Tập
5
Cuốn
89
Kinh:
Thế nào là 80 vẻ đẹp tùy hình? 1. Đỉnh đầu không thể
thấy; 2. Mũi thẳng, cao, đẹp, lỗ mũi kín; 3. Mí mắt như
trăng mới mọc, có màu xanh lưu ly; 4. Vành tai mọc thòng xuống;
5. Thân chắc thật như lực sĩ trời Na la diên; 6. Khớp xương
như móc câu; 7. Mỗi lần thân xoay như voi chúa; 8. Khi đi chân
cách đất bốn tấc, có dấu ấn hiện trên đất; 9. Móng
tay màu đồng đỏ, mỏng và mướt; 10. Xương đầu gối cứng,
tròn, đẹp; 11. Thân sạch sẽ; 12. Thân mềm mại; 13. Thân
không cong; 14. Ngón tay tròn, thon; 15. Ngón tay đẹp; 16: Mạch
sâu; 17. Mắt cá kín; 18. Thân mịn màng; 19. Thân vững chắc,
đi không xiêng xẹo; 20. Thân đầy đặn; 21. Thức đầy đủ;
22. Dung nghi đầy đặn; 23. Chỗ ở yên ổn không thể động;
24. Uy đức chấn động hết thảy; 25. Mọi người đều ưa
xem; 26. Mặt không lớn dài; 27. Dung mạo đoan chính, không pha
tạp; 28. Mặt đầy đủ; 29. Môi đỏ như màu trái Tần bà;
30. Âm vang sâu lắng; 31. Rốn sâu, tròn, đẹp; 32. Lông trên
thân xoay về phía hữu; 33. Tay đầy đủ; 34. Tay chân vừa
ý; 35. Chỉ tay rõ ràng, ngay thẳng; 36: Chỉ tay dài; 37. Chỉ
tay không dứt; 38. Chúng sinh ác tâm trong thấy hòa vui; 39. Mặt
rộng, đẹp; 40. Mặt đầy đặn, trong sáng như trăng; 41. Theo
ý chúng sinh vui vẻ cùng nói; 42. Lỗ chân lông tỏa mùi thơm;
43. Miệng tỏa mùi thơm; 44. Nghi dung như Sư tử; 45. Đi đứng
như voi chúa; 46. Cách đi như ngỗng chúa; 47. Đầu như quả
Ma la đà; 48. Âm thanh rõ ràng; 49. Răng bén; 50. Sắc lưỡi
màu hồng; 53. Lông trong sạch; 54. Mắt rộng, dài; 55. Tướng
các khiếu (lỗ) đầy đủ; 56. Tay chân trắng thuần như hoa
sen; 57. Rốn không bày; 58. Bụng không bày; 59. Bụng nhỏ; 60.
Thân không khuynh động; 61. Thân chắc nịch; 62. Phần thân
lớn; 63. Thân cao ráo; 64. Tay chân sạch, mềm mại; 65. Hào
quang thân dài một trượng; 66. Thân chiếu sáng khi đi; 67.
Xem chúng sinh bình đẳng; 68. Không khi khi chúng sinh; 69. Theo
ân thanh của chúng sinh không quá, không giảm; 70. Thuyết pháp
không sai khác; 71. Tùy theo ngôn ngữ của chúng sinh mà thuyết
pháp; 72. Có nhân duyên theo thứ lớp thuyết pháp; 74. Có tướng
hết thảy chúng sinh không thể xem hết được; 75. Người
xem không nhàm chán; 76. Tóc dài, đẹp; 70. Màu tóc như ngọc
xanh; 80. Tay chân có đức tướng.
Này
Tu Bồ Đề, ấy là 80 vẻ đẹp tùy hình thành tựu nơi thân
Phật. Như vậy, Bồ Tát do hai trí nhiếp thủ chúng sinh, đó
là tài thí và pháp thí. Ấy là việc hy hữu khó bì kịp của
Bồ Tát.
Làm
sao Bồ Tát dùng ái ngữ nhiếp thủ chúng sinh? Bồ Tát lấy
Ba la mật vì chúng sinh thuyết pháp, nói rằng: Các ngươi tu
sáu Ba la mật, thu nhiếp được hết thảy thiện pháp.
Làm
sao Bồ Tát lấy lợi hành nhiếp thủ chúng sinh? Đó là Bồ
Tát thường dạy chúng sinh, khiến tu sáu Ba la mật.
làm
sao Bồ Tát lấy đồng sự nhiếp thủ chúng sinh? Đó là Bồ
Tát dùng sức năm thần thông, các cách biến hóa đi vào trong
năm đường cùng sự việc với chúng sinh. Đó là lấy bốn
việc nhiếp thủ chúng sinh.
*Lại
nữa, Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật, giáo hóa chúng sinh
rằng: Này thiện nam tử, nên khéo học, phân biệt các mẫu
chữ và nên khéo biết một mẫu chữ cho đến 42 mẫu chứ;
khéo biết hết thảy ngôn ngữ đều từ trong mẫu chữ thứ
hai cho đến mẫu chữ thứ 42, hết thảy ngôn ngữ đều vào
trong ấy. Một mẫu chữ đều vào trong 42 mẫu chữ, 42 mẫu
chữ cũng vào trong một mẫu chữ. Chúng sinh ấy nên khéo học
42 mẫu chữ như vậy. Khéo học 42 mẫu chữ rồi, có thể
khéo biết phép tắc của mẫu chữ; khéo biết phép tắc của
mẫu chữ rồi khéo biết phép tắc không có mẫu chữ này.
Này Tu Bồ Đề, như Phật khéo biết phép tắc mẫu chữ, khéo
biết mẫu chữ, khéo biết không có mẫu chữ, vì phép tắc
không có mẫu chữ nên nói phép tắc mẫu chữ, vì sao? Vì
vượt qua hết thảy danh tự, gọi là Phật pháp.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, Nếu chúng
sinh rốt ráo không thể có được, pháp cũng rốt ráo không
thể có được, pháp tính cũng rốt ráo không thể có được,
vì rốt ráo không, vô thỉ không, vậy Bồ Tát khi hành Bát
nhã ba la mật cho đến Thí Ba la mật, khi hành bốn thiền,
bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc, 37 pháp trợ đạo,
mười tám không, Vô tướng, Vô tác tam muội, tám bội xả,
định chín thứ lớp, mười lực của Phật, bốn điều không
sợ, bốn trí không ngại, mười tám pháp không chung, 32 tướng,
80 vẻ đẹp tùy hình, làm sao trú trong năm thần thông do quả
báo được mà vì chúng sinh thuyết pháp? Chúng sinh thật không
thể có được, vì chúng sinh không có được nên sắc không
thể có được, cho đến thức cũng không thể có được;
vì năm uần không thể có được, nên sáu Ba la mật cho đến
80 vẻ đẹp tùy hình đều không thể có được. Trong không
thể có được, không có chúng sinh, không có sắc cho đến
không có 80 vẻ đẹp tùy hình, vậy làm sao Bồ Tát hành Bát
nhã ba la mật có thể vì chúng sinh thuyết pháp? Bạch Đức
Thế Tôn, Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật, Bồ Tát còn không
thể có được, huống gì có pháp Bồ Tát?
Phật
bảo Tu bồ đề: Như vậy, như vậy, như lời ông nói. Vì
chúng sinh không thể có được, nên biết nội không, ngoại
không, nội ngoại không, không không, đại không, đệ nhất
nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cảnh không, vô
thỉ không, tán không, các pháp không, tự tướng không, tính
không, bất khả đắc không, vô pháp không, hữu pháp không,
vô pháp hữu pháp không. Vì chúng sinh không thể có được
nên biết năm uẩn không, mười hai nhập không, mười tám
giới không, mười hai nhân duyên không, bốn đế không, ngã
không, thọ giả, mạng giả, kẻ sinh, kẻ nuôi, kẻ dưỡng,
chúng số, người, người làm, người khiến làm, khởi dậy,
người khiến khởi dậy, lãnh thọ, người khiến lãnh thọ,
kẻ biết, kẻ thấy đều không. Vì chúng sinh không thể có
được nên biết bốn thiền không, bốn tâm vô lượng không,
cho đến tám phần thánh đạo không, không không, vô tướng
không, vô tác không, tám bội xả không, định chín thứ lớp
không. Vì chúng sinh không thể có được nên biết mười lực
của Phật, bốn điều không sợ, bốn trí không ngại, mười
tám pháp không chung không, nên biết quả Tu đà hoàn không
cho đến đạo Bích chi Phật không, Bồ Tát địa không, Vô
thượng chánh đẳng chánh giác không. Này Tu Bồ Đề, Bồ
Tát thấy hết thảy pháp không như vậy, vì chúng sinh thuyết
pháp, không mất các tướng không. Bồ Tát khi quán như vậy,
viết hết thảy pháp thông suốt không ngại, biết hết thảy
pháp không ngại rồi, không phá hoại các pháp tướng, không
hai, không phân biệt, chỉ vì chúng sinh mà như thật nói pháp.
