Tập
5
Cuốn
93
Kinh:
Tu Bồ Đề, Bồ Tát thủ tướng sắc, thọ, tưởng, hành,
thức; tướng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; tướng, sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp; tướng nam, tướng nữ; tướng
cõi Dục, tướng cõi Sắc, tướng cõi Vô sắc, tướng phá
thiện, tướng pháp bất thiện, tướng pháp hữu vi, tướng
pháp vô vi; ấy gọi là nghiệp thô của Bồ Tát. Bồ
Tát đều xa lìa nghiệp thô như vậy; tự mình bố thí, cũng
dạy người bố thí; cần ăn cho ăn, cần áo cho áo, cho đến
các vật cần dùng để nuôi sống. Dạy người mỗi mỗi
bố thí như vậy, đem phước đức bố thí ấy chia sẻ cho
chúng sinh cùng hồi hướng đến cõi nước Thanh tịnh của
Phật; tự mình trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định,
trí tuệ cũng như vậy. Bồ Tát hoặc đem châu báu đầy
cõi nước ba ngàn đại thiên cúng dường Tam bảo, phát nguyện
rằng: Nhờ thiện căn này mà khiến cõi nước tôi đều
do bảy báu tạo thành. Lại nữa, lấy nhạc trời làm
vui nơi Phật và pháp, phát nguyện rằng: Nhờ thiện căn
này mà khiến trong cõi nước tôi thường nghe nhạc trời.
Lại nữa, lấy hương trời đầy cõi nước ba ngàn đại thiên
cúng dường Phật và Pháp, phát nguyện rằng: Nhờ thiện
căn này mà khiến trong cõi nước tôi thường có hương thơm
trời. Lại nữa, lấy thức ăn trăm vị cúng dường
Phật và chúng Tăng, phát nguyện rằng: Nhờ thiện căn
này mà khiến chúng sinh trong cõi nước tôi hưởng hương thơm
trời nhỏ mịn.
*Lại
nữa, lấy năm dục theo ý muốn mà cúng dường Phật và Tăng,
cùng thí cho hết thảy chúng sinh, phát nguyện rằng: Nhờ
thiện căn này mà khiến đệ tử và chúng sinh trong cõi nước
tôi đều được năm dục theo ý muốn. Bồ Tát ấy đem
năm dục theo ý muốn, cùng chia cho chúng sinh, hồi hướng đến
cõi nước thanh tịnh của Phật, phát nguyện rằng: Khi
tôi thành Phật, trong cõi nước tôi có năm dục như cõi trời
ứng theo lòng ước nguyện mà đến.
*Lại
nữa, phát nguyện rằng: Tôi sẽ tự mình vào thiền thứ
nhất, cũng dạy chúng sinh vào thiền thứ nhất; vào thiền
thứ hai, thứ ba, thứ tư; vào tâm từ, bi, hỷ, xả cho đến
ba mươi bảy pháp trợ đạo cũng như vậy. Khi tôi được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác, làm cho hết thảy chúng
sinh không xa lìa bốn thiền cho đến không xa lìa ba mươi bảy
pháp trợ đạo. Như vậy, Bồ Tát có thể nghiêm tịnh
cõi Phật. Bồ Tát tùy theo bấy nhiêu thời gian hành đạo
Bồ Tát, đầy đủ các ước nguyện; Bồ Tát tự thành tựu
hết thảy thiện pháp, cũng thành tựu thiện pháp cho chúng
sinh. Bồ Tát thọ thân tướng đẹp đẽ, chúng sinh được
giáo hóa cũng được thân tướng đẹp đẽ, vì sao? Vì
phước đức sâu dày. Này Tu Bồ Đề, nên như vậy nghiêm
tịnh cõi Phật. Trong cõi nước ấy cho đến danh
từ ba ác đạo cũng không có, cũng không có danh từ ba độc,
tà kiến, nhị thừa, Thanh văn, Bích chi Phật. Tai không
nghe có âm thanh về vô thường, khổ, không, cũng không có
sở hữu, cho đến không có danh từ kiết sử phiền não, cũng
không có danh từ phân biệt các đạo quả; gió thổi cây bảy
báu theo chỗ đáng độ thoát mà tuôn ra âm thanh nói về thật
tướng không, vô tướng, vô tác; có Phật hay không có Phật
thời hết thảy pháp, hết thảy pháp tướng vẫn không,
trong không, không có tướng, không có tướng thời không có
tạo tác. Xuất ra pháp âm như vậy thời hoặc ngày hoặc
đêm, hoặc ngồi hoặc nằm, hoặc đứng hoặc đi vẫn thường
nghe pháp âm ấy. Bồ Tát khi được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, chư Phật trong mười phương các cõi nước
đều tán thán; chúng sinh nghe danh hiệu Phật ấy chắc chắn
đạt đến Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bồ Tát
ấy khi được Vô thượng chánh đẳng chánh giác bèn thuyết
pháp, chúng sinh nghe được không có ai không tin sinh nghi, mà
không tin nói rằng là pháp, là phi pháp, vì sao? Vì trong
thật tướng các pháp đều là pháp, không có phi pháp.
Những người phước mỏng đối với Phật và các đệ tử
không gieo trồng căn lành, không theo thiện tri thức, chìm trong
ngã kiến cho đến chìm trong hết thảy kiến chấp, rơi vào
biên kiến, hoặc chấp đoạn chấp thường... Những người
như vậy vì tà kiến nên chẳng phải Phật nói là Phật, Phật
nói là chẳng phải Phật; phi Pháp nói là Pháp, Pháp nói là
phi Pháp. Người như vậy vì phá pháp nên khi thân hoại
mạng chung đọa vào đường ác địa ngục; khi chư Phật được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác, thấy chúng sinh ấy qua
lại trong năm đường dạy khiến xa lìa nhóm tà định, an
lập trong nhóm chính định, lại không đọa vào đường ác.
Như vậy, chúng sinh trong cõi nước Phật thanh tịnh của Bồ
Tát không có tâm tạp uế: hoặc thế gian, hoặc xuất
thế gian, hoặc hữu lậu, hoặc vô lậu, hoặc hữu vi hoặc
vô vi; cho đến chúng sinh trong cõi nước ấy đều rốt ráo
ở trong Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Này Tu Bồ
Đề, ấy là Bồ Tát nghiêm tịnh cõi Phật.
Luận:
Lại có nghiệp thô là đối với các pháp rốt ráo không,
lại thủ tướng mà sinh tâm chấp trước là thủ tướng sác,
thủ tướng thọ, tưởng, hành, thức; thủ tướng mắt cho
đến tướng ý; thủ tướng sắc cho đến tướng pháp; thủ
tướng nam nữ, tướng ba cõi, tướng thiện, bất thiện, hữu
vi vô vi.
Hỏi:
Tướng nam nữ có thể là hư vọng không thật, còn các tướng
sắc, tướng pháp thiện, pháp bất thiện, hoặc không thủ
tướng thời làm sao có thể nhàm chán sắc để thành tựu
pháp thiện?
Đáp:
Trong Phật pháp có hai thứ không: Một là chúng sinh không,
hai là pháp không. Chúng sinh không thời phá tướng chúng
sinh, là tướng nam, tướng nữ... Lấy pháp không phá tướng
hư vọng trong sắc pháp, như trong phẩm "phá hết thảy pháp
không" đã nói. Quán sắc, thọ... các thiện
pháp như huyễn như hóa, không thủ tướng nhất định có
thật, thời tâm nhàm chán, bỏ hí luận thường, vô thường;
ấy không gọi là thủ tướng. Lại, sắc... và các pháp
thiện đều hòa hợp tính không mà tu hành nên không sinh phiền
não.
Hỏi:
Hết thảy pháp hữu vi giả danh hòa hợp nên không nên thủ
tướng, còn pháp vô vi là pháp chân thật, đó là như, pháp
tính, thật tế, cớ sao không thủ?
Đáp:
Vì không thủ tướng là pháp vô vi vô tướng, gọi là pháp
môn vô vi; nếu thủ tướng thời là hữu vi. Như vậy,
tất cả thủ tướng đều hư vọng, không thật.
Xa
lìa nghiệp thô nơi thân, miệng, ý là Bồ Tát muốn hành đạo,
nghiêm tịnh cõi Phật, xa lìa nghiệp thô nơi thân, miệng,
ý như vậy, tự mình hành sáu Ba la mật, cũng dạy người
khác hành, do nhân duyên cùng thanh tịnh nên cõi nước Phật
được thanh tịnh. Trên là nói tướng chung, dưới là
nói tướng riêng. Bồ Tát đem bảy báu đầy thế
giới ba ngàn đại thiên cúng Phật và Tăng, phát nguyện rằng:
Nhờ bố thí này mà khiến cho cõi nước tôi đều do bảy
báu trang nghiêm.
Hỏi:
Nếu châu báu đầy thế giới ba ngàn đại thiên, thời từ
chỗ nào có được? Lại, chư Phật, hiền thánh đều
ít muốn, biết đủ, ai là người thọ hưởng? Nếu người
phàm không biết nhàm đủ thời làm sao có thể thọ hưởng
vật trong ba ngàn thế giới?
Đáp:
Thân Bồ Tát là thân do pháp tính sinh, đầy đủ thần thông
Ba la mật. Vì cúng dường mười phương Phật nên đem
châu báu đầy thế giới ba ngàn đại thiên để cúng dường.
Lại, bảo vật ấy do sức thần thông làm ra, nho nhẹ, không
chướng ngại; như cõi trời Biến tịnh trong thiền thứ ba,
60 người ngồi trên đầu một cây kim mà nghe pháp, không chướng
ngại nhau, huống gì đại Bồ Tát vào sâu trong thần thông
tạo ra vật báu. Hoặc có Bồ Tát biến hóa thân như
núi Tu di, khắp trước mười phương Phật để làm tim đèn
cúng dường Phật hoặc pháp Phật, phát nguyện rằng:
Khiến cõi nước tôi thường có ánh sáng, không cần mặt
trời, mặt trăng, đèn đuốc. Hoặc có Bồ Tát mưa các
hương hoa, phan lọng, anh lạc để cúng dường, phát nguyện
rằng: Khiến chúng sinh trong cõi nước tôi đẹp đẽ
như hoa, thân tướng sạch sẽ không có xấu xí. Như vậy
là nhân duyên của các sắc tướng đẹp.
Lại
có Bồ Tát đem kỹ nhạc trời làm vui nơi Phật hoặc pháp
Phật. Bồ Tát ấy hoặc có khi dùng sức thần thông làm ra
âm nhạc trời, hoặc làm ra âm nhạc của vua trời, âm nhạc
của Chuyển luân Thánh vương, hoặc làm ra âm nhạc của A
tu la, của vua rồng để cúng dường, nguyện rằng:
Trong nước tôi thường nghe âm thanh tốt đẹp.
Hỏi:
Chư Phật, hiền thánh là người lìa dục, không cần âm thanh
ca múa, cớ sao đem âm nhạc cúng dường?
Đáp:
Chư Phật tuy đối với hết thảy pháp, tâm không dính mắc,
đối với pháp thế gian không cần dùng gì, song chư Phật
vì thương chúng sinh mà ra đời nên tùy theo người cúng dường
mà khiến cho họ được phước theo ước nguyện. Như
lấy hoa hương cúng dường, cũng không phải là vật mà Phật
cần dùng, vì thân Phật thường có hương thơm vi diệu, chư
thiên không thể sánh kịp; song vì lợi ích chúng sinh mà Phật
thọ nhận. Bồ Tát vì muốn nghiêm tịnh cõi Phật nên
cầu âm thanh tốt, muốn khiến chúng sinh trong cõi nước mình
nghe âm thanh tốt nên tâm nhu nhuyến, tâm nhu nhuyến nên dễ
có thể chịu sự giáo hóa; thế nên dùng âm thanh để cúng
dường Phật.
Lại
có Bồ Tát đem hương thơm đầy khắp thế giới ba ngàn đại
thiên cúng dường chư Phật và pháp Phật: Hoặc hương
rễ, hương cành, hương lá, hương bột; hoặc hương trời;
hoặc hương do biến hóa làm ra, hoặc hương từ quả báo sinh,
phát nguyện rằng: Khiến trong cõi nước tôi thường
có hương thơm mà không có người làm ra.
Hoặc
có Bồ Tát dùng thức ăn trăm vị cúng dường chư Phật và
Tăng là, có người nói rằng, lấy trăm thứ canh cúng dường,
gọi là trăm vị. Có người nói rằng, Một thứ
bánh mà đến đủ số trăm nên vị nó có một trăm, gọi
là trăm vị. Có người nói rằng, trăm thứ cỏ thuốc,
trái thuốc làm thành hòn hoan hỷ, gọi là trăm vị. Có
người nói rằng, thức ăn, uống, canh, bánh tổng hợp làm
thành trăm vị. Có người nói rằng, thức uống
ăn mỗi mỗi đầy đủ nên gọi là trăm vị. Thức uống
ăn của người có trăm vị; thức uống ăn của trời thời
có trăm ngàn vị.
Thức
uống ăn của Bồ Tát do quả báo phước đức sinh là, do sức
thần thông biến hóa thời có vô lượng vị, có thể chuyển
đổi lòng người khiến lìa dục được thanh tịnh. Bốn
thứ uống ăn ấy Bồ Tát tùy theo nhân duyên cúng dường Phật
và Tăng nên trong cõi nước tự nhiên có thức uống ăn trăm
vị.
Hoặc
có Bồ Tát dùng hương xoa của trời là, vì ở Ấn Độ nóng;
và vì thân có mùi hôi nên dùng hương xoa thân để cúng dường
Phật và Tăng. Do nhân duyên ấy khiến chúng sinh
trong cõi nước tôi được thứ hương trời nhỏ mịn.
Hỏi:
Giới Sa di cho đến giới thọ trì trong một ngày đêm còn
không cho dùng hương xoa thân, cớ sao đem hương cúng dường
Phật và Tăng?
Đáp:
Bồ Tát lấy vật mà thân cần thiết và quý giá tùy theo lúc
cần dùng để cúng dường. Hoặc đem phết trên đất,
trên vách và chỗ đi, ngồi. Lại lấy năm dục theo
ý muốn cúng dường Phật, Tăng và các chúng sinh. Bồ
Tát dùng xe ngựa tốt, vợ con, âm nhạc, phan lọng, vàng bạc,
y phục, châu báu là những thứ người xuất gia không thọ
dụng mà cấp thí cho chúng sinh, phát nguyện rằng: Khiến
chúng sinh trong cõi nước tôi thường được năm dục theo
ý muốn.
Hỏi:
Năm dục ấy Phật ví nó như lửa, như hầm, như mụt nhọt,
như ngục, như oán, như giặc, hay cướp căn lành của người,
cớ sao Bồ Tát nguyện cho chúng sinh được năm dục?
Lại, Phật nói đệ tử Phật nên mặc áo vá, xin ăn, ngồi
dưới cây rừng, cớ sao Bồ Tát vì chúng sinh mà cầu được
năm dục?
Đáp:
Năm dục trong cõi trời, cõi người là quả báo của phước
đức. Nếu đời nay hoặc đời sau người phước
mỏng nghèo cùng không thể tự mình nuôi sống thời làm những
việc trộm cắp; hoặc vì bị chủ tài sản bức hại, vì
của cải mà giết kẻ khác; hoặc bị cật vấn, nói dối
là không làm. Như vậy, lần lượt làm mười điều bất
thiện đều do nghèo cùng; nếu người có năm dục đầy đủ
thời theo ý muốn liền có được nên không làm mười điều
bất thiện. Chúng sinh trong cõi nước của Bồ Tát giàu
vui thỏa thích, không bị thiếu thốn thời không có các việc
ác, chỉ có các kiết sử ái và mạn... nếu nghe Phật thuyết
pháp, hoặc nghe đệ tử Phật thuyết, do có tâm nhu nhuyến
nên nghe pháp có thể dễ đắc đạo. Tuy có tâm chấp
trước nhiều mà vì lợi căn nên nghe nói vô thường, khổ,
không liền được đạo; thí như chiếc áo nhơ bẩn thời
dùng tro, bùn để ngâm cách đêm, dùng nước giặt một lúc
sạch hết. Bồ Tát không muốn khiến chúng sinh tham đắm
nên lấy năm dục bố thí, chỉ muốn khiến trong một lúc
xả bỏ nên đem cho. Như ông trước nói, Phật dạy đệ
tử mặc áo vá khất thực, vì tội đời trước mà phải
sinh ở đời ác nên tâm nhiễm trước nhiều; nếu được
áo đẹp, thức ăn ngon thời tâm nhiễm trước càng sâu; lại
vì cầu áo đẹp, thức ăn ngon nên trở ngại việc hành đạo.
Chúng sinh trong cõi Phật thanh tịnh của Bồ Tát thành tựu
vô lượng phước đức, năm dục bằng nhau nên không còn tham
đắm, cũng không còn tìm cầu nên không có gì ngăn ngại.
Lại,
nếu hành giả xa lìa năm dục, tu khổ hành thời tăng trưởng
sân giận. Lại, nếu nhớ nghĩ năm dục thời sinh phiền
não, bấy giờ không hướng về đâu; do vậy mà Phật nói
xả khổ, xả vui, dùng trí tuệ ở vào trung đạo. Thế
nên ở cõi Phật nghiêm tịnh mà đem năm dục bố thí không
có gì chướng ngại.
Hỏi:
Nếu như vậy thì trong Luật cớ gì Tỳ kheo A lê tra nói:
"theo tôi biết nghĩa Phật dạy: hưởng thọ năm dục
không chướng đạo". Tỳ kheo ấy bị quở trách, đến
ba lần không bỏ, nên bị tẩn xuất?
Đáp:
Phật pháp có hai là Tiểu thừa và Đại thừa. Trong
Tiểu thừa, người phước mỏng ba độc nhiều; như trong kinh
Bà sa Phật dạy: "Hàng đệ tử bạch y của ta chẳng
phải một, hai cho đến quá năm trăm người lấy hương Chiên
đàn đỏ và hương của hoa thơm xoa thân, nằm chung với vợ
con, sai nô tì ... mà dứt ba kiết sử, dược quả Tu đà hoàn,
hết khổ ba đời, ba độc mỏng, được quả Tư đà hàm".
Tỳ kheo A lê tra ấy nghe vậy liền nói: "Mặc dù hưởng
thọ năm dục mà không chướng đạo", chứ không biết việc
ấy Phật vì ai mà nói. Phật chỉ vì hàng bạch y mà
nói, còn Tỳ kheo này lại đối với pháp xuất gia mà nói.
Các vị Tu đà hoàn, Tư đà hàm ấy không có phát nguyện rằng:
Ta suốt đời không phạm dâm dục, vì còn có ba độc nên
thường hay quên đạo mà khởi tâm dâm dục; còn người xuất
gia ở giữa chúng Tăng miệng tự thề rằng: Ta suốt
đời không phạm dâm dục. Vì thế nên Phật dạy, nếu
người xuất gia phạm vào dâm dục thời bỏ. Tỳ kheo
A lê tra tự thề suốt đời không phạm mà phạm, đó là một
tội; biết Phật chế mà cố trái phạm, đó là hai tội.
Tỳ kheo ấy vì thọ năm dục, thấy kẻ bạch y đắc
đạo mà cho mình với họ đồng nhau, thế nên mắc tội.
Có
hai hạng chúng sinh trong cõi Phật nghiêm tịnh: Hoặc xuất
gia, hoặc tại gia. Tại gia tuy hưởng thọ năm dục mà không
có tội, cũng không chướng ngại đạo; như trời Đâu suất,
như người ở châu Uất đơn việt, tuy thọ năm dục mà không
gây tội nặng, còn hạng chúng sinh xuất gia theo Phật cho phép
thọ năm dục cũng không có tội lỗi (đây là nói ở cõi
thanh tịnh, chứ không phải ở đời ác năm trược).
Trong pháp Tiểu thừa, vì Tỳ kheo A lê tra nói người phước
mỏng tội nặng, tâm có nhiều hối hận.
Nghiêm
tịnh cõi Phật là đời đời tập hành sáu Ba la mật, ba môn
giải thoát, tuy thọ năm dục cũng không nhiễm trước, như
trong kinh nói: Bồ Tát hành Bát nhã nghĩ rằng: Ta
sẽ tự mình vào thiền thứ nhất, cũng dạy chúng sinh vào
thiền thứ nhất, cho đến vào thiền thứ tư, bốn tâm vô
lượng, ba mươi bảy pháp trợ đạo cũng như vậy. Bồ
Tát nguyện rằng: Khi ta làm Phật, do hành đủ bốn thiền
cho đến ba mươi bảy pháp trợ đạo; vì phước đức như
vậy nên chúng sinh tuy thọ năm dục không làm chướng ngại.
Bồ Tát phát ra vô lượng vô số nguyện, theo bấy nhiêu thời
gian hành đạo mà đầy đủ các nghiệp thiện. Bồ Tát
thành tựu hết thảy pháp thiện và thành tựu được chúng
sinh. Vì thành tựu hết thảy thiện pháp nên thân tướng
đẹp đẽ, mọi người trông thấy không nhàm chán; cũng thành
tựu chúng sinh, khiến được thân tướng đẹp đẽ.
Bồ Tát nghiêm tịnh cõi Phật như vậy.
*Lại
nữa, nghiêm tịnh cõi Phật là cho đến ở đó không có danh
từ ba ác, huống gì có ba đường ác.
Hỏi:
Chư Phật vì lòng thương xót lớn thấy chúng sinh khổ não
nên ra đời, nếu không có ba đường ác thời Phật thương
xót gì?
Đáp:
Phật ra đời vì độ chúng sinh, mà chúng sinh trong ba đường
ác không thể độ, chỉ có thể dạy khiến trồng căn lành
mà thôi. Thế nên Phật có danh hiệu là bậc thầy của
trời và người. Nếu không có trời và người, chỉ
có ba đường ác thời có thể nên nạn, nên hỏi.
Hỏi:
Nói Phật thương xót chúng sinh, cớ sao trong cõi Thanh tịnh
của Phật không có chúng sinh trong ba đường ác?
Đáp:
Phật thương xót hết thảy chúng sinh bình đẳng không sai
khác. Nhưng trong đây nói, vì nghiệp duyên thanh tịnh
nên trong cõi nước ấy không có ba đường ác.
Lại,
Phật chẳng phải chỉ nói một cõi nước, mà nói có
số cõi nước trong mười phương nhiều như cát sông Hằng.
Có cõi nước thanh tịnh, có cõi nước tạp uế. Ở cõi
nước tạp uế thời có đủ năm đường; ở cõi nước thanh
tịnh của Phật thời hoặc có người, có trời sai khác, hoặc
không có người, trời sai khác. Như về quá khứ ở cõi
Phật Thiên vương, chỉ có đức Phật Thế Tôn là bậc Pháp
vương, vì thế mà gọi là Phật Thiên vương. Lại có
cõi nước không có ba độc tà kiến.
Hỏi:
Chư Phật chỉ vì trừ phiền não cho chúng sinh nên ra đời;
tà kiến, ba độc tức là phiền não, nếu không có phiền
não thời Phật ra đời làm gì?
Đáp:
Có người nói rằng, trong cõi ấy vì nhân duyên phước đức
lớn mà ba độc tà kiến không hiện bày, nên nói là không
có. Lại có người nói rằng, trong cõi ấy các Bồ Tát
đều được vô sinh pháp nhẫn, thường tu các công đức sáu
Ba la mật, thường dạo qua mười phương độ thoát chúng sinh,
ở chỗ chư Phật tu tập các tam muội còn hơn giào hóa vô
số Thanh văn, Bích chi Phật, cũng hơn giáo hóa Bồ Tát bất
thoái chuyển, thành tựu chúng sinh.
Cõi
Phật thanh tịnh của Bồ Tát là vì Bồ Tát gần Phật đạo
nên lợi ích cáng lớn, ở cõi nước ấy không có danh từ
Nhị thừa.
Hỏi:
Các đức Phật khác có giáo hóa ba thừa, đâu riêng ở cõi
Ta bà?
Đáp:
Phật xuất hiện ở đời ác năm trược, từ trong một đạo
mà chia làm ba thừa.
Hỏi:
Nếu như vậy, Phật A di đà, Phật A súc không sinh ở đời
ác năm trược, cớ sao lại có ba thừa?
Đáp:
Chư Phật khi xưa mới phát tâm, thấy chư Phật dùng pháp
ba thừa độ chúng sinh nên tự phát nguyện rằng: Ta cũng
sẽ dùng pháp ba thừa độ chúng sinh.
Không
có danh từ vô thường, khổ, vô ngã là vì chúng sinh đã vào
sâu điên đảo chấp trước thường, lạc... nên vì họ nói
vô thường, khổ...; để giải cứu, còn trong cõi ấy không
có điên đảo chấp thường, chấp lạc nên không cần nói
vô thường, khổ... vì nếu không có bệnh thời không cần
thuốc. Cũng không có ngã sở hữu cho đến không có kiết
sử cũng như vậy. Vì không có nhị thừa nên cũng không
có các quả Tu đà hoàn..., chỉ một mặt vào thật tướng
các pháp.
Được
vô sinh pháp nhẫn là được các tam muội, các môn Đà la ni,
dần dần tăng ích không dứt các địa vị.
Gió
thổi cây bảy báu theo chỗ đáng độ mà phát ra âm thanh là
Bồ Tát muốn chúng sinh dễ nghe pháp nên cây bảy báu phát
ra tiếng pháp âm, vì cây bảy báu cùng khắp cõi nước nên
chúng sinh sinh ra đều nghe pháp, không khởi các tâm khác, chỉ
sinh tâm nghe pháp.
Hỏi:
Phật có vô lượng bất khả tư nghì lực thần thông, cớ
gì không biến hóa làm vô lượng thân thuyết pháp độ chúng
sinh, cần gì đến âm thanh, cây bảy báu?
Đáp:
Chúng sinh rất nhiều, nếu Phật nơi nơi đều hiện thân thời
chúng sinh không tin, cho đó là huyễn hóa, tâm không kính trọng.
Có chúng sinh theo người nghe pháp tâm không khai ngộ, nếu
theo súc sinh nghe pháp thời liền tin chịu. Như trong kinh
Bổn sinh nói: Bồ Tát thọ thân súc sinh vì người thuyết
pháp, người cho là hy hữu nên ai nấy đều tin chịu.
Lại bảo tâm súc sinh ngay thẳng, không dối. Có người
bảo súc sinh là loài hữu tình, đều có dối trá, còn cây
bảy báu vô tâm mà có âm thanh thời đều tin chịu. Không,
Vô tướng, Vô tác dù có Phật hay không có Phật, hết thảy
pháp thường không, vì không nên vô tướng, vì vô tướng
nên vô tác, vô khởi. Các pháp như vậy đêm ngày thường
phát ra. Ở các quốc độ khác thời dùng sức thần thông,
sức miệng mỗi mỗi biến hóa, còn trong đây thường phát
ra âm thanh tự nhiên. Ở cõi Phật nghiêm tịnh, Phật thường
được chư Phật tán thán, vì tạo công đức lớn nên được
cõi nước thanh tịnh như vậy; nếu nghe tên đức Phật ở
cõi nước thanh tịnh thời chắc chắn được làm Phật.
Hỏi:
Các đức Phật khác siêng năng, khổ nhọc thuyết pháp, chúng
sinh còn không đắc đạo, còn đây vì sao chỉ nghe danh hiệu
Phật bèn đắc đạo?
Đáp:
Các nơi khác đức Phật thuyết pháp, chúng sinh hoặc được
căn lành trọn không thuyết về tính không, nếu nghe danh hiệu
Phật ấy chắc chắn đến địa vị bất thoái chuyển chứ
không nói được thành Phật ngay.
Hỏi:
Đối hết thảy đức Phật, nếu người có tâm tốt nghe danh
hiệu đều sẽ đi đến Phật, như trong kinh Pháp hoa nói:
Người có phước đức hoặc lớn hoặc nhỏ đều sẽ làm
Phật, cớ gì trong đây riêng nói Phật ở cõi nước thanh
tịnh.
Đáp:
Người nghe danh hiệu các đức Phật khác cho rằng Phật thọ
sinh giống như người không khác, chỉ có được đạo Nhất
thiết trí là khác; vì tâm không kính trọng nên tuy gieo trồng
căn lành cũng không thể sâu bền. Trong đây là nói về
thân do pháp tính sinh. Thân Phật vô lượng vô biên, ánh
sáng và âm thanh thuyết pháp biến khắp mười phương các
cõi nước. Chúng sinh trong cõi nước ấy đều là những
người gần đến Phật đạo, đối với chúng ở trong vô
lượng vô số do tuần thuyết pháp hơn. Vô lượng vô
số ánh sáng như mặt trời mặt trăng thường từ trong thân
phát ra, nếu Phật cho chúng sinh thấy thời được thấy, nếu
không cho thấy thời không thấy. Bên trên thân Phật,
mỗi lỗ chân lông thường phóng ra vô lượng vô biên
vô số Phật, mỗi mỗi đức Phật không khác nhau, nơi mỗi
vị hóa Phật ấy lại triển chuyển phóng ra, tùy theo chúng
sinh đáng được độ mà cho thấy Phật có hơn có kém, còn
căn gốc của vị Phật thật thời không có phân biệt hơn
kém. Như thế, hoặc thấy hoặc nghe danh hiệu, hoặc nghe
công đức như vậy mà có lòng tin và kính trọng sâu xa; kính
trọng nên gieo trồng căn lành, thời làm sao không chắc chắn
được thành Phật?
*Lại
nữa, khi Phật thuyết pháp không có người nghi, cho đến không
có một người nói rằng pháp ấy chẳng phải miệng Phật
nói ra, mà đều là pháp do Phật nói.
Hỏi:
Nếu như vậy thời vì sao người theo Phật Thích ca nghe pháp
sinh nghi nhiều?
Đáp:
Trong kinh đây Phật tự nói nhân duyên: Có người phước
mỏng, không gieo trồng căn lành, không gặp được thiện tri
thức nên sinh nghi; chấp đắm ngã kiến, biên kiến, tà kiến,
các phiền não che lấp tâm thời chằng phải Phật nói là
Phật, Phật nói là chẳng phải Phật. Không gieo trồng
căn lành sâu bền, không thuận theo thiện hữu tri thức, ba
độc tà kiến một lần khởi lên, không có chỗ nương tựa,
tự ý buông lung thời hoặc thấy việc tà kiến thuận với
ý mình bèn cho đó là cái thấy của Nhất thiết trí; chư
Phật nói rốt ráo không, không thuận với ý mình thời bèn
cho đó là chẳng phải Phật; chẳng phải pháp nói là pháp,
pháp nói là chẳng phải pháp. Người như vậy ở nơi
chỗ Phật sinh nghi nhiều, vì sinh nghi nhiều nên tâm hối hận;
trong cõi nước thanh tịnh của Phật không có hạng tội nhân
ấy nên không sinh nghi. Phật nói hạng người có tội
như vậy vì phá thật tướng các pháp nên chết đọa vào
đường ác địa ngục. Các Bồ Tát được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác thấy người tội qua lại trong sinh
tử thời dùng sức thần thông của Phật mà kéo chúng sinh
ra khỏi, đặt vào trong nhóm chánh định, không còn bị đọa
vào trong ba đường ác; ấy gọi là nghiêm tịnh cõi Phật.
Trong cõi Phật ấy không có các lỗi như vậy, đầy đủ hết
thảy; đối với thế gian, xuất thế gian, hữu lậu, vô lậu,
hữu vi, vô vi không có chướng ngại; đó là cõi nước bảy
báu. Thân chúng sinh đẹp đẽ, tướng tốt trang nghiêm,
có vô lượng ánh sáng, thường nghe âm thanh giáo pháp, thường
không xa lìa sáu Ba la mật cho đến mười tám pháp không chung;
chúng sinh trong ấy đều chắc chắn đạt đến Vô thượng
chánh đẳng chánh giác.
Hỏi:
Ở trên nói nghe danh hiệu Phật chắc chắn đạt đến quả
Phật, nơi đây nói đối với các pháp không có chướng ngại
thời chắc chắn được thành Phật, có gì sai khác?
Đáp:
Chúng sinh ở đây thường thấy Phật, thường nghe pháp, gieo
trồng căn lành sâu bền, chứa nhóm Phật pháp nhiều nên mau
được làm Phật.
Nghe
danh hiệu là tuy chắc chắn mà công đức ít không bằng.
Như vậy gọi là tướng cõi nước thanh tịnh của Phật; như
ở trong mười địa nói trang nghiêm cây Bồ đề.
Giải
thích: Phẩm Chắc Chắn Thứ 83
(Kinh
Đại Bát Nhã hội 2 ghi:Phẩm Chánh Định thứ 81)
Kinh:
Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, Bồ Tát
ấy chắc chắn hay là không chắc chắn?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát ấy chắc chắn, chẳng
phải không chắc chắn.
Bạch
đức Thế Tôn, ở chỗ nào chắc chắn? Ở trong đạo
Thanh văn, ở trong đạo Bích chi Phật hay ở trong Phật đạo?
Phật
dạy: Bồ Tát ấy chẳng phải ở trong đạo Thanh văn,
đạo Bích chi Phật chắc chắn, mà ở trong Phật đạo chắc
chắn.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, đó là Bồ
Tát mới phát tâm chắc chắn ư? Hay là Bồ Tát thân sau
cùng chắc chắn?
Phật
dạy: Bồ Tát mới phát tâm cũng chắc chắn, Bồ Tát
không thoái chuyển cũng chắc chắn, Bồ Tát thân sau cùng cũng
chắc chắn.
Bạch
Thế Tôn, Bồ Tát chắc chắn sinh trong ác đạo chăng?
Phật
dạy: Không. Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, hoặc
hàng Bát nhân, hoặc hàng Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm,
A la hán, Bích chi Phật sinh trong ác đạo chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn.
Phật
dạy: Như vậy, Bồ Tát từ khi mới phát tâm lại đây
bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí
tuệ dứt tất cả nghiệp bất thiện, mà hoặc bị đọa ác
đạo, hoặc sinh cõi trời sống lâu, hoặc không được ở
chỗ tu thiện pháp, hoặc sinh nơi biên địa, hoặc sinh vào
nhà tà kiến ác, nhà tà kiến không làm, là các nơi không
có danh từ Phật, danh từ Pháp và danh từ Tăng, là không có
lẽ ấy. Này Tu Bồ Đề, Bồ Tát mới phát tâm đối
với Vô thượng chánh đẳng chánh giác mà lại đem tâm sâu
xa hành mười đạo bất thiện, là không có lẽ ấy.
Bạch
đức Thế Tôn, nếu Bồ Tát thành tựu các công đức
căn lành như vậy, như Phật tự nói: Nếu đời trước
thọ quả báo bất thiện thời khi ấy thiện căn ở chỗ nào?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát vì lợi ích chúng sinh nên
tùy chỗ thọ thân, đem thân ấy làm lợi ích chúng sinh.
Khi Bồ Tát làm súc sinh có sức phương tiện lớn, nếu giặc
oán muốn đến giết hại, vì tâm nhẫn nhục không gì cao
hơn, tâm từ bi không có gì cao hơn nên Bồ Tát xả thân mà
không não hại giặc oán, còn hàng Thanh văn, Bích chi Phật
không có sức như vậy. Vì thế nên biết Bồ Tát muốn
đầy đủ tâm từ bi lớn, vì thương xót mà làm lợi ích
chúng sinh nên thọ nhân súc sinh.
Bạch
đức Thế Tôn, Bồ Tát trú ở trong căn lành nào mà thọ các
thân như vậy?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Bồ Tát từ khi mới phát tâm cho
đến khi ngồi đạo tràng, trong khoảng thời gian ấy không
có căn lành nào không đầy đủ, đầy đủ rồi sẽ được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vì thế nên Bồ Tát
khi mới phát tâm hãy nