Tập
5
Cuốn
92
Giải
Thích: Phẩm Tịnh Phật Quốc Độ Thứ 82
(Kinh
Ma ha Bát nhã ghi: Phầm Tịnh Phật Quốc
Kinh
Đại Bát nhã hội thứ 2 ghi: Phẩm Đạo Sĩ thứ 80)
Kinh:
Bấy giờ Tu Bồ Đề suy nghĩ: Thế nào là đạo Bồ Tát?
Bồ Tát trú trong đạo ấy như vậy có thể phát đại thệ
nguyện trang nghiêm?
Phật
biết ý nghĩ của Tu Bồ Đề, bảo Tu Bồ Đề: Sáu Ba
la mật mà đạo Bồ Tát; ba mươi bảy pháp trợ đạo là đạo
Bồ Tát; mười tám không, là đạo Bồ Tát; tám bội xả,
định chín thứ lớp, mười lực của Phật cho đến mười
tám pháp không chung, là đạo Bồ Tát. Hết thảy pháp
cũng là đạo Bồ Tát. Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao,
vả chăng có pháp Bồ Tát không học mà có thể được Vô
thượng chánh đẳng chánh giác chăng? Này Tu Bồ
Đề, không có pháp Bồ Tát không nên học, vì sao? Vì
Bồ Tát không học hết thảy pháp thời không được trí Nhất
thiết chủng.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu hết thảy
pháp đều không, thời vì sao nói Bồ Tát học hết thảy pháp?
Như vậy há ở trong chỗ không có Thế Tôn, không có hý luận
thành ra có hý luận chăng? Nghĩa rằng hý luận cho là
đây, là kia, là pháp thế gian, là pháp xuất thế gian, là
pháp hữu lậu, là pháp vô lậu, là pháp hữu vi, là pháp vô
vi, là pháp phàm phu, là pháp A la hán, là pháp Bích chi Phật,
là pháp Phật.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Như vậy, như vậy. Hết thảy
pháp thật không; nếu hết thảy pháp chẳng không, thời Bồ
Tát không thể được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Nay hết thảy pháp thật không, nên Bồ Tát có thể được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Này Tu Bồ Đề, như
lời ông nói, nếu hết thảy pháp không, há không phải ở
trong chỗ không có hý luận. Thế Tôn khởi lên hý luận phân
biệt có kia có đây, có pháp thế gian, pháp xuất thế gian
cho đến pháp Phật. Này Tu Bồ Đề, nếu chúng sinh biết
hết thảy pháp không, thời Bồ Tát không học hết thảy pháp
mà được trí Nhất thiết chủng. Nay chúng sinh thật
không biết hết thảy pháp không, vì thế nên Bồ Tát được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi, phân biệt các pháp,
vì chúng sinh mà giảng nói. Này Tu Bồ Đề, ở trong đạo
Bồ Tát ấy, từ khi mới phát tâm lại dây, đối với tính
nhất định của hết thảy pháp không thể có được, chỉ
vì nhân duyên hòa hợp khởi lên nên có danh từ các pháp.
Ta nên suy nghĩ như vầy: Các pháp thật tính không dính
mắc gì, như tính sáu Ba la mật hoặc ba mươi bảy pháp trợ
đạo, hoặc quả Tu đà hoàn cho đến quả A la hán, đạo Bích
chi Phật, Vô thượng chánh đẳng chánh giác, vì sao? Vì
hết thảy pháp, hết thảy pháp tính không, không chẳng dính
mắc không, không cũng không thể có được, huống gì trong
không có dính mắc? Bồ Tát suy nghĩ như vậy nên không
chấp trước hết thảy pháp mà học hết thảy pháp, ở trong
sự học ấy quán tâm hành của chúng sinh, biết tâm ấy hành
ở chỗ nào. Biết chúng sinh hành ở trong hư vọng không
thật, khi ấy Bồ Tát nghĩ rằng: Chúng sinh ấy chấp
trước pháp hư vọng không thật nên dễ độ thoát.
Bồ Tát trú trong Bát nhã , dùng sức phương tiện giáo hóa
như vầy: Chúng sinh các ngươi nên hành bố thí, có thể
được giàu của cải, cũng chớ ỷ thị quả báo bố thí
mà tự cao, vì sao? Vì trong dó không có pháp chắc thật;
trì giới, thiền định, trí tuệ cũng như vậy. Chúng
sinh hành pháp ấy có thể được quả Tu đà hoàn cho đến
quả A la hán, đạo Bích chi Phật, Phật đạo; chớ nghĩ rằng
có pháp ấy giáo hóa như vậy hành đạo Bồ Tát mà không
vướng mắc gì, vì trong ấy không có gì chắc thật.
Nếu giáo hóa được như vậy gọi là hành đạo Bồ Tát,
vì đối với các pháp không dính mắc gì, vì sao?
Tướng các pháp không dính mắc, vì tự tính không có, vì
tính không. Này Tu Bồ Đề, khi hành đạo Bồ Tát như
vậy không trú chỗ nào. Bồ Tát vì không trú pháp nên
cũng không trú trong ấy hành Giới Ba la mật, cho đến cũng
không trú trong ấy hành Bát nhã ba la mật; hành sơ thiền cũng
không trú trong ấy, vì sao? Vì so thiền ấy, tướng
sơ thiền không, người hành thiền cũng không, pháp dùng để
hành thiền cũng không; đệ nhị, đệ tam, đệ tứ thiền
cũng như vậy; từ, bi, hỷ, xả cho đến định chín thứ lớp
cũng như vậy. Được quả Tu Đà hoàn cũng không trú
trong ấy, cho đến được đạo Bích chi Phật cũng không trú
trong ấy.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, do nhân duyên
gì nên không trú trong ấy?
Phật
dạy: có hai nhân duyên nên không trú trong ấy. Những
gì là hai? Một là các đạo quả tính không, không có
chỗ trú, cũng không có pháp sở dụng, cũng không có người
trú; hai là không cho chút ít việc là đủ nên không trú, nghĩ
rằng: Ta không nên không được quả Tu đà hoàn, ta chắc
chắn nên được quả Tu đà hoàn, chỉ ta không nên trú trong
ấy; cho đến đạo Bích chi Phật ta chẳng nên không được,
ta chắc chắn nên sẽ được, chỉ ta không nên trú trong ấy,
cho đến được Vô thượng chánh đẳng chánh giác cũng không
nên trú, vì sao? Vì từ khi ta mới phát tâm lại đây
không có tâm gì khác, chỉ nhất tâm hướng đến Vô thượng
chánh đẳng chánh giác. Bồ Tát nhất tâm hướng đến
Vô thượng chánh đẳng chánh giác, xa lìa các tâm khác; gây
nghiệp thân, miệng, ý đều nên hướng đến Vô thượng chánh
đẳng chánh giác. Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát trú vào nhất
tâm ấy có thể phát sinh đạo giác ngộ.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu hết thảy
pháp chẳng sinh, làm sao Bồ Tát có thể phát sinh đạo giác
ngộ?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Như vậy, như vậy, hết thảy pháp
không sinh. Vì sao không sinh? Vì không có gì làm,
không có gì khởi, vì hết thảy pháp chẳng sinh.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, có Phật hay
không có Phật thời thật tướng các pháp vẫn thường trú
ư?
Phật
dạy: Như vậy, như vậy. Thật tướng các pháp thường
trú, vì chúng sinh chẳng biết thật tướng các pháp thường
trú nên Bồ Tát vì chúng sinh mà phát sinh đạo giác ngộ,
dùng đạo ấy kéo chúng sinh ra khỏi sinh tử.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, dùng đạo
sinh được giác ngộ ư?
Phật
dạy: không được.
Bạch
đức Thế Tôn, dùng đạo không sinh được giác ngộ ư?
Phật
dạy: Không được.
Bạch
đức Thế Tôn, dùng đạo không sinh chẳng phải không sinh
được giác ngộ chăng?
Phật
dạy: không được.
Bạch
đức Thế Tôn, làm thế nào được giác ngộ?
Phật
dạy: Chẳng phải dùng đạo được giác ngộ, cũng chẳng
phải dùng chẳng phải đạo được giác ngộ, vì tính giác
ngộ tức là đạo, đạo tức là giác ngộ.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu giác ngộ
tức là đạo, đạo tức là giác ngộ, nay đây Bồ Tát khi
chưa làm Phật lẽ đáng được Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, cớ sao nói các đấng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến
tri có 32 tướng, 80 vẻ đẹp tùy hình, mười lực, bốn điều
không sợ, bốn trí không ngại, mười tám pháp không chung,
đại từ đại bi?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ sao, Phật được giác
ngộ chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Phật không được giác ngộ, vì
sao? Vì Phật tức là giác ngộ, giác ngộ tức là Phật.
Như
lời Tu Bồ Đề hỏi, khi còn Bồ Tát không nên được giác
ngộ. Bồ Tát ấy đầy đủ sáu Ba la mật, ba mươi bảy
pháp trợ đạo, mười lực của Phật, bốn điều không sợ,
bốn trí không ngại, mười tám pháp không chung, tam muội Kim
Cang, một niệm tương ưng với tuệ mới được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, khi ấy gọi là Phật, được tự tại
đối với hết thảy pháp.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, làm sao Bồ
Tát nghiêm tịnh cõi Phật?
Phật
dạy: Bồ Tát từ khi mới phát tâm trở lại đây tự
trừ nghiệp thô nơi thân, tự trừ nghiệp thô nơi miệng,
tự trừ nghiệp thô nơi ý, cũng làm thanh tịnh nghiệp thô
nơi thân, miệng, ý của người khác.
Bạch
đức Thế Tôn, thế nào là nghiệp thô nơi thân, miệng, ý
của Bồ Tát?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Nghiệp bất thiện: Hoặc sát
sinh cho đến tà kiến là nghiệp thô nơi thân, miệng ý của
Bồ Tát.
*Lại
nữa, giới không thanh tịnh là nghiệp thô nơi thân, miệng
của Bồ Tát.
*Lại
nữa, nếu Bồ Tát xa lìa bốn niệm xứ mà tu hành, gọi là
nghiệp thô của Bồ Tát; xa lìa bốn chánh cần, bốn như ý
túc, năm căn, năm lực, bảy giác phần, tám phần thánh đạo,
tam muội Không, Vô tướng, Vô tác cũng là nghiệp thô của
Bồ Tát.
*Lại
nữa, Bồ Tát tham chứng quả Tu Đà hoàn cho đến tham chứng
quả A la hán, đạo Bích chi Phật là nghiệp thô của Bồ Tát.
Luận:
Từ trước lại đây Tu Bồ Đề thường hỏi về pháp không.
Bấy giờ trong hội chúng nghi: Tu Bồ Đề đã thể ngộ
pháp tịch tịnh không hý luận, cớ sao còn hỏi nhiều?
Vì thế nên không hỏi mà chỉ tâm niệm.
*Lại
nữa, có những Bồ Tát và chư thiên vào sâu thiền định,
không ưa ngôn ngữ mà chỉ muốn được ích lợi của pháp,
thế nên Tu Bồ Đề không phát ngôn mà chỉ tâm niệm.
Hỏi:
Vì sao Tu Bồ Đề tuy không nói mà Thế Tôn vẫn dùng lời
đáp?
Đáp:
Sắc thân của Phật trông thấy không nhàm chán; thấy sắc
không nhàm chán, nghe âm thanh cũng như vậy, nên tuy nói mà
không chướng ngại hạnh thiền định vi tế; thế nên Phật
dùng lời để đáp.
*Lại
nữa, Phật an lập nơi tướng tịch diệt, trú trong Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, không phân biệt hết thảy pháp hoặc
thiện hoặc bất thiện. Chúng sinh có nghi mà hỏi,
Phật theo chỗ hỏi, chỗ suy nghĩ mà đáp, vì thế nên không
giống với Tu Bồ Đề. Tu Bồ Đề nghe sáu Ba la mật
nghĩa lý rất sâu, không thể nắm bắt được bờ mé của
nó, nên hỏi: Thế nào là đạo Bồ Tát mà hành đạo
ấy được thanh tịnh, k có chỗ đắm trước các thiện pháp,
sáu Ba la mật trang nghiêm? Phật biết ý Tu Bồ Đề nghĩ
nên đối với Tu Bồ Đề tuy lợi ích ít mà vì lợi ích cho
các Bồ Tát nên đáp: Sáu Ba la mật là đạo Bồ Tát.
Sáu Ba la mật là đạo của Bồ Tát mới phát tâm; tiếp đến
hành bốn thiền, tám bội xả, định chín thứ lớp và ba
mươi bảy pháp trợ đạo, chỉ cầu Niết bàn; hành mười
tám không, mười lực của Phật, là các thiện pháp vi tế,
chỉ vì cầu Phật đạo. Sáo đạo Ba la mật phần nhiều
vì chúng sinh mà nói; ba mươi bảy pháp trợ đạo chỉ vì
cầu Niết bàn; mười tám không, từ Niết bàn xuất ra, là
đạo vượt quá địa vị Thanh văn, Bích chi Phật mà vào Bồ
Tát vị. Ba đạo ấy đều là sở hành của sinh
thân Bồ Tát; vì không thấy các pháp có tốt xấu mà an lập
tướng bình đẳng của các pháp. Trong Kinh này Phật tự
nói nhân duyên: Bồ Tát nên học hết thảy, nếu có một
pháp không học thời không thể được trí Nhất thiết chủng.
Học hết thảy pháp là dùng hết thảy pháp môn, suy nghĩ,
trù lượng, tu quán mà được thông suốt.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Nếu hết thảy pháp một tướng
đó là không tướng thời Bồ Tát làm thế nào học hết thảy
pháp mà bèn ở trong Không có hý luận khởi lên hý luận?
Nghĩa là cho rằng có pháp này pháp kia!
Lược
nói tướng hý luận là đây đông kia tây, đây trên kia dưới,
là thường là vô thường, là thật là không, là thế gian
là xuất thế gian, cho đến là pháp nhị thừa, là pháp Phật.