Thí như người của Phật biến hóa, người biến hóa lại
hóa làm vô lượng ngàn vạn ức người, có người dạy khiến
bố thí, có người dạy trì giới, có người dạy nhẫn nhục,
có người dạy tinh tấn, có người dạy thiền định, có
người dạy trí tuệ, có người dạy bốn thiền, bốn tâm
vô lượng, bốn định vô sắc, ý ông nghĩ sao? Người của
Phật biến hóa ấy có phá hoại pháp tính chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Thưa không, bạch Thế Tôn. Các người biến
hóa ấy không có tâm, không có tâm tâm số pháp, làm sao phân
biệt phá hoại các pháp?
Này
Tu Bồ Đề, thế nên biết, Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật,
vì chúng sinh đúng chỗ thích hợp thuyết pháp; kéo chúng sinh
ra khỏi điên đảo, khiến được ở vào chỗ nên ở, vì
pháp không trói không mở, vì sao? Vì sắc không trói không
mở; thọ, tưởng, hành, thức không trói không mở; sắc không
trói không mở thời không phải là sắc; thọ, tưởng, hành,
thức không trói không mở thời không phải là thức, vì sao?
Vì sắc rốt ráo thanh tịnh; thọ, tưởng, hành, thức cho đến
hết thảy pháp, hoặc hữu vi, hoặc vô vi cũng rốt ráo thanh
tịnh. Như vậy, Bồ Tát vì chúng sinh thuyết pháp cùng không
thủ đắc tướng chúng sinh và hết thảy pháp. Hết thảy
pháp không thể có được nên Bồ Tát không trú pháp nên trú
trong pháp tướng, đó là sắc không cho đến hữu vi, vô vi
pháp không, vì sao? Vì tự sắc cho đến hữu vi, vô vi pháp
tự tính không thể có được, không chỗ trú. Pháp không có
sở hữu, không trú ở pháp không có sở hữu; tự tính pháp
không trú trong tự tính pháp, tha tính pháp không trú trong tha
tính pháp, vì sao? Vì hết thảy pháp đều không thể có được.
Pháp không thể có được thời trú vào đâu? Như vậy, Bồ
Tát hành Bát nhã ba la mật, do các không ấy có thể nói pháp
như vậy, hành Bát nhã ba la mật như vậy, đối với chư Phật
và Thanh văn, Bích chi Phật không có lỗi, vì sao? Vì chư Phật,
Bồ Tát, Bích chi Phật, A la hán được pháp ấy rồi, vì chúng
sinh thuyết pháp cũng không chuyển đổi thật tướng các pháp,
vì sao? Vì Như, pháp tính, thật tế không thể chuyển đổi,
sao vậy? Vì tính các pháp không có.
Tu
Bồ Đề bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, nếu pháp
tính, như, thật tế không chuyển đổi, vậy sắc với pháp
tính khác nhau chăng? Sắc với như, thật tế khác nhau chăng?
Thọ, tưởng, hành, thức cho đến pháp hữu vi, vô vi, thế
gian, xuất thế gian, hữu lậu, vô lậu khác nhau chăng?
