hí luận. Có
người tuy được pháp bình đẳng mà sinh hí luận, hoặc
quán tất cả đều không. Vì có lỗi như vậy, nên người
ấy đối với bình đẳng tức không bình đẳng. Thế
nên trong đây vì chơn bình đẳng nên nói Bát-nhã ba-la-mật
bình đẳng, chẳng phải là hí luận. Lìa hai bên bình
đẳng và không bình đẳng là tướng Bát-nhã ba-la-mật.
Hỏi:
Bình đẳng là đối với tướng Bát-nhã đã đầy đủ, cớ
gì còn nói lìa tướng, vô biên v.v... là tướng Bát-nhã?
Ðáp:
Trong kinh chỉ nói các pháp bình đẳng nên Bát-nhã bình đẳng.
Hành giả thủ lấy tướng bình đẳng ấy mà sinh tâm chấp
trước, nên nói tướng Bát-nhã bình đẳng, tự tính xa lìa,
vì sắc pháp v.v... tự tính xa lìa. Nghĩa xa lìa như trong
phẩm Tướng, Vô tướng đã nói. Ðược các pháp bình
đẳng này, lại đối với bình đẳng lìa tướng, an trú trong
không; trú trong không thời bất động, hí luận không làm
lay động, núi phiền não không làm lay động được, kiếp
vô thường không lay động được, vì sao? Vì được
thật tướng của hết thảy pháp. Bồ-tát trú trong hai
không ấy được Bát-nhã bất động; ấy là rốt ráo.
Nếu có khởi lên nhớ nghĩ tức là chỗ có tướng chấp trước,
nên nói các pháp không có nhớ nghĩ. Nên biết Bát-nhã
ba-la-mật cũng không có nhớ nghĩ.
Tướng
không động là Bát-nhã, vì Bát-nhã ba-la-mật tướng diệt.
Nếu không nhớ nghĩ Bát-nhã ấy thời hoặc bị mê muội,
không có chỗ xu hướng. Người có hí luận ở giữa
đại chúng thời hay sinh sợ hãi. Hoặc vì đối Niết-bàn
không hiểu rõ nên cũng sinh sợ hãi, thế nên nói tướng không
sợ hãi là Bát-nhã ba-la-mật. Người ấy tuy không quyết
định chấp thủ tướng các pháp mà vào sâu pháp tính, nên
ở giữa đại chúng nếu có người luận nạn về các tướng
thời tâm không sợ hãi, vì đối với các pháp được vô
tướng.
Lại,
khi vào vô sinh pháp nhẫn, biết hết thảy pháp không thể
có được, nơi trong ấy cũng không sợ hãi, vì sao? Vì
Bồ-tát khéo thông đạt hết thảy pháp.
*
Lại nữa, hết thảy pháp một tướng nghĩa là tính không.
Thế nên Bát-nhã ba-la-mật tùy theo hết thảy pháp, nên cũng
một vị tính không.
Hỏi:
Trên đã nói các pháp bình đẳng, nay cớ gì còn nói một
vị?
Ðáp:
Không, hoặc có khi có vị, hoặc có khi không có vị.
Nếu hành giả vì các kiến chấp thủ tướng phân biệt mà
trù lượng tốt xấu; bấy giờ được bình đẳng không tâm
đối với các pháp, thời rất hoan hỉ, nên gọi là ý.
Như người bị nóng khát bức bách, gặp được nước trong
mát cho vị ấy không gì sánh bằng, tùy thời sử dụng nên
gọi là vị. Chơn thật rốt ráo không, thời không có
vị hay không vị.
*
Lại nữa, một vị là Bồ-tát khi hành Bát-nhã, đối với
sở quán, sở duyên đều là một vị, vì sức trí biết về
tính không rất lớn, nên các pháp khác đều đi theo mà không.
Thí như nấu đường phèn, khi sắp chín, tuy có vật khác hợp
vào đều biến thành đường phèn.
Lại
như biển lớn trăm sông chảy về đều thành một vị, đó
là vị rốt ráo không. Các pháp sắc v.v... cũng như vậy,
ở trung tâm phàm phu mỗi mỗi sai khác mà vào trong Bát-nhã
thời đều thành một vị. Bên cạnh danh và tướng hoặc
có hoặc không, nếu thật quán các pháp sắc v.v... chẳng phải
có chẳng không nên vô tướng, vô tướng tức là vô biên;
quán như vậy tức là Bát-nhã ba-la-mật vô biên.
*
Lại nữa, có người nói: Biên có hai, là bên thường và bên
đoạn; bên thế gian và bên Niết-bàn. Bên Niết-bàn,
bên ác, bên lành v.v... trong đây không có các bên như vậy
nên gọi là Bát-nhã ba-la-mật vô biên.
*
Lại nữa, có người nói: Biên là đời trước, đời sau.
Thế gian vô thỉ cho nên không có đời trước; vào Vô dư
Niết-bàn nên có đời trước, không sinh ra trở lại cho nên
không có đời sau. Phân biệt các biên như vậy, đắm
trước thế gian nên sợ Niết-bàn. Thế nên trong Bát-nhã
ba-la-mật không có các biên ấy, chỉ nghe nói thật tướng
các pháp không vào, không ra.
Hỏi:
Các pháp bình đẳng, các pháp tự tính lìa đều là vô biên,
cớ gì còn nói riêng?
Ðáp:
Có người biết các pháp bình đẳng, biết các pháp tự tính
lìa, thời không cần nói. Nếu có người chấp thủ tướng,
vì đắm trước một vị ấy nên nói là vô biên. Ðàm-vô-kiệt
không phải chỉ vì Tát-đà-ba-luân mà thuyết pháp, Tát-đà-ba-luân
cũng không chỉ tự vì mình nên hỏi, mà chỉ vì chúng sinh
có nhiều tâm tính, nhiều hành động nên đối với tướng
Bát-nhã ba-la-mật lược nói các tướng. Không sinh, không
diệt như trước đã nói ở đoạn dùng các nhân duyên phá
sinh diệt. Hư không vô biên như đã nói trong ví dụ hư
không trong pháp Ðại thừa. Nước biển lớn vô biên,
Tu-di trang nghiêm vì trước chưa nói nên nay sẽ lược nói.
Hỏi:
Hư không vô biên vì là pháp thường, không tìm được biên
giới nó, có thể nói vô biên, còn nước biển lớn ở trong
bốn châu thiên hạ, bao quanh núi Tu-di có số lượng do tuần,
có người vượt qua được, cớ sao nói vô biên?