Phật
hứa khả lời Tu Bồ Đề rằng: Hết thảy pháp tướng
không; nếu pháp thật có định tướng chẳng không tức là
không sinh không diệt; không diệt nên không có bốn đế; không
có bốn đế nên không có Phật, Pháp, Tăng bảo; như vậy,
Tam bảo đều bị phá hoại. Nay các pháp thật không có,
cho đến tướng không, cũng không có, chỉ do chúng sinh ngu
si điên đảo nên chấp trước. Thế nên đối với chúng
sinh, Bồ Tát khởi tâm thương xót, muốn kéo ra khỏi chấp
trước nên cầu sức thân Phật; muốn làm cho chúng sinh tin
chịu lời kia để bỏ điên đảo, ngộ vào thật tướng.
Thế nên Bồ Tát tuy biết các pháp không, mà vì lợi ích chúng
sinh nên phân biệt nói. Nếu chúng sinh tự biết các pháp
không, thời Bồ Tát chỉ tự trú trong tướng không ấy, không
cần học phân biệt hết thảy pháp.
Bồ
Tát khi hành đạo Bồ Tát, từ khi mới phát tâm trở lại
đây suy nghĩ như vầy: Hết thảy pháp không có tính
nhất định, chỉ do nhân duyên hòa hợp nên sinh khởi; các
nhân duyên ấy cũng mỗi mỗi do hòa hợp sinh cho đến rốt
ráo không. Rốt ráo không chỉ là một pháp thật, ngoài
ra đều không có tự tính nên đều hư dối. Ta từ vô thỉ
lại đây chấp đắm pháp hư dối ấy chán việc thọ khổ
não trong sáu đường. Ta nay là con của chư Phật trong
mười phương ba đời, Bát nhã là mẹ ta, nay ta không nên trở
lại đeo đuổi pháp hư vọng. Do vậy, Bồ Tát cho đến
đối với rốt ráo không cũng không dính mắc, huống gì các
pháp khác như Thí Ba la mật...
Bấy
giờ Bồ Tát đầy đủ đạo Bồ Tát, tâm kia an ổn, tự nghĩ
rằng: Ta chỉ dứt tâm chấp trước, còn đạo tự nhiên
đến. Biết pháp ấy rồi nghĩ đến chúng sinh đang nhiễm
trước thế gian mà rốt ráo không cũng không, không có tự
tính, không có chỗ ở, nên chúng sinh ấy khó có thể tin chịu.
Vì khiến chúng sinh tin chịu pháp ấy nên học hết thảy pháp,
tu hành pháp phương tiện độ chúng sinh, quán tâm hành của
chúng sinh đi về đâu, biết nó ưa pháp gì, nghĩ việc gì,
có chí nguyện gì. Khi quán sát biết chỗ chấp trước
của chúng sinh đều là hư vọng điên đảo, do ức tưởng
phân biệt nên chấp trước chứ không có căn bản chắc thật.
Bấy giờ Bồ Tát rất hoan hỷ, nghĩ rằng: chúng sinh
dễ độ, vì sao? Vì chỗ đắm trước của chúng sinh
đều là hư dối không thật, thí như người có một đứa
con ưa giỡn chơi trong chỗ bất tịnh, nhóm đấy làm lúa,
lấy cây cỏ làm chim thú mà sinh ra ưa đắm; bị có người
giựt lấy liền nổi giận khóc la. Cha nó biết vậy rồi,
nghĩ rằng: Đứa con ấy nay tuy ưa đắm nhưng việc ấy
dễ bỏ, đến khi khôn lớn nó tự bỏ, vì sao? Vì vật
ấy không chân thật. Bồ Tát cũng như vậy, xem thấy
chúng sinh ưa đắm thân bất tịnh hôi hám, và năm dục là
pháp vô thường, nguyên nhân của các khổ; biết chúng sinh
ấy tuy có được năm thiện căn tín, tân, niệm, định, tuệ
thành tựu liền có thể xả bỏ. Nếu trẻ nhỏ đắm
trước vật cho là thật thời tuy lớn đến trăm tuổi, lòng
tham đắm càng sâu không thể xả bỏ. Nếu chúng
sinh chấp trước vật cho là thật có nhất định thời tuy
có được năm thiện căn song lòng chấp trước vẫn càng sâu
nặng, cũng không thể xa lìa. Vì các pháp tính không,
hư dối không thật, nên khi được mắt tuệ vô lậu thanh
tịnh, xa lìa pháp chấp trước, lớn lên tự biết hổ thẹn.
Thí như người bị bệnh cuồng làm điều sai trái, sau khi
tỉnh ngộ thấy mất mặt xấu hổ.
Bồ
Tát đã biết chúng sinh dễ độ nên an trú trong Bát nhã, dùng
sức phương tiện giáo hóa chúng sinh rằng: các ông hãy
nên bố thí, sẽ được của nhiều, chớ ỷ thị quả báo
bố thí mà tự cao ngạo. Trong đây không có gì chắc
thật, đều sẽ bị phá hoại, với khi chưa bố thí không
khác nhau. Trì giới, nhẫn nhục cho đến mười tám pháp
không chung, cũng như vậy. Các pháp ấy tuy thanh tịnh,
có ích rất lớn, nhưng đều là pháp hữu vi, do nhân duyên
sinh, không có tự tính, các ông nếu đắm trước pháp ấy
thời sinh ra khổ não; thí như thỏi vàng nóng bỏng, tuy là
vật báu mà nắm đến thời cháy tay. Như vậy, Bồ Tát
giáo hóa chúng sinh, hành đạo Bồ Tát, tự mình không chấp
trước gì, cũng dạy chúng sinh không chấp trước; vì tâm
không chấp trước hành bố thí nên không trú trong bố thí.
Không trú là khi bố thí không chấp thủ ba tướng, cũng không
chấp trước quả báo mà tự cao, sinh ra nghiệp tội, khi quả
báo diệt hoại cũng không sinh ưu não. Giới Ba la mật
cho đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác cũng như vậy.
Trong đây Phật tự nói nhân duyên không trú: Một
là Bồ Tát vào sâu tính không, không thấy các pháp có tự
tính nên không trú; hai là không cho việc nhỏ là đủ không
nên trú. Bồ Tát không có tâm khác, chỉ một mặt hướng
đến việc phát sinh đạo giác ngộ. (trang 461)
Tu
Bồ Đề bạch Phật: nếu hết thảy pháp không sinh thời
Bồ Tát làm thế nào có thể phát sinh đạo giác ngộ?
Phật
hứa khả ý Tu Bồ Đề và nói: Hết thảy pháp không
sinh, Ta thật đã nhiều nơi nói pháp không sinh, chẳng phải
vì hàng phàm phu nói, mà chỉ vì hàng được vô tác giải
thoát, không khởi ba nghiệp mà nói.
Hỏi:
Phật tự nói có Phật hay không có Phật thời tính của các
pháp vẫn thường trú; như pháp tướng không của các bậc
thánh, phàm phu cũng như vậy?
Đáp:
Phật hứa khả lời nói ấy rằng: Thật tướng các pháp
thường trú, vì chúng sinh không hiểu không biết nên khởi
lên đạo giác ngộ, chỉ vì trừ điên đảo cho phàm phu nên
gọi là đạo. Nếu chắc chắn có đạo có thể chấp
trước thời trở lại là điên đảo. Đạo và chẳng
phải đạo bình đẳng tức là đạo; thế nên không nên vấn
nạn.
Tu
Bồ Đề hỏi: Làm sao có thể được giác ngộ?
Dùng đạo sinh được ư?
Phật
dạy: Không được, vì sao? Vì nhân đạo sinh là
Bồ Tát quán đó là pháp hữu vi sinh diệt nên cho rằng thật,
thế nên đáp không; như trước nói thí dụ thỏi vàng cháy
đỏ. Còn pháp không sinh (tức đạo không sinh) tức là
vô vi, vì pháp vô vi nên cũng không thể dùng để được giác
ngộ. Đạo sinh và đạo không sinh cả hai đều có lỗi,
vậy đạo chẳng phải sinh chẳng phải không sinh được giác
ngộ chăng? - Đáp: Không được.
Hỏi:
Nếu đạo sinh và đạo không sinh đều có lỗi , vậy đạo
chẳng phải sinh chẳng phải không sinh không nên có lỗi, cớ
sao nói không được?
Đáp:
Nếu phân biệt chẳng phải sinh chẳng phải không sinh là tốt,
là xấu, đó là vì thủ tướng sinh chấp trước, nên nói
có lỗi; nếu không chấp trước thời là đạo giác ngộ.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu không do bốn cú được giác
ngộ, vậy làm sao được đạo?
Phật
dạy: Chẳng phải đạo không do chẳng phải đạo được
giác ngộ, vì sao? Vì giác ngộ tức là đạo, đạo tức
là giác ngộ; mà giác ngộ tức là thật tướng các pháp,
là thật tướng của chư Phật chứng ngộ, không có đổi
khác. Hết thảy pháp đều vào trong giác ngộ, là tướng
tịch diệt, như hết thảy nước vào trong biển cả đều
cùng làm một vị. Thế nên Phật nói tính giác ngộ tức
là tính đạo. Nếu tính giác ngộ và tính đạo
khác nhau thời không gọi là giác ngộ, vì tướng tịch diệt,
không có hí luận; thế nên nói giác ngộ tức là đạo, đạo
tức là giác ngộ.
*Lại
nữa, nếu hai pháp ấy khác nhau thời hành đạo không thể
đến giác ngộ, vì nhân quả chẳng phải một chẳng phải
khác.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu như vậy thời Bồ Tát hành đạo
lẽ đáng bèn là Phật, vì sao? Vì đạo tức là giác
ngộ! Lại, Phật lẽ đáng là Bồ Tát, vì sao? Vì
giác ngộ tức là đạo! Nay cớ gì nói có sai khác:
Phật có mười lực, 32 tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình?
Tu
Bồ Đề vì hàng Bồ Tát mới học nên phân biệt nạn hỏi
Phật rằng: Bồ Tát lý đáng tức là Phật, Phật đáp
bằng cách hỏi ngược lại rằng: Phật được giác ngộ
chăng?
Tu
Bồ Đề đáp: Không được, vì sao? Vì giác
ngộ không lìa Phật, Phật không lìa giác ngộ; hai pháp hòa
hợp nên gọi là Phật, là giác ngộ. Thế nên không nên
nạn rằng Bồ Tát tức là Phật. Đây là đáp tướng
chung vậy.
Hỏi:
Phật thuộc chúng sinh hữu tình, giác ngộ thuộc pháp, cớ
sao nói Phật tức là giác ngộ?
Dáp:
Trước tiên có 32 tướng trang nghiêm thân và công đức sáu
Ba la mật trang nghiêm tâm, nhưng không gọi là Phật, mà vì
được giác ngộ nên mới gọi là Phật; thế nên nói Phật
với giác ngộ không khác. Năm uẩn thanh tịnh vi diệu
hòa hợp giả gọi là Phật; pháp tức là năm uẩn, năm uẩn
không lìa giả danh. Giác ngộ tức là thật tướng năm
uẩn; hết thảy pháp đều vào trong giác ngộ; thế nên Phật
tức là giác ngộ, giác ngộ tức là Phật, chỉ vì trong tâm
phàm phu phân biệt nên có sai khác.
Hỏi:
Ông trước luận nghị nói giác ngộ với đạo chẳng một
chẳng khác, còn trong Kinh nói đạo tức là giác ngộ, giác
ngộ tức là đạo; Phật tức là giác ngộ, giác ngộ tức
là Phật, chỉ vì trong tâm phàm phu phân biệt nên có sai khác.
Hỏi:
Ông trước luận nghị nói giác ngộ với đạo chẳng một
chẳng khác, còn trong kinh nói đạo tức là giác ngộ,
giác ngộ tức là đạo; Phật tức là giác ngộ, giác ngộ
tức là Phật?
Đáp:
Một và khác tuy đều chẳng thật, nhung phần nhiều dùng một,
thế nên trong đây nói: Giác ngộ tức là đạo, đạo
tức là giác ngộ, không có gì lỗi. Như hai bên thường
và vô thường, vì thường phần nhiều sinh phiền não nên
ít nhắc đến; vô thường có thể phá phiền não nên nói
đến nhiều, mà khi việc thành tựu vô thường cũng xả bỏ.
Trong đây cũng như vậy, nếu quán các pháp sai khác dễ sinh
tâm chấp trước, nếu quán các pháp một tướng hoặc vô
thường, khổ, không.. thời phiền não không sinh.
Vì tâm chấp trước ít, thế nên phần nhiều dùng một tướng,
còn ở trong thật nghĩa một tướng cũng vô dụng. Nếu
chấp trước một tướng tức lại là tai họa.
*Lại
nữa, vì sai khác không có nên một tướng cũng không thể
có được, vì là tướng đối đãi nhau. Chỉ đem tâm
chấp trước, không chấp thủ một tướng nên nói, không có
gì lỗi; song vì một tướng không thật nên Bồ Tát không
được tức là Phật.
*Lại
nữa, nay Phật lại đáp với Tu Bồ Đề và tự nói nhân duyên:
Giác ngộ tuy là tướng tịch diệt, nhưng Bồ Tát có thể
đầy đủ các công đức Ba la mật, trú trong tam muội kim cương,
do một niệm tương ưng với tuệ mà được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, bấy giờ đối với hết thảy pháp được
tự tại, được gọi là Phật. Bồ Tát tuy biết được
đạo và giác ngộ chẳng khác nhau, nhưng chưa đầy đủ dông
đức nên không gọi là Phật; và Phật đã đầy đủ hạnh
nguyện, mọi việc đã rốt ráo nên không gọi là Bồ Tát.
Người được là Phật, pháp được là giác ngộ, người
cầu giác ngộ là Bồ Tát.
Tu
Bồ Đề theo Phật nghe nói tướng giác ngộ, tướng đạo,
thành tựu tuệ giác cho chúng sinh rồi, nay hỏi Phật việc
nghiêm tịnh cõi Phật. Các A la hán, Bích chi Phật không
có năng lực biết việc nghiêm tịnh cõi Phật cho nên hỏi:
Thế nào là cõi Phật thanh tịnh?
Phật
đáp: Cõi Phật là trăm ức mặt trời mặt trăng, trăm
ức núi Tu di, trăm ức trời Bốn thiên vương; ấy gọi là
thế giới ba ngàn đại thiên. Vô lượng vô biên thế
giới ba ngàn đại thiên như vậy gọi là một cõi Phật. Phật
ở trong đó khi làm Phật sự, thường thường ngày ba thời
đêm ba thời dùng Phật nhãn nhìm khắp chúng sinh xem ai có
thể gieo trồng căn lành, ai căn lành đã thành thục nên làm
cho tăng trưởng, ai căn lành đã thành thục nên đáng được
độ. Thấy rồi dùng sức thần thông theo chỗ thấy mà
giáo hóa. Tâm chúng sinh giong ruỗi theo cảnh bên ngoài:
Nếu được việc hợp ý thời không sinh tâm sân não; nếu
được nhân duyên bất tịnh, vô thường thời không sinh phiền
não tham dục; nếu được nhân duyên pháp không, không có sở
hữu thời không sinh phiền não ngu si. Thế nên Bồ Tát
trang nghiêm cõi Phật là vì làm cho chúng sinh dễ độ:
trong cõi nước không có thiếu thốn gì, vì tâm không có ngã
thời không sinh xan tham, sân giận. Có cõi nước Phật,
hết thảy cây cối thường phát ra pháp âm thật tướng là
không sinh, không diệt, không khởi, không làm, Chúng sinh chỉ
nghe diệu âm ấy, không nghe âm thanh khác, vì chúng sinh lợi
căn nên liền ngộ được thật tướng các pháp. Như
vậy, cõi Phật trang nghiêm gọi là cõi Phật thanh tịnh, như
trong Kinh A di đà nói.
Bồ
Tát từ khi mới phát tâm lại đây tự thanh tịnh nghiệp thô
nơi thân, miệng, ý, cũng dạy người khác thanh tịnh nghiệp
thô nơi thân, miệng, ý.
Hỏi:
Nếu Bồ Tát nghiêm tịnh cõi Phật là Bồ Tát được vô sinh
pháp nhẫn, trú trong Thần thông Ba la mật vậy sau có thể
nghiêm tịnh cõi Phật, nay cớ gì nói từ khi mới phát tâm
lại đây làm thanh tịnh nghiệp thô nơi thân, miệng, ý là
có thể nghiêm tịnh cõi Phật?
Đáp:
Ba nghiệp thanh tịnh chẳng phải chỉ là nghiêm tịnh cõi Phật,
mà hết thảy đạo Bồ Tát đều được thanh tịnh.
Ở đây, trước hết làm thanh tịnh ba nghiệp vậy sau làm
nghiêm tịnh cõi Phật: tự làm thanh tịnh thân mình, cũng
làm thanh tịnh người khác, vì sao? Vì chẳng phải một
người sinh ra ở trong cõi nước, mà đều do nhân duyên nhiều
người hợp lại sinh ra.
Nhân
duyên hợp lại của pháp trong, pháp ngoài hoặc thiện, hoặc
bất thiện là vì nghiệp ác khẩu nhiều nên đất sinh ra gai
goác; vì tâm dua nịnh quanh co nhiều nên đất sinh ra không
bằng phẳng; vì xan tham nhiều nên nước không điều hòa,
đất sinh cát sạn; vì không gây các ác trên nên đất được
bằng phẳng, có nhiều trân ảo. Như lúc đức Phật Di
lặc ra đời, mọi người đều tu mười thiện nên đất có
nhiều trân bảo.
Hỏi:
Nếu nhờ các thiện pháp bố thí... được quả báo cõi Phật
thanh tịnh, cớ gì chỉ nói thanh tịnh ba nghiệp?
Đáp:
Tuy biết các pháp thiện ác là nhân duyên của khổ vui; như
trong hết thảy tâm tâm số pháp, khi được đạo thời tâm
sở trí tuệ là lớn; trong khi nhiếp tâm thời tâm sở định
là lớn; trong khi tạo nghiệp thời tâm sở tư là lớn; có
nghiệp của tâm sở tư ấy rồi thời khởi lên nghiệp của
thân và miệng. Tu bố thí, thiền định... lấy tâm
sở tư làm đầu; thí như may áo lấy kim dẫn đường; khi
thọ quả báo đời sau thời sức của nghiệp là lớn; thế
nên nói ba nghiệp thu nhiếp tất cả nghiệp. Hết thảy
tâm số pháp đều thu nhiếp vào trong ý nghiệp; hết thảy
sắc pháp đều thu nhiếp vào trong nghiệp của thân và miệng.
Hành nghiệp của thân có ba thứ, mỗi khi phước đức đầy
đủ thời cõi nước thanh tịnh. Bên trong thân thanh tịnh
nên cảnh giới bên ngoài cũng thanh tịnh; thí như mắt sạch
nên bóng trong gương cũng sạch, như trong kinh Tỳ ma la cật
nói: vì không sát sinh nên được làm người sống lâu...
Hỏi:
Nghiệp thô của thân, miệng, ý là việc dễ biết, cớ sao
Tu Bồ Đề còn hỏi:
Đáp:
Thô hay tế đều không nhất định; như đối với người
cầu đạo, việc bố thí là điều kiện thô, còn đối với
kẻ bạch y, việc bố thí là điều kiện tế; như đối với
Tiểu thừa, nghiệp bất thiện là thô, nghiệp thiện là tế,
còn đối với Đại thừa, từ chấp thủ tướng thiện pháp
cho đến chấp thủ tướng Niết bàn đều là thô. Vì
thô tế không nhất định nên hỏi. Phật thứ lớp nói
tướng thô tế: từ việc cướp mạng sống cho đến
tà kiến; ba nghiệp của thân, bốn nghiệp của miệng, ba nghiệp
của ý đều là thô. Lại, phá sáu Ba la mật thời tâm
xan tham... đều là thô.
Hỏi:
Trước kia nói mười đạo bất thiện đã thu nhiếp xan tham...
cớ gì lại còn nói riêng?
Đáp:
Sáu pháp ấy không nhiếp vào trong mười đạo bất thiện.
Mười đạo bất thiện đều là pháp bức não chúng sinh, còn
sáu pháp ấy chỉ không bức não chúng sinh; như tâm xan tham
chỉ tự mình tiếc của mà không não hại chúng sinh.
Tâm tham có hai: 1. chỉ tham của người khác mà chưa
bức não chúng sinh; 2. tâm tham càng mạnh, tìm cầu không
được thời muốn não hại; ấy gọi là nghiệp đạo, vì
hay khởi nghiệp; sân giận cũng như vậy. Sân giận ít
không gọi là nghiệp đạo, vì nó có thể đưa đến ác xứ
nên gọi là đạo; thế nên nói riêng sáu pháp, không có gì
lỗi.
Hỏi:
Trong sáu Ba la mật đã nói có giới, nay cớ gì lại nói giới
bất tịnh?
Đáp:
Phá giới là tội thô nặng, như sát sinh... còn giới bất
tịnh là tội vi tế, không não hại chúng sinh; như uống rượu
không nhiếp vào mười đạo bất thiện.
*Lại
nữa, phá năm tụ giới gọi là phá giới; không phá giới
được thọ. Thường vì ba độc che tâm, không nhớ nghĩ
giới, hồi hướng đến phước báo sinh cõi trời mà tà kiến
giữ giới; như vậy gọi là giới bất tịnh.
*Lại
nữa, nếu tâm Bồ Tát xa lìa ba mươi bảy pháp trợ đạo,
ba môn giải thoát, ấy gọi là nghiệp thô, vì sao? Vì
trong đây tâm đều quán thật pháp, theo Niết bàn, không theo
thế gian; nếu ra ngoài bốn niệm xứ... thời tâm tán loạn;
thí như rắn bò, bản tính thường ưa quanh co, nếu vào trong
ống tre thời phải đi thẳng, ra khỏi ống lại quanh co.
*Lại
nữa, nếu Bồ Tát tham chứng quả Tu đà hoàn, ấy là nghiệp
thô; như người nghe Phật nói quả Tu đà hoàn không đọa
vào ba đường ác, sạch hết vô lượng khổ; như ao nước
rộng 50 do tuần, ngoài ra chỉ như một giọt hai giọt thời
sinh tâm tham. Vì tâm kia không bền chắc, vốn cầu làm
Phật, vì chúng sinh mà nay vì tự thân lại muốn thủ chứng
quả Tu đà hoàn; như thế là dối Phật, mang tội với chúng
sinh. Thế nên tham chứng quả Tu đà hoàn gọi là thô;
thí như người mời khách, muốn thiết đãi ăn uống mà rốt
cuộc không cho gì thời mắc tội nói dối với khách. Bồ
Tát cũng như vậy, từ khi mới phát tâm lại đây phát nguyện;
ta sẽ làm Phật độ hết thảy chúng sinh, mà lại tham quả
vị Tu đà hoàn, như thế là mang tội với chúng sinh. Như tham
chứng của Tu đà hoàn cho đến tham đạo Bích chi Phật cũng
như vậy.
(Hết
cuốn 92 theo bản Hán)