Tập
5
Cuốn
87
Kinh:
Tu Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, nếu Bồ Tát biết các
pháp không có tính sở hữu, nhân bốn thiền, năm thần thông
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bạch đức Thế
Tôn, hàng Bồ Tát mới học làm sao đối với các pháp không
có tính sở hữu lại thứ lớp hành, thứ lớp học, thứ
lớp đạo; do thứ lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo
ấy chứng được Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát nếu mới đầu theo Phật được
nghe; hoặc theo vị Bồ Tát đã cúng dường nhiều đức Phật
được nghe; hoặc theo A la hán, A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà
hoàn được nghe, vì ngộ được lý không có sở hữu nên
là Phật? Vì ngộ được lý không có sở hữu nên là A la
hán, Tư đà hàm, A na hàm, Tu đà hoàn, hết thảy hiền thánh
đều vì ngộ được lý không có sở hữu nên có danh xưng.
Hết thảy pháp hữu vi tạo tác không có tính sở hữu cho
đến không có mảy may sở hữu như mảy lông. Bồ Tát ấy
nghe như vậy rồi nghĩ rằng: Nếu hết thảy pháp không có
tính sở hữu, vì ngộ được lý không có sở hữu nên là
Phật, cho đến vì ngộ được lý không có sở hữu nên là
Tu đà hoàn. Nếu con sẽ được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, nếu không được hết thảy pháp thường không có tự
tính, cớ sao con không phát tâm được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác? Được Vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi,
hết thảy chúng sinh hành theo tướng có, con sẽ khiến họ
an trú trong tính không có sở hữu? Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát
suy nghĩ như vậy rồi phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, vì độ hết thảy chúng sinh nên Bồ Tát hành theo thứ
lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo, như quá khứ các
Bồ Tát hành đạo được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Hàng Bồ Tát mới học nên học sáu Ba la mật, đó là Thí
Ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật. Bồ Tát ấy nếu khi
hành Thí Ba la mật, tự hành bố thí, cũng dạy người bố
thí, tán thán công đức bố thí, hoan hỷ tán thán người
hành bố thí; do nhân duyên bố thí ấy cho nên được tài
sản giàu có, Bồ Tát ấy xa lìa xan lẫn, bố thí cho chúng
sinh uống ăn, y phục, hương hoa, anh lạc, phòng xá, đồ nằm,
đèn đuốc, mọi thứ cần dùng để nuôi sống. Bồ Tát hành
trì giới bố thí ấy sinh vào cõi trời cõi người được
tôn quý lớn; do trì giới bố thí ấy nên được thiền định
uẩn; do bố thí, trì giới, thiền định ấy nên được trí
tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn. Bồ
Tát ấy nhân bố thí, trì giới, thiền uẩn, trí tuệ uẩn,
giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn nên vượt quá địa
vị Thanh văn, Bích chi Phật mà vào Bồ Tát vị; vào Bồ Tát
vị rồi được nghiêm tịnh cõi Phật, thành tựu tuệ giác
cho chúng sinh, được trí Nhất thiết chủng; được trí Nhất
thiết chủng rồi Chuyển pháp luân; Chuyển pháp luân rồi
lấy pháp ba thừa độ thoát chúng sinh. Như vậy, Bồ Tát do
bố thí ấy thứ lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo
đều là không thể có được, vì sao? Vì tự tính không có
sở hữu.
*Lại
nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát từ khi mới phát tâm tự hành trì
giới, dạy người trì giới, tán thán công đức trì giới,
hoan hỷ tán thán người trì giới. Do trì giới nên sinh vào
cõi trời cõi người, được tôn quý lớn; thấy kẻ nghèo
cùng thí cho tài vật; thấy người không trì giới dạy khiến
trì giới; thấy người loạn ý dạy khiến thiền định; thấy
người ngu si dạy khiến trí tuệ; thấy người không giải
thoát dạy khiến giải thoát; thấy người không có giải thoát
tri kiến giải thoát tri kiến. Do trì giới, thiền định, trí
tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến ấy nên vượt quá địa
vị Thanh văn, Bích chi Phật, vào địa vị Bồ Tát; vào địa
vị Bồ Tát rồi được nghiêm tịnh cõi Phật; nghiêm tịnh
cõi Phật rồi thành tựu tuệ giác cho chúng sinh rồi được
trí Nhất thiết chủng; được trí Nhất thiết chủng rồi
Chuyển pháp luân; Chuyển pháp luân rồi lấy pháp ba thừa
độ thoát chúng sinh. Như vậy, Bồ Tát do trì giới ấy thứ
lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo; các việc ấy đều
không thể có được, vì sao? Vì hết thảy pháp tự tính không
có sở hữu.
*Lại
nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát từ khi phát tâm lại đây tự hành
Nhẫn Ba la mật, dạy người hành nhẫn, tán thán công dức
nhẫn, hoan hỷ tán thán người hành nhẫn; khi hành Nhẫn Ba
la mật bố thí cho chúng sinh đầy đủ mọi thứ; dạy khiến
trì giới, dạy khiến thiền định cho đến giải thoát tri
kiến. Do nhân duyên bố thí trì giới, thiền định, trí tuệ
ấy nên vượt quá địa vị A la hán, Bích chi Phật mà vào
Bồ Tát vị; vào Bồ Tát vị rồi được nghiêm tịnh cõi
Phật; nghiêm tịnh cõi Phật rồi thành tựu tuệ giác cho chúng
sinh; thành tựu tuệ giác cho chúng sinh rồi được trí Nhất
thiết chủng; được trí Nhất thiết chủng rồi Chuyển pháp
luân; Chuyển pháp luân rồi lấy pháp ba thừa độ thoát chúng
sinh. Như vậy, Bồ Tát do Nhẫn Ba la mật thứ lớp hành, thứ
lớp học, thứ lớp đạo; các việc ấy đều không thể có
được, vì sao? Vì hết thảy pháp tự tính không có sở hữu.
*Lại
nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát từ khi mới phát tâm lại đây tự
hành tinh tấn, dạy người hành tinh tấn, tán thán công dức
hành tinh tấn, hoan hỷ tán thán người hành tinh tấn, cho đến
các việc ấy đều không thể có được, vì tự tính không
có sở hữu.
*Lại
nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát từ khi mới phát tâm lại đây,
tự vào thiền, vào bốn tâm vô lượng, vào định vô sắc;
cũng dạy người vào thiền, vào tâm vô lượng, vào định
vô sắc; tán thán công đức vào thiền, vào tâm vô lượng,
vào định vô sắc; hoan hỷ tán thán người hành thiền, tâm
vô lượng, định vô sắc. Bồ Tát ấy trú ở các thiền,
định, tâm vô lượng; bố thí cho chúng sinh mỗi mỗi được
đỳ đủ, dạy khiến thiền định, trí tuệ. Do nhân duyên
bố thí, thiền định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri
kiến ấy nên vượt quá định vị Thanh văn, Bích chi Phật
mà vào Bồ Tát vị; vào Bồ Tát vị rồi nghiêm tịnh cõi
Phật, nghiêm tịnh cõi Phật rồi thành tựu tuệ giác cho chúng
sinh; thành tựu tuệ giác cho chúng sinh rồi được trí Nhất
thiết chủng; được trí Nhất thiết chủng rồi Chuyển pháp
luân; Chuyển pháp luân rồi lấy pháp ba thừa độ thoát chúng
sinh, cho đến các việc ấy đều không thể có được, vì
tự tính không có sở hữu.
*Lại
nữa, Bồ Tát từ khi mới phát tâm trở lại đây hành Bát
nhã ba la mật, bố thí cho chúng sinh mỗi mỗi đầy đủ, dạy
khiến trì giới, thiền định, giải thoát, giải thoát tri
kiến. Bồ Tát ấy khi hành Bát nhã ba la mật, tự hành sáu
Ba la mật, cũng dạy người khiến hành sáu Ba la mật, tán
thán công đức sáu Ba la mật, hoan hỷ tán thán người hành
sáu Ba la mật. Bồ Tát ấy do nhân duyên Thí Ba la mật cho đến
Bát nhã ba la mật ấy vào sức phương tiện nên vượt quá
định vị Thanh văn, Bích chi Phật mà vào Bồ Tát vị; cho
đến các việc ấy đều không thể có được, vì tự tính
không có sở hữu. Ấy gọi là Bồ Tát mới phát tâm thứ
lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo.
*Lại
nữa, Tu Bồ Đề, Bồ Tát thứ lớp hành thứ lớp học, thứ
lớp đạo. Bồ Tát từ khi mới phát tâm trở lại đây, do
tâm tương ưng với trí Nhất thiết chủng, tin các pháp không
có tính sở hữu, tu sáu niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng, niệm giới, niệm xả và niệm thiên.
Thế
nào là Bồ Tát tu niệm Phật? Bồ Tát niệm Phật không niệm
qua sắc, không niệm qua thọ, tưởng, hành, thức, vì sao? Vì
tự tính sắc không có; tự tính thọ, tưởng, hành thức không
có; nếu pháp không có tự tính thời là không có sở hữu,
vì sao? Vì không có nhớ nghỉ gì; ấy là niệm Phật.
Lại,
Bồ Tát niệm Phật không niệm qua ba mươi hai tướng, cũng
không niệm qua thân kim sắc, không niệm qua hào quang một trượng,
không niệm qua tám mươi vẻ đẹp tùy hình, vì sao? Vì thân
Phật tự tính không có; nếu pháp không có tự tính thời
là không có sở hữu, vì sao? Vì không có nhớ nghĩ gì; ấy
là niệm Phật.
Lại,
không nên do giới uẩn mà niệm Phật; không nên do định uẩn,
trí tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn mà
niệm Phật, vì sao? Vì các uẩn ấy không có tự tính; nếu
pháp không có tự tính thời là chẳng phải pháp; không có
niệm gì ấy là niệm Phật.
Lại,
không nên do mười trí lực niệm Phật, không nên do bốn điều
không sợ, bốn trí không ngại, mười tám pháp không chung,
niệm Phật; không nên do đại từ đại bi niệm Phật, vì
sao? Vì các pháp ấy không có tự tính; nếu pháp không có
tự tính thời là chẳng phải pháp; không có niệm gì ấy
là niệm Phật.
Lại,
không nên do mười hai nhân duyên niệm Phật, vì sao? Vì tự
tính nhân duyên không có; nếu pháp không có tự tính thời
là chẳng phải pháp; không có niệm gì, ấy là niệm Phật.
Như
vậy, Tu Bồ Đề, Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật nên niệm
Phật, ấy là Bồ Tát từ khi mới phát tâm thứ lớp hành,
thứ lớp học, thứ lớp đạo. Bồ Tát ấy trú trong thứ
lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo có thể đầy đủ
bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm
lực, bảy giác phần, tám phần thánh đạo, tu hành Không tam
muội, Vô tướng, Vô tác tam muội cho đến trí Nhất thiết
chủng, vì chứng các pháp không có sở hữu. Bồ Tát ấy biết
tính các pháp không có sở hữu, trong ấy không có tính có,
không có tính không.
Này
Tu Bồ Đề, thế nào là Bồ Tát nên tu niệm pháp? Bồ Tát
khi hành Bát nhã ba la mật không niệm pháp lành, không niệm
pháp chẳng lành, không niệm pháp ký, không niệm pháp vô ký;
không niệm pháp thế gian, không niệm pháp xuất thế gian,
không niệm pháp tịnh, không niệm pháp bất tịnh, không niệm
pháp thánh, không niệm pháp phàm phu, không niệm pháp hữu
lậu, không niệm pháp vô lậu, không niệm pháp ràng buộc
cõi Dục, pháp ràng buộc cõi Sắc, pháp ràng buộc ở cõi
Vô sắc, không niệm pháp hữu vi, pháp vô vi, vì sao? Vì tự
tính các pháp ấy không có; nếu pháp không có tự tính thời
là chẳng phải pháp; không có niệm gì, ấy là niệm pháp;
ở trong niệm Pháp học tính không có sở hữu cho đến được
trí Nhất thiết chủng. Bồ Tát ấy khi được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, được pháp không có tính sở hữu,
đối với tính không có sở hữu ấy chẳng phải có tướng,
chẳng phải không có tướng. Như vậy, Bồ Tát nên tu niệm
Pháp, đối với pháp ấy cho đến không có mảy may niệm,
huống gì niệm Pháp!
Này
Tu Bồ Đề, thế nào là Bồ Tát nên tu niệm Tăng? Bồ Tát
niệm Tăng là vì pháp vô vi nên phân biệt có chúng đệ tử
Phật, trong pháp ấy cho đến không có mảy may niệm, huống
gì niệm Tăng! Như vậy, Bồ Tát nên niệm Tăng.
Này
Tu Bồ Đề, thế nào là Bồ Tát nên tu niệm giới? Này Tu
Bồ Đề, Bồ Tát từ khi mới phát tâm trở lại đây nên
niệm Thánh giới, giới không khuyết, giới không lủng, giới
không tỳ vết, giới không trược uế, giới không đắm trước,
giới tự tại, giới được người trí khen, giới đầy đủ,
giới đi theo định; nên niệm giới ấy không có tính sở
hữu cho đến không có mảy may niệm, huống gì niệm Giới!
Này
Tu Bồ Đề, thế nào là Bồ Tát nên tu niệm xả? Bồ Tát
từ khi mới phát tâm trở lại đây nên niệm xả, hoặc tự
mình niệm xả, hoặc niệm người khác xả, hoặc xả tài,
hoặc xả pháp, hoặc xả phiền não; quán các xả ấy đều
không thể có được, huống gì niệm xả! Như vậy, Bồ Tát
nên niệm xả.
Này
Tu Bồ Đề, thế nào là Bồ Tát nên niệm thiên? Bồ Tát nghĩ
rằng các vị trời ở cõi Tứ thiên vương có tín, có giới,
thí, văn, tuệ nên chết ở cõi này được sinh lên cõi trời
kia. Ta cũng có tín, giới, thí, văn, tuệ ấy; cho đến trời
Tha hóa tự tại có tín, giới, văn, tuệ, nên chết ở cõi
này sinh lên cõi trời kia; ta cũng có tín, giới, văn, tuệ
ấy. Như vậy, Bồ Tát nên niệm thiên. Các trời ấy không
có tính sở hữu còn không có mảy may niệm, huống gì niệm
thiên!
Này
Tu Bồ Đề, Bồ Tát tu sáu niệm ấy, ấy gọi là thứ lớp
hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo.
Bấy
giờ Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, nếu
hết thảy pháp không có tính sở hữu, nghĩa là niệm sắc
cho đến thức, nhãn cho đến ý, sắc cho đến pháp đều không
có tính sở hữu; nhãn giới cho đến ý thức giới đều không
có tính sở hữu; Thí Ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật,
nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, bốn niệm xứ,
cho đến tám phần thánh đạo, mười lực của Phật cho đến
trí Nhất thiết chủng đều không có tính sở hữu. Bạch
Đức Thế Tôn, nếu hết thảy pháp không có tính sở hữu
thời là không có đạo, không có trí, không có quả?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ông thấy tính sắc ấy thật có chăng, cho
đến trí Nhất thiết chủng thật có chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, con không thấy.
Phật
bảo Tu bồ đề: Nếu ông không thấy các pháp thật có, vì
sao hỏi câu ấy?
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, con đối với pháp ấy
không dám có nghi, chỉ vì các Tỳ kheo cầu Thanh văn, Bích
chi Phật đạo, Bồ Tát đạo đời sau; các ngưởi ấy sẽ
nói như vầy: Nếu hết thảy pháp không có tính sở hữu,
vậy ai nhơ, ai sạch, ai trói, ai mở...? Vì không biết không
hiểu mà phá giới, phá chánh kiến, phá oai nghi, phá đời
sống thanh tịnh. Người ấy phá các việc ấy nên sẽ đọa
vào ba đường ác. Bạch Đức Thế Tôn, con sợ đời sau có
các việc như vậy, cho nên hỏi Phật. Bạch Đức Thế Tôn,
còn con đối với các pháp này rất tin, không nghi, không hối.
Luận:
Tu Bồ Đề tin thọ lời Phật: Hết thảy pháp tuy không mà
có thể khởi lên bốn thiền, năm thần thông là những điều
vị đại Bồ Tát gần thành Phật có thể làm được; nay
vì chưa biết hàng mới phát tâm làm sao hành cho nên hỏi Phật:
Bồ Tát mới học làm sao đối với các pháp không có tính
sở hữu mà thứ lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo;
dùng thứ lớp hành ấy được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác? Vì thứ lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo nên
biết Bồ Tát mới học tuy trải qua vô lượng kiếp phát tâm
xong, vì chưa ngộ được thật tướng các pháp, nên đều
gọi là mới học.
Hỏi:
Nếu người như vậy là mới học, thời chỉ nên dạy họ
tu bố thí, trì giới... cớ gì Phật dạy họ khiến đối
với pháp rốt ráo không, không có sở hữu tu hành?
Đáp:
Nay nói rõ: Vì mới vào pháp rốt ráo không, không có sở hữu
nên khiến tu hành theo pháp không có sở hữu, mà Bồ Tát ấy
do rốt ráo không, không có sở hữu mà hòa hợp tu bố thí,
trì giới; thí như trẻ con uốn g thuốc, cần có đường mật
mới uống được; thế nên tuy mới phát tâm cũng quán được
nghĩa của "tính không" sâu xa, không có lỗi. Phật đáp với
Tu Bồ Đề: Bồ Tát nếu mới đầu theo Phật nghe, hoặc theo
các vị Bồ Tát đã cúng dường nhiều đức Phật được
nghe.
Các
đức Phật là hoặc quá khứ, hoặc hiện tại, còn các Bồ
Tát đã cúng dường nhiều đức Phật là: Bồ Tát Biến cát,
Quán thế âm, Đắc đại thế chí, Văn thù sư lợi, Di lặc...
Bốn hạng thánh nhân Thanh văn nghĩa như trước đã nói. Các
đức Phật, thánh nhân đều nhân nơi không có sở hữu nên
có phân biệt. Thánh nhân tuy có các công đức thiền định...
đều vì Niết bàn, Niết bàn tức là tướng tịch diệt, không
có sở hữu; thế nên nói các thánh nhân đều nhân nơi Niết
bàn mà có sai khác. Hết thảy pháp hữu vi tạo tác vì do nhân
duyên hòa hợp sinh, không có thật tính nhất định, cho đến
không có sở hữu như mảy lông.
Hữu
vi có hai: Một là sắc, hai là vô sắc. Sắc pháp phá hoại,
phân tán cho đến vi trần không có thật tính nhất định.
Vô sắc pháp cho đến không có thật tính nhất định trong
một khoảnh khắc. Phá tướng sắc vô sắc như trước đã
nói. Bồ Tát theo Phật nghe pháp ấy, những người khác phần
nhiều đem tâm chấp trước thuyết pháp, các bậc thánh đem
tâm không chấp trước thuyết pháp; thế nên nói chỉ theo
thánh nhân nghe. Bấy giờ Bồ Tát thứ lớp học nghe pháp ấy,
lấy trí so sánh, trù lượng, quyết định biết các pháp rốt
ráo chắc chắn không, đều nhập vào thật tướng sở đắc
của Phật. Nghĩa là vào tướng tịch diệt không hý luận.