Ðáp:
Vô biên có hai: Một là thật vô biên; hai là người ta không
thể đếm được nên vô biên. Biển cũng có hai phần:
Phần có thể qua được và phần bao quanh núi Tu-di ở giữa
chín núi báu rộng 84.000 do tuần. Người thế gian không
biết được biên giới nó nên nói là vô biên. Như biển
nhỏ, sức thuyền có thể qua được, nước biển lớn sức
thuyền không thể qua được. Như phàm phu ngoại đạo
có thể có chiếc thuyền thiền định vượt qua biển Dục
giới, Sắc giới, còn Vô sắc giới như biển lớn sâu rộng,
không thể vượt qua được, vì không thể phá tâm ngã.
Các bậc hiền thánh có đôi cánh trí tuệ và thiền định,
phá tướng tà đối với các pháp, được thật tướng nên
có thể qua được. Thế nên mà nói ví dụ như biển
lớn.
Hỏi:
Núi Tu-di một màu sắc, vì sao nói trang nghiêm?
Ðáp:
Sách ngoài nói núi Tu-di một màu sắc, thuần là vàng ròng.
Luận Lục-túc Tỳ-bà-sa nói: Bốn phía núi Tu-di đều do một
thứ báu thành, hoặc vàng, bạc, pha lê, lưu ly trang nghiêm,
chim đến đậu phía nào cũng đều đồng một màu sắc ấy.
Anh em của Long vương như Nan-đà-bà-nan-đà đem thân nhiễu
quanh bảy vòng. Trên đỉnh núi có cung trời Ba mươi ba,
thành kia bảy lớp gọi là Hỷ kiến. Có 999 cửa, bên
mỗi mỗi cửa đều có 16 vị thần đại lực áo xanh thủ
hộ. Chỗ cao trong thành dựng điện gọi là điện Tối
thắng. Bốn phía có bốn vườn lớn, bốn vua trời ở
bốn phía, có núi gọi là Du-càn-đà, mỗi núi cao 42.000 do
tuần, mỗi Thiên vương trị vì trên đó. Nước trong
bốn biển lớn có cung điện của A-tu-la và Long vương.
Chín núi báu Du-càn-đà v.v... có mặt trời, mặt trăng, năm
tinh, 28 tú và các sao khác vây quanh trang nghiêm. Các thứ
trang sức dùng để trang nghiêm như vậy trông không biết chán;
Bát-nhã ba-la-mật cũng như vậy. Quả báo của sáu Bát-nhã
ba-la-mật là được làm Chuyển luân vương, Phạm vương, Ðế-thích,
trời Tịnh cư, trời Ðại tự tại. Quả báo như vậy
do khi hành Bát-nhã ba-la-mật chưa đầy đủ nên hưởng được
quả báo trang nghiêm ấy. Khi Bát-nhã ba-la-mật đầy đủ
thời được quả Tu-đà-hoàn cho đến quả A-la-hán, đạo
Bích-chi Phật, địa vị Bồ-tát bất thoái chuyển và đạo
quả chư Phật trang nghiêm. Như phía trên và dưới núi
Tu-di đều trang nghiêm, Bát-nhã ba-la-mật trang nghiêm cũng như
vậy. Khi chưa đầy đủ thời sự trang nghiêm của chư
thiên là bậc nhất, khi đầy đủ rồi thời có các đạo
quả trang nghiêm. Như núi Tu-di khi kiếp bắt đầu thành
lập, bốn phía có gió lớn thổi thời chất vị tinh túy của
đất nhóm lại làm Tu-di, lại có gió thổi làm cho cứng thành
báu; Bát-nhã ba-la-mật cũng như vậy. Ðối với hết
thảy pháp lành là cứng, chắc thật bậc nhất, hòa hợp bền
chắc bằng Bát-nhã. Như núi Tu-di bốn phía gió lớn thổi
sóng nước biển lớn, không thể làm lay động; Bát-nhã ba-la-mật
cũng như vậy, các ngoại đạo tà kiến hí luận và các ma
dân không thể làm lay động. Như đỉnh núi Tu-di có vườn
bốn phía, chư thiên đi đến hưởng thọ các thứ vui; Bát-nhã
ba-la-mật cũng như vậy. Hành giả lên được đỉnh Bát-nhã,
đi đến trong vườn bốn thiền định hưởng các thứ vui.
*
Lại nữa, có người nói: Núi Tu-di chim đến đều đồng một
màu với núi, Bát-nhã ba-la-mật cũng như vậy, các pháp vào
trong Bát-nhã đều đồng một tướng, đó là vô tướng.
Như
hư không không có phân biệt, là hư không không có phân biệt
trong ngoài, xa gần, dài ngắn, sạch, không sạch; Bát-nhã ba-la-mật
cũng như vậy. Các pháp vào trong Bát-nhã cũng không có
phân biệt trong ngoài, lành, chẳng lành.
Như
năm uẩn vô biên là, năm uẩn thường biến khắp thế gian;
Bát-nhã ba-la-mật cũng như vậy, không xa lìa năm uẩn.
Thật tướng năm uẩn tức là Bát-nhã ba-la-mật.
*
Lại nữa, như sắc pháp v.v... phân tích, chia rẽ cho đến
vi trần thời không có phương hướng nên không có ranh giới.
Pháp vô sắc vì không có hình nên không có đây kia, không
có đây kia nên không có ranh giới; Bát-nhã ba-la-mật cũng
như vậy, đối với hết thảy pháp phân biệt sắc cho đến
vi trần, phân biệt pháp vô sắc cho đến trong một niệm không
thấy chắc chắn có thường, lạc, ngã, tịnh. Thế nên
nói sắc vô biên nên Bát-nhã vô biên, cho đến hư không sáu
chủng cũng như vậy.
Như
Kim cương là, chư Thiên vương Cầm kim cương, không ghét không
thương, tùy chỗ sử dụng mà không có việc gì không đánh
nát. Tâm trước khi được Nhất thiết trí của chư Phật,
tam-muội trong tâm ấy có thể dứt hết thảy kiết sử phiền
não điên đảo và tập khí nên gọi là như Kim cương.
Như trí tuệ tương ưng với tam-muội Kim cương mà quán hết
thảy pháp đều bình đẳng, Bát-nhã ba-la-mật quán hết thảy
pháp bình đẳng cũng như vậy, vì sao? Vì Bát-nhã trước
quán các pháp bình đẳng vậy sau mới được tam-muội ấy.
Các
pháp không có phân biệt là, người phàm phu thế gian vì sức
phiền não nên phân biệt các pháp, được thật tướng các
pháp thời đều phá hoại đổi khác. Thế nên thánh nhân
được Bát-nhã ba-la-mật không theo ức tưởng phân biệt các
pháp mà vào trong tam-muội Không, Vô tướng, Vô tác; nếu khi
các pháp đổi khác thời không ưu sầu, vì từ trước lại
đây không phân biệt thủ tướng các pháp.
Các
pháp tính không thể có được là, hết thảy pháp đều do
nhân duyên hòa hợp sinh, không có cái gì không do nhân duyên
hoặc ít nhân duyên mà sinh khởi. Nếu từ nhân duyên
sinh thời không có tự tính. Tự tính là sự thật quyết
định vốn có. Nếu tính từ nhân duyên hòa hợp sinh,
nên biết khi chưa hòa hợp thời không có. Nếu trước
không có nay từ nhân duyên hòa hợp có thời biết không có
tính. Nếu từ nhân duyên hòa hợp sinh tính thời tính
ấy tức là pháp tạo tác. Tính gọi là không đợi nhau,
không nhân nhau, thường phải riêng có, độc lập. Pháp
hữu vi như vậy thời không có. Thế nên nói hết thảy
pháp tính không thể có được; tính Bát-nhã ba-la-mật cũng
như vậy.
Vì
các pháp không có sở hữu là, các pháp tính không thể có
được, các duyên cũng không thể có được. Các duyên
cũng không thể có được nên đều là không có sở hữu.
Vào trong không có sở hữu, thời đều bình đẳng, vì sao?
Vì có nên có phân biệt; vì không nên không có phân biệt.
Như hương cỏ, hương chiên đàn, khi đốt lên thời có phân
biệt, khi diệt mất thời không có phân biệt.
Các
pháp không làm là, vì chúng sinh không, pháp không thời đều
không làm.
Chúng
sinh làm là, làm mười việc lành và mười việc chẳng lành
v.v...
Pháp
làm là, lửa cháy, nước chảy, gió động, thức hay nhận
thức, tri hay biết các pháp như vậy, mỗi mỗi tự có sức
riêng. Không có chúng sinh cho đến không có kẻ biết
kẻ thấy; không có sắc cho đến trí Nhất thiết chủng đều
như trước đã phá.
Phá
chúng sinh cho nên không có kẻ làm là, phá pháp nên không có
làm, chỉ vì người phàm phu bị điên đảo che lấp nên nói
có làm.
Các
pháp không thể nghĩ nghì là, hết thảy pháp không có được
tướng quyết định hoặc thường hoặc vô thường, hoặc
khổ hoặc vui, hoặc thật hoặc không, hoặc ngã hoặc vô ngã,
hoặc sinh diệt hoặc không sinh diệt, hoặc tịch diệt hoặc
không tịch diệt, hoặc lìa hoặc chẳng lìa, hoặc có hoặc
không có; các môn phân biệt cũng như vậy, không thể nghĩ
nghì, vì sao? Vì các pháp ấy đều từ trong tâm ức tưởng
phân biệt sinh, không thể có quyết định. Thật tính
của hết thảy pháp đều vượt qua danh tự ngôn ngữ của
tâm tâm số pháp. Như phẩm trước nói: Hết thảy pháp
bình đẳng, hết thảy hiền thánh không thể hành, không thể
đến, thế nên không thể nghĩ nghì; Bát-nhã ba-la-mật cũng
như vậy, vì quán pháp ấy nên phát sinh.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân liền từ chỗ ngồi được các tam-muội.
Hỏi:
Tát-đà-ba-luân trước đã biết các pháp tướng không, nay
chịu mọi siêng khổ, đứng luôn bảy năm để thấy Ðàm-vô-kiệt
được lợi ích gì?
Ðáp:
Tát-đà-ba-luân trước thấy chư Phật được các tam-muội,
vì quý trọng Bát-nhã ba-la-mật nên sinh ra trước tướng.
Nay Ðàm-vô-kiệt qua bảy năm từ định khởi dậy nói Bát-nhã
để phá tâm chấp trước tướng kia. Hết thảy pháp
tính tự không, chẳng phải Bát-nhã ba-la-mật làm cho nó không.
Vì thế nên nói, vì các pháp bình đẳng nên Bát-nhã ba-la-mật
bình đẳng, vì các pháp lìa tướng, cho đến các pháp không
thể nghĩ nghì nên Bát-nhã ba-la-mật không thể nghĩ nghì.
Không thể khinh hèn các pháp khác mà quý trọng Bát-nhã, vì
sao? Vì không để cho nhân Bát-nhã lại sinh chấp trước
cấu uế. Bát-nhã ba-la-mật tuy rốt ráo thanh tịnh, có
nhiều lợi ích lại không thể thủ tướng mà sinh tâm chấp
trước, như vàng cháy nóng tuy đẹp mà không thể lấy tay
nắm. Tát-đà-ba-luân được sự giáo hóa ấy, dứt tâm
chấp trước đối với Bát-nhã, liền được các tam-muội.
Giải nói mỗi mỗi câu, đối với tâm tán loạn chỉ có trí
tuệ chứ không gọi là tam-muội, nay theo thầy nghe rồi nhất
tâm suy nghĩ gọi là tam-muội. Nhiếp tâm không tán loạn,
trí tuệ biến thành tam-muội. Như đèn giữa gió không
thể chiếu sáng, ở trong nhà yên lặng đóng cửa, ánh sáng
chiếu khắp. Trước đã vì tâm dục giới tán loạn nên
sức trí tuệ chưa thành tựu; nay trong khi nhiếp tâm nghe được
các pháp đều gọi là tam-muội, có thể phá trừ phiền não
và ma dân. Như nước khi gió lạnh chưa đến, chưa đóng
thành băng thời không có tác dụng cứng, nếu đóng thành
băng thời có thể đi lên trên được. Ðược sáu trăm
vạn môn tam-muội như vậy, Tát-đà-ba-luân được nghe Ðàm-vô-kiệt
thuyết pháp, đối với các pháp được trí tuệ sáng suốt
lớn; nghĩa là được môn thật tướng của các pháp.
Các pháp bình đẳng, bình đẳng là trí tuệ. Vào trong
tâm thiền định của Tát-đà-ba-luân biến thành tam-muội.
Nay
muốn nói tam-muội, trí tuệ, quả báo đời này đời sau.
Bấy
giờ Phật bảo Tu-bồ-đề, như nay ta ở giữa chúng thuyết
Bát-nhã, vì tướng ấy, vì tướng mạo ấy, vì danh dự ấy
nói Bát-nhã ba-la-mật. Tát-đà-ba-luân theo Ðàm-vô-kiệt
được tam-muội, ở trong tam-muội thấy mười phương Phật
ở giữa đại chúng nói Bát-nhã cũng như vậy. Này Tu-bồ-đề,
Tát-đà-ba-luân từ đây về sau rất ưa vui pháp nên chứa
nhóm nhiều kinh, nghe nhiều, đọc tụng rộng rãi; như A-nan,
Phật dạy điều gì đều có thể nhớ giữ. Tát-đà-ba-luân,
có trí tuệ đa văn không thể nghĩ nghì, như nước biển lớn,
ngay trong đời ấy thường không lìa Phật. Như vậy gọi
là quả báo đời nay. Xả bỏ thân, thường sinh trong
nước có Phật, khéo tu hành tam-muội Niệm Phật, nên cho đến
trong mộng, ngay từ đầu không rời sự thấy Phật. Các
nạn địa ngục v.v... đều đã dứt hết vĩnh viễn, tùy ý
vãng sinh vào cõi nước của chư Phật. Vì người kia
sâu vào Bát-nhã ba-la-mật, chứa nhóm vô lượng công đức
nên không theo nghiệp thọ sinh. Tát-đà-ba-luân từ một
cõi Phật đến một cõi Phật cúng dường chư Phật, độ
thoát chúng sinh, nhóm vô lượng công đức; thí như vị trưởng
giả hào quý, từ một chúng hội đến một chúng hội, cho
đến nay ở chỗ Phật Ðại Lôi AÂm tịnh tu phạm hạnh.
Nếu có người muốn cầu Bát-nhã ba-la-mật hãy nên như Tát-đà-ba-luân,
kiên định nhất tâm, không thể khuynh động. Thế nên
nên biết, nhân duyên của Bát-nhã ba-la-mật có thể thành
tựu được hết thảy công đức. Các Bồ-tát được
Bát-nhã, các tội cấu khi xuất gia như tà nghi, hí luận thảy
đều trừ diệt, được tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh nên
được hết thảy công đức.
Ðược
trí Nhất thiết chủng là, được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác.
Sáu
Bát-nhã ba-la-mật là, từ sơ địa cho đến thất địa, được
vô sinh pháp nhẫn; bát địa, cữu địa, thập địa là vào
sâu trí tuệ Phật, được trí Nhất thiết chủng, thành Phật.
Ðối
với hết thảy pháp được tự tại là, đều có thể thọ
trì cho đến dùng hoa hương, kỹ nhạc cúng dường.
Tu-bồ-đề
vì thường ưa hạnh Không nên Phật cùng Tu-bồ-đề nói Bát-nhã.
Lại, Tu-bồ-đề được tam-muội Vô tránh nên Phật không
thể phó chúc. A-nan được Ðà-la-ni Văn trì, lại thường
gần gũi Phật, nên được Phật phó chúc rộng rãi.
Phẩm
90
Giải
Thích: Phẩm Chúc Lụy Thứ 90
KINH:
Bấy giờ Phật bảo A-nan: Ý ông nghĩ sao, Phật là đại sư
của ông chăng? Ông là đệ tử của Phật chăng?
A-nan
thưa: Bạch đức Thế Tôn, Phật là đại sư của con.
Tu-già-đà là đại sư của con, con là đệ tử của Phật.
Phật
dạy: Như vậy, như vậy, Ta là đại sư của ông, ông
là đệ tử của Ta. Như những việc đệ tử cần làm
ông đã làm xong. Này A-nan, ông dùng nghiệp từ của thân,
nghiệp từ của miệng, nghiệp từ của ý mà cúng dường
cung cấp cho Như Lai, thường làm đúng ý Như Lai, không có
trái lỗi. Này A-nan, thân Như Lai hiện tại ông yêu kính
cúng dường cung cấp, tâm ông thường thanh tịnh, sau khi Như
Lai diệt độ, hết thảy sự ái kính cúng dường cung cấp
nên ái kính cúng dường Bát-nhã ba-la-mật. Cho đến lần
thứ hai, thứ ba Như Lai lấy Bát-nhã ba-la-mật phó chúc cho
ông. Này A-nan, ông chớ quên mất, chớ là người tối
hậu làm dứt giống Phật. Này A-nan, tùy theo bao nhiêu
lâu Bát-nhã ba-la-mật trú ở đời, nên biết bấy nhiêu lâu
có Phật trú ở đời thuyết pháp. Này A-nan, nếu có
người chép Bát-nhã ba-la-mật, thọ trì, đọc tụng, nhớ
nghĩ đúng, rộng vì người nói, nên cung kính, tôn trọng tán
thán, hoa hương phan lọng, áo báu, đèn đuốc mỗi mỗi cúng
dường người ấy, nên biết người ấy không lìa thấy Phật,
không lìa nghe pháp, thường gần gũi Phật.
Phật
nói Bát-nhã ba-la-mật xong, các Bồ-tát Di-lặc v.v... và Huệ
mạng Tu-bồ-đề, Xá-lợi-phất, Ðại Mục-kiền-liên, Ma-ha
Ca-Diếp, Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử, Ma-ha Câu-hy-la, Ma-ha Ca-chiên-diên,
A-nan v.v... cùng hết thảy đại chúng và hết thảy thế gian
trời, người, Càn-thát-bà, A-tu-la nghe Phật thuyết đều rất
hoan hỉ v.v...
LUẬN.
Hỏi: Phật đã dứt tâm ưa đắm pháp, cho đến trí Nhất
thiết chủng, Niết-bàn, còn không chấp trước, không thủ
tướng, cớ sao nay dùng mỗi mỗi nhân duyên phó chúc pháp
ấy, in tuồng như ưa đắm pháp?
Ðáp:
Chư Phật có tâm đại từ bi, từ khi mới phát tâm lại đây
cho đến khi vào cửa Niết-bàn, thường không rời bỏ, ở
giữa đôi cây Ta-la dùng sức tam-muội Kim-cang vì chúng sinh
mà làm nát thân như mè, gạo để lại làm lợi ích, huống
gì kinh pháp có nhiều lợi ích mà không phó chúc?
Lại,
A-nan là người chưa lìa dục, chưa biết hết uy lực quả
báo của Bát-nhã ba-la-mật có nhiều lợi ích, vì thế ân
cần phó chúc rằng: Ông nên khéo gìn giữ, không để quên
mất. Vì vậy nên Phật tuy đối với hết thảy pháp
không có thương ghét, tướng thường tịch diệt mà phó chúc
Bát-nhã ấy.
Hỏi:
A-nan là người Thanh văn, cớ gì Phật đem Bát-nhã ba-la-mật
phó chúc mà không phó chúc cho các đại Bồ-tát như Di-lặc
v.v...?
Ðáp:
Có người nói: A-nan thường hầu hai bên Phật, cúng dường
sự cần dùng, được Ðà-la-ni Văn trì. Nghe rồi nhớ
giữ, một lần nghe nhớ mãi không quên. Ðã là em chú
bác của Phật, lại có nhiều bè bạn tiếng tăm rộng
khắp, bốn chúng nương nhờ, là vị thầy thứ ba theo Phật
chuyển bánh xe pháp. Phật biết Xá-lợi-phất thọ mạng
ngắn ngủi, diệt độ sớm nên không phó chúc.
Lại,
A-nan là thầy của 500 A-la-hán có đủ sáu thần thông, ba minh,
cọng giải thoát. A-nan đã có nhiều lợi ích như vậy,
nên phó chúc. Các đại Bồ-tát như Di-lặc v.v... sau khi
Phật diệt độ mỗi mỗi phân tán, theo quốc độ thích ứng
hóa độ chúng sinh. Di-lặc trở lại trên trời Ðâu-suất;
Tỳ-ma-la-cật, Văn-thù-sư-lợi cũng đi đến chỗ chúng sinh
thích ứng để hóa độ. Phật lại do vì các vị Bồ-tát
có sức hiểu sâu Bát-nhã ba-la-mật nên không cần phải nhọc
nhằn phó chúc. A-nan là người Thanh văn, theo pháp Tiểu
thừa, thế nên Phật ân cần phó chúc.
Hỏi:
Nếu như vậy, thời kinh Pháp Hoa và các kinh Phương Ðẳng
khác cớ sao lại phó chúc cho các Bồ-tát Hỷ Vương v.v...?
Ðáp:
Có người nói: Khi ấy Phật thuyết pháp sâu xa khó tin, người
Thanh văn không ở tại đó. Lại như Phật thuyết kinh
Giải thoát không thể nghĩ nghì, 500 A-la-hán ở bên Phật mà
không nghe được; hoặc có khi nghe được mà không thể ứng
dụng; thế nên phó chúc cho các Bồ-tát.
Hỏi:
Lại có pháp gì sâu xa hơn Bát-nhã mà đem Bát-nhã phó chúc
cho A-nan, còn các kinh khác phó chúc cho Bồ-tát?
Ðáp:
Bát-nhã chẳng phải là pháp bí mật; mà các kinh Pháp Hoa v.v...
nói A-la-hán được thọ ký, chắc chắn làm Phật, đại Bồ-tát
vẫn có thể thọ trì, ứng dụng; thí như thầy thuốc giỏi
có thể dùng chất độc làm thuốc.
*
Lại nữa, như trước nói: Bát-nhã có hai, một là Bát-nhã
nói chung cho Thanh văn nghe, hai là chỉ nói cho mười phương
đại Bồ-tát trú trong thập địa nghe, chẳng phải cửu địa
nghe, huống nữa là Bồ-tát mới phát tâm! Lại có kinh
Bồ-tát cửu địa nghe được cho đến sơ địa nghe được,
mỗi mỗi không đồng nhau. Tướng chung của Bát-nhã ba-la-mật
là một mà sâu cạn có khác, thế nên đem phó chúc cho A-nan,
không lỗi.
Hỏi:
Trước đây thấy trong phẩm A-sơ Phật đã phó chúc, nay còn
phó chúc, vậy có gì sai khác?
Ðáp:
Ðạo Bồ-tát có hai: Một là đạo Bát-nhã ba-la-mật, hai là
đạo phương tiện. Trước phó chúc là nói thể tướng
Bát-nhã ba-la-mật xong, nay là nói khiến cho chúng sinh được
phương tiện Bát-nhã ấy xong mà phó chúc; vì thế nên sau
khi thấy Phật A-súc, tiếp nói phẩm AÂu-hòa. Trong Bát-nhã
ba-la-mật tuy có phương tiện, phương tiện tuy có Bát-nhã,
mà tùy theo sự thọ dụng nhiều nên gọi tên. Bát-nhã
và phương tiện, bản thể là một, vì chỗ dùng hơi khác
cho nên nói riêng. Thí như thợ vàng vì phương tiện khéo
léo nên lấy vàng làm các vật khác nhau, tuy đều là vàng
mà tên gọi có mỗi mỗi khác. Bồ-tát được thật tướng
Bát-nhã ba-la-mật ấy, nghĩa là hết thảy pháp tính không,
tướng tịch diệt, không có sở hữu, tức là muốn diệt
độ. Vì sức phương tiện nên không thủ chứng Niết-bàn.
Khi ấy nghĩ rằng, hết thảy pháp tính không, Niết-bàn cũng
không. Ta nay đối với công đức Bồ-tát chưa đầy đủ
nên không nên thủ chứng; khi công đức đầy đủ mới có
thể thủ chứng. Khi ấy Bồ-tát dùng sức phương tiện
vượt qua địa vị Nhị thừa mà vào Bồ-tát vị. Trú
trong Bồ-tát vị biết pháp sâu xa vi diệu không có văn tự
mà dẫn đường cho chúng sinh; ấy gọi là phương tiện.
*
Lại nữa, có phương tiện là Bồ-tát biết hết thảy pháp
rốt ráo tính không, không có sở hữu mà có thể trở lại
khởi lên pháp lành, hành sáu Ba-la-mật, không theo không; hoặc
có thể sinh bốn việc là hoặc nghi, hoặc tà kiến, hoặc
vào Niết-bàn, hoặc làm Phật. Vì Bát-nhã có sự phân
biệt như vậy, nếu có thể trừ tà nghi, không vào Niết-bàn,
ấy là phương tiện. Có người nói: Bát-nhã ba-la-mật
có nhiều lợi ích, tối thắng đối với kho châu báu lớn.
Phật biết sau khi diệt độ có nhiều giặc oán muốn hủy
hoại Bát-nhã nên ở mỗi mỗi phẩm đều phó chúc còn không
có lỗi, huống nữa là chỉ phó chúc hai lần.
Hỏi:
Nếu phó chúc, cớ gì ân cần, trịnh trọng như vậy?
Ðáp:
Vì theo pháp thế tục mà dẫn đường cho chúng sinh. Thí
như chủ khách buôn muốn đi xa đến nước khác, tuy đem tài
bảo phó chúc cho con mà riêng ngọc báu tốt đẹp, giá trị
lớn mới ân cần phó chúc riêng, vì người con kia chưa biết
rõ giá trị quý trọng của châu báu đẹp ấy. Những
người khác vì thấy người chủ khách buôn là người biết
giá trị của châu báu mà ân cần phó chúc nên chắc chắn
biết thứ đó quý, còn nếu nghe người con kia khen ngợi giá
trị châu báu thời không tin; Phật cũng như vậy.
*
Lại nữa, nếu giữa chúng khác và người khác mà khen ngợi
Bát-nhã, phó chúc Bát-nhã thời người ta chê Phật tự khen
ngợi tán thán pháp mình, nên sinh nghi mà không tin, còn đối
với đệ tử phó chúc thời không có chê bai.
Lại
có người nói: Ở phẩm trên Phật nói tướng tịch diệt
không có hí luận là Nhất thiết trí, trong đó không có pháp
quyết định có thể thủ đắc, thời người ta cho là không
quý; nay ân cần phó chúc thời biết Phật không đắm trước
pháp không. Giữa hết thảy chúng sinh, người ái niệm
Bát-nhã không ai hơn Phật. Phật biết Bát-nhã có ơn
sâu nên quý trọng Bát-nhã mà ân cần phó chúc.
Có
người nói: Phật muốn hiện trung đạo nên phó chúc.
Trước nói các pháp không để ngăn bên chấp hữu, nay ân
cần phó chúc thời phá bên chấp không; ấy là trung đạo.
Ðối với người cho rằng Phật có tâm tham, ưa đắm pháp
ấy, thời Phật đã dùng các nhân duyên nói Bát-nhã ba-la-mật
tướng không; đối với người cho Phật rơi vào đoạn diệt
nên Phật ân cần phó chúc. Như vậy là xa lìa hai bên.
Hỏi:
Phật đã biết A-nan là đệ tử, cớ gì còn hỏi A-nan rằng,
ông là đệ tử của Như Lai chăng? Như Lai là thầy của
ông chăng?
Ðáp:
Phật có người đệ tử ác là Tu-na-lị-đa-la. Nhờ có
chút ít nhân duyên nên làm đệ tử Phật. Vì muốn ở
nơi Phật học cách bắn cung, Phật không nói cho, nên liền
trở lại nói với Phật rằng: Tôi chẳng phải đệ tử Phật.
Lại như Tu-thi-ma vì muốn trộm pháp nên làm đệ tử.
Như vậy là hạng đệ tử chỉ trên danh dự.
Lại,
ngoại đạo cho A-nan bất đắc dĩ mà ở bên Phật. A-nan
đã từng làm đệ tử ngoại đạo, mặc áo cỏ, cầu thần
tiên, nay vì Phật là thân tộc nên tôn trọng, cung cấp, hầu
hạ. Do những việc như vậy nên ở giữa đại chúng
Phật hỏi A-nan: Ông là đệ tử Như Lai chăng? Nếu nói
là chơn đệ tử thời nên theo lời dạy bảo của Như Lai.
Thế nên A-nan vì muốn khiến người khác tin, nên đáp lại
với Phật. Phật bảo A-nan: Việc người đệ tử nên
làm ông đã làm đầy đủ. Phép của đệ tử là đem
thân, miệng, ý lành mà cung cấp cho thầy. Có đệ tử
tâm tốt mà thân miệng không xứng; có đệ tử nghiệp thân
miệng tốt mà tâm không xứng. Như đệ tử đem tâm lành,
rất ưa mến thầy, thân miệng tương xứng, không tiếc thân
mạng, không ngại khó nhọc, tự bỏ tâm mình, theo lời dạy
bảo của thầy, A-nan có đủ các việc ấy, nên Phật bảo
A-nan: Nay ông hiện tại cung kính Như Lai, sau khi Như Lai diệt
độ, hãy cung kính Bát-nhã cũng như vậy.
Hỏi:
Bát-nhã là thầy của chư Phật, vì sao A-nan không cung kính
thầy của Phật mà cung kính Phật?
Ðáp:
A-nan tuy chứng đạo quả thứ nhất, song vì lậu hoặc chưa
hết nên không biết sâu Pháp bảo như Phật đã biết.
Thế nên Phật bảo A-nan: Ông cung kính Bát-nhã tức là cung
kính Như Lai.
*
Lại nữa, chúng sinh thấy Phật có 32 tướng, 80 vẻ đẹp
tùy hình, ánh sáng một trượng, thân kim sắc, nhiều người
ái kính, còn Bát-nhã ba-la-mật thời vi diệu, sâu xa, không
hình, không sắc, chỉ người trí mới biết được. Thân
Phật tướng tốt, người trí kẻ ngu đều thấy, đều không
nhàm đủ, thế nên Phật đem thân ví dụ Bát-nhã. Khi
Phật ở đời có thể tự ngăn ma, vì vậy mà Phật bảo A-nan:
Sau khi Như Lai diệt độ, hãy khéo gìn giữ Bát-nhã.
Hỏi:
Phó chúc một lần là đủ, cớ gì đến ba lần?
Ðáp:
Phật rất ưa mến Bát-nhã ba-la-mật, nên ba lần phó chúc.
Hỏi:
Nếu rất ưa mến, sao giới hạn ba lần thôi?
Ðáp:
Thường thời pháp của chư Phật nói không quá ba. Nếu
nói quá ba mà không theo thời thần cầm Kim cương đánh nát.
Lại, ý của thần cầm Kim cương là nếu quá ba lần không
theo, thời là người nghịch, hãy nên diệt đi. Thế nên
Phật hỏi không quá ba lần.
*
Lại nữa, nói một lần thời còn chậm, còn nói quá ba lần
thời rất gấp; giống như người phàm phu tham trước.
*
Lại nữa, tâm người lãnh thọ có ba hạng: Hạng độn căn
phải nói đến ba lần mới sinh tâm thiện. A-nan tuy là
lợi căn nhưng tâm còn Thanh văn, chỉ cầu độ một mình,
thế nên bảo ba lần. Sở dĩ phó chúc là vì không để
pháp diệt tận. Ông nên giáo hóa đệ tử, đệ tử lại
giáo hóa người khác, triển chuyển giáo hóa nhau; thí như
một ngọn đèn lại thắp lên các ngọn đèn khác; ánh sáng
triển chuyển nhiều ra.
