Tập
5
Cuốn
83
Kinh:
Bạch Đức Thế Tôn, môn lược nhiếp Bát nhã ấy hàng lợi
căn Bồ Tát có thể ngộ nhập.
Phật
dạy: Độn căn Bồ Tát cũng có thể ngộ nhập, trung
căn Bồ Tát, tán tâm Bồ Tát cũng có thể ngộ nhập; môn
ấy vô ngại, nếu Bồ Tát nhất tâm học đều vào được.
Người giải đãi thiếu tinh tấn, vọng niệm, loạn tâm không
thể vào được; người tinh tấn, không giải đãi, chánh niệm
nhiếp tâm có thể vào. Người muốn trú địa vị
bất thoái chuyển muốn mau đến trí Nhất thiết chủng có
thể vào. Bồ Tát nên học như Bát nhã ba la mật đã
dạy cho đến nên học như Thí Ba la mật đã dạy; Bồ Tát
ấy sẽ được Nhất thiết trí. Bồ Tát tu Bát nhã ba
la mật, các ma sự muốn khởi lên liền dứt. Vì vậy
nên Bồ Tát muốn được sức phương tiện hãy tu Bát nhã
ba la mật. Nếu Bồ Tát hành như vậy, tập như vậy,
tu như vậy Bát nhã ba la mật, khi ấy chư Phật hiện tại
trong vô lượng vô số quốc độ nghĩ đến vị Bồ Tát hành
Bát nhã ba la mật ấy, vì sao? Vì từ trong Bát nhã phát
sinh chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại. Vì vậy nên
Bồ Tát nên suy nghĩ như vầy: Pháp của chư Phật quá
khứ, vị lai, hiện tại chứng được, ta cũng sẽ được.
Như vậy, Bồ Tát nên tập Bát nhã ba la mật, nếu tập Bát
nhã ba la mật như vậy mau được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Vì vậy nên Bồ Tát thường nên không xa lìa Nhất
thiết trí. Nếu Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật như vậy
cho đến trong khoảnh khắc gẩy móng tay, phước đức của
Bồ Tát ấy rất nhiều. Nêu có người dạy cho chúng
sinh trong ba ngàn đại thiên thế giới, tự ý bố thí, trì
giời, thiền định, trí tuệ; dạy khiến được giải thoát,
giải thoát tri kiến; dạy khiến được quả Tu đà hoàn cho
đến quả A la hán, đạo Bích chi Phật, không bằng vị Bồ
Tát ấy tu Bát nhã trong khoảnh khắc gẩy móng tay, vì sao?
Vì từ trong Bát nhã sinh ra bố thí, trì giới, thiền định,
trí tuệ, quả Tu đà hoàn cho đến đạo Bích chi Phật.
Mười phương chư Phật hiện tại cũng từ trong Bát nhã sinh;
chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai cũng từ trong Bát nhã
sinh.
*Lại
nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên nghĩ tới Nhất thiết trí tu
Bát nhã ba la mật, hoặc trong giây lát hoặc nửa ngày, hoặc
một ngày, hoặc một tháng, hoặc trăm ngày, hoặc một năm,
hoặc trăm năm, hoặc một kiếp, trăm kiếp cho đến vô lượng
vô biên vô số kiếp, phước đức của Bồ Tát tu Bát nhã
ấy rất nhiều, hơn dạy cho chúng sinh trong mười phương hằng
hà sa số thế giới bố thí, trì giới, thiền định, trí
tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến; hơn dạy khiến được
quả Tu đà hoàn cho đến đạo Bích chi Phật, vì sao?
Vì chư Phật từ trong Bát nhã sinh, dạy bố thí, trì giới,
thiền định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, Tu
Bồ Đề quả cho đến đạo Bích chi Phật.
Nếu
có Bồ Tát an trú như Bát nhã dạy, nên biết Bồ Tát ấy
là vị bất thoái chuyển, được Phật hộ niệm. Thành
tựu sức phương tiện như vậy, nên biết Bồ Tát ấy thân
cận cúng dường vô lượng ngàn vạn ức Phật, gieo trồng
căn lành, đi theo thiện tri thức lâu ngày tu sáu Ba la mật,
lâu ngày tu mười tám không, bốn niệm xứ cho đến tám phần
Thánh đạo, mười lực của Phật cho đến trí Nhất thiết
chủng. Nên biết Bồ Tát ấy ở địa vị làm con của đấng
Pháp vương, đầy đủ thiện nguyện, thường không lìa Phật,
không lìa các căn lành, từ một cõi Phật đến một cõi Phật.
Nên biết Bồ Tát ấy có biện tài vô tận, đầy đủ Đà
la ni, đầy đủ sắc thân, đầy đủ sự thọ ký, nên vì
chúng sinh mà thọ thân. Nên biết Bồ Tát ấy khéo biết môn
văn tự, khéo biết chẳng phải môn văn tự; khéo nói, khéo
chẳng nói, khéo nói một lời, khéo nói hai lời, khéo nói
nhiều lời; khéo biết người nam nói, khéo biết người nữ
nói; khéo biết sắc cho đến thức; khéo biết tính thế gian;
khéo biết tính Niết bàn; khéo biết tướng pháp; khéo biết
tướng hữu vi; khéo biết tướng vô vi; khéo biết pháp có,
khéo biết pháp không; khéo biết tự tính, khéo biết tha tính;
khéo biết pháp hợp, khéo biết pháp tán; khéo biết pháp tương
ưng, khéo biết pháp không tương ưng; khéo biết như, khéo
biết chẳng như; khéo biết pháp tính, khéo biết pháp vị,
khéo biết duyên, khéo biết vô duyên; khéo biết ấm, khéo
biết giới, khéo biết nhập; khéo biết bốn đế; khéo biết
mười hai nhân duyên; khéo biết thiền; khéo biết sáu Ba la
mật, khéo biết bốn niệm xứ cho đến khéo biết trí Nhất
thiết chủng; khéo biết tính hữu vi, khéo biết tính vô vi;
khéo biết tính có, khéo biết tính không; khéo biết quán sắc,
khéo biết quán thọ, tưởng, hành, thức, cho đến khéo biết
quán trí Nhất thiết chủng; khéo biết sắc, sắc tướng không;
khéo biết thọ, tưởng hành thức, thức tướng không, cho
đến khéo biết Bồ đề, Bồ đề tướng không; khéo biết
đạo xả bỏ, khéo biết đạo không xả bỏ; khéo biết sinh,
khéo biết diệt, khéo biết trụ dị; khéo biết dục, khéo
biết sân, khéo biết si, khéo biết không dục, khéo biết không
sân, khéo biết không si; khéo biết thấy, khéo biết chẳng
thấy, khéo biết tà kiến, khéo biết chánh kiến, khéo biết
hết thảy kiến; khéo biết danh, khéo biết sắc, khéo biết
danh sắc, khéo biết nhân duyên, khéo biết tăng thượng duyên;
khéo biết hành tướng; khéo biết khổ, khéo biết tập, khéo
biết diệt, khéo biết đạo; khéo biết địa ngục, khéo biết
ngạ quỷ, khéo biết súc sinh, khéo biết người, khéo biết
trời; khéo biết cõi địa ngục, khéo biết cõi ngạ quỷ,
khéo biết cõi súc sinh, khéo biết cõi người, khéo biết cõi
trời; khéo biết Tu đà hoàn, khéo biết quả Tu đà hoàn, khéo
biết đạo Tu đà hoàn, khéo biết Tư đà hoàn, khéo biết
quả Tư đà hoàn, khéo biết đạo Tư đà hoàn, khéo biết
A na hàm, khéo biết quả A na hàm, khéo biết đạo A na hàm,
khéo biết A la hán, khéo biết quả A la hán, khéo biết đạo
A la hán, khéo biết Bích chi Phật, khéo biết quả Bích chi
Phật, khéo biết đạo Bích chi Phật, khéo biết Phật, khéo
biết trí Nhất thiết chủng, khéo biết đạo trí Nhất thiết
chủng; khéo biết các căn, khéo biết các căn đầy đủ; khéo
biết tuệ, khéo biết tật tuệ, khéo biết tuệ có lực, khéo
biết tuệ lanh lợi, khéo biết tuệ xuất ly, khéo biết thông
đạt, khéo biết tuệ rộng lớn, khéo biết tuệ thâm sâu,
khéo biết tuệ lớn, khéo biết tuệ vô đẳng, khéo biết
tuệ như thật; khéo biết đời quá khứ, khéo biết đời
vị lai, khéo biết đời hiện tại; khéo biết phương tiện,
khéo biết đợi chúng sinh, khéo biết tâm, khéo biết tâm sâu
xa, khéo biết nghĩa, khéo biết lời nói; khéo biết phân biệt
ba thừa.
Này
Tu bồ đề, Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật sinh Bát nhã ba
la mật, tu Bát nhã ba la mật được các lợi ích như vậy.
Luận:
Ý Tu Bồ Đề nghĩ rằng: Do bốn cửa đi vào tuy an ổn,
song vì rất sâu xa nên chỉ kẻ lợi căn mới vào được.
Phật
đáp: Không ai không vào được. Tu Bồ Đề hiểu chỉ
người có lợi căn trí tuệ vào được, còn ý Phật thì người
chỉ có nhất tâm tinh tấn muốn học đều có thể vào được.
Thí như lúc nóng bức gặp ao nước trong mát, người có mắt
có chân đều có thể vào, còn người tuy ở gần mà không
muốn vào thời không vào. Bốn cửa vào ao Bát nhã ba
la mật cũng như vậy, bốn phương chúng sinh có ngăn ngại
gì. Người không giải đãi là người chánh tinh tấn,
người không vọng niệm là người có chánh niệm, người
không loạn tâm là người có chánh định. Bốn cửa như
vậy là chánh kiến, chánh kiến... an trú, là giới hạnh; tám
thánh đạo ấy có thể được Bát nhã ba la mật. Tu Bồ
Đề là người Tiểu thừa trí mỏng, nên chỉ nói người
lợi căn mới vào được, còn Phật Đại thừa trí lớn nên
nói tuy hàng trung căn, độn căn mà tu tập tám pháp cũng có
thể vào bốn cửa ấy. Trong đây, Phật vì tâm đại
bi nên nói hàng trung căn, độn căn đều có thể vào được.
Nếu Bồ Tát học sáu Ba la mật như Bát nhã đã nói thời
không bao lâu sẽ được Nhất thiết trí. Như trong pháp
Thanh văn, không chỉ do chánh kiến đắc đạo mà còn do cả
tám thánh đạo hợp thành; pháp Đại thừa cũng như vậy,
không chỉ học Bát nhã được Nhất thiết trí, mà còn phải
hợp với năm Ba la mật kia mới được. Thế nên nói
Bồ Tát đúng như Bát nhã đã nói nên học được trí Nhất
thiết chủng.
Hỏi:
Ở trên chỉ nói Bát nhã hay đưa đến trí Nhất thiết chủng,
nay cớ sao lại nói hợp cùng với năm Ba la mật mới được
đến?
Đáp:
Thường nói hợp cùng sáu Ba la mật nên được đến; hoặc
có khi ở cõi Phật thanh tịnh, chỉ nghe thật tướng là đến
được Nhất thiết trí, không cần thứ lớp tu các Ba la mật.
Trong đây nói, Bồ Tát được Nhất thiết trí thời chỉ do
công của Bát nhã đã đủ, nên nay chỉ tán thán thế lực
của người tu Bát nhã. Như trong kinh này nói: Bồ
Tát hành Bát nhã thời ma sự có khởi lên liền dứt.
Từ
trên kia, chư Phật hộ niệm cho đến đây đều là tán thán
công đức Bồ Tát hành Bát nhã cho đến phân biệt khéo biết
ba thừa. Khéo biết môn văn tự là như đã nói trong văn
tự Đà la ni. Môn chẳng văn tự là: Như như, pháp
tính, thật tế, trong đó không có văn tự. Nói lược
là Bồ tát có lực phước đức vô lượng nên khéo biết
hai pháp, là thế gian và Niết bàn; nếu muốn mất Niết bàn
thời trở lại nghĩ đến thế gian. Tu tập các phước
đức nên khéo biết chữ, phá điên đảo đối với phước
đức nên khéo biết chẳng phải có chữ. Lời nói, chẳng
phải lời nói cũng như vậy. Một lời nói là do một
lời nói có thể phân biệt nhiều ít, lời nói trong sạch,
lời nói không trong sạch. Một lời, hai lời, nhiều lời,
trai nói, gái nói, âm thanh khác nhau. Bồ tát khéo biết
việc ấy nên hàng phục các tà đạo và các kẻ hiếu thắng.
Khéo biết sắc cho đến thức hai tướng hoặc thường hoặc
vô thường, như trước nói. Khéo biết đạo xả bỏ
là Bồ Tát từ một địa, đến một địa, xả bỏ địa
dưới không ưu, được địa trên không tham; đạo chẳng xả
bỏ là trú trong địa ấy không bỏ. Tà kiến tiếp thế
gian chánh kiến, hết thảy kiến, các kiến học, vô học.
Hành là mười sáu hành. Khéo biết Tu đà hoàn là khéo
biết người; đạo Tu đà hoàn là kiến đế đạo; quả Tu
đà hoàn là Tâm tâm số pháp thứ mười sáu và vô lậu giới...
cho đến Phật cũng như vậy. Khéo biết các căn là khéo
phân biệt hai mươi hai căn. Có người nói xem chúng sinh
có thể độ căn có lợi, độn; người đầy đủ căn có
thể độ, người không đầy đủ căn chưa thể độ.
Lại Bồ Tát cũng tự biết căn lành đầy đủ, không đầy
đủ; như chim con tự biết lông cánh đầy đủ mới có thể
bay. Tuệ là tướng chung của hết thảy trí tuệ.
Tật tuệ là mau biết các pháp. Có người tuy mau mà trí
lực không mạnh; nhu ngựa tuy chạy mau mà sức yếu. Có
người tuy mạnh mà trí lực không lanh; thí như búa đùi tuy
có sức mạnh mà không thể chặt cây. Tuệ ra khỏi là
ở trong các vấn nạn có thể tự ra khỏi, cũng có thể ở
trong các phiền não tự ra khỏi, cũng có thể ở trong các
phiền não tự ra khỏi ba cõi mà vào Niết bàn. Tuệ thông
đạt là rốt ráo thông suốt Phật pháp, cho đến lậu hoặc
dứt sạch, được Niết bàn, phá các pháp để đi vào pháp
tính. Tuệ rộng lớn là các kinh sách, luận nghị giữa
đời và đạo không có trong p pháp mà có thể biết hết.
Tuệ thâm sâu là quán hết thảy pháp vô tướng không ngại,
không thể nghĩ nghì. Trí tuệ sâu của thế gian là có
thể biết việc lâu xa, việc trong lợi có suy, trong suy có
lợi. Tuệ lớn là tổng quát các tuệ trên gọi là lớn;
lại trong hết thảy chúng sinh, Phật là lớn; trong hết thảy
pháp. Bát nhã là lớn; biết Phật và tin pháp cùng với
đại pháp hòa hợp nên gọi là lớn. Tuệ vô đẳng là
ở trong Bát nhã mà không chấp trước Bát nhã, vào sâu được
như vậy, không còn pháp gì có thể ví dụ nên gọi là vô
đẳng. Lại nữa, Bồ Tát dần dần hành đạo đát đến
tính không thể nghĩ nghì, không có gì sánh bằng nên gọi
là vô đẳng. Tuệ như thật là như ngọc như ý không
có màu sắc nhất định, tùy theo vật đối hiện trước nó
mà biến màu; Bát nhã cũng như vậy, không có tướng nhất
định, chỉ tùy theo các pháp hành. Lại, như ngọc như
ý, tùy ước nguyện đều đạt được; Bát nhã cũng như vậy,
người thực hành Bát nhã có thể đạt ước nguyện thành
Phật, huống gì các ước nguyện khác. Quá khứ đã diệt,
vị lai chưa sinh, không được nói rằng có, không được nói
rằng không; hành được thật tướng trong đó, ấy gọi là
khéo biết. Pháp hiện tại niệm niệm sinh diệt, không
thể biết mà có thể thông đạt, ấy gọi là khéo biết đời
hiện tại. Phương tiện là muốn thành tựu công việc
phải có đầy đủ nhân duyên nhiều ít thích hợp, không bị
sai lạc mới được. Như Bồ Tát tuy tập hành không,
mà không chứng thật tế; tuy tập hành phước đức cũng không
đắm trước. Đợi chúng sinh là như khách buôn, đại
tướng, tuy cỡi ngựa nhanh, có thể mau đến nơi, song cố
đợi mọi người; Bồ Tát cũng như vậy, cỡi ngựa tài trí
tuệ, tuy có thể mau vào Niết bàn, cũng đợi chúng sinh nên
không vào. Khéo biết tâm thiện ác của chúng sinh, tâm
sâu xa là hiện tại tuy ác, nhưng vốn nó là thiện. Như
cha mẹ đánh con, bên ngoài ác mà bên trong thiện; như Phật
độ chàng Ương quật ma la, biết nó tâm hiện ra bên ngoài
tuy ác mà thâm tâm thật thiện. Bồ Tát quán xét chúng
sinh đủ năm thiện căn tín, tấn, niệm, định, tuệ từ trong
tâm sâu xa đi đến, khi ấy có thể độ được. Nghĩa
có hai: Cũng chỉ pháp, cũng chỉ tên. Ngữ là lời
nói, dùng danh từ để gọi vật. Được nghĩa vô ngại,
pháp vô ngãi nên gọi là khéo biết nghĩa. Được từ
vô ngại, vui nói vô ngại nên gọi là khéo biết nghĩa.
Bồ Tát có hai việc khéo biết ấy có thể đem pháp ba thừa
độ chúng sinh, ấy gọi là khéo biết phân biệt ba thừa.
Như vậy, vì khó hiểu nên nói, còn điều dễ hiểu không
nói.
Hỏi:
Cớ sao trước nói khéo biết sắc cho đến thức, sau mới
nói khéo biết ấm, giới, nhập? Cớ sao trước nói khéo
biết duyên sau mới khéo biết nhân duyên, thứ đệ duyên,
duyên duyên, tăng thượng duyên?
Đáp:
Trước nói rộng, sau nói lược. Lại có người nói:
Trước nói ngũ uẩn có ba thứ: Thiện, bất thiện và
vô ký. Giới uẩn, định uẩn... cũng gọi là năm uẩn.
Duyên trước nói lược, sau nói rộng.
Giải
thích Phẩm Ba Tuệ thứ 70
Kinh:
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Bồ
Tát làm thế nào hành Bát nhã ba la mật? Sinh Bát nhã
ba la mật? Tu Bát nhã ba la mật?
Phật
dạy: Vì sắc tịch diệt, vì sắc không, vì sắc hư dối,
vì sắc không chắc thật nên hành Bát nhã ba la mật; vì thọ,
tưởng, hành, thức cũng như vậy. Như ông hỏi:
Làm thế nào sinh Bát nhã ba la mật? Vì như hư không sinh
nên sinh Bát nhã ba la mật. Như ông hỏi: Làm
thế nào tu Bát nhã ba la mật? Tu các pháp phá hoại nên
tu Bát nhã ba la mật.
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, hành Bát nhã ba la
mật, sinh Bát nhã ba la mật, tu Bát nhã ba la mật trải qua
bao nhiêu thời gian?
Phật
dạy: Từ khi mới phát tâm cho đến khi ngồi đạo tràng
nên hành, nên sinh, nên tu Bát nhã ba la mật.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, tâm thứ
lớp có thể hành Bát nhã ba la mật?
Phật
dạy: Thường không bỏ tâm Nhất thiết trí, không đề
các niệm khác xen vào, là hành Bát nhã ba la mật, là sinh Bát
nhã ba la mật, là tu Bát nhã ba la mật. Nếu tâm tâm số
pháp không hiện hành là hạnh Bát nhã ba la mật, là sinh Bát
nhã ba la mật, là tu Bát nhã ba la mật.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, nếu
Bồ Tát tu Bát nhã ba la mật sẽ được Nhất thiết trí chăng?
Phật
dạy: Được.
Bạch
đức Thế Tôn, không tu Bát nhã ba la mật được Nhất thiết
trí chăng?
Phật
dạy: Khong.
Bạch
Đức Thế Tôn, tu và không tu được Nhất thiết trí chăng?
Phật
dạy: Không.
Bạch
Đức Thế Tôn, chẳng phải tu chẳng phải không tu được
Nhất thiết trí chăng?
Phật
dạy: Khong.
Bạch
Đức Thế Tôn, nếu không như vậy thời làm sao sẽ được
Nhất thiết trí?
Phật
dạy: Bồ Tát được Nhất thiết trí như tướng Như.
Bạch
Đức Thế Tôn, làm sao như tướng Như? Như thật
tế.
Làm
sao như thật tế? Như pháp tính.
Làm
sao như pháp tính? Như ngã tính, chúng sinh tính, thọ mạng
tính.
Bạch
Đức Thế Tôn, thế nào là ngã tính, chúng sinh tính, thọ
mạng tính?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ sao? Ngã, chúng sinh,
thọ mạng có thể có được chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Không thể có được.
Phật
dạy: Nếu ngã, chúng sinh, thọ mạng không thể có được,
làm sao nói có ngã tính, chúng sinh tính, thọ mạng tính?
Nếu trong Bát nhã không nói có hết thảy pháp sẽ được
trí Nhất thiết chủng.
Tu
Bồ Đề thưa: Chỉ Bát nhã là không thể nói hay Thiền
Ba la mật cho đến Thí Ba la mật cũng không thể nói?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bát nhã không thể nói, bố thí cho đến
hết thảy pháp hoặc hữu vi, hoặc vô vi, hoặc Thanh văn, hoặc
Bích chi Phật, hoặc Bồ Tát, hoặc Phật cũng không thể nói.
Bạch
Thế Tôn, nếu hết thảy pháp không thể nói, làm sao nói đó
là địa ngục, là súc sinh, là ngạ quỷ, là người, là trời,
là Tu đà hoàn, là Tư đà hàm, là A na hàm, là A la hán, là
Bích chi Phật, là chư Phật?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ sao? Danh từ chúng sinh
ấy thật có thể có được chăng? Bạch Đức Thế Tôn,
không thể có được.
Phật
dạy: Nếu chúng sinh không thể có được, làm sao nói
có địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, trời, Tu đà hoàn
cho đến Phật? Như vậy, Tu bồ đề, Bồ Tát khi hành
Bát nhã ba la mật nên học hết thảy pháp không thể nói.
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, Bồ Tát khi học Bát
nhã ba la mật nên học sắc, thọ, tường, hành, thức cho đến
nên học trí Nhất thiết chủng?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát khi học Bát nhã ba la mật nên
học sắc không thêm không bớt cho đến nên học trí Nhất
thiết chủng không thêm không bớt.
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, làm sao học sắc
không thêm không bớt cho đến học trí Nhất thiết chủng
không thêm không bớt?
Phật
dạy: Vì không sinh không diệt nên học.
Bạch
Đức Thế Tôn, làm sao gọi là không sinh không diệt nên học?
Phật
dạy: Không khởi không làm các hành nghiệp hoặc có hoặc
không.
Bạch
Đức Thế Tôn, làm sao không khởi không làm các hành nghiệp
hoặc có hoặc không?
Phật
dạy: Quán các pháp tự tướng không.
Bạch
Đức Thế Tôn, làm sao nên quán các pháp tự tướng không?
Phật
dạy: Nên quán sắc, sắc tướng không; nên quán thọ,
tường, hành, thức, thức tướng không; nên quán mắt, tướng
mắt không, cho đến ý; sắc cho đến pháp; nhãn thức giới
cho đến ý thức giới, tướng ý thức giới không; nên quán
nội không, tướng nội không không, cho đến nên quán tự
tướng không, tướng tự tướng không không; nên quán bốn
thiền, tướng bốn thiền không, cho đến diệt thọ tưởng
định, tướng diệt thọ tưởng định; nên quán bốn niệm
xứ, tướng bốn niệm xứ không, cho đến Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, tướng Vô thượng chánh đẳng chánh giác
không. Như vậy, Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật nên
hành các pháp tự tướng không.
Bạch
Đức Thế Tôn, nếu sắc, sắc tướng không, cho đến Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, tướng Vô thượng chánh đẳng chánh
giác không, làm sao Bồ Tát nên hành Bát nhã ba la mật?
Phật
dạy: Không hành là hành Bát nhã ba la mật.
Bạch
Đức Thế Tôn, làm sao không hành là hành Bát nhã ba la mật?
Phật
dạy: Bát nhã ba la mật không thể có được, Bồ Tát
không thể có được, hành cũng không thể có được; người
hành, pháp hành, chỗ hành cũng không thể có được; ấy gọi
là Bồ Tát hành không hành Bát nhã ba la mật, vì hết thảy
hý luận không thể có được.
Bạch
Đức Thế Tôn, nếu không hành là hành Bát nhã ba la mật,
vậy Bồ Tát khi mới phát tâm, làm sao hành Bát nhã ba la mật?
Phật
dạy: Bồ Tát từ khi mới phát tâm lại đây, nên học
không, không có sở đắc. Bồ Tát ấy dùng không
có sở đắc nên bố trí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, vì không có sở đắc nên tu trí tuệ; cho đến
trí Nhất thiết chủng cũng như vậy.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, thế
nào gọi là có sở đắc? Thế nào gọi là không có sở
đắc?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Có hai là có sở đắc, không có hai
là không có sở đắc.
Bạch
Đức Thế Tôn, hai cái gì là có sở đắc, không hai cái gì
gọi là không có sở đắc?
Phật
dạy: Mắt và sắc là hai, cho đến ý và pháp là hai,
cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác và Phật là hai;
ấy gọi là hai.
Bạch
Đức Thế Tôn, không có sở đắc từ trong có sở đắc hay
không có sở đắc từ trong không có sở đắc.
Phật
dạy: Không có sở đắc chẳng từ trong có sở đắc;
không có sở đắc chẳng từ trong không có sở đắc.
Này Tu Bồ Đề, có sở đắc, không có sở đắc; bình đẳng
ấy gọi là không có sở đắc. Như vậy, Bồ Tát đối
với có sở đắc, không có sở đắc bình đẳng ấy nên học.
Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát học Bát nhã nư vậy gọi là người
không có sở đắc, không có lỗi lầm.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, nếu
Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật không hành có sở đắc, không
hành không có sở đắc, làm sao từ một địa đến một địa
được trí Nhất thiết chủng?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật không
trú trong có sở đắc, từ một địa đến một địa, vì
sao? Vì trú trong có sở đắc thời không thể từ một
địa đến một địa, vì sao? Vì vô sở đắc là
tướng Bát nhã ba la mật, vô sở đắc là tướng Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, vô sở đắc cũng là tướng người
hành Bát nhã ba la mật. Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên hành Bát
nhã ba la mật như vậy.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, nếu
Bát nhã không thể có được, v cũng không thể có được,
người hành Bát nhã cũng không thể có được, làm sao Bồ
Tát phân biệt được các pháp tướng là sắc, là thọ, tưởng,
hành, thức cho đến là Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật không
thủ đắc sắc, không thủ đắc thọ, tưởng, hành, thức
cho đến không thủ đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Bạch
Đức Thế Tôn, nếu Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật, sắc
không thể có được cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh
giác không thể có được, làm sao đầy đủ Thí Ba la mật
cho đến đầy đủ Bát nhã ba la mật để vào pháp vị; vào
rồi làm nghiêm tịnh cõi Phật, thành tựu tuệ giác cho chúng
sinh, được trí Nhất thiết chủng; được trí Nhất thiết
chủng rồi chuyển bánh xe pháp, làm Phật sự độ chúng sinh
khỏi vòng sinh tử?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát không vì sắc nên hành Bát nhã
ba la mật, cho đến không vì Vô thượng chánh đẳng chánh
giác nên hành Bát nhã ba la mật.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Bồ Tát
vì việc gì nên hành Bát nhã ba la mật?
Phật
dạy: Không vì việc gì nên hành Bát nhã ba la mật, vì
sao? Vì hết thảy pháp không có làm gì, Bát nhã ba la
mật cũng không có làm gì, Vô thượng chánh đẳng chánh giác
cũng không có làm gì, Bồ Tát cũng không có làm gì. Như
vậy, Bồ Tát nên hành Bát nhã ba la mật không có làm gì.
Luận:
Người nghe nghe tán thán công đức Bát nhã khéo biết hết
mọi việc mà yêu quý Bát nhã, dùng phương tiện muốn được.
Tu Bồ Đề biết ý mọi người nên hỏi Phật: Làm sao
hành Bát nhã? Làm sao sinh? Làm sao tu? Có
người nói: Hành là ở địa vị Càn tuệ; Sinh là ở
địa vị được Vô sinh nhẫn; Tu là sau địa vị Vô sinh nhẫn,
do Thiền Ba la mật huân tu Bát nhã. Phật đáp:
Nam uẩn là nơi tâm thế gian hiện hành, trói buộc; Niết bàn
là tướng tịch diệt. Bồ Tát do sức trí tuệ Bát nhã
thông lợi nên có thể phá năm uẩn, thông đạt làm cho không,
tức là tướng Niết bàn tịch diệt. Từ tịch diệt
khởi xuất trú trong sáu căn, trở lại nghĩ tới tướng tịch
diệt, biết các pháp đều không, hư dối không chắc thật;
ấy gọi là Bát nhã. Hành Bát nhã không có định tướng
nên không được nói hoặc có hoặc không, vì đường nói
năng dứt bặt; "không" như hư không, thế nên nói như hư không
sinh. Lại, như hư không, trong hư không không có pháp sinh,
hư không cũng không thể có sinh gì, vì sao? Vì hư không
không có pháp, không có hình, không có xúc chạm, không có
tướng tạo tác; Bát nhã cũng như vậy.
Lại
có người nói: Có hư không, chỉ vì nó là pháp thường,
không có tạo tác nên không sinh; ấy là định tướng của
hư không. Trong Đại thừa, hư không là không có thật
pháp, không được nói nó thường, không được nói nó vô
thường; không được nói có, không được nói không;
không được nói chẳng phải có chẳng phải không; dứt hết
hí luận, không nhiễm không trước cũng không có văn tự;
Bát nhã cũng như vậy, hay quán thế gian tợ như hư không;
ấy gọi là sinh Bát nhã ba la mật. Bồ Tát được Bát
nhã rồi, vào sâu thiền định, do sức Bát nhã nên quán và
duyên của thiền định đều phá hoại, vì sao? Vì Bát
nhã xả bỏ hết thảy pháp, không trước tướng; ấy gọi
là tu Bát nhã ba la mật. Người nghe nghĩ rằng: Hết
thảy pháp đều có thời tiết, thế nên Tu Bồ Đề hỏi:
Hành Bát nhã phải trải qua bao nhiêu thời gian? Phật
đáp: từ khi mới phát tâm tu cho đến khi ngồi đạo
tràng.
Hỏi:
Bồ Tát từ khi mới phát tâm nên tu mười địa, sáu Ba la
mật, ba bảy phẩm trợ đạo, hết thảy thiện pháp, cớ sao
chỉ nói hành Bát nhã?
Đáp:
Tu Bồ Đề chỉ hỏi Bát nhã nên Phật chỉ đáp hành Bát
nhã. Lại, hết thảy pháp đều hòa hợp với Bát nhã,
vì Bát nhã lớn nên không nói các pháp khác.
Hỏi:
Bát nhã vô lượng vô hạn, cớ gì lấy việc ngồi đạo tràng
làm giới hạn?
Đáp:
Trước đã đáp: Bát nhã khi đến trong tâm Phật, chuyền
lại gọi là Nhất thiết trí; lý tuy một mà danh từ đã đổi,
nên nói siêng tu cho đến khi ngồi đạo tràng. Bồ Tát
đến đạo tràng, từ khi phát tâm lại đây, những pháp tu
được đều xả bò, được vô ngại giải thoát nên thông
suốt cả ba đời.
Hỏi:
Trong khoảnh khắc gẩy móng tay gồm có 60 niệm, niệm niệm
sinh diệt, làm sao một tâm có thể thường niệm Nhất thiết
trí không đề cho niệm khác xen vào?
Đáp:
Tâm có hai thứ: Một là tâm niệm niệm sinh diệt; hai
là tâm thứ lớp nối nhau sinh, chung gọi là một tâm.
Vì thứ lớp nói nhau sinh nên tuy có nhiều mà gọi là một
tâm. Khi ấy không để cho tâm tham, giẫn tiếp tục xen
vào, vì sao? Vì tâm tham, giận trụ lâu thời có thể
làm chướng ngại Bát nhã; niệm ít thời không hại.
Đây là vì hàng Bồ Tát mới phát tâm mà nói.
Lại
có đại Bồ Tát tuy hành các thiện pháp khác mà đều hòa
hợp với Bát nhã nên có thể làm cho trong mỗi niệm các tâm
khác không xen vào. Bồ Tát phần nhiều đối với Bát
nhã khởi lên các hí luận và các tà kiến, nên Phật dạy
thường nghĩ đến Nhất thiết trí, đừng để các tâm khác
xen vào. Thường nghĩ đến là tâm không hướng đến
chỗ khác, giả sử chết đến bên mình cũng không quên Nhất
thiết trí. Tướng tu hành Bát nhã là không hành theo tâm
tâm số pháp.
Hỏi:
Người phàm phu vào vô tưởng định hoặc sinh cõi trời vô
tưởng. Bậc thánh nhân trú ở Hữu dư Niết bàn, vào
Diệt tận định; hết thảy thánh nhân vào Hữu dư Niết bàn
tâm tâm số pháp đều không hiện hành; tâm tâm số pháp không
hiện hành thời khi Bồ Tát hành Bát nhã, làm sao tâm tâm số
pháp không hiện hành?
Đáp:
Việc ấy trong A tỳ đàm nói chứ không phải nghĩa của Đại
Thừa. Tiểu thừa, Đại thừa sai khác như trước nói.
Thế nên không nên đem A tỳ đàm nạn hỏi Đại thừa.
*Lại
nữa, trong tam muội Vô tướng, các tướng sắc... diệt nên
gọi là vô tướng, vì vô tướng nên không nên sinh tâm tâm
số pháp. Đây cũng chẳng phải là vô tưởng định,
diệt tận định.
Hỏi:
Nghĩa vô tướng như Phật mỗi mỗi nói hoặc gọi là kiến
đế đạo, hoặc tín hành, pháp hành là vô tướng, người
cho là mau; hoặc nói định Vô sắc, vì tưởng vi tế khó biết
nên cũng gọi là vô tướng; hoặc trong ba môn giải thoát duyên
Niết bàn nên gọi là vô tướng. Thế nên không
được nói chỉ vì vô tướng nên gọi là tâm tâm số pháp
không hiện hành, cho đến vì duyên Niết bàn vô tướng, tâm
tâm số pháp không diệt, huống gì duyên pháp hữu tướng?
Đáp:
Trong kiến đế đạo, trong định vô sắc nói vô tướng có
thể được; nếu nói duyên Niết bàn vô tướng thời không
đúng. Phật thường tán thán Niết bàn vô tướng, vô
lượng, không thể nghĩ nghì, tức là pháp vô tướng, vô duyên,
ông làm sao nói duyên Niết bàn?
Hỏi:
Diệt tướng nam, tướng nữ nên gọi là vô tướng, chứ không
nói không có tướng Niết bàn? Hành giả thủ tướng
Niết bàn ấy sinh tâm tâm số pháp gọi là duyên.
Đáp:
Phật nói hết thảy pháp hữu vi sinh đều là lưới ma, hư
dối không thật; nếu tâm tâm số pháp duyên Niết bàn là
thật, thời mất tướng hữu vi hư vọng; nếu không thật
thời không thể thấy Niết bàn. Thế nên ông nói Niết
bàn có tướng có thể duyên, việc ấy không đúng.
Hỏi:
Phật tự nói Niết bàn có ba tướng, sao nay nói vô tướng?
Đáp:
Ba tướng ấy giả danh, không thật, vì sao? Vì phá ba
tướng hữu vi nên nói không sinh, không diệt, không trụ dị,
vô vi, không có tướng riêng. Lại nữa, tướng sinh trước
chẳng mỗi mỗi phá rồi, tướng sinh chẳng thể có được,
làm sao có vô sinh? Lìa tướng hữu vi, tướng vô vi không
thể có được? Thế nên vô vi chỉ có tên gọi,
không có tự tướng.
*Lại
nữa, Phật pháp chơn thật, tịch diệt, không có hý luận;
nếu Bát nhã ba la mật có tướng tức là có tướng chắc
thật có thể thủ, bèn là hí luận; hý luận nên sinh ra tranh
cãi; nếu tranh cãi sân giận còn không được sinh vào cõi
trời cõi người, huống gì Niết bàn! Thế nên Phật
nói Niết bàn vô tướng, vô lượng, không thể nghĩ nghì,
diệt các hí luận. Tướng Niết bàn ấy tức là Bát
nhã ba la mật. Thế nên không nên có tâm tâm số pháp.
Như phẩm trước nói, Bồ Tát hành Bát nhã lìa tướng tâm
và chẳng phải tâm. Nếu có tướng chẳng phải tâm thời
nên nạn rằng không có tâm tướng, làm sao hành Bát nhã?
Nay lìa cả hai bên ấy nên không nên vấn nạn.
*Lại
nữa, vì vô minh điên đảo tà kiến đời trước nên được
thân này, tâm tâm số pháp trong thân ấy tuy có thiện song
vì nhân duyên sinh nên không có tự tính, hư dối không thật.
Quả báo của thiện tâm ấy hưởng phước vui cõi trời cõi
người đều là vô thường nên sinh khổ lớn, cũng là hư
dối không thật; huống gì tâm bất thiện, vô ký!
Nhân hư dối nên quả cũng hư dối; vì Bát nhã ba la mật chơn
thật nên tâm tâm số pháp không hiện hành.
Tu
Bồ Đề nghe nói tâm tâm số pháp không hiện hành nên hỏi
Phật: Tu Bát nhã ba la mật được Nhất thiết trí
chăng? Phật đáp: không, vì sao? Vì tu là
thường hành chứ nhóm, đều là lực của tâm tâm số pháp,
nên nói không tu. Tu còn không được, huống gì không
tu! Tu và không tu là vì Bát nhã là pháp vô vi nên không
tu; vì Bát nhã hay quán thật tướng nên nói tu; cả hai đều
có lỗi, nên Phật đáp không.
Hỏi:
Nếu trong cách thứ ba tu không tu có lỗi, còn trong cách thứ
tư chẳng phải tu chẳng phải không tu có lỗi gì mà Phật
đáp không?
Đáp:
Vì Tu Bồ Đề đem tâm chấp thủ tướng mà hỏi nên Phật
đáp không. Vì nhận tu không tu nên mới có việc chẳng
phải tu chẳng phải không tu, thế nên Phật đáp không; nếu
không đem tâm chấp tướng nói chẳng phải tu chẳng phải
không tu thời không có lỗi. Bốn câu hỏi của Tu Bồ
Đề Phật đều không chấp thuận nên tâm mê hoặc lại hỏi
Thế Tôn: Nay làm sao sẽ được Nhất thiết trí? Phật
đáp: Như tướng như. Tu Bồ Đề cũng không hiểu
như, nên Phật lại đáp: như thật tế.
Hỏi:
Trong phẩm Như, Tu Bồ Đề tự khéo nói Như, sao đây còn nghi?
Đáp:
Như ấy không có tướng nhất định, thế nên không thể không
hỏi. Nếu Như có tướng nhất định thời đã hiểu
rõ; Như ấy sâu xa vô lượng nên Tu Bồ Đề có chỗ hiểu,
có chỗ không hiểu. Thí như chỗ nước lớn, có người
vào sâu, có người vào cạn, đều gọi là vào nước; không
được nói người vào cạn là không vào nước.
Hỏi:
Vì sao không lấy Như để ví dụ thật tế mà lấy thật tế
ví dụ Như? Thật tế có gì dễ hiểu nên ví dụ?
Đáp:
Như và thật tế tuy là một nhưng khi quán sát có khác nhau.
Như là thể tính các pháp; thật tế là tâm hành giả thủ
chứng. Phật vì Tu Bồ Đề thủ chứng thật tế nên
lấy thật tế làm ví dụ.
Hỏi:
Thường nói pháp tính sau Như, thật tế sau pháp tính; sao nay
pháp tính lại nói ở sau?
Đáp:
Nay vì muốn lấy ngã tính, chúng sinh tính nói rốt ráo không,
nên đổi thứ lớp ở sau. Lại nữa, từ sau khi được
thấy đế đạo, trong khi học đạo có thể quán các pháp
Như; còn trong vô học đạo, vì phiền não sạch hết, suốt
hết thảy tướng chung, tương riêng, gọi là pháp tính.
Chỗ bản sinh của các pháp gọi là tính, thế nên lấy pháp
tính ví dụ thật tế. Phật dạy: Pháp tính có phần
Thanh văn, có phần Đại Thừa. Tu Bồ Đề đối với
phần Thanh văn không nghi, đối với phần Đại thừa có nghi
nên hỏi. Phật muốn lấy việc người phàm có thể hiểu
làm chứng, cho nên nói như ngã tính, chúng sinh tính, thọ mạng
tính. Tu Bồ Đề không còn hỏi gì nữa. Phật muốn
nói câu kết thúc nên hỏi ngược lại Tu Bồ Đề: Ý
ông nghĩ sao? Ngã thật có chăng? Tu Bồ Đề được
đạo nên đáp không. Bậc Tu đà hoàn còn không thấy
ngã, huống gì A na hàm! Phật dạy: Ông là hàng Tiểu
thừa độn căn còn không thấy ngã, huống gì Phật! Phật
dùng trí tuệ tìm ngã không thể có được, thời làm sao có
thể nói? Như ngã không thể nói có, thời hết thảy
pháp cũng như vậy. Bồ Tát hành được pháp không thể
nói ấy nên được Nhất thiết trí. Không thể nói là
không thể phân biệt hoặc có hoặc không.
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, các pháp nếu không
thể phân biệt, làm sao phân biệt nói có địa ngục, ngạ
quỷ..., có các thánh đạo Tu đà hoàn...?
Phật
đáp: Chúng sinh không có định pháp. Địa ngục
chỉ có tên gọi giả, làm sao phân biệt nói có không?
Chúng sinh và thánh nhân, từ nơi phân biệt chúng sinh nên có
các tên thánh đạo, song chúng sinh thật không thể có được.
Như thế, Bồ Tát nên học "Bát nhã ba la mật không thề nói"
như vậy.
Tu
Bồ Đề hỏi: Bạch Đức Thế Tôn, Bồ Tát nên học
sắc pháp, nay cớ gì nói học hết thảy pháp không thể nói?
Phật
đáp: Bồ Tát tuy học sắc pháp... chỉ nên học là không
thêm không bớt. Ý nghĩa không thêm không bớt như trước nói.
Trong đây Phật tự nói nhân duyên học được không thêm không
bớt: Nếu Bồ Tát học pháp tức là học không thêm không
bớt.
Tu
Bồ Đề hỏi: Làm sao học pháp không sinh không diệt?
Phật
đáp: Không khởi không làm các hạnh nghiệp hoặc có
hoặc không. Có là ba hữu (ba cõi): Dục sắc, Sắc hữu
và Vô sắc hữu. Không là đoạn diệt, lìa tám thanh đạo
miễn cưỡng muốn cầu tịch diệt. Vì hai việc ấy mà
người phàm phu tạo các hành nghiệp hoặc thiện hoặc bất
thiện. Bồ Tát biết thật tướng các pháp là không sinh không
diệt nên không tạo ba nghiệp, không khởi lên pháp tương
ưng với nghiệp; ấy gọi là vô tác giải thoát môn; không
sinh không diệt là vô tướng giải thoát môn.
Bạch
Đức Thế Tôn, dùng phương tiện gì có thể không khởi không
làm các hành nghiệp?
Phật
đáp: Nếu Bồ Tát quán được các pháp tự tướng không;
nghĩa là sắc, sắc tự tướng không, cho đến Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, tướng Vô thượng chánh đẳng chánh
giác không, bấy giờ Bồ Tát có thể làm hai việc: Một
là không khởi không làm các hành nghiệp, hai là có thể đối
với hết thảy pháp tập hành tự tướng không.
Lại
hỏi: Nếu sắc pháp ... tự tướng không, làm sao Bồ
Tát nên tập hành Bát nhã ba la mật?
Phật
đáp: Chẳng hành là hành Bát nhã ba la mật. Trong
đây Phật tự nói nhân duyên: Thể của Bát nhã ba la
mật không thể có được: người tập hành, pháp tập
hành, chỗ tập hành không thể có được. Vì pháp không,
nên Bát nhã không thể có được, chỗ tập hành cũng không
thể có được; vì chúng sinh không, nên người tập hành không
thể có được. Vì hết thảy hí luận không thể có
được nên Bồ Tát không tập hành, gọi là hành Bát nhã ba
la mật.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu không hành là hành Bát nhã, thời
Bồ Tát mới phát tâm làm sao nên hành Bát nhã? Ý Tu Bồ
Đề muốn nói: Nếu không hành là hành thời hàng Bồ
Tát mới phát tâm thời tâm mê muội, nếu cho hành là hành
thời là điên đảo, thế nên hỏi. Phật đáp: Bồ
Tát mới phát tâm nên học pháp không có sở đắc, pháp không
có sở đắc tức là không có hành. Học là dùng sức
phương tiện dần dần tập hành, khi bố thí do pháp không
có sở đắc nên bố thí. Trong các pháp thật tướng
rốt ráo không, không có pháp có thể được, hoặc có hoặc
không; Bồ Tát trú trong trí tuệ ấy nên bố thí hoặc nhiều
hoặc ít. Vì xem vật bố thí, người bố thí, người
nhận thí, bình đẳng nghĩa là đều không thể có được;
cho đến Nhất thiết trí cũng như vậy. Tu Bồ Đề nghĩ
rằng: Vì có sở đắc thời là thế gian điên đảo;
không có sở đắc tức là Niết bàn, thế nên hỏi Phật:
Thế nào là có sở đắc, thế nào là không có sở đắc?
Phật lược đáp: Có hai tướng là có sở đắc, không
có hai tướng là không có sở đắc. Hai tướng là mắt
và sắc; hai cái hòa hợp gọi là hai. Do mắt nên biết
sắc; do sắc nên biết là mắt; mắt và sắc đối đãi nhau.
Hỏi:
Nếu khi không thấy sắc cũng có mắt, cớ sao mắt không lìa
sắc?
Đáp:
Vì thấy từng sắc nên gọi là mắt; nay tuy không thấy sắc,
vì trước có thấy nên gọi là mắt. Thế nên hết thảy
pháp hữu vi đều thuộc nhân duyên; nhân thuộc quả; quả
thuộc duyên, không có định tướng tự tại; cho đến ý và
pháp, Phật và Bồ Tát cũng như vậy. Kẻ phàm phu ngu
trí mỗi mỗi phân biệt, tạo nghiệp thiện ác; kẻ trí biết
hai pháp ấy đều hư dối, thuộc nhân duyên, không cho hai là
hai. Tu Bồ Đề hỏi: Hai pháp ấy tức là có
sở đắc, không có hai pháp tức là không có sở đắc; vậy
không có sở đắc từ trong có sở đắc hay không có sở đắc
từ trong không có sở đắc? Vì duyên theo các pháp thủ
tướng hành đạo nên được rốt ráo không, không có sở
đắc? Hay vì không duyên, không thủ tướng hành đạo
nên được rốt ráo không, không có sở đắc? Nếu không
có sở đắc từ trong có sở đắc, thời có sở đắc tức
là điên đảo? Hành theo điên đảo làm sao được chơn
thật? Nếu không có sở đắc từ trong không có sở đắc,
không có sở đắc tức là không có gì? Không có gì thời
làm sao phát sinh không có gì?
Phật
cho cả hai đều có lỗi nên không chấp thuận, có sở đắc
và không có sở đắc đều bình đẳng quán sát. Bình
đẳng tức là rốt ráo không, không có sở đắc; nhân không
có sở đắc mà phá có sở đắc, việc hoàn thành cũng bỏ
luôn, không có sở đắc. Như vậy, Bồ Tát ở nơi có
sở đắc và không có sở đắc bình đẳng, trong Bát nhã nên
học. Nếu Bồ Tát học được như vậy gọi là người
chân thật không có sở đắc, không có lỗi lầm. Từ
một địa đến một địa, ý nghĩa cũng như vậy.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu Bát nhã không thể có được, Bồ
đề không thể có được, Bồ Tát không thể có được thời
làm sao Bồ Tát học Bát nhã, phân biệt các pháp tướng?
nghĩa là tướng não hoại là sắc, tướng khổ vui là thọ...?
Nếu Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật, sắc pháp không thể có
được, làm sao đầy đủ được các thiện pháp bố thí...?
Làm sao vào được Bồ Tát vị, như trong kinh nói rộng?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát không vì thủ đắc tướng sắc
nên học Bát nhã.
Lại
hỏi: Vì việc gì nên hành Bát nhã?
Phật
đáp: Vì không có sở đắc nên hành Bát nhã, vì sao?
Vì hết thảy pháp không, vô tướng, vô tác, vô khởi, Bát
nhã, Bồ Tát, Bồ đề cũng vô tướng, vô tác, vô khởi, Bồ
Tát vì hết thảy thật tướng các pháp nên hành Bát nhã,
chẳng phải vì tâm điên đảo. Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát
nên hành vô tác Bát nhã như vậy, vì không tác, không khởi.
(Hết
cuốn 83 theo bản Hán)