Tôi nếu được làm Phật hoặc không được làm, bình đẳng
không sai khác, vì sao? Vì thật tướng các pháp không thêm
không bớt, lại không có pháp mới có thể được; pháp cũng
không mất. Nếu độ chúng sinh, chúng sinh rốt ráo không; gốc
ngọn không thể có được; công đức tôi nghe, tôi làm đến
khi thành Phật có lực thần thông đều như mộng như huyễn,
không có thật tướng nhất định, rốt ráo không. Được
và không được tuy đồng, cớ sao tôi không phát tâm làm Phật?
Hỏi:
Nếu biết các pháp rốt ráo không, không có sở hữu, cớ
sao lại nói: Vì sao tôi không phát tâm làm Phật?
Đáp:
Rốt ráo không, không có sở hữu, không chướng ngại gì,
đâu ngăn ngại phát tâm? Lại nữa, nếu nói phát tâm dứt
các hí luận, thời làm sao chướng ngại phát tâm? Nếu chướng
ngại tức là có tự tính, cớ sao nói không có tính sở hữu?
Hỏi:
Nếu không chướng ngại phát tâm, cũng nên chẳng chướng
ngại không phát tâm? Bồ Tát sao không an trú mà phát tâm chịu
các việc siêng khổ?
Đáp:
Có người nói: Bồ Tát ấy có các nhân duyên nên phát tâm,
hoặc vì thấy nhiều thân thuộc tri thức, không nghe, không
biết, không được thật tướng các pháp; thế nên đời nay
đời sau chịu các khổ não. Ta may mắn có lực, có thể khiến
các người ấy được lìa khổ; thí như người gặp được
thuốc hay, bà con tri thức chịu bệnh khổ, làm sao không đem
cho? Thế nên Bồ Tát tuy biết pháp tính không có sở hữu,
nhưng vì bà con cho nên phát tâm, làm lợi ích chúng sinh. Bồ
Tát lại nghĩ rằng: ta tuy nghe thật tướng các pháp mà tâm
chưa thâm nhập, chưa có thiền định, trí tuệ chưa thuần
thục, chịu các khổ não, thế nên phát tâm cầu Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, nhóm các công đức, vì không có pháp
sở hữu thủ chứng, tự vì mình, cũng vì người khác. Bồ
Tát ấy lại nghe nghĩa Đại thừa sâu xa, trú trong nghĩa chúng
sinh bình đẳng, pháp bình đẳng, không có tâm sai khác có
thể được làm Phật. Tuy đối với người bình thường và
người oán hận đều không có tâm sai khác, vì sao? Vì Bồ
Tát dùng tâm rốt ráo không làm cho phiền não yếu mỏng, người
oán kẻ thân bình đẳng, nghĩ rằng: oán thân không có nhất
định, vì nhân duyên nên thân hoặc thành oán, oán hoặc thành
thân. Do nhân duyên lớn ấy đầy đủ Nhẫn ba la mật, nên
được làm Phật. Do gì mà được? Do nhẫn nhịn oán ghét,
vì Bồ Tát ấy xem kẻ oán như người thân. Thí như muốn
đi qua dường hiểm nên phải kính trong người dẫn đường;
lại như thầy thuốc hay tuy nghèo hèn mà vì quý hiếm nên
trọng vọng. Như vậy, suy nghĩ, trù lượng, phân biệt người
bình thường, người oán hận tuy đối với ta vô dụng, nhưng
vì nhân duyên Phật đạo, thế nên pát tâm Vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Ấy là một cách thứ lớp hành, thứ lớp
học, thứ lớp đạo; vì thế nên lấy sở hành của Bồ Tát
quá khứ làm chứng.
Hỏi:
Thứ lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo có gì sai khác?
Đáp:
Có người hỏi: Không có sai khác, hoặc hành, hoặc học, hoặc
đạo nghĩa một mà từ ngữ khác nhau. Có người nói: Mới
đầu là hành, chính giữa là học, cuối cùng là đạo. Hành
là bố thí, học là trì giới, đạo là trí tuệ. Lại, hành
là trì giới, học là thiền định, đạo là trí tuệ.
Lại,
hành là chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng; học là chánh
tinh tấn, chánh niệm, chánh định; đạo là chánh kiến, chánh
tư duy. Tám việc ấy tuy gọi là đạo, nhưng phân biệt có
ba phần: Chánh kiến là thể đạo, phát khởi đạo ấy là
chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng; giúp ích
cho chánh kiến nên gọi là hành; chánh tinh tấn, chánh niệm,
chánh định có thể thành tựu chánh kiến, làm cho kiên cố;
ấy gọi là học. Lại có người nói: Thí Ba la mật, Tấn
Ba la mật gọi là hành, vì mới vào đạo; Giới Ba la mật,
Thiền Ba la mật gọi là học; tâm người thường theo năm
dục khó cấm chế, không giây phút nào dừng nghỉ, dần dần
dùng Giới Ba la mật, Thiền Ba la mật chế phục tâm ấy nên
gọi là học; Nhẫn Ba la mật, Bát nhã ba la mật gọi là đạo,
vì sao? Vì nhẫn là lành, Bát nhã là trí tuệ; lành và trí
tuệ đầy đủ gọi là đạo; thí như người có mắt có chân
tùy ý đi lại. Như vậy có ba việc sai khác.
Hỏi:
Sao gọi là thứ lớp?
Đáp:
Vì ý Tu Bồ Đề: Nếu hết thảy pháp không có sở hữu thời
Bồ Tát mới phát tâm đối với pháp không ấy làm sao có
thể lần lữa thứ lớp học? Vì thế nên nói thứ lớp. Các
pháp tuy Không, khó hiểu, song vì thứ lớp được sức hành
nên có thể được thành tựu; thí như leo thang, từ bậc một
lần lên chỗ cao tuy khó mà cũng có thể đến được. Thứ
lớp hành là bốn cách hành sáu Ba la mật, như trong kinh này
nói: tự mình hành bố thí, dạy người hành bố thí, tán
thán công đức hành bố thí, hoan hỷ tán thán người hành
bố thí. Khéo nhổ gốc xan tham, ưa thích Thí Ba la mật, từ
bi đối với chúng sinh, thông suốt thật tướng các pháp,
do nhân duyên ấy nên có thể hành bốn cách bố thí. Hoặc
có người tự mình hành bố thí, chẳng thể dạy người khác
bố thí, hoặc sợ người khác giận; hoặc sợ vì mình dạy
bố thí cho là có ân; vì các nhân duyên như vậy nên không
thể dạy người bố thí. Hoặc có người dạy người bố
thí mà tự mình không thể bố thí, hoặc có người tán thán
công đức bố thí, khuyên người khác bố thí mà tự mình
không thể bố thí; hoặc có người tự mình bố thí, cũng
dạy người bố thí, tán thán công đức bố thí, nhưng thấy
người khác bố thí thì không thể hoan hỷ, vì sao? Vì hoặc
thấy người phá giới, người ác hành bố thí mà không ưa
thấy; có người ưa thấy thí chủ mà không tán thán. Vì tà
kiến ấy nên không biết được quả bố thí. Như vậy, mỗi
mỗi không thể đầy đủ. Bồ Tát vì tâm đại bi, rất ưa
pháp lành nên có thể hành bốn việc như vừa nói. Bồ Tát
nếu chỉ tự mình bố thí, không dạy người bố thí thời
người được thí chỉ có thể được chút lợi ích đời
nay. Chúng sinh ấy tùy nghiệp nhân duyên đọa vào chỗ nghèo
cùng, thế nên Bồ Tát dạy chúng sinh rằng: Ta không tiếc
tài vật, tuy ta thí cho ngươi nhiều, ngươi cũng không được
đem theo đến đời sau; ngươi nay hãy tự thực hành đòi sau
mới tự mình được lợi ích. Đem công đức thật của bố
thí mỗi mỗi dạy chúng sinh thực hành bố thí, thấy người
hành bố thí tuy họ là kẻ phá giới, người ác, nhưng chỉ
nghĩ đến công đức do tâm tốt bố thí của họ mà không
nghĩ đến cái ác của họ, thế nên hoan hỷ tán thán.
*Lại
nữa, thấy Tam bảo có ruộng phước vô tận, bố thí vào
trong đó nên phước đức không cùng tận, cho đến khi thành
Phật đạo, xem thấy công đức vô tận trong đời vị lai
kia cho nên hoan hỷ. Thực hành bốn cách bố thí ấy thời
đời đời được giàu có tài sản, Bồ Tát ấy tuy không
vì giàu có tài vật mà bố thí, chưa đầy đủ Vô thượng
chánh đẳng chánh giác và sáu Ba la mật, nhưng ở khoảng trung
gian ấy giàu có tài sản tự đến; thí như người vì lúa
nên gieo lúa, rơm rạ tự đến. Bồ Tát khi được quả báo
có tài vật, lìa tâm xan tham, theo ý chúng sinh mà bố thí,
cần ăn cho ăn...
Hỏi:
Bồ Tát khi bố thí, trước tiên thí cho người nào?
Đáp:
Bồ Tát tuy vì chúng sinh khởi tâm đại bi, song Bồ Tát bố
thí trước tiên cúng dường Phật, Bồ Tát, A la hán và các
thánh nhân; nếu không có thánh nhân thì thứ lớp bố thí
cho người trì giới, tinh tấn thiền định, trí tuệ, ly dục;
nếu không có các người này thời thí cho các đệ tử xuất
gia của Phật; nếu không có người này thời bố thí cho người
thọ trì ngũ giới, tu mười thiện đạo và thọ trì tam quy
giới một ngày; nếu không có người này thời thí cho hạng
người bình thường chẳng phải chánh, chẳng phải tà; nếu
không có người này thì bố thí cho người ác tạo tội ngũ
nghịch và súc sinh; không thể không cho. Bồ Tát lấy việc
bố thí nhiếp thủ hết thảy chúng sinh. Có người nói: Nên
trước tiên bố thí cho người tạo tội ngũ nghịch dứt thiện
căn, người nghèo cùng, già bệnh, hạ tiện, hành khất, cho
đến súc sinh; thí như người mẹ hiền có nhiều con, trước
tiên nghĩ đến đứa ốm yếu, bệnh hoạn, cấp cho sự cần
dùng; lại như Bồ Tát vì thấy cọp đói muốn ăn con mình
nên đem thân bố thí.
