Tập
5
Cuốn
82
Giải
thích: Phẩm Phương Tiện Thứ 69
(Kinh
Ma Ha Bát Nhã ghi: Phẩm Đại Phương Tiện)
(Kinh
Đại Bát Nhã hội hai ghi: Phẩm Xảo Tiện thứ 68)
Kinh:
Bấy giờ Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế
Tôn, Bồ Tát ấy từ khi phát tâm trở lại đây thời gian
bao lâu mà thành tựu lực phương tiện như vậy?
Phật
dạy: Tu bồ đề, Bồ Tát ấy thành tựu lực phương
tiện, từ khi phát tâm trở lại đây trải qua vô lượng vô
số kiếp.
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, Bồ Tát ấy cúng
dường bao nhiêu đức Phật mà thành tựu lực phương tiện
như vậy?
Phật
dạy: Bồ Tát ấy thành tựu lực phương tiện từng cúng
dường hằng hà sa số Phật.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Bồ Tát
được lực phương tiện như vậy, trồng những căn lành gì?
Phật
dạy: Bồ Tát thành tựu lực Phật như vậy, là do từ
khi phát tâm trở lại đây, đầy đủ Thí Ba la mật cho đến
Bát nhã ba la mật.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Bồ Tát
thành tựu lực phương tiện như vậy rất nhiều.
Phật
dạy: Như vậy, như vậy, Bồ Tát thành tựu lực phương
tiện như vậy rất nhiều; thí như mặt trời mặt trăng
chiếu khắp bốn châu thiên hạ, làm lợi ích rất nhiều,
Bát nhã ba la mật cũng như vậy, chiếu năm Ba la mật, làm
lợi ích rất nhiều. Tu Bồ Đề, thí như Chuyển luân Thánh
vương; nếu không có xe báu thời không được gọi là Chuyển
luân Thánh vương;; năm Ba la mật cũng như vậy, nếu lìa Bát
nhã ba la mật thời không được gọi danh từ Ba la mật, không
lìa Bát nhã ba la mật nên được gọi danh từ Ba la mật.
Thí dụ như người phụ nữ không chồng, dễ bị xâm lăng;
năm Ba la mật cũng như vậy, xa lìa Bát nhã ba la mật dễ bị
ma hoặc ma trời phá hoại. Thí như người phụ nữ có
chồng khó có thể xâm lăng; năm Ba la mật cũng như vậy,
có được Bát nhã ba la mật, ma hoặc ma trời không thể phá
hoại. Thí như tướng quân đầy đủ áo giáp, binh trượng,
các nước lân cận, cường địch không thể phá hoại; năm
Ba la mật cũng như vậy, không xa lìa Bát nhã ba la mật nên
ma hoặc ma trời, hoặc người tăng thượng mạn, cho đến
Bồ Tát Chiên đà la không thể phá hoại. Thí như vua
nước nhỏ theo thời triều cống Chuyển luân Thánh vương;
năm Ba la mật cũng như vậy, thuận theo Bát nhã ba la mật.
Thí như trăm sông muôn dòng đều chảy vào sông Hằng rồi
vào biển cả; năm Ba la mật cũng như vậy, được Bát nhã
ba la mật thủ hộ nên tùy thuận đến Nhất thiết trí.
Thí như cánh tay phải của người, làm việc tiện lợi, Bát
nhã ba la mật cũng như vậy; cánh tay trái của người, làm
việc không tiện, năm Ba la mật cũng như vậy. Thí như
muôn dòng sông hoặc lớn hoặc nhỏ đều vào biển cả hợp
làm một vị, năm Ba la mật cũng như vậy, được Bát nhã
ba la mật thủ hộ, theo Bát nhã ba la mật vào Nhất thiết
trí, được gọi là Ba la mật. Thí như bốn binh chủng
của Chuyển luân Thánh vương, xe báu dẫn đường, ý vua muốn
ngừng thời xe ngừng ngay, làm cho bốn binh chủng được mãn
nguyện, xe báu cũng không rời chỗ cũ; Bát nhã ba la mật cũng
như vậy, dẫn đường năm Ba la mật đến Nhất thiết trí
thường ở trong đó, không vượt quá chỗ cũ. Thí như
bốn binh chủng của Chuyển luân Thánh Vương, xe báu dẫn đường,
Bát nhã ba la mật cung như vậy, dẫn đường năm Ba la mật
đến an trú Nhất thiết trí. Bát nhã ba la mật cũng không
phân biệt: Thí Ba la mật tỳ theo tập, Giới Ba la mật
cho đên Thiền Ba la mật không tùy theo ta. Thí Ba la mật
cũng không phân biệt: Ta tùy theo Bát nhã ba la mật, còn
Giới Ba la mật cho đến Thiền Ba la mật ta không tùy theo.
Giới Ba la mật cho đến Thiền Ba la mật cũng như vậy, vì
sao? Vì tính của các Ba la mật không có năng tác, tự
tính không, hư dối, như sóng nắng.
Bấy
giờ, Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn,
nếu hết thảy pháp tự tính không, làm sao Bồ Tát tu sáu
Ba la mật sẽ được Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật
dạy: Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát khi tu sáu Ba la mật nghĩ
rằng, tâm thế gian đều điên đảo, ta nếu không tập sức
phương tiện thời không thể độ thoát chúng sinh khỏi vòng
sinh tử; ta sẽ vì chúng sinh nên thực hành Thí Ba la mật cho
đến Bát nhã ba la mật. Bồ Tát ấy vì chúng sinh nên
xả bỏ tài vật trong ngoài, khi xả bỏ nghĩ rằng, ta không
xả bỏ gì, vi sao? Vì tài vật ấy chắc chắn sẽ hư
hoại. Bồ Tát suy nghĩ như vậy nên có thể đầy đủ
Thí Ba la mật. Vì chúng sinh nên trọn không phá giới,
vì sao? Vì Bồ Tát nghĩ rằng, ta vì chúng sinh mà phát
tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nếu sát sinh là điều
không nên, cho đến ta vì chúng sinh mà phát tâm Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, nếu sinh tà kiến thời hoặc tham trước
Thanh văn, Bích chi Phật địa là điều không nên. Bồ
Tát suy nghĩ như vậy là có thể đầy đủ Giới Ba la mật.
Bồ Tát vì chúng sinh nên không sân giận, cho đến giận trong
giây lát. Bồ Tát suy nghĩ như vầy: Ta nên làm lợi
ích chúng sinh, cớ sao khởi tâm sân giận? Như vậy, có
thể đầy đủ Nhẫn Ba la mật. Bồ Tát vì chúng sinh nên cho
đến khi được Vô thượng chánh đẳng chánh giác thường
không sinh tâm giải đãi; tu như vậy có thể đầy đủ
Tinh tấn Ba la mật. Bồ Tát vì chúng sinh nên cho đến
khi được Vô thượng chánh đẳng chánh giác không sinh tâm
tán loạn; tu như vậy có thể đầy đủ Thiền Ba la mật.
Bồ Tát vì chúng sinh nên cho đến khi được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác trọn không lìa trí tuệ, vì sao? Vì
trừ trí tuệ ra không thể xó pháp gì độ thoát chúng sinh
được. Tu như vậy có thể đầy đủ Bát nhã ba la mật.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, nếu
các Ba la mật không sai biệt nhau thời làm sao Bát nhã ba la
mật là đệ nhất, tối thượng, vi diệu đối với năm Ba
la mật?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Như vậy, như vậy, các Ba la mật tuy
không có sai khác, nếu không có Bát nhã ba la mật thời năm
Ba la mật không được gọi là Ba la mật, nhân nơi Bát nhã
ba la mật mà năm Ba la mật kia được gọi là Ba la mật.
Thí như các loài chim đủ màu sắc đến ở bên núi Tu di đều
đồng thành một sắc; năm Ba la mật cũng như vậy, nhân nơi
Bát nhã ba la mật đạt đến trong Nhất thiết trí thành một
loại không khác, không phân biệt đây là Thí Ba la mật, đây
là Giới Ba la mật cho đến đây là Bát nhã ba la mật, vì
sao? Vì các Ba la mật không có tự tính, vì do nhân duyên
nên các Ba la mật không có sai khác.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Nếu
theo thật nghĩa không có phân biệt, làm sao Bát nhã ba la mật
lại là tối thượng vi diệu đối với năm Ba la mật?
Phật
dạy: Như vậy, như vậy, Tu Bồ Đề, tuy theo thật nghĩa
không có phân biệt, chỉ theo pháp thế tục nên nói Thí Ba
la mật, Giới Ba la mật, cho đến Bát nhã ba la mật. Vì
muốn độ chúng sinh khỏi vòng sinh tử, mà chúng sinh ấy thật
chẳng sinh chẳng tử, chẳng khởi chẳng thoái lui. Này
Tu Bồ Đề, vì chúng sinh không có gì của chính nó, vậy nên
biết hết thảy pháp không có gì của chính nó. Do nhân
duyên ấy nên Bát nhã ba la mật tối thượng, tối diệu đối
với năm Ba la mật. Thí như trong chúng người nữ
của cõi Diêm phù đề, ngọc nữ báu là đệ nhất, tối thượng,
tối diệu; Bát nhã ba la mật cũng vậy, là đệ nhất, tối
thượng, tối diệu đối với năm Ba la mật.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, vì ý gì mà
Phật nói Bát nhã ba la mật là tối thượng, tối diệu?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Vì Bát nhã ba la mật đưa hết thảy
thiện pháp đến trong Nhất thiết trí, trú chỗ không trú.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Bát nhã
ba la mật có thật pháp khả thủ khả xả chăng?
Phật
dạy: Không. Bát nhã ba la mật không có thật pháp
khả thủ, khả xả, vì sao? Vì hết thảy pháp không thủ
không xả.
Bạch
Đức Thế Tôn, Bát nhã ba la mật không thủ, không xả pháp
gì?