Phật
dạy: Không khác. Sắc không khác, pháp tính không khác; như
không khác, thật tế không khác; thọ, tưởng, hành, thức
cho đến pháp hữu lậu, vô lậu cũng không khác.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu sắc không
khác, pháp tính không khác; như không khác, thật tế không
khác; thọ, tưởng, hành, thức cho đến hữu lậu, vô lậu
không khác, thời làm sao phân biệt hắc nghiệp có hắc báo,
là quả báo địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ; bạch nghiệp có
bạch báo, là quả báo sinh cõi trời, cõi người; hắc bạch
nghiệp có hắc bạch báo, nghiệp chẳng hắc chẳng bạch có
quả báo chẳng hắc chẳng bạch, đó là quả Tu đà hoàn cho
đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Theo thế đế nên phân biệt nói có quả
báo, chẳng phải theo đệ nhất nghĩa. Trong đệ nhất nghĩa
đế không thể nói nhân duyên quả báo, vì sao? Vì đệ nhất
nghĩa đế thật không có tướng, không có phân biệt, cũng
không có ngôn thuyết, gọi là sắc cho đến pháp hữu lậu,
vô lậu; tướng chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng nhơ, chẳng
sạch, vì rốt ráo không, vô thỉ không.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn, nếu vì theo thế
đế nên phân biệt nói có quả báo, chẳng phải theo đệ
nhất nghĩa đế, thời hết thảy phàm phu lẽ đáng có quả
Tu đà hoàn cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ sao, người phàm phu có biết đó
là thế đế, đó là đệ nhất nghĩa đế chăng? Nếu biết,
người phàm phu ấy lẽ đáng là quả Tu đà hoàn cho đến
Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Này Tu Bồ Đề, vì người
phàm phu thật không biết thế đế, không biết đệ nhất
nghĩa đế, không biết đạo, không biết phân biệt đạo quả,
làm sao họ có các quả được? Này Tu Bồ Đề, thánh nhân
biết thế đế, biết đệ nhất nghĩa đế, có đạo, có tu
đạo, vì thế nên thánh nhân có các quả sai khác.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Tu đạo được quả chăng?
Phật
dạy: không được. Tu đạo không được quả, không tu đạo
cũng không được quả, cũng không lìa đạo được quả, cũng
không trú ở trong đạo được quả. Như vậy, Bồ Tát khi
hành Bát nhã ba la mật, vì chúng sinh nên phân biệt quả và
cũng không phân biệt đó là tính hữu vi, tính vô vi.
Bạch
đức Thế Tôn, nếu không phân biệt tính hữu vi, tính vô
vi mà được các quả, cớ sao Thế Tôn nói dứt hết ba kiết
gọi là Tu đà hoàn; dâm nộ si mỏng gọi là Tư đà hàm; dứt
hết năm hạ phần kiết gọi là A na hàm; dứt hết năm thượng
phần kiết gọi là A la hán? Biết pháp có tập hợp đều
có tướng tán diệt gọi là đạo Bích chi Phật, dứt hết
thảy phiền não và tập khí gọi là Vô thượng chánh đẳng
chánh giác? Bạch dức Thế Tôn, Con làm sao biết không phân
biệt tính hữu vi, tính vô vi mà được các đạo quả?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ông cho quả Tu đà hoàn, quả Tư đà hàm
cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác, các quả ấy là
hữu vi, là vô vi chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Đều là vô vi.
Này
Tu Bồ Đề: Trong pháp vô vi có phân biệt chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn.
Này
Tu Bồ Đề, nếu người thiện nam, kẻ thiện nữ thông suốt
hết thảy pháp hoặc hữu vi, hoặc vô vi đều là một tướng,
tức vô tướng, khi ấy còn có phân biệt hoặc hữu vi, hoặc
vô vi chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn.
Này
Tu Bồ Đề, như vậy, Bồ Tát vì chúng sinh thuyết pháp, không
phân biệt các pháp, vì nội không cho đến vô pháp hữu pháp
không. Bồ Tát ấy tự mình được pháp không có chấp trước,
cũng dạy người khiến được pháp không có chấp trước,
hoặc Thí Ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật, hoặc sơ thiền
cho đến đệ tứ thiền, hoặc từ, bi, hỉ, xả cho đến Phi
hữu tưởng Phi vô tưởng xứ, hoặc bốn niệm xứ cho đến
trí Nhất thiết chủng. Bồ Tát ấy tự mình không chấp trước,
cũng dạy người không chấp trước, vì không chấp trước
nên không chướng ngại gì. Thí như người của Phật biến
hóa làm việc bố thí, cũng không lãnh thọ quả báo bố thí,
chỉ vì chúng sinh cho đến tu trí Nhất thiết chủng cũng không
lãnh thọ quả báo của trí Nhất thiết chủng. Bồ Tát cũng
như vậy, hành sáu Ba la mật cho đến hết thảy pháp mà không
trú pháp hữu lậu, vô lậu, hữu vi, vô vi, cũng không thọ
báo, mà chỉ vì độ chúng sinh, vì sao? Vì Bồ Tát ấy khéo
thông đạt thật tướng các pháp.
Luận:
Hỏi: Tám mươi vẻ đẹp tùy hình là pháp trang nghiêm thân,
cớ sao ở trong thai "thức biết đầy đủ" lại là một ở
trong các vẻ đẹp tùy hình?
Đáp:
Thức ấy là thức do quả báo sinh, đối với thế gian tốt
hay xấu tự nhiên biết được. Còn thức của người phàm
phu không đầy đủ, nên phải học theo cách người khác mới
biết được. Phật ở trong thai một năm đầy đủ, sung mãn
mới sinh, nên thân và thức đều đầy đủ. Những người
khác hoặc tám tháng, hoặc chín tháng ở trong thai, nói chung
là mười tháng. Bồ Tát ở trong thai mười tháng nói chung
là được một năm thời thân căn đầy đủ; thức do quả
báo sinh cũng đầy đủ.
Hỏi:
Chỗ chân đúng yên với chỗ ở yên sai khác thế nào?
Đáp:
Chỗ ở yên là như kẻ dũng sĩ tại gia cầm chặt gậy gộc,
ở yên một chỗ, không thể lay động. Lại khi xuất gia, ma
dân, ác quỷ không thể làm chuyển động mà lùi bỏ.
Nghĩa
của 42 mẫu chữ như trong Đại thừa có nói. Một mẫu chữ
vào hết trong các mẫu chữ; thí như 2 số 1 hợp lại làm
2, 3 số 1 hợp lại làm 3; 4 số 1 hợp lại làm 4; như vậy
cho đến ngàn, vạn. Lại như chữ A là định; A biến thành
La, cũng biến thành Ba; như vậy đều vào trong 42 mẫu chữ,
42 mẫu chữ vào trong một mẫu chữ là, 42 mẫu chữ đều
có phần chữ A, phần chữ A lại vào trong chữ A. Khéo biết
chữ nên khéo biết tên các pháp; khéo biết tên các pháp nên
khéo biết nghĩa các pháp. Không có mẫu chữ tức là nghĩa
thật tướng của các pháp, vì sao? Vì trong nghĩa của các
pháp, các pháp không có danh tự.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu các pháp rốt ráo không, không có danh tự,
làm sao Bồ Tát trú trong sáu thần thông do quả báo sinh mà
vì chúng sinh thuyết pháp? Nếu rốt ráo không có chúng sinh
thời không có pháp? Phật chấp thuận lời Tu Bồ Đề nói:
Như vậy, như vậy. Vì mười tám không, nên hết thảy pháp
không thể có được. Ngã và chúng sinh, cho đến kẻ biết
kẻ thấy, cho đến nên biết Phật, Bồ Tát cũng đều không.
Biết như vậy rồi mà vì chúng sinh thuyết pháp không ấy.