Chớ
làm người tối hậu dứt giống Phật, là người đời có
con, nếu không người thừa kế thời gọi là dứt giống,
rất đáng hổ thẹn. Phật lấy thí dụ này bảo A-nan
rằng, ông chớ làm giống Bát-nhã tuyệt dứt ngay nơi thân
ông.
Hỏi:
Như phẩm trước thuyết minh Bát-nhã ba-la-mật, dù nói cũng
không thêm, không nói cũng không bớt, vì tướng rốt ráo tịch
diệt, nay cớ gì nói chớ để diệt mất? Thí như hư
không, ai diệt mất được?
Ðáp:
Bát-nhã ba-la-mật tuy tịch diệt, tướng không sinh không diệt,
như hư không không thể hí luận; nhưng văn tự ngữ ngôn chép
quyển kinh Bát-nhã ba-la-mật, vì người khác nói, Bát-nhã
trong đây là từ trong nhân mà nói quả. Người phàm phu
nghe Bát-nhã ba-la-mật vi diệu liền sinh tâm chấp trước,
thủ tướng Bát-nhã ba-la-mật, phân biệt các pháp là lành,
là chẳng lành, là thế gian, là Niết-bàn v.v... Vì phân biệt
nên đối với pháp sinh tâm chấp trước, tâm chấp trước
nên đấu tranh, đấu tranh nên gây tội nghiệp; người như
vậy gọi là diệt Bát-nhã ba-la-mật.
Phật
bảo A-nan: Ông nên như tướng Bát-nhã ba-la-mật, chớ chấp
trước văn tự ngữ ngôn mà giáo hóa chúng sinh; ấy gọi là
không làm diệt mất. Này A-nan, tùy theo bao lâu thời gian
Bát-nhã ở đời thời biết bấy nhiêu thời gian Phật ở
đời, như trong kinh đây Phật nói rộng. Phật ân cần
phó chúc cho chúngsinh, ở hội chúng có người sinh nghi, thế
nên Phật nói nhân duyên của sự phó chúc là: Hễ có Bát-nhã
ở đời thời là Phật ở đời, vì sao? Vì Bát-nhã ba-la-mật
là mẹ của chư Phật. Chư Phật lấy pháp làm thầy,
mà pháp tức là Bát-nhã ba-la-mật. Nếu thầy ở đời,
mẹ ở đời thời không gọi là mất lợi, vì sao? Vì
lợi ích vốn tồn tại. Vì vậy nên nói Bát-nhã ba-la-mật
ở đời thời như Phật ở đời.
Lại,
Pháp bảo không lìa Phật bảo. Bồ-tát có 32 tướng,
80 vẻ đẹp tùy hình không gọi là Phật, mà có được Pháp
bảo mới gọi là Phật. Pháp bảo tức là Bát-nhã ba-la-mật;
như người theo Phật được lợi ích cho đến giải thoát
Niết-bàn. Như người đối với Bát-nhã có thể tin,
thực hành, cũng do pháp ba thừa mà vào Niết-bàn; thế nên
nói Bát-nhã ở đời như Phật ở đời nói Pháp không khác.
Này A-nan, nếu người nghe lãnh thọ, viết chép, giữ gìn,
nên biết người ấy không rời sự thấy Phật, nghe Pháp,
gần gũi Phật.
Hỏi:
Người có tội nặng, ba nghiệp bất thiện thành tựu mà nghe,
lãnh thọ, viết chép, giữ gìn Bát-nhã, cớ sao người ấy
được không xa lìa Phật, nghe Pháp, gần gũi Phật?
Ðáp:
Việc ấy như đã đáp ở trong phẩm trước. Người nghe
Pháp có hai hạng: Một là hạng người chỉ nghe mà không thể
tín thọ, thực hành; hai là hạng người nghe mà tín thọ,
phụng hành. Như đệ tử không nghe, không tín thọ, thực
hành lời thầy; ấy gọi là không nghe. Nếu nhất tâm
lắng nghe, tín thọ, phụng hành, chán thế gian, ưa Niết-bàn,
lìa Tiểu thừa, ưa thích Ðại thừa; nghe, lãnh thọ như vậy
gọi là thật nghe; tụng, đọc cũng như vậy. Nhớ nghĩ
đúng theo như ý Phật, xa lìa hai bên, hành trung đạo, đúng
như chỗ được nghe, thọ trì và hiểu nghĩa Bát-nhã, vì người
khác giảng nói, cung kính, tôn trọng, cúng dường, tán thán,
hoa hương, lúc mới đầu còn mỏng ít, cho đến nhớ nghĩ
đúng, vì người khác nói, tâm kia càng sâu dày, công đức
càng nhiều, bền chắc, không lay động.
Nếu
nghe thầy dạy, hoặc thấy quyển kinh mà cúng dường hương
hoa là, nếu người trí biết công đức của Bát-nhã mà cúng
dường thời được phước đức dày, còn người không biết
mà cúng dường thời được phước đức mỏng ít. Phước
đức thuần hậu là dù chuyển đổi thân cũng không lìa sự
thấy Phật, nghe Pháp, gần gũi Phật.
Phước
đức mỏng ít là không nói rằng chuyển đổi thân, được
ba phước báo, trả hết tội rồi lâu về sau cũng chắc chắn
được làm Phật. Trong đây Phật tổng quát nói phước
đức thuần hậu, mỏng ít dần dần đều sẽ thấy mười
phương Phật, nghe Phật nói Pháp, dần dần đủ sáu Ba-la-mật,
đều được làm Phật. Phật dùng Phật nhãn thấy Bát-nhã
ba-la-mật có sự lợi ích lớn cho chúng sinh như vậy nên ân
cần phó chúc.
Hỏi:
Các đại A-la-hán ấy đã thủ chứng thật tế, không còn
lo mừng, vì mừng chút ít còn không có, huống nữa là vui
mừng lớn?
Ðáp:
Các đại A-la-hán tuy xa lìa tham dục của ba cõi, mà vì chưa
được Nhất thiết trí nên đối với pháp sâu xa còn hồ
nghi không rõ ràng. Ðây đối với Bát-nhã ba-la-mật hiểu
biết rõ ràng, dứt trừ nghi hoặc kia, thế nên vui mừng lớn.
*
Lại nữa, các đại đệ tử ấy đã thủ chứng thật tế.
Thật tế tức là không, không có tướng, không có lượng,
không có phân biệt. Phật đối với pháp tịch diệt
ấy mỗi mỗi phân biệt danh tự, ngữ ngôn, thí dụ, nói rộng
mà cũng không phá hoại pháp tính, lại không trái với thế
gian. Các A-la-hán vì chứng được pháp ấy nên vui mừng
lớn. Phật khéo nói pháp tịch diệt không, vô tướng,
vô lượng ấy, đại chúng tuy chưa sạch hết lậu hoặc, mà
vì có sức tin sâu, nên cũng vui mừng lớn, nói rằng pháp
ấy có thể dứt hết khổ sinh tử cho chúng ta, khiến được
Phật đạo. Có vô lượng nhân duyên như vậy nên đại
chúng đều hoan hỉ.
Hỏi:
Nếu Phật phó chúc cho A-nan Bát-nhã ba-la-mật ấy, sau khi Phật
Niết-bàn, A-nan cùng với Ðại Ca-diếp kết tập Kinh tạng,
cớ gì trong ấy không nói đến Bát-nhã?
Ðáp:
Vì Ðại thừa sâu xa, khó tin, khó hiểu, khó hành. Lúc
Phật ở đời, có các Tỳ-kheo theo pháp Ðại thừa do không
tin không hiểu nên từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi, huống
nữa là sau khi Phật diệt độ! Thế nên không nói.
*
Lại nữa, ba tạng chính thức có ba mươi vạn bài kệ và
chín trăm sáu mươi vạn lời. Pháp Ðại thừa rất nhiều,
vô lượng vô hạn, như phẩm Bát-nhã ba-la-mật trong đây có
hai mươi hai ngàn bài kệ. Phẩm Ðại Bát-nhã có mười
ngàn bài kệ, ở chỗ các vua rồng, vua A-tu-la và trong các
cung trời, Bát-nhã có ngàn vạn ức bài kệ, vì sao? Vì
chư thiên, rồng, quỷ, thần, mạng sống lâu dài, có sức
biết nhớ mạnh. Người đời nay thọ mạng ngắn ngủi,
sức biết nhớ mỏng, tiểu phẩm Bát-nhã còn không thể tụng
đọc, huống gì nhiều? Các đại Bồ-tát biết Bát-nhã
ba-la-mật vô lượng vô hạn, vì sao? Vì Phật chẳng phải
chỉ một thân nói Bát-nhã mà trong vô lượng đời hoặc biến
hóa vô số thân nói Bát-nhã, nên có vô lượng.
Lại,
kinh Giải thoát không thể nghĩ nghì có mười vạn bài kệ,
kinh chư Phật bổn khởi, kinh Mây, kinh Mây lớn, mỗi mỗi
có mười vạn bài kệ. Kinh Pháp Hoa, kinh Hoa thủ, kinh
Ðại bi, kinh Phương tiện, kinh Vua rồng hỏi, kinh Vua A-tu-la
hỏi, các kinh lớn ấy vô lượng vô biên, như châu báu trong
biển lớn, làm sao có thể đưa hết vào ba tạng? Vật
nhỏ có thể ở trong vật lớn, mà vật lớn thời không thể
ở trong vật nhỏ? Nếu muốn hỏi thời nên hỏi rằng,
vì cớ gì Tiểu thừa không ở trong Ðại thừa mà Ðại thừa
có thể hàm chứa luôn cả Tiểu thừa? Thế nên ông không
nên hỏi như vậy.
Lại
nữa, có người nói: Như Ðại Ca-diếp đem các Tỳ-kheo vào
trong núi Kỳ-xà-quật kết tập ba tạng. Sau khi Phật
diệt độ, các đại Bồ-tát như Văn-thù-sư-lợi, Di-lặc
v.v... cũng đem A-nan để kết tập kinh Ðại thừa. Lại,
A-nan biết trù lượng ý chí nghiệp lực lớn nhỏ của chúng
sinh. Thế nên không ở giữa hàng Thanh văn nói pháp Ðại
thừa, vì sợ nói thời lầm loạn không thành tựu được.
Phật pháp chỉ có một vị, đó là vị giải thoát hết khổ.
Vị giải thoát ấy có hai: Một là chỉ giải thoát tự thân,
hai là giải thoát chung hết thảy chúng sinh. Tuy cùng cầu
một cửa giải thoát mà có tự lợi và lợi người khác nhau,
thế nên có Ðại thừa, Tiểu thừa sai khác. Vì hai hạng
người ấy nên miệng Phật nói ra đều dùng văn tự ngữ
ngôn chia làm hai thứ. Ba tạng là pháp Thanh văn, Ma-ha-diễn
là pháp Ðại thừa.
Lại
nữa, lúc Phật ở đời không có danh từ ba tạng, chỉ có
Tỳ-kheo thọ trì Tu-đa-la, Tỳ-kheo thọ trì Tỳ-ni, Tỳ-kheo
thọ trì Ma-đa-la-ca.
Tu-đa-la
là kinh trong bốn A-hàm, kinh trong Ma-ha diễn. Tu-đa-la có
hai phần: Một là Tu-đa-la trong bốn A-hàm, hai là kinh Ma-ha-diễn,
gọi là Ðại thừa. Tu-đa-la vào hai phần, vừa Ðại
thừa, vừa Tiểu thừa: 250 giới, như thị ngữ v.v... gọi
là Tu-đa-la.
Tỳ-ni
là nhân Tỳ-kheo tạo tội, Phật kiết giới, dạy việc nên
làm, không nên làm, làm việc ấy mắc tội ấy, lược nói
có tám mươi bộ, cũng có hai phần: Một là Tỳ-ni ở nước
Ma-tu-la, chứa A-ba-đà-na bản sinh, có tam mươi bộ; hai là
Tỳ-ni ở nước Kế-tân, trừ bản sinh A-ba-đà-na, chỉ lấy
việc thiết yếu làm mười bộ, có tám mươi bộ Tỳ-bà-sa
giải thích. Thế nên biết kinh Ðại Bát-nhã ba-la-mật
ở trong Tu-đa-la kinh, vì kinh lớn và vì sự việc khác cho
nên nói riêng. Thế nên không tập vào trong ba tạng.
(Hết
cuốn 100 theo bản Hán)
Chùa
Từ Ðàm, dịch xong chiều 08-01-2001
(PL.
2544 - 14.12 năm Canh Thìn)
THÍCH
THIỆN SIÊU