Phật
dạy: Bát nhã ba la mật không thủ, không xả sắc; không
thủ, không xả thọ, tưởng, hành, thức cho đến Vô thượng
chánh đẳng chánh giác.
Bạch
Đức Thế Tôn, làm sao không thủ sắc cho đến không thủ
Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật
dạy: Nếu Bồ Tát không nghĩ đến sắc cho đến không
nghĩ đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác, ấy gọi là
không thủ sắc cho đến không thủ Vô thượng chánh đẳng
chánh giác.
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, nếu không nghĩ đến
sắc cho đến không nghĩ đến Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, làm sao được tăng ích thiện căn? Thiện căn không
tăng ích thời làm sao đầy đủ các Ba la mật? Nếu không
đầy đủ các Ba la mật thời làm sao được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Nếu Bồ Tát không nghĩ đến sắc cho
đến không nghĩ đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác, khi
ấy thiện căn được tăng ích; thiện căn tăng ích nên đầy
đủ các Ba la mật; các Ba la mật đầy đủ nên được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác, vì sao? Vì khi không nghĩ
đến sắc cho đến không nghĩ đến Vô thượng chánh đẳng
chánh giác, liền được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Bạch
Đức Thế Tôn, vì nhân duyên gì nên trong khi không nghĩ đến
sắc cho đến không nghĩ đến Vô thượng chánh đẳng chánh
giác liền được Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật
dạy: Vì nghĩ đến thời đắm trước cõi Dục, cõi Sắc,
cõi Vô sắc; không nghĩ đến thời không đắm trước.
Như vậy, Tu Bồ Đề, Bồ Tát tu Bát nhã ba la mật không nên
đắm trước gì.
Bạch
Đức Thế Tôn, Bồ Tát tu Bát nhã ba la mật như vậy nên trú
vào chỗ nào?
Phật
dạy: Bồ Tát tu như vậy không trú nơi sắc cho đến
không trú nơi trí Nhất thiết chủng.
Bạch
Đức Thế Tôn, vì nhân duyên gì nên vậy không trú nơi sắc
cho đến không trú nơi trí Nhất thiết chủng?
Không
chấp trước nên không trú, vì sao? Vì Bồ Tát ấy không
thấy có pháp có thể chấp trước, có thể thủ; như vậy,
Bồ Tát do không trú, không trước pháp tu Bát nhã ba la mật.
Này
Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát nghĩ rằng, nếu hành được như
vậy, tu được như vậy là tu Bát nhã ba la mật. Ta nay
hành Bát nhã ba la mật, tu Bát nhã ba la mật; nếu chấp thủ
tướng như vậy thời xa lìa Bát nhã ba la mật; nếu xa lìa
Bát nhã ba la mật thời xa lìa Thí Ba la mật cho đến xa lìa
trí Nhất thiết chủng, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật không
có chỗ trú trước, cũng không có người trú trước, vì tự
tính không. Bồ Tát nếu còn chấp thủ tướng thời thoái
thất đối với Bát nhã ba la mật; nếu thoái thất Bát nhã
ba la mật thời thoái thất Vô thượng chánh đẳng chánh giác,
không được Phật thọ ký. Bồ Tát lại nghĩ rằng:
Trú nơi Bát nhã ba la mật có thể phát sinh Thí Ba la mật cho
đến tâm đại bi. Nếu nghĩ như vậy thời mất Bát nhã ba
la mật, mất Bát nhã ba la mật thời không thê phát sinh Thí
Ba la mật cho đến tâm đại bi. Bồ Tát nếu lại nghĩ
ràng: Chư Phật biết các pháp không có tướng lãnh thọ
nên được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bồ Tát
nếu diễn thuyết, khai thị, dạy bảo như vậy thời mất
Bát nhã ba la mật, vì sao? Vì chư Phật đối với các
pháp không có sở tri, không có sở đắc, cũng không có pháp
khả thuyết, huống gì sẽ có sở đắc, thời không có lẽ
đó.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Bồ Tát
tu Bát nhã ba la mật làm sao không có lỗi lầm ấy?
Phật
dạy: Nếu Bồ Tát tu Bát nhã ba la mật nghĩa rằng:
các pháp không có gì của chính nó, không thể chấp thủ thời
không có sở đắc. Nếu làm được như vậy là tu Bát
nhã ba la mật. Nếu Bồ Tát đắm trước nơi pháp không
có gì của chính nó thời xa lìa Bát nhã ba la mật, vì sao?
Vì trong Bát nhã ba la mật không có pháp chấp trước.
Mất
16 trang từ 49 đến 64
la
mật? Năm Ba la mật tuy chưa vào Bát nhã thời có sai khác,
khi đã vào Bát nhã thời không có sai khác? Như các vật
có màu sắc khác nhau, nhưng khi đến núi Tu di thời cùng biến
thành một màu; không được nói màu của các vật đều đồng,
cớ sao chỉ gọi riêng núi Tu di là lớn? Thí ba la mật
... cũng như vậy, tuy không có sai khác, nhưng đều vì sức
Bát nhã nhên không được nói, cớ sao chỉ xưng Bát nhã là
lớn? Tu Bồ Đề tuy mong được Phật giải thích mà còn
chưa hiểu rõ, lại đem việc khác để hỏi Phật: Nếu
ở trong thật nghĩa không có sai khác, thời làm sao Bát nhã
lại tối thượng đối với năm Ba la mật? Trước kia
nói chưa được Thánh đạo không, nay nói được Thánh đạo
không, thế nên nói là đệ nhất thật nghĩa. Thánh
đạo đệ nhất thật nghĩa là rất đáng tin, trong ấy cũng
không có sai khác. Phật hứa khả nói rằng: Như
vậy, như vậy, Ta phân biệt ói sáu Ba la mật đều là vì
thế tục mà nói, vì sao? Đối người đời không thể
chỉ vì họ nói thật tướng các pháp. Họ nghe rồi mê
muội nên sinh nghi hối. Do thế, lấy đệ nhất nghĩa
làm tâm và dùng ngôn ngữ thế tục để nói; vì vậy phân
biệt các Ba la mật giáo hóa chúng sinh. Chúng sinh thật
không có pháp, đều là không, không sinh, không diệt, không
thoái không khởi; sắc cũng như vậy. Thế nên Bát nhã
ba la mật tuy không mà có thể chỉ bày những việc như vậy;
thí như ngọc nữ báu là đệ nhất tối thượng, tối diệu
giữa chúng nữ nhân.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Phật có ý gì mà thường
nói Bát nhã tối thượng, khi nghe Tu Bồ Đề mỗi mỗi nói
Bát nhã và năm Ba la mật không có sai khác, Phật cũng hứa
khả rồi lại nói Bát nhã là tối thượng?
Phật
dạy: Bát nhã thủ hộ hết thảy thiện pháp đưa đến
trú trong Nhất thiết trí. Hết thảy pháp tuy không, nếu
không có Bát nhã thời hết thảy thiện pháp đều không thể
đát đến Nhất thiết trí. Thiện pháp là năm Ba la mật,
ba mươi bảy phẩm trợ đạo, đại từ đại bi, các pháp
của Bồ Tát...
Hỏi:
Nếu tu các pháp lành cũng có thể đến Nhất thiết trí, cớ
gì chỉ nói nhờ Bát nhã mới được đến.
Đáp:
Tuy các thiệp pháp hòa hợp lại có thể phá phiền não, được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác, mà Bát nhã đối với trong
ấy có công sức lớn; thí như đại quân đánh địch mà chủ
tướng được công danh. Lại có người nói:
các thiện pháp không có được Bát nhã thời không đến được
Nhất thiết trí. Bát nhã không có được các thiện pháp
thời chỉ có thể đến Nhất thiết trí. Như Kinh nói:
Ở nước Phật Sư tử Lôi âm có cây báu trang nghiêm, thường
tuôn ra vô lượng pháp âm noi về hết thảy pháp rốt ráo
không, không sinh không diệt; nhan dân nước ấy sinh ra liền
nghe pháp âm ấy, nên không khởi tâm ác, được vô sinh pháp
nhẫn. Người như vậy thời đâu có các công đức bố
thí, trì giới...? Cũng có người cuồng, người say theo
Phật theo Tứ đế tức thời được đạo? Những người
không có trí tuệ tu các pháp khác như vậy cũng đắc đạo,
không có lẽ ấy.
Tu
Bồ Đề hỏi Phật: Bát nhã rốt ráo không, không lấy
pháp thánh, không bỏ pháp phàm phu, cớ sao Phật nói Bát nhã
ấy có thể đưa đến trú trong Nhất thiết trí?
Phật
hứa khả lời ấy và nói: Như vậy, như vậy, Bát nhã
ấy không lấy, không bỏ; tuy nói lấy Nhất thiết trí, nhưng
vì không chấp thủ pháp nên lấy; nghĩa trú cũng như vậy.
Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Hết thảy pháp không
có tướng chấp thủ. Hết thảy pháp là sắc cho đến
Bồ đè; pháp ấy hư dối, từ nhân duyên sinh, không có tự
tính cho nên không lấy; không lấy nên không bỏ, do không có
ức niệm thủ tướng.
Tu
Bồ Đề thưa: Nếu không ức niệm sắc, làm sao tăng
trưởng căn lành? Căn lành không tăng trưởng, làm sao
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật
đáp: Nếu Bồ tát diệt được ức niệm đối với hết
thảy pháp, tức là không, vô tướng, vô tác giải thoát; giải
thoát tức là thật tướng các pháp. Tuy có căn lành mà
vì tâm chấp thủ tướng điên đảo nên không tăng trưởng;
thí như gieo lúa, lúa mạ tuy tốt, song vì cỏ rác nhiều nên
không thể tăng trưởng. Trong đây nói nhân duyên:
Vì chúng sinh ức niệm nên sinh vào chỗ thiện, bất thiện
trong ba cõi; nếu không có ức niệm thời không đắm trước;
không đắm trước thời không sinh. Tu Bồ Đề theo Phật,
theo Phật nghe xong, suy nghĩ, trù lượng pháp ấy rốt ráo không,
không có gì của chính nó; nếu hành pháp ấy cũng có thể
không có được gì, không có chỗ trú, vì sao? Vì nhân
quả giống nhau; thế nen hỏi Phật: Bồ Tát nghĩ rằng
tu Bát nhã trú chỗ nào, được cái gí? Phật đáp:
Không trú trong hết thảy pháp cho đến trong không trú cũng
không trú; không thủ tướng nên không đắm trước; không
đắm trước nên không trú. Trong đây Phật tự nói nhân duyên:
Bồ Tát không thấy pháp có thể chấp trước, có thể trú;
không thấy người chấp trước, người trú. Trong đây
vì pháp khó phá nên chỉ nói không chấp trước pháp, không
trú pháp, mà không nói người trú, người chấp trước.
Này
Tu Bồ Đề, nếu Bồ Tát trú nơi chúng sinh không, pháp không
ấy nghĩ rằng: Ta tu được như vậy là lỗi, là lìa,
vì sao? Vì Bát nhã ba la mật là không chấp trước tướng,
mà Bồ Tát ấy đem tâm chấp ngã, bên ngoài trước không,
bên trong trước ngã, không như thật tu Bát nhã, nên nói xa
lìa Bát nhã, vì sao? Vì Bát nhã ba la mật là không trước
tướng, vì tự tính không có vậy. Ở trên, vì chấp
không nên mất, nay vì phá không nên được Bát nhã, nhưng
lại chấp trước Bát nhã không có tự tịnh, nên lỗi; vì
lỗi nên không được thọ ký. Nếu nghĩ rằng, trú trong
Bát nhã có thể sinh Thí Ba la mật... cũng lại như vậy.
Hỏi:
Nhân duyên cả hai đều bị lỗi như trên nói, có thể được;
còn đây cớ gì bị lỗi?
Đáp:
Cả hai đều bị lỗi trên vì chấp trước không, chấp trước
vô tự tính, lại không thể tu Thí Ba la mật... mà sinh tà
kiến, nên nghĩ rằng: Nếu pháp hoàn toàn không thì tu
hành cái gì? Người ấy vì chẳng chấp trước không,
chẳng chấp trước vô tính nên tu hành Thí Ba la mật... nghĩ
rằng: Có thể không chấp trước không, không chấp trước
vô tính mà tu công đức ấy, ấy là chơn đạo, cũng là bị
lỗi, vì tâm kia còn có chỗ hy vọng. Nếu mất Bát nhã
thời không thể tu Thí Ba la mật cho đến tâm đại bi, vì
sao? Vì Vô thượng chánh đẳng chánh giác là pháp
chơn thật: Bát nhã ba la mật tương tợ pháp ấy, các
thiện pháp bố thí... không tương tợ, vì còn chấp thủ tướng.
Nếu Bồ Tát tự ức tưởng phân biệt hết thảy pháp tướng
không thể chấp thủ, thời chư Phật biết người ấy đã
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tướng không
chấp thủ là rốt ráo không, không thể chấp thủ, vì các
tướng diệt, cũng vì khai thị, diễn nói cho người khác nên
mất Bát nhã. Người ấy vì tâm cầu không, nên
lỗi; cầu vô tính cũng lỗi: Ta là người phàm phu sinh
tử, các phiền não chưa sạch, làm sao đạt được? Chỉ
theo lời Phật dạy, tự mình không phân biệt mà định tâm,
vì người khác nói, không chấp thủ hết thảy tướng là
thật pháp. Mỗi mỗi nhân duyên đem việc ấy khai thị,
giáo hóa, ấy cũng là lỗi, vì sao? Vì chư Phật đối
với các pháp không có sở đắc, nghĩa không có gì chấp thủ
cũng như vậy. Pháp không thể thủ tướng, cho đến danh
từ giả còn không thể nói, huống gì pháp có sở đắc?
Các pháp tướng tịch diệt, không có hý luận, hết thảy
đường ngôn ngữ dứt bặt.
Tu
Bồ Đề nghĩ rằng: Nếu "không" có lỗi thời trong "không
không" cũng có lỗi? Trong pháp không chấp thủ cũng có
lỗi, nhưng không thể không có đạo? Nên nay hỏi Phật:
làm sao tu hành không có lỗi lầm ấy?
Phật
đáp: Nếu Bồ Tát biết các pháp rốt ráo không, không
có gì của chính nó, không thể chấp thủ, pháp ấy không
thể biết được; tu hành như vậy thời không lỗi. Bồ
Tát nếu chấp trước rốt ráo không, chấp trước vô tính,
chấp trước đạo tu hành; Phật nói cả ba đều có lỗi.
Bồ Tát nghe xong thời bỏ tâm chấp trước, nay còn chấp trước
sở hành của Phật, chưa bỏ: Như sở hành của Phật
chắc chắn là chơn đạo, ta chỉ theo Phật tu hành, hết thảy
pháp không có gì của chính nó, không chấp thủ tướng.
Thế nên là lỗi. Nay có thể như pháp sở đắc trong
tâm Phật, pháp tướng như vậy Phật cũng không có tâm sở
đắc, vì không có sở đắc nên không tham quý Phật, không
khinh hèn kẻ khác. Tâm kia bình đẳng đối với hết
thảy chúng sinh.
Đây
lại hỏi: Bát nhã thanh tịnh như vậy, không có lỗi
lầm, lìa tự tướng, không chấp trước; không lìa tự tướng
tức có chấp trước. Nếu lìa tự tướng, làm sao có
thể tu hành.
Phật
đáp: Nếu Bồ Tát đối với các pháp chẳng sinh, ấy
gọi là tu Bát nhã. Bồ Tát ấy không nói sắc hoặc thường
hoặc vô thường; không nói là sắc, sắc của ai là sắc,
phá sắc, sắc của ai, phá người. Sắc cho đến
Nhất thiết chủng cũng như vậy. Nếu pháp rốt ráo không,
như vậy truy tìm không thể được; ấy là không thể sinh,
vì cớ sao? Vì pháp có tự tính không thể sinh pháp có
tự tính; pháp không có tự tính không thể sinh pháp không
có tự tính. Phá các điên đảo được nghị luận
chơn thật như vậy là đều do sức Bát nhã ba la mật; các
Ba la mật khác đi theo; thí như Chuyển luân Thánh vương đến
đâu, bốn binh chủng theo nấy. Do phước của Thánh vương
nên bốn binh chủng đều có thể bay; do sức Bát nhã nên các
pháp đều là thật tính, đồng đến Phật đạo.
*Lại
nữa, thí như khéo điều khiển xe bốn ngựa không đi sai đường.
Ngựa tuy có sức kéo xe, nếu không có người điều khiển
thời không thể đến được. Bố thí... tuy có công đức
quả báo, nêu không có Bát nhã điều khiển thời không thể
đến Phật đạo. Mỗi mỗi thí dụ như vậy, năm
Ba la mật vào trong Bát nhã ba la mật, tuy không có sai biệt
nhưng vì việc ấy mà Bát nhã là tối tôn tối diệu.
Tu
Bồ Đề nghe Phật mỗi mỗi nhân duyên nói Bát nhã tối đại,
lại nghe nói không tu hành là tu hành Bát nhã, thế nên hỏi
Phật: Thế nào là Bồ Tát đạo, thế nào chẳng phải
Bồ Tát đạo? Phật đáp: Nhị thừa chẳng phải
Bồ Tát đạo, tuy có kẻ phàm phu và các phiền não, chẳng
phải Bồ Tát đạo, vì thô nên không nói; còn hàng Nhĩ thừa
đồng tu hành Không, đồng cầu Niết bàn nên nói là chẳng
phải Bồ Tát đạo. Việc thô, người ta không nghi; việc
tế người ta nghi. Nhất thiết trí là Bồ Tát đạo,
ấy là trong nhân nói quả. Tu Bồ Đề hoan hỷ tán
thán Bát nhã rằng: Bát nhã ba la mật vì việc lớn nên
sinh khởi, như trong Kinh nói rộng, cho đến vì các pháp thường
trú.
Tu
Bồ Đề gạn hỏi: Nếu Bát nhã không sinh không diệt,
thời làm sao tu bố thí, trì giới...?
Phật
đáp: Vì Bát nhã không sinh không diệt tức là rốt ráo
không; vì rốt ráo không nên không trở ngại tu sáu Ba la mật.
Bồ Tát nghe mỗi mỗi nhân duyên tán thán Nhất thiết trí;
vì Nhất thiết trí nên tu bố thí; vì độ chúng sinh nên hồi
hướng đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Công
đức của sáu Ba la mật ấy an lập trong thật tướng các
pháp mà hồi hướng đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Như vậy, Bồ Tát đầy đủ sáu Ba la mật và các công đức
từ bi, không điên đảo, có thiện căn chính hạnh.
Tu
Bồ Đề hỏi: Bồ Tát nên làm sao tập hành sáu Ba la
mật?
Phật
đáp: Bồ Tát quán sắc pháp... không hợp không tán.
Sắc pháp... do phiền não điên đảo hòa hợp nên hợp, do
chính trí quán sát nên tán; Bồ Tát do lợi trí quán sát sâu
xa thời không có pháp hợp, còn phiền não điên đảo hư dối
nên chẳng phải hợp; như ở trước phá ô nhiễm và người
ô nhiễm đã nói rõ. Thế nên Bồ Tát biết các pháp
vốn không hợp nên cũng không tán, thời không sinh tâm cao
ngạo.
*Lại
nữa, Bồ Tát không nên nghĩ ràng: Ta do trí tuệ chơn
thật làm cho sắc pháp... thanh tịnh mà an trú trong đó, vì
sao? Vì sắc pháp... không có chỗ trú; như đất trú nơi
nước, nước trú nơi gió, gió trú nơi không, không không có
chỗ trú; vì vốn không có chỗ trú nên hết thảy đều không
trú. Bồ Tát nên như vậy trú trong pháp không trú mà
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Trong kinh này
nói thí dụ: Hạt giống là Bát nhã ba la mật, quả là
Vô thượng chánh đẳng chánh giác hãy nên gieo hạt giống
Bát nhã. Người là hành giả, nước là năm Ba la mật;
như người khi tưới tẩm cây, tuy chưa thấy quả nhưng thời
tiết đến thời se được; thời tiết hòa hợp là đầy đủ
các pháp. Như trong kinh Tán thán Bát nhã: Nếu Bồ
Tát muốn không làm theo kẻ khác thời nên hiểu được thật
tướng các pháp; nếu người có tà kiến đi đến phá hoại,
thì giác tỉnh mà không theo họ; nếu muốn nghiêm tịnh cõi
Phật, ngồi đạo tràng, Chuyển pháp luân, hãy nên học
Bát nhã.
Tu
Bồ Đề hỏi Phật: Như lời Phật dạy: Bồ Tát
nên học Bát nhã?
Phật
dạy: Ta dạy khiến học Bát nhã.
Tu
Bồ Đề nghĩ rằng: Hết thảy pháp tướng bình đẳng,
cớ gì chỉ dạy học Bát nhã?
Phật
đáp: Học Bát nhã ấy, đối với hết thảy pháp được
tự tại, nên Ta dạy nọc Bát nhã. Bát nhã là tối đại
đối với hết thảy pháp; như Phật là tối tôn giữa hết
thảy chúng sinh. Lại như muôn sông, biển cả là lớn.
Lại như trong kinh này nói ví dụ người bắn cung. Nếu Bồ
Tát có thể thực hành Bát nhã tự tại, đối với các pháp
như vậy thời ma hoặc ma dân không thể hơn được, huống
gì người tăng thượng mạn và người tà kiến? Bồ
Tát ấy được mười phương chư Phật hộ niệm. Trong
kinh đây, Phật nói: Nếu Bồ Tát tu sáu Ba la mật, cũng
không thể quán sáu Ba la mật rốt ráo không; người như vậy
có công phu lớn, nên được chư Phật hộ niệm. Thí
như dũng sĩ vào trận phá giặc mà không bị thương, được
vua hộ niệm; Bồ Tát cũng như vậy, phá giặc phiền não,
đầy đủ sáu Ba la mật mà không đắm trước sáu Ba la mật
thời được Phật hộ niệm; không chấp thủ thọ, tưởng,
hành, thức của Bồ Tát ấy, nên hộ niệm, vì sao? Vì
sắc, thọ, tường, hành, thức là pháp hư dối, không thật;
chư Phật, quán thân Bồ Tát ấy đúng như thật tướng nên
hộ niệm. Tu Bồ Đề hoan hỷ thưa: Bồ Tát học nhiều,
cũng học pháp thế tục, cũng học đạo, cũng học Ba la mật,
cũng học rốt ráo không, cũng học khởi, cũng học diệt.
Phàm phu thì học khởi, không thể học diệt; Thanh văn học
diệt, không thể học khởi; còn Bồ Tát cũng học khởi, cũng
học diệt; thế nên nói có nhiều sở học. Pháp khởi
diệt ấy như huyễn, như mộng, rốt ráo không, nên thật không
có học gì. Phật hứa khả lời ấy, tự nói nhân
duyên: Sở học của Bồ Tát đều không có sở đắc.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Phật
nói pháp hoặc lược hoặc rộng, Bồ Tát nên học; vì sao
lại nói sở học đều không có sở đắc? Ý Tu
Bồ Đề là: Như Phật nói tám vạn bốn ngàn pháp tu, mười
hai bộ loại kinh hoặc rộng hoặc lược, là pháp sở học
của ba thừa. Trong đây nói Bồ Tát muốn được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác nên học sáu Ba la mật hoặc lược
hoặc rộng. Học là nên thọ trì, thân cận pháp ấy;
đọc tụng, suy nghĩ, quán sát đúng, cho đến vào vô tướng
tam muội, tâm tâm số pháp không hiện hành. Bồ Tát học
được như vậy thời biết được tướng rộng, tướng lược
của các pháp. Rộng là từ tám vạn bốn ngàn pháp tu
cho đến vô lượng thật pháp; lược là cho đến tiểu phẩm
kinh, một phẩm trong tiểu phẩm kinh, một đoạn trong một
phẩm.
*Lại
nữa, lược là biết các pháp hết thảy không, vô tướng,
vô tác, vô sinh, vô diệt; rộng là các pháp phân biệt mỗi
mỗi tướng như trong phẩm Thiện tri thức ở sau sẽ nói.
Tu
Bồ Đề hỏi: Làm sao Bồ Tát biết được tướng lược,
tướng rộng của hết thảy các pháp?
Phật
đáp: Nếu biết được các pháp như, như tướng; nghĩa
là không sinh, không diệt, không trụ dị.
Hỏi:
Nếu như là tướng một, tướng vô sinh, làm sao Bồ Tát vì
biết như ấy nên biết tướng chung, tướng riêng của các
pháp: Tướng chung tức là tướng lược, tướng riêng
tức là tướng rộng?
Đáp:
Như, là thật tướng của pháp thường trú không hoại, không
theo các lối quán sát. Bồ Tát được "như" ấy tức
là phá các điên đảo vô minh tà kiến; người ấy vì được
thật pháp nên biết rõ ràng tướng chung, tướng riêng của
hết thảy pháp thế gian. Hàng phàm phu con mắt tuệ có
bệnh, vì vô minh điên đảo che lấp nên không thể biết như
thật.
Hỏi:
Tướng thật pháp là không, vô tướng, vô tác, các trí bặt
dứt, làm sao nói được tướng như thật? Biết rõ ràng
tướng chung, tướng riêng của các pháp?
Đáp:
Trước ta đã đáp mà ông đối với "như" còn thủ tướng
nên lại vấn nạn. Nếu ông biết "như" thời không nên
vấn nạn. Như ấy rốt ráo vô tướng nên không ngăn
ngại biết tướng chung, tướng riêng các pháp, vì con mắt
trí tuệ rõ ràng.
*Lại
nữa, thí như người tuổi đã lớn mới biết việc làm của
mình khi nhỏ đều là ngu si, đáng cười. Bồ Tát cũng
như vậy, từ trong thật tướng các pháp khởi lên rồi trở
lại, đối với sáu căn theo quả báo điên đảo, nghĩ đến
cái vui tịch diệt giải thoát mới biết những điều ưa đắm
của sáu căn thế gian đều là hư dối, đáng bỏ; ấy gọi
là tướng chung. Ở trong đó phân biệt bất tịnh
có thượng, trung, hạ; phân biệt vô thường, khổ, không,
vô ngã cũng như vậy, cho đến tám vạn bốn ngàn sai lầm.
*Lại
nữa, biết như như, pháp tính, thật tế nên cũng biết tướng
chung, tướng riêng của các pháp. Nghĩa sai khác giữa
như như, pháp tính, thật tế như trong phẩm đầu đã nói.
Ở đây Phật nói chẳng phải biên tế là thật tế.
Chẳng phải biên tế là không có tướng có thể chấp thủ,
không có pháp nhất định có thể chấp trước, vì được
pháp tính nên biết mười tám tính của sắc... đều là pháp
tính. Tướng của pháp tính là Phật nói không phân, không
chẳng phân. Không phân là không thể chỉ bày cái kia,
cái này, không có phân biệt; không có tướng, không có lượng;
không chẳng phân là không chấp trước vô tướng ấy; vô
lượng là phá tướng lượng, pháp tính vì hai việc ngăn ngại
nên không thấy: Một là không thấy có tướng có lượng;
hai là thấy không tướng không lượng. Có tướng có
lượng là thô; không tướng không lượng là tế. Thế
nên nói, tướng của pháp tính không phân, không chẳng phân.
Bồ Tát vào ba môn giải thoát, trú trong ba thật pháp là như
như, pháp tính, thật tế thời có thể trù lượng, biết tướng
chung, tướng riêng của các pháp. Tu Bồ Đề nghe Phật
đáp xong, lại muốn hỏi Phật về các phương diện khác của
vô lượng Phật pháp. Phật đáp: Biết hết
thảy pháp không hợp không tán thời biết tướng chung, tướng
riêng của các pháp.
Hỏi:
Mắt thấy hai ngón tay có hợp có tán, vì sao nói không hợp
không tán?
Đáp:
Trước ta đã nói, cái thấy của mắt thịt với trâu dê thấy
không khác nhau, không đáng tin. Lại nữa, ba đốt da bọc
thịt gọi là ngón tay; ngón tay không có pháp nhất định.
Lại, giả sử có ngón tay cũng không thể hợp hết, chỉ hợp
một phần, còn nhiều phần khác không hợp; vì nhiều phần
không hợp nên không được nói ngón tay hợp.
Hỏi:
Một ít phần hợp nên gọi là hợp?
Đáp:
Một ít phần thời không gọi là ngón tay, làm sao nói ngón
tay hợp? Nếu nhiều phần không hợp thời không gọi
là không hợp, cớ gì vì một ít mà lại gọi là hợp?
Thế nên không được nói hai ngón tay hợp.
*Lại
nữa, ngón tay với từng phần không khác, không một, tức
là không có ngón tay; không có ngón tay nên không hợp.
Ở trong môn phá một khác, thời hoàn toàn không có hợp, như
Phật nói trong đây: Hết thảy pháp, tự tính không có;
tự tính không có nên tức là không có pháp; không có pháp
thời làm sao có hợp, có tán? Tu Bồ Đề nghe Phật nói
như như, pháp tính, thật tế không hợp không tán; biết tướng
lược, tướng rộng, thế nên Tu Bồ Đề thưa: Bạch
Đức Thế Tôn, ấy gọi là lược nhiếp Bát nhã ba la mật.
Lược nhiếp là con đường an ổn nên các Bồ Tát nên học.
(Hết
cuốn 82 theo bản Hán)