Nếu chúng sinh là thật có mà vì họ thuyết không thời không
thể được; vì chúng sinh không, nhưng do điên đảo thành
có. Thế nên Bồ Tát không bỏ mất không mà vì chúng sinh
thuyết pháp. Không bỏ mất tức là không làm cho các pháp
đều không, còn pháp được nói chẳng không. Nếu cho pháp
được nói chẳng không thời là làm mất tướng không. Nếu
miệng nói không mà tâm là có, cũng là bỏ mất không. Trong
đây Phật tự nói: Tướng pháp không hai, không hư hoại. Muốn
rõ ràng việc ấy nên Phật nêu thí dụ: Như người do Phật
biến hóa, biến làm nhiều người, vì chúng sinh thuyết pháp,
hoặc thuyết về công đức trì giới, bố thí. Phương tiện
thuyết pháp như vậy không có lỗi, mà có thể kéo chúng sinh
ra khỏi điên đảo, vì pháp không trói không mở. Trong đệ
nhất nghĩa đế không trói không mở, trong thế đế nên có
trói có mở. Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Sác không
trói không mở, vì sao? Vì trong không trói không mở ấy không
có sắc tướng, cho đến thức cũng như vậy. Bồ Tát dùng
pháp chẳng trú như vậy nên trú trong không pháp, vì chúng
sinh thuyết pháp. Chúng sinh không thể có được, vì chúng
sinh và hết thảy pháp không thể có được. Trong đây Phật
tự nói nhân duyên: Pháp không có sở hữu, không trú trong
pháp không có sở hữu, thí như hư không, không trú nơi hư
không; tự tính pháp, không trú nơi tự tính pháp; thí như
lửa không trú nơi lửa, pháp tha tính không trú nơi pháp tha
tính; thí như trong tính nước không có tính lửa; lại vì
tha tính bất định. Nếu thanh tịnh thuyết pháp được như
vậy thời Bồ Tát ấy đối với chư Phật, thánh hiền không
có lỗi, vì sao? Vì chư Phật, thánh hiền không nhiễm trước
pháp, người thí pháp cũng không nhiễm trước pháp; chư Phật,
thánh hiền vì rốt ráo không, lấy tướng tịch diệt làm
sở hành của tâm, người thuyết pháp cũng như vậy. Chư Phật,
thánh hiền vào ba môn giải thoát, được thật tính các pháp,
đó là Vô dư Niết bàn, người thuyết pháp theo pháp ấy nên
không có lỗi. Trong đây Phật tự nói nhân duyên: Chư Phật,
hiền thánh được pháp ấy rồi, vì chúng sinh thuyết pháp,
không làm chuyển đổi pháp tính, vì pháp tính không, vô tướng.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Nếu không chuyển đổi pháp tính, thời
sắc cùng với pháp tính khác nhau chăng?
Phật
dạy: Không, vì sao? Vì thật tướng của sắc tức là pháp
tính. Ý Phật muốn nói, khi Bồ Tát thuyết pháp cũng không
phá hoại pháp tính.
Tu
Bồ Đề hỏi: Sắc v.v... cùng với pháp tính không khác, cớ
gì chỉ quý pháp tính? Vì Phật đáp sắc không khác pháp tính
nên Tu Bồ Đề nạn hỏi: Nếu không khác thời làm sao phân
biệt có thiện, ác, trắng, đen, quả Tu đà hoàn v.v..?
Phật
dạy: Sắc v.v... tuy không lìa pháp tính, song vì theo thế đế
nên có phân biệt, còn ở trong đệ nhất nghĩa đế không
có phân biệt, vì sao? Vì thánh nhân được đệ nhất nghĩa
đế, không có phân biệt gì, nghe nói có sở đắc không mừng,
nghe không có sở đắc không lo, vì chứng được pháp vô tướng,
nên cho đến mảy may pháp còn không thủ tướng, huống gì
phân biệt có thiện, ác. Người chưa chứng đắc thật tướng,
vì muốn đệ nhất nghĩa đế nên có chỗ phân biệt. Trong
đây tự nói nhân duyên: Pháp ấy không có ngôn thuyết, cũng
không sinh diệt, nhơ sạch; nghĩa là rốt ráo không, vô thỉ
không.
Hỏi:
Cớ gì trong đây chỉ nói hai không gọi là pháp?
Đáp:
Hết thảy có, hoặc pháp, hoặc chúng sinh, nếu nói rốt ráo
không thời là phá pháp; nếu nói vô thỉ không thời phá chúng
sinh. Phá hai pháp ấy rồi thời phá hết tất cả pháp. Trong
đây Bồ Tát vì chúng sinh thuyết pháp cho nên dùng hai không
để phá pháp và phá chúng sinh; tuy còn có các không khác nhưng
không sâu sắc, rốt ráo bằng rốt ráo không. Các không khác
như lửa đốt cây, còn lại than tro; rốt ráo không thời không
có tro, không có than. Có người nói: Hoặc nói đủ mười
tám không, không có lỗi, vì lược nói nên nói hai không.
Tu
Bồ Đề thưa: Nếu theo thế đế nên phân biệt có thiện
ác, trắng đen và các quả báo, còn theo đệ nhất nghĩa đế
thời người phàm phu lẽ đáng có thánh quả Tu đà hoàn v.v...
vì sao? Vì nếu trong thế đế hư vọng phân biệt có các hiền
thánh, còn trong đệ nhất nghĩa đế lý đáng phàm phu làm
hiền thánh. Tu Bồ Đề phân biệt thật tướng nói phàm phu
khác, còn Phật nói đệ nhất nghĩa nhất tướng, nên Tu Bồ
Đề nói lý đáng phàm phu là bậc thánh.
Phật
đáp: Nếu phàm phu phân biệt, biết đó là đệ nhất nghĩa
đế, đó là thế đế, thời lẽ đáng phàm phu có các quả
thánh. Vì phàm phu thật không biết đạo, không biết phân
biệt đạo, không biết hành đạo, tu đạo, huống gì được
đạo quả! Phật nói bậc thánh có thể phân biệt nên nói
bậc thánh có thánh quả.
Bấy
giờ Tu Bồ Đề tự biết có lỗi, nên nói: Trong tính vô lượng,
vô tướng, vô động, làm sao thủ tướng, muốn lường pháp
vô lượng; làm sao cưỡng cho phàm phu là thánh quả? Nên lãnh
thọ lời Phật. Biết người hành đạo mới đắc quả, người
không hành đạo không đắc quả; thế nên hỏi Phật: Tu đạo
đắc quả chăng? Phật đáp không.
Lại
hỏi: Trên kia Phật phân biệt nói tu đạo đắc quả, sao nay
nói không? Phật đáp: Trên kia nói chẳng phải tâm chấp trước,
nay vì Tu Bồ Đề đem tâm chấp trước mà hỏi, muốn từ
đạo phát xuất quả, như từ mè ép ra dầu; nếu như vậy
đạo với quả đồng hư dối. Thế nên Phật đều đáp không.
Người nghe sinh tâm nghĩ rằng: Nếu tu không được, vậy không
tu lý đáng được?
Phật
dạy: Tu còn không được, huống không tu! Thí như hai người
muốn đi đến, một người đứng yên không đi, một n lạc
đường, cả hai đều không thể đến. Nếu không tu đạo
còn không có được chút ít cái vui nhiếp tâm, huống gì đạo
quả! Nếu tâm thủ tướng mà tu đạo, tuy có cái vui nhiếp
tâm thiền định mà không có đạo quả. Nếu tâm không thủ
tướng tu đạo thời có đạo quả. Thế nên Phật nói: Bồ
Tát hành Bát nhã ba la mật không phân biệt tính hữu vi, vô
vi, nên có đạo quả sai khác.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu như vậy, cớ gì Phật nói dứt ba kiết
sử được Tu đà hoàn, có các phân biệt như vậy?
Phật
hỏi ngược lại rằng: Ý ông nghĩ sao, ông cho quả Tu đà
hoàn là hữu vi, là vô vi chăng?
Tu
Bồ Đề đáp: Là vô vi.
Phật
dạy: Nếu như vậy, trong vô vi có sai khác chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Thưa không, bạch Thế Tôn.
Phật
dạy: Nếu không có phân biệt, cớ gì ông nạn hỏi? Phật
lại hỏi Tu Bồ Đề: Nếu người thiện nam, kẻ thiện nữ
thông suốt hết thảy pháp một tướng, tức là vô tướng,
ở trong ba môn giải thoát, khi chứng Niết bàn, khi ấy có
pháp để phân biệt hoặc hữu vi, hoặc vô vi chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Không.
Ý
Phật là, chỉ tâm khi ấy là chơn thật, khi khác đều hư
dối, cớ sao ông vấn nạn? Bồ Tát hành Bát nhã ba la mật
không phân biệt hết thảy pháp, ở trong các pháp không, nội
không v.v... rất thanh tịnh, tự mình không chấp trước, cũng
dạy chúng sinh không chấp trước; nghĩa là dạy bố thí cho
đến trí Nhất thiết chủng, trong đạo Bồ Tát đều dạy
người khiến không chấp trước. Thí như người của Phật
biến hóa làm việc bố thí, cũng không phân biệt bố thí,
không lãnh thọ quả báo bố thí, chỉ vì độ chúng sinh. Tâm
Bồ Tát cũng như vậy, vì sao? Vì khéo thông suốt các pháp
tính. Khéo thông suốt là không thủ tướng pháp tính, cũng
không trú trong pháp tính, ở trong pháp tính không nghi, không
hối mà thuyết pháp, không ngăn, không trở, không ngại, thế
là thông suốt pháp tính.