Hỏi:
Vì sao nên trước hết bố thí cho các hạng như vậy?
Đáp:
Vì hết thảy chúng sinh đều là ruộng phước của Bồ Tát.
Vì sinh tâm đại bi, Bồ Tát thường muốn đem Vô thượng
chánh đẳng chánh giác thí cho chúng sinh, huống gì cơm áo
mà còn có phân biệt! Lại, Bồ Tát được vô sinh pháp nhẫn
bình đẳng không sai khác, người chưa được vô sinh nhẫn
hoặc tâm từ bi nhiều, hoặc tâm phân biệt nhiều, hai tâm
ấy không thể đồng hành. Người có tâm từ bi nhiều trước
tiên bố thí cho người nghèo cùng, hung ác, nghĩ rằng: Gieo
vào ruộng phước được quả báo tuy lớn, song vì lòng thương
xót chúng sinh nên trước tiên làm lợi ích cho người nghèo
cùng. Như vậy, thửa ruộng tuy không tốt, nhưng do lòng từ
bi nên được quả báo lớn. Người có tâm phân biệt nhiều
nghĩ rằng: Chư Phật có vô lượng công đức nên trước tiên
cúng dường Phật, vì phân biệt các pháp, chấp trước thân
Phật nên tâm nhỏ. Tâm tuy nhỏ mà ruộng phước lớn nên
công đức cũng lớn. Nếu hiểu được thật tướng các pháp,
vào trong Bát nhã ba la mật và sức phương tiện không được
tự tại, cả hai việc cùng làm, thương xót chúng sinh và xem
chúng sinh như Phật. Như vậy, Bồ Tát tùy theo nhân duyên mà
hành bố thí.
Hỏi:
Có gì kinh không nói cho cơm cho áo mà nói cần ăn cho ăn?
Đáp:
Có người cần ăn lại cho uống, cần uống lại cho áo, vì
không vừa ý người lãnh thọ nên phước đức ít. Vì thế
nói cần ăn cho ăn.
Hỏi:
Có người hoặc hổ thẹn hoặc sợ, tuy có cần dùng mà không
thể nói ra, làm sao biết họ cần gì?
Đáp:
Bồ Tát xem tướng mạo họ, theo lúc cần dùng và theo chỗ
nghi; hoặc có tâm biết tâm người khác cần gì, theo ý họ
đem cho. Nhân bố thí ấy được thành tựu giới uẩn. Lại
nghĩ rằng, ta thương xót chúng sinh, đem áo và thức ăn bố
thí lợi ích rất ít, chẳng bằng trì giới, thường đem sự
không não hại, không sợ hãi thí cho chúng sinh. Bồ Tát trú
trong việc trì giới ấy, vì thủ hộ giới nên sinh định
uẩn, vì tâm thanh tịnh không tán loạn nên sinh tuệ uẩn;
không hí luận, bỏ tâm chấp trước tướng tuệ ấy, do tuệ
ấy phá sự trói buộc của các phiền não, được giải thoát
uẩn; thấy biết rõ ràng, đã chứng giải thoát nên gọi là
giải thoát tri kiến uẩn. Người ấy do nhân duyên trước
tiên hành bố thí và thành tựu năm uẩn nên vượt quá địa
vị Thanh văn, Bích chi Phật mà vào địa vị Bồ Tát.
Hỏi:
Bồ Tát nên hành sáu Ba la mật vào Bồ Tát vị, cớ sao trong
đây nói năm uẩn?
Đáp:
Pháp tuy một mà vì danh từ khác nhau nên nói năm uẩn, không
lỗi. Người ấy từ một Ba la mật muốn phát khởi các Ba
la mật khác, lấy bố thí làm chủ như đã nói. Giới uẩn
là Thí Ba la mật, định uẩn, giải thoát uẩn là Bát nhã
ba la mật. Khi hành các Ba la mật có thể nhẫn các việc khác,
gọi là Nhẫn Ba la mật; có thể phát khởi các Ba la mật không
ngừng nghỉ, ấy gọi là Tấn Ba la mật.
Hỏi:
Nếu như vậy, cớ sao không chỉ nói tên các Ba la mật mà
nói năm uẩn?
Đáp:
Người ấy muốn vào Bồ Tát vị không chỉ do trì giới, thiền
định được hòa hợp chúng giới, thanh tịnh giới, vô tận
giới. Nói tóm lại là thu nhiếp hết thảy giới gọi là giới
uẩn; có thể phá phiền não, vượt quá Nhị thừa, vào Bồ
Tát vị. Thí như một người, hai người không gọi là đội
quân; hòa hợp nhiều người mới thành đội quân, có thể
phá oán địch; các uẩn cũng như vậy. Bồ Tát tự được
định uẩn... cũng khiến chúng sinh được; ấy gọi là Bồ
Tát giáo hóa chúng sinh. Giáo hóa chúng sinh rồi, đem công đức
của mình và của chúng sinh đều hồi hướng, làm nghiêm tịnh
cõi Phật; đủ hai pháp ấy tức được trí Nhất thiết chủng,
Chuyển pháp luân, đem pháp ba thừa độ chúng sinh; ấy gọi
là Bồ Tát thứ lớp hành, thứ lớp học, thứ lớp đạo.
Trước thô sau tế, trước dễ sau khó, dần dần tập học
gọi là thứ lớp. Năm Ba la mật kia cũng nên theo nghĩa phân
biệt. Các pháp tính tuy không có sở hữu mà tùy theo thế
tục đế thi hành, vì phá điên đảo vậy.
*Lại
nữa, sáu niệm là niệm Phật... ấy là ban đầu thứ lớp
hành, do dễ hành dễ được.
Hỏi:
Trong sáu niệm cũng nói không do sắc niệm Phật, cớ sao nói
rằng dễ?
Đáp:
Có pháp cùng hành nên gọi là dễ; ví như uống thuốc đắng,
nhờ có mật thời uống dễ. Nghĩa sáu niệm như trong phẩm
đầu đã nói rộng. Sáu Ba la mật, sáu niệm... nhu nhuyến
dễ hành, không sinh tà kiến; Bồ Tát thứ lớp học. Còn ba
môn giải thoát... phải suy nghĩ, trù lượng; suy nghĩ, trù
lượng hoặc có khi sinh tà kiến nên không nói.
Trong
đây Tu Bồ Đề nạn hỏi: Bạch Đức Thế Tôn, nếu thật
không có sở hữu, làm sao có thứ lớp hành, thứ lớp học,
thứ lớp đạo? Phật hỏi ngược lại Tu Bồ Đề: Ông dùng
trí tuệ Thanh văn thấy sắc có thật pháp nhất định chăng?
Đáp: Con không thấy sắc... chỉ từ nhân duyên hòa hợp giả
có tên sắc, không có thật tướng nhất định, làm sao nói
có? Phật nói với Tu Bồ Đề: Nếu ông không thấy thật có
nhất định, cớ sao đem thứ lớp nạn hỏi về Không, mà
pháp thứ lớp không lìa nơi Không? Bấy giờ Tu Bồ Đề mới
hiểu rõ ràng, nên nói: Con không nghi gì, chỉ vì người cầu
ba thừa trong tương lai nghe Phật nói không, không có tính sở
hữu; do tội nặng, trí độn nên chấp thủ tướng. Không
bèn nghi ai nhơ, ai sạch. Kẻ ác phàm phu cớ sao gọi là nhơ?
Người xuất gia đắc đạo gọi là sạch? Người ấy không
hiểu nghĩa sâu của Phật nói, vì việc gì mà nói? Chấp trước
cái Không ấy nên nói cần gì, trì giới làm chi? Do nhân duyên
ấy liền sinh tà kiến, phá chánh kiến; vì phá chánh kiến
nên vì chút nhân duyên mà phá giới, phá oai nghi, không chút
kiên sợ. Người xuất gia sống nhờ hàng bạch y bèn vọng
ngữ cầu lợi dưỡng cơm áo, phá chánh mạng. Gieo các tội
ấy nên đọa vào ba đường ác nặng hơn kẻ bạch y. Thấy
có sự lỗi ấy nên hỏi Phật: Con đã đắc đạo, đối với
các pháp không lãnh thọ gì, lại thường nghe Phật nói về
pháp Không, làm sao con hí luận sinh nghi? Lại con thường tu
vô tránh tam muội, vì thương xót chúng sinh cho nên hỏi Phật.
Giải
thích: Phẩm Một Niệm Đủ Muôn Hạnh Thứ 76
(Kinh
Ma ha Bát nhã ghi: Phẩm Nhất Niệm;
Kinh
Đại Bát nhã hội 2 ghi: Phẩm Vô Tướng thứ 74)
Kinh:
Tu Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn. nếu tính
của hết thảy pháp không có sở hữu, vậy Bồ Tát thấy
lợi ích gì mà vì chúng sinh cầu Vô thượng chánh đẳng chánh
giác?
Phật
bảo Tu bồ đề: Vì hết thảy pháp tính không có sở hữu
nên Bồ Tát vì chúng sinh mà cầu Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, vì sao? Vì có thủ đắc có chấp trước thời khó có
thể giải thoát. Những người thủ đắc tướng là không
có đạo, không có quả, không có Vô thượng chánh đẳng chánh
giác.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, người không
có thủ đắc tướng có đạo, có quả, có Vô thượng chánh
đẳng chánh giác chăng?
Phật
dạy: Không có sở đắc tức là đạo, tức là quả, tức
là Vô thượng chánh đẳng chánh giác, vì pháp tính không hư
hoại. Nếu pháp không có sở đắc mà muốn đắc đạo muốn
đắc quả, muốn đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác là
muốn phá hoại phá tính.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, nếu pháp
không có sở đắc tức là đạo, tức là quả, tức là Vô
thượng chánh đẳng chánh giác, cớ sao lại có Bồ Tát từ
sơ địa cho đến địa thứ mười? Cớ sao có vô sinh pháp
nhẫn; cớ sao có quả báo được thần thông? Cớ sao có quả
báo được bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền
định, trí tuệ; ở trong quả báo ấy có thể thành tựu tuệ
giác cho chúng sinh, nghiêm tịnh cõi Phật và cúng dường chư
Phật y phục, uống ăn, hương hoa, anh lạc, phòng xá, đồ
nằm, đèn đuốc, các thứ cần dùng nuôi sống cho đến Vô
thượng chánh đẳng chánh giác, mà phước đức ấy không
dứt; cho đến xá lợi sau khi vào Niết bàn và các đệ tử
được cúng dường? Như vậy bèn diệt tận hết?
Phật
bảo Tu bồ đề: Vì các pháp không có tướng sở đắc nên
Bồ Tát được từ sơ địa cho đến địa thứ mười, có
quả báo được năm thần thông, bố thí, trì giới, nhẫn
nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, thành tựu tuệ giác
cho chúng sinh, nghiêm tịnh cõi Phật; cũng vì nhân duyên thiện
căn nên có thể làm lợi ích chúng sinh cho đến xá lợi sau
khi vào Niết bàn và các đệ tử Phật được cúng dường.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đức Thế Tôn, nếu các pháp
không có tướng sở đắc, vậy các việc bố thí, trì giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ và các thần
thông có gì sai khác?
Này
Tu Bồ Đề, Bồ Tát khi hành Bát nhã không thủ đắc tướng
bố thí, người bố thí và người thọ thí đều không thể
có được mà hành bố thí, không thể có được giới mà
trì giới, không thể có được nhẫn mà hành nhẫn, không
thể có được tinh tấn mà hành tinh tấn, không thể có được
thiền mà hành thiền, không thể có được trí tuệ mà hành
trí tuệ, không thể có được thần thông mà hành thần thông,
không thể có được bốn niệm xứ, mà hành bốn niệm xứ,
cho đến không thể có được tám phần thánh đạo mà hành
tám phần thánh đạo, không thể có được Không, Vô tướng,
Vô tác tam muội, không thể có được chúng sinh mà thành tựu
tuệ giác cho chúng sinh, không thể có được quốc độ Phật
mà nghiêm tịnh quốc độ Phật, không thể có được các
Phật pháp mà được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Này
Tu Bồ Đề, Bồ Tát nên hành Bát nhã không có sở đắc như
vậy. Bồ Tát khi hành Bát nhã không có sở đắc như vậy,
ma hoặc ma trời không thể phá hoại.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, làm sao Bồ
Tát khi hành Bát nhã trong một niệm đầy đủ hành sáu Ba
la mật, bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc,
bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm
lực, bảy giác phần, tám phần thánh đạo, ba môn giải thoát,
mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn trí không
ngại, mười tám pháp không chung, đại từ đại bi, ba mươi
hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình?
Phật
bảo Tu bồ đề: Bồ Tát có bố thí gì đều không xa lìa
Bát nhã; có tu trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định
đều không xa lìa Bát nhã; tu bốn thiền, bốn tâm vô lượng,
bốn định vô sắc, bốn niệm xứ cho đến tám mươi vẻ
đẹp tùy hình đều không xa lìa Bát nhã.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, làm sao Bồ
Tát không xa lìa Bát nhã nên trong một niệm đầy đủ hành
sáu Ba la mật cho đến tám mươi vẻ đẹp tùy hình?
Phật
dạy; Bồ Tát khi hành Bát nhã có bố thí gì không xa lìa Bát
nhã, không có hai tướng; khi trì giới cũng không có hai tướng;
tu nhẫn nhục, tinh tấn, vào thiền định cũng không có hai
tướng cho đến tám mươi vẻ đẹp tùy hình cũng không có
hai tướng.
Tu
bồ đề bạch Phật rằng: Bạch đúc Thế Tôn, làm sao Bồ
Tát khi bố thí không có hai tướng cho đến tu tám mươi vẻ
đẹp tùy hình cũng không có hai tướng?
Phật
dạy: Bồ Tát khi hành Bát nhã, muốn đầy đủ Thí Ba la mật,
trong Thí Ba la mật thu nhiếp các Ba la mật khác và bốn niệm
xứ, cho đến tám mươi vẻ đẹp tùy hình.
Bạch
đức Thế Tôn, làm sao Bồ Tát khi bố thí thu nhiếp các pháp
vô lậu?
Phật
dạy: Nếu Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật trú ở tâm vô lậu
mà bố thí, ở trong tâm vô lậu không thấy tướng ai thí,
ai nhận thí, thí vật gì? Vì tâm vô tướng, vô lậu dứt
ái, dứt xan tham ấy là bố thí. Khi ấy không thấy bố thí
cho đên không thấy Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bồ
Tát ấy do tâm vô tướng, tâm vô lậu mà trì giới, không
thấy giới ấy cho đến không thấy hết thảy Phật pháp;
do tâm vô tướng, tâm vô lậu mà tinh tấn, không thấy tinh
tấn ấy cho đến không thấy hết thảy Phật pháp. Do tâm
vô tướng, tâm vô lậu mà vào thiền định, không thấy thiền
định ấy cho đến không thấy hết thảy Phật pháp. Do tâm
vô tướng, tâm vô lậu mà tu tập trí tuệ, không thấy trí
tuệ ấy cho đến không thấy hết thảy Phật pháp. Do tâm
vô tướng, tâm vô lậu mà tu bốn niệm xứ, không thấy bốn
niệm xứ ấy cho đến tám mươi vẻ đẹp tùy hình.
Bạch
Đức Thế Tôn, nếu các pháp vô tướng, vô tác, làm sao đầy
đủ Thí Ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật? Làm sao đầy
đủ bốn niệm xứ cho đến tám phần thánh đạo? Làm sao
đầy đủ Không, Vô tướng, Vô tác tam muội, mười lực của
Phật, bốn điều không sợ, bốn trí không ngại, mười tám
pháp không chung, đại từ đại bi? Làm sao đầy đủ ba mươi
hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình?
Phật
bảo Tu bồ đề: Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật do tâm vô
tướng, tâm vô lậu mà bố thí; cần ăn cho ăn cho đến các
thứ cần dùng hoặc trong hoặc ngoài, hoặc cắt xẻ thân mình,
hoặc quốc thành thê tử bố thí cho chúng sinh. Nếu có người
đến nói với Bồ Tát rằng: Cần gì phải bố thí? Không
có ích gì. Vị Bồ Tát thực hành Bát nhã nghĩ rằng: Người
ấy đi đến trách mắng ta bố thí, ta trọn không hối hận,
ta sẽ siêng hành bố thí, không nên không cho. bố thí rồi
chia sẻ cho chúng sinh cùng hồi hướng đến Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, cũng không thấy tướng, cũng không thấy
tướng ai thí, ai nhận, thí vật gì, ai hồi hướng, thế nào
là hồi hướng, hồi hướng đến chỗ nào. Nghĩa là Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, tướng ấy đều không thể thấy,
vì sao? Vì hết thảy pháp do nội không nên không, ngoại không
nên không, nội ngoại không nên không, không không, hữu vi
không, vô vi không, vô thỉ không, tán không, chứng không, hết
thảy pháp không, tự tướng không nên không. Quán như vậy
và nghĩ rằng: Ai hồi hướng, hồi hướng về chỗ nào, dùng
pháp gì hồi hướng? Ấy gọi là chính hồi hướng. Bấy giờ
Bồ Tát có thể thành tựu tuệ giác cho chúng sinh, nghiêm tịnh
cõi Phật, đầy đủ Thí Ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật,
cho đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Không, Vô tướng, Vô
tác tam muội cho đến mười tám pháp không chung. Bồ Tát đầy
đủ Thí Ba la mật như vậy mà không lãnh thọ quả báo thế
gian; thí như trời Tha hóa tự tại, tùy ý cần dùng mà mọi
sự liền được. Bồ Tát cũng như vậy, theo tâm nguyện tùy
ý liền được. Bồ Tát ấy đem quả báo bố thí ấy cúng
dường chư Phật và làm đầy đủ cho chúng sinh trời, người
và A tu la. Bồ Tát ấy do Thí Ba la mật nhiếp thủ chúng sinh,
dùng sức phương tiện lấy pháp ba thừa độ thoát chúng sinh.
Như vậy, Bồ Tát đối với pháp vô tướng, vô đắc, vô
tác đầy đủ Thí Ba la mật.
Này
Tu Bồ Đề, Bồ Tát làm sao đối với pháp vô tướng, vô
đắc, vô tác đầy đủ Giới Ba la mật? Này Tu Bồ Đề, Bồ
Tát khi hành Giới Ba la mật, trì các giới, đó là thánh giới
vô lậu trong tám phần thánh đạo, giới tự nhiên, giới do
quả báo được, giới do lãnh thọ được, giới do tâm sinh...
Các giới như vậy không khuyết, không phá, không nhiễm trược,
không trước, giới tự tại, giới được người trí khen
ngợi. Dùng giới ấy không có gì để thủ, hoặc sắc, thọ,
tưởng, hành, thức, hoặc ba mươi hai tướng, hoặc tám mươi
vẻ đẹp tùy hình, hoặc dòng lớn Sát lợi, hoặc dòng lớn
Bà la môn, đại gia cư sĩ, trời Tứ thiên vương, trời Ba
mươi ba, trời Dạ ma, trời Đâu suất đà, trời Hóa lạc,
trời Tha hóa tự tại, trời Phạm chúng, trời Quang Âm, trời
Biến tịnh, trời Quảng quả, trời Vô tưởng, trời Vô phiền,
trời Vô nhiệt, trời Diệu kiến, trời Hỷ kiến, trời A
ca nị sắc, trời Không xứ, trời Thức xứ, trời Vô sở
hữu xứ, trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng xứ, hoặc quả
Tu đà hoàn, hoặc quả Tư đà hàm, hoặc quả A na hàm, hoặc
quả A la hán hoặc đạo Bích chi Phật, hoặc Chuyển luân Thánh
vương, hoặc Thiên vương mà cốt vì chung với chúng sinh hồi
hướng đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Do vô tướng,
vô đắc không có hai hồi hướng, chỉ vì theo pháp thế tục
mà nói, chứ chẳng phải đệ nhất nghĩa. Bồ Tát ấy đầy
đủ Giới Ba la mật do sức phương tiện phát khởi bốn thiền,
không mê đắm bốn thiền nên được năm thần thông. Nhân
bốn thiền được thiên nhãn, Bồ Tát có trong hai thứ thiên
nhãn là tu đắc và báo đắc. Được thiên nhãn rồi thấy
chư Phật hiện tại ở phương đông cho đến khi được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác mà đúng như việc được thấy
không mất. Thấy chư Phật hiện tại ở phương nam, tây, bắc,
bốn góc trên dưới cho đến khi được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác vẫn như điều đã thấy không mất. Bồ Tát ấy
dùng thiên nhĩ thanh tịnh hơn tai người, nghe chư Phật mười
phương thuyết pháp như điều đã được nghe không mất, có
thể tự mình lợi ích, cũng lợi ích người khác. Bồ Tát
ấy do trí biết tâm người khác mà biết tâm mười phương
chư Phật và biết tâm hết thảy chúng sinh, cũng có thể làm
lợi ích hết thảy chúng sinh. Bồ Tát ấy dùng trí tục mạng
biết các nghiệp duyên đời trước, các nghiệp duyên ấy
không mất nên chúng sinh ấy sinh chỗ nào, nơi nào đều biết
rõ. Bồ Tát ấy dùng trí lậu tận làm cho chúng sinh được
quả Tu đà hoàn cho đến quả A la hán, đạo Bích chi Phật,
bất cứ ở nơi nào đều có thể khiến chúng sinh vào trong
thiện pháp. Như vậy, Bồ Tát đối với các pháp vô tướng,
vô đắc, vô tác đầy đủ Giới Ba la mật.
Bạch
đức Thế Tôn, làm sao các pháp vô tướng, vô tác, vô đắc
mà Bồ Tát có thể đầy đủ Nhẫn Ba la mật?
Này
Tu Bồ Đề, Bồ Tát từ khi mới phát tâm trở lại đây cho
đến khi ngồi đạo tràng, ở khoảng trung gian ấy nếu có
chúng sinh đi đến dùng ngói đá, dao gậy gia hại Bồ Tát,
khi ấy Bồ Tát không khởi tâm giận cho đến không sinh một
niệm. Bấy giờ Bồ Tát tu hai thứ nhẫn: Một là nếu chúng
sinh ác khẩu mắng nhiếc hoặc dùng dao gậy ngói đá gia hại,
không khởi tâm giận; hai là hết thảy pháp không sinh, Bồ
Tát nhẫn được pháp ấy, nếu có người đến ác khẩu mắng
nhiếc, hoặc dùng ngói đá, dao gậy gia hại, Bồ Tát suy nghĩ
như vầy: Mắng ta là ai? Chê trách ta là ai? Đánh đập ta là
ai? Ai là người chịu? Khi ấy Bồ Tát nên suy nghĩ thực tính
của các pháp là rốt ráo không, không có pháp, không có chúng
sinh. Pháp còn không thể có được, huống gì chúng sinh! Khi
quán các pháp tướng như vậy, không thấy người mắng, không
thấy người cắt xẻ. Khi Bồ Tát quán các pháp tướng như
vậy liền được vô sinh pháp nhẫn.
Thế
nào gọi là vô sinh pháp nhẫn? Biết các pháp tướng thường
không sinh, các phiền não từ xưa lại đây cũng thường không
sinh. Bồ Tát trú nơi hai nhẫn ấy có thể đầy đủ bốn
thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc, bốn niệm
xứ, cho đến tám phần thánh đạo, ba môn giải thoát, mười
lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn trí không ngại,
mười tám pháp không chung, đại từ đại bi. Bồ Tát trú
trong thánh pháp xuất thế gian vô lậu ấy không chung với
Thanh văn, Bích chi Phật đầy đủ thần thông của bậc thánh.
Có thần thông của bậc thánh rồi dùng thiên nhãn thấy chư
Phật ở phương đông, người ấy được niệm Phật tam muội
cho đến khi được Vô thượng chánh đẳng chánh giác trọn
không dứt mất; thấy chư Phật ở phương nam, tây, bắc, bốn
góc trên dưới cũng như vậy. Bồ Tát dùng thiên nhĩ nghe chư
Phật mười phương thuyết pháp đúng như điều được nghe,
vì chúng sinh mà nói lại. Bồ Tát ấy cũng biết tâm chư Phật
mười phương và biết tâm niệm của hết thảy chúng sinh,
biết rồi theo tâm họ mà thuyết pháp. Bồ Tát ấy dùng trí
túc mạng biết thiện căn đời trước của chúng sinh, vì
chúng sinh mà thuyết pháp, khiến họ được hoan hỷ. Bồ Tát
ấy do lậu tận thông giáo hóa chúng sinh khiến được ba thừa.
Bồ Tát ấy hành Bát nhã ba la mật, do sức phương tiện thành
tựu tuệ giác cho chúng sinh, đầy đủ trí Nhất thiết chủng,
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Chuyển pháp luân.
Như vậy, Bồ Tát đối với pháp vô tướng, vô đắc, vô
tác đầy đủ Nhẫn Ba la mật.
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch Đức Thế Tôn, làm sao Bồ Tát đối với
các pháp vô tướng, vô tác, vô đắc mà có thể đầy đủ
Tấn Ba la mật?
Phật
bảo Tu bồ đề: Bồ Tát khi hành Bát nhã thành tựu thân tinh
tấn, tâm tinh tấn, vào sơ thiền cho đến thiền thứ tư được
các sức thần thông, có thể phân một thân làm nhiều thân,
cho đến có thể lấy tay sờ mặt trăng, mặt trời. Thành
tựu thân tinh tấn ấy nên bay đến phương đông quá vô lượng
trăm ngàn vạn ức thế giới Phật, cúng dường chư Phật
đồ uống ăn, y phục, thuốc men, đồ nằm, hương hoa, anh
lạc các thứ cần dùng cho đến khi được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác mà quả báo phước đức trọn không tiêu
hết. Bồ Tát ấy khi được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, hết thảy thế gian trời người siêng năm thiết bày
cúng dường y phục, uống ăn cho đến khi lưu lại xá lợi,
sau khi vào Niết bàn và đệ tử được cúng dường. Cũng
do sức thần thông ấy nên đi đến chỗ Phật nghe, lãnh thọ
giáo pháp cho đến khi được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác trọn không trái mất. Bồ Tát ấy khi tu trí Nhất thiết
chủng nghiêm tịnh cõi Phật, thành tựu tuệ giác cho chúng
sinh. Như vậy, Bồ Tát tu Bát nhã ba la mật thành tựu thân
tinh tấn, có thể làm đầy đủ Tấn Ba la mật.
Này
Tu Bồ Đề, làm sao thành tựu tâm tinh tấn mà có thể đầy
đủ Nhẫn Ba la mật? Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát tâm tinh tấn,
do tâm ấy tinh tấn tu thánh pháp vô lậu, vào chánh tinh tấn
trong tám phần thánh đạo, khong để thân, khẩu nghiệp bất
thiện được xen vào; cũng không chấp thủ các pháp tướng
hoặc thường hoặc vô thường, hoặc khổ hoặc vui, hoặc
ngã hoặc vô ngã, hoặc hữu vi hoặc vô vi, hoặc cõi Dục,
hoặc cõi Sắc, hoặc cõi Vô sắc, hoặc hữu lậu, hoặc vô
lậu, hoặc sơ thiền cho đến đệ tứ thiền, hoặc từ bi
hỷ xả, hoặc vô biên hư không xứ, cho đến Phi hữu tưởng
Phi vô tưởng xứ, hoặc bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn
như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác phần, tám phần thánh
đạo, hoặc không, vô tướng, vô tác, hoặc mười lực của
Phật cho đến mười tám pháp không chung, đều không chấp
thủ tướng; hoặc thường, hoặc vô thường, hoặc khổ hoặc
vui, hoặc ngã hoặc vô ngã, hoặc quả Tu đà hoàn, quả Tư
đà hàm, quả A na hàm, quả A la hán, đạo Bích chi Phật, đạo
Bồ Tát, quả Vô thượng chánh đẳng chánh giác; hoặc Tu đà
hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán; hoặc Bích chi Phật, Bồ
Tát, Phật đều không chấp thủ tướng. Chúng sinh ấy dứt
ba kiết sử phần dưới nên được Tu đà hoàn; chúng sinh
ấy ba độc mỏng nên được Tư đà hàm; chúng sinh ấy dứt
trọn năm phần kiết sử phần dưới nên được A na hàm;
chúng sinh ấy dứt trọn năm kiết sử phần trên nên được
A la hán; chúng sinh ấy do đạo Bích chi Phật nên làm Bích
chi Phật; chúng sinh ấy hành đạo chủng trí nên gọi là Bồ
Tát, cũng không chấp thủ các tướng ấy, vì sao? Vì không
thể do tính chấp thủ tướng, vì tính ấy không có. Bồ Tát
do tâm tinh tấn ấy nên làm lợi ích rộng lớn cho chúng sinh,
cũng không thủ đắc tướng chúng sinh. Như vậy là Bồ Tát
đầy đủ Tấn Ba la mật. Đầy đủ các Phật pháp, nghiêm
tịnh cõi Phật, thành tựu tuệ giác cho chúng sinh, vì không
thể có được.
Bồ
Tát ấy thân tinh tấn, tâm tinh tấn thành tựu nên nhiếp thủ
hết thảy thiện pháp; pháp ấy cũng không chấp trước nên
từ một cõi Phật đi đến một cõi Phật, vì lợi ích chúng
sinh, làm các thần thông tùy ý không ngại; hoặc mưa hoa, mưa
danh hương; hoặc làm kỷ nhạc, hoặc làm chấn động đại
địa, hoặc phóng hào quang, hoặc chỉ bày quốc độ bảy
báu trang nghiêm; hoặc hiện các thân, hoặc phóng ánh sáng
đại trí khiến biết thánh đạo, khiến xa lìa sát sinh cho
đến tà kiến; hoặc lấy việc bố thí lợi ích chúng sinh,
hoặc vì trì giới, hoặc cắt xẻ thân thể, hoặc đem vợ
con, hoặc đem thân mình cấp thí, tùy theo phương tiện có
được làm lợi ích chúng sinh. Như vậy, Bồ Tát hành Bát
nhã ba la mật, đối với các pháp vô tướng, vô tác, vô đắc,
dùng thân tâm tinh tấn có thể đầy đủ Tấn Ba la mật.
Phật
dạy: Bồ Tát trừ thiền định của chư Phật, tất cả thiền
định tam muội khác đều có thể đầy đủ. Bồ Tát ấy
lìa các dục, các pháp ác bất thiện; lìa dục sinh hỷ lạc,
có giác có quán vào sơ thiền cho đến vào đệ tứ thiền,
lấy tâm từ bi hỷ xả trải khắp một phương cho đến mười
phương, hết thảy thế gian. Bồ Tát ấy vượt qua hết thảy
sắc giới, diệt tướng hữu đối, không nghĩ đến tướng
khác biệt nên vào vô biên không xứ định cho đến vào Phi
hữu tưởng Phi vô tưởng xứ. Bồ Tát ấy trú trong Thiền
Ba la mật nghịch và thuận vào tám bội xả, định chín thứ
lớp, Không, Vô tướng, Vô tác tam muội hoặc thời vào tam
muội Như điển chớp, hoặc có khi vào tam muội Thánh chánh,
hoặc có khi vào tam muội Như kim cương. Bồ Tát ấy trú trong
thiền định tu ba mươi bảy pháp trợ đạo, dùng Đạo chủng
trí vào hết thảy thiền định vượt qua Càn tuệ địa, Tánh
địa, Bát nhân địa, Kiến địa, Bạt địa, Ly dục địa,
Dĩ biện địa, Bích chi Phật địa mà vào Bồ Tát vị. Vào
Bồ Tát vị rồi đầy đủ Phật địa. Ở trong các địa
ấy tu cho đến khi được Vô thượng chánh đẳng chánh giác,
không ở giữa đường thủ chứng đạo quả, Bồ Tát ấy
trú trong Thiền Ba la mật, từ một cõi Phật đến một cõi
Phật cúng dường chư Phật, ở chỗ chư Phật gieo trồng căn
lành, nghiêm tịnh cõi Phật, từ một cõi Phật đến một
cõi Phật làm lợi ích chúng sinh: Lấy việc bố thí nhiếp
thủ chúng sinh; lấy việc trì giới hoặc lấy tam muội, hoặc
lấy trí tuệ, hoạc lấy giải thoát, hoặc lấy giải thoát
tri kiến nhiếp thủ chúng sinh, dạy chúng sinh khiến được
quả A la hán, đạo Bích chi Phật; những thiện pháp có thể
làm cho chúng sinh đắc đạo đều giáo hóa khiến đắc. Bồ
Tát ấy trú trong Thiền Ba la mật có thể phát sinh hết thảy
môn Đà la ni, được bốn trí không ngại, thần thông do quả
báo được. Bồ Tát ấy trọn không vào thai mẹ, không chịu
năm dục, không sinh, chẳng sinh, tuy sinh mà không bị sự sinh
làm ô nhiễm, vì sao? Vì Bồ Tát ấy thấy tất cả pháp tạo
tác đều như huyễn mà lợi ích chúng sinh, cũng không thủ
đắc tướng chúng sinh và hết thảy pháp; mà dạy chúng sinh
khiến được chỗ không có sở đắc. Đây là theo nghĩa thế
tục mà nói chứ chẳng phải theo nghĩa đệ nhất. Bồ Tát
trú trong Thiền Ba la mật, tất cả hành thiền, định, giải
thoát, tam muội cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác
trọn không lìa Thiền Ba la mật. Bồ Tát ấy khi hành Đạo
chủng trí như vậy được trí Nhất thiết chủng, dứt hết
thảy phiền não và tập khí; dứt rồi tự lợi ích cho mình,
cũng lợi ích người khác; ích mình ích người rồi, vì hết
thảy thế gian người, trời, A tu la làm ruộng phước. Như
vậy, Bồ Tát khi tu Bát nhã ba la mật đầy đủ Thiền Ba la
mật vô tướng.
Bạch
Đức Thế Tôn, làm sao Bồ Tát khi tu Bát nhã ba la mật trú
trong pháp vô tướng, vô pháp, vô đắc mà có thể tu đầy
đủ Bát nhã ba la mật?
Phật
dạy: Bồ Tát khi tu Bát nhã ba la mật, đối với các pháp
không thấy tướng thật có nhất định. Bồ Tát ấy thấy
sắc không nhất định, chẳng phải thật tướng, cho đến
thấy thức không nhất định, chẳng phải thật tướng; chẳng
thấy sắc sinh cho đến chẳng thấy thức sinh; nếu không thấy
sắc sinh cho đến không thấy thức sinh thời hết thảy pháp
hoặc hữu lậu hoặc vô lậu không thấy chỗ đến, không
thấy chỗ đi, không thấy chỗ tích chứa. Khi quán như vậy
không thủ đắc tính sắc cho đến tính thức, cũng không thủ
đắc tính hữu lậu, vô lậu pháp. Bồ Tát khi hành Bát nhã,
tin hiểu hết thảy pháp không có tướng sở hữu. Tin hiểu
như vậy rồi hành nội không cho đến vô pháp hữu pháp không,
đối với pháp không đắm trước gì, hoặc sắc, thọ, tưởng,
hành, thức cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bồ
Tát ấy hành Bát nhã không có sở hữu, có thể đầy đủ
Bồ Tát đạo, tức là sáu Ba la mật cho đến ba mươi bảy
pháp trợ đạo, mười lực của Phật, bốn điều không sợ,
bốn trí không ngại, mười tám pháp không chung, ba mươi hai
tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình. Bồ Tát ấy trú trong
Phật đạo sâu xa tức là sáu Ba la mật, ba mươi bảy pháp
trợ đạo, thần thông do quả báo được, đem các pháp ấy
lợi ích chúng sinh; cần lấy bố thí nhiếp thủ dạy khiến
bố thí, cần lấy trì giới nhiếp thủ dạy khiến trì giới;
cần lấy thiền định, trí tuệ, giải thoát, giải thoát tri
kiến nhiếp thủ dạy tu thiền định, trí tuệ, giải thoát,
giải thoát tri kiến; cần lấy các đạo khác dạy thời dạy
khiến được quả Tu đà hoàn cho đến quả A la hán, đạo
Bích chi Phật; cần lấy Phật đạo giáo hóa thời dạy khiến
được Bồ Tát đạo đầy đủ Phật đạo. Như vậy, tùy
theo đạo pháp và cấp bậc thích hợp mà giào hóa khiến đều
có chỗ được. Bồ Tát ấy khi hiện sức thần thông, vượt
qua vô lượng hằng hà sa quốc độ độ thoát chúng sinh, theo
chỗ nhu cầu của họ đều giáo hóa, cung cấp khiến được
đầy đủ, từ một cõi nước đến một cõi nước thấy
cõi nước Tịnh diệu, theo đó tự trang nghiêm cõi Phật của
mình; thí như ở cõi trời Tha hóa tự tại, vật cần dùng
nuôi sống đều tùy ý đi đến; cũng như các cõi Phật thanh
tịnh lìa sự tham muốn, người ấy do quả báo được Thí
Ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật, do quả báo được năm
thần thông hành đạo chủng trí của Bồ Tát, thành tựu hết
thảy công đức, sễ được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Bồ Tát ấy bấy giờ không lãnh thọ sắc pháp cho đến
thức, không lãnh thọ hết thảy pháp hoặc thiện hoặc bất
thiện, hoặc thế gian hoặc xuất thế gian, hoặc hữu lậu
hoặc vô lậu, hoặc hữu vi hoặc vô vi; hết thảy pháp như
vậy đều không lãnh thọ. Bồ Tát ấy khi được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, nhừng vật nuôi sống có được trong
quốc độ đều không có chủ, vì sao? Vì Bồ Tát tu hạnh
không lãnh thọ hết thảy pháp, vì không thể có được. Như
vậy, Bồ Tát ở trong pháp vô tướng có thể đầy đủ Bát
nhã ba la mật.
Luận:
Hỏi: Người hỏi người đáp đều nói không có sở hữu,
vậy làm sao phân biệt đó là hỏi, đó là đáp?
Đáp:
Pháp nói ra tuy một mà tâm có sai khác. Người hỏi đem tâm
chấp trước mà hỏi, người đáp lấy tâm không chấp trước
mà đáp. Ý Tu Bồ Đề muốn nói: Trong không có sở hữu không
thể phát tâm. Tu Bồ Đề vì người nghe có tâm chấp trước
nên mới hỏi. Trong các páp Không không thấy Bồ Tát phát
tâm, không thấy chúng sinh có thể lợi ích, không thấy Vô
thượng chánh đẳng chánh giác. Thế nên, đối với pháp không
có sở hữu sinh ra vấn nạn: Nếu hết thảy pháp không có
tính sở hữu vậy thấy lợi gì nên phát tâm? Tu Bồ Đề
đối với Bồ Tát, chúng sinh, Vô thượng chánh đẳng chánh
giác không nghi, mà chỉ hỏi pháp không có sở hữu. Phật
đáp rằng: Chính vì pháp Không không có sở hữu nên mới
phát tâm Nếu Không, không có sở hữu, thời Bồ Tát, chúng
sinh, Vô thượng chánh đẳng chánh giác cũng đều không, không
có sở hữu, thời làm sao còn khởi lên vấn nạn? Nếu chúng
sinh, Bồ Tát và Vô thượng chánh đẳng chánh giác lìa không,
không có sở hữu mới có thể nạn như vậy. Như trước nói:
Rốt ráo không đối với các pháp không có chướng ngại gì,
thời đâu có chướng ngại việc phát tâm? Phật lại do không,
không có sở hữu phá câu hỏi của Tu Bồ Đề, cũng lại
tự nói nhân duyên: Người có tâm chấp trước thời khó được
giải thoát. Người ấy từ vô thỉ sinh tử lại đây do phiền
não nên nhiễm đắm các pháp, nghe có cũng nhiễm đắm, nghe
không cũng nhiễm đắm; được hay mất cũng nhiễm đắm; chúng
sinh như vậy khó được ra khỏi. Thế nên Bồ Tát phát tâm
vô thượng đạo, tự lấy tướng trang nghiêm thân, được
tâm thanh tịnh, được đại oai đức, biết cội gốc tâm
ba đời của chúng sinh, dùng sức thần thông và nhân duyên,
thí dụ vì họ nói pháp không có sở hữu, nói không giải
thoát môn để dẫn dắt tâm họ. Chúng sinh thấy việc hiếm
có như vậy tức thời tâm kia nhu nhuyến, tin Phật, thọ pháp.
Thế nên kinh nói: Người nhiễm trước có thời khó được
giải thoát, người có sở đắc thời không có đạo, không
có quả, không có Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu người có sở đắc thời không có đạo,
không có quả, không có Vô thượng chánh đẳng chánh giác,
vậy người không có sở đắc có đạo, có quả chăng?
Phật
đáp: Không có sở hữu tức là đạo, tức là quả, tức là
Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Nếu người không phân
biệt là có sở đắc, là không có sở đắc mà vào trong thật
tướng rốt ráo không là cũng không có sở đắc, tức là
đạo, tức là quả, tức là Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, vì không phá hoại thật tướng các pháp. Pháp tính tức
là thật tướng các pháp.
Tu
Bồ Đề hỏi: Pháp tính, chánh hạnh, tà hạnh thường không
thể phá hoại, cớ gì Phật nói pháp tính không phá hoại
là đạo, là quả?
Phật
đáp: Pháp tính tuy không phá hoại, song vì chúng sinh tà hạnh
nên gọi là phá hoại; như hư không bị mây mù, bụi bặm
tuy không thể làm bẩn nhơ cũng gọi là hư không bất tịnh;
như người thật muốn làm nhơ bẩn hư không, thế là người
ấy muốn làm nhơ bẩn pháp tính, không thể có việc ấy.
Phật nói ví dụ: Như n muốn phá hoại pháp tính, người ấy
muốn đối với pháp không có sở hữu được đạo, được
quả, được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Nếu không có sở hữu tức là
đạo, làm sao có các pháp của Bồ Tát trong mười địa như
kinh nói rộng?
Hỏi:
việc ấy Phật đã đáp trước rồi, nghĩa là nếu pháp không
thời Bồ Tát ấy lợi gì nên phát tâm? Còn nay nói: Nếu pháp
không thời làm sao có từ sơ địa đến đệ thập địa?
Phật đều lấy Không để đáp, nay Tu Bồ Đề cớ gì còn
hỏi?
Đáp:
Tu Bồ Đề vì chúng sinh còn tâm chấp trước nên hỏi. Trong
chúng ấy có hàng Bồ Tát mới phát tâm nghe các pháp thật
tướng không liền sinh tâm chấp trước không. Phật phá tâm
chấp trước ấy, họ lại đắm trước vào pháp bị phá;
vì hạng người ấy nên Tu Bồ Đề lại hỏi. Phật đáp rằng:
Do không có sở đắc nên có sơ địa cho đến có xá lợi
đại chúng cúng dường sau khi vào Niết bàn. Trong pháp có
chấp trước thời không thể nói có sơ địa và các công
đức, lại cũng do không có sở đắc nên từ bố thí cho đến
các thần thông không có sai khác; không có sai khác nên không
nên vấn nạn.
Tu
Bồ Đề lại hỏi: Làm sao không có sở đắc mà bố thí cho
đến các thần thông không có sai khác?
Phật
đáp: Bồ Tát từ khi mới phát tâm trở lại đây tương tợ
như tướng Vô thượng chánh đẳng chánh giác tịch diệt,
tướng bố thí rốt ráo không, nghĩa là không thủ đắc tướng
người thí, người nhận thí và tài vật mà hành bố thí.
Bố thí như vậy không có phân biệt, cho đến không thủ đắc
Bồ đề mà được Vô thượng chánh đẳng chánh giác cũng
như vậy; ấy gọi là Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật không
có sở đắc. Hành Bát nhã ba la mật không có sở đắc ấy
ma hoặc ma trời không thể phá hoại.
Trong
một niệm hành sáu Ba la mật là:
Hỏi:
Cớ gì Tu Bồ Đề hỏi công đức trong một niệm hành sáu
Ba la mật?
Đáp:
Tu Bồ Đề theo Phật nghe nói Bát nhã ba la mật không có tướng
sở hữu, nơi các pháp không có tướng chướng ngại, nếu
như vậy thời không có việc gì không thể, không có việc
gì không làm, làm sao Bồ Tát trong một niệm có thể thu nhiếp
sáu Ba la mật cho đến tám mươi vẻ đẹp tùy hình? Khi mới
phát tâm, vì tâm nhiễm trước, có và không nặng, nên dần
dần thứ lớp hành, nay tâm chấp trước có và không đều
xả bỏ có, không, nên không có gì không làm được; thế
nên hỏi.
Phật
đáp: Bồ Tát không lìa Bát nhã ba la mật, hành các công đức
bố thí không có chướng ngại nên có thể trong một niệm
tu hành đầy đủ; nếu xa lìa Bát nhã ba la mật thời phải
dần dần thứ lớp hành.
Tu
Bồ Đề hỏi: Thế nào gọi là không xa lìa?
Phật
đáp: Bồ Tát không do hai tướng tu hành bố thí.
Lại
hỏi: Làm sao không do hai tướng?
Phật
đáp: Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật, muốn đầy đủ Thí
Ba la mật, trong một niệm bố thí thu nhiếp hết thảy thiện
pháp, như trước đã nói.
Thế
nào là một niệm? Đó là Bồ Tát được vô sinh pháp nhẫn,
dứt hết thảy phiền não, trừ mọi ức tưởng phân biệt,
an trú tâm vô lậu mà bố thí hết thảy. Tâm vô lậu là tướng
vô tướng, Bồ Tát an trú tâm ấy nên không thấy ai thí, ai
nhận và vật gì. Tâm lìa hết thảy tướng mà bố thí, không
thấy có một pháp cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác
còn không thấy, huống gì pháp khác; ấy gọi là không hai
tướng. Cho đến tám mươi vẻ đẹp tùy hình cũng như vậy.
Tu
Bồ Đề lại lấy việc khác hỏi nghĩa này rằng: Bạch Đức
Thế Tôn, các pháp vô tướng, vô tác, vô khởi, thời làm
sao có thể đầy đủ Thí Ba la mật cho đến tám mươi vẻ
đẹp tùy hình?
Phật
đáp: Bồ Tát đối với pháp vô tướng, vô tác vì không thủ
tướng, tâm không chướng ngại mà bố thí; cần ăn cho ăn
như trong kinh đã nói rõ.
Vô
lậu, vô tướng, sáu Ba la mật có hai: Một là sở hành của
Bồ Tát được vô sinh pháp nhẫn; hai là sở hành của Bồ
Tát chưa được vô sinh pháp nhẫn. Sở hành của Bồ Tát được
vô sinh pháp nhẫn như trong đây nói, vì sao? Vì trú trong tâm
vô tướng, vô lậu mà hành bố thí.
Hỏi:
Sinh thân Bồ Tát vì tham tiếc chưa trừ, bị cắt xẻ thì
rất đau khổ, việc ấy là khó; còn Bồ Tát được vô sinh
pháp nhẫn giống như người biến hóa làm, dù bị cắt xẻ
cũng không đau khổ, vậy đâu có ân nghĩa gì!
Đáp:
Bồ Tát được vô sinh pháp nhẫn hành sáu Ba la mật là khó,
vì cớ sao? Vì được vô sinh pháp nhẫn thời tâm tịch tịch,
lẽ đáng thọ cái vui Niết bàn, song bỏ cái vui Niết bàn
tịch diệt ấy trở lại vào trong chúng sinh chịu các thân
hình; hoặc làm người hèn, hoặc làm súc sinh, việc ấy mới
là khó. Sinh thân Bồ Tát vì tham ái chưa trừ, đắm trước
thân Phật nên dùng thân bố thí, ấy là có hi vọng, chẳng
phải thanh tịnh bố thí, cho nên không bằng.
*Lại
nữa, thực hành sáu Ba la mật vô lậu vô tướng, thời có
thể đầy đủ còn hữu lậu, hữu tướng, thời không thể
đầy đủ; thế nên, người có thể đầy đủ có ân đức
lớn.
(Hết
cuốn 87 theo bản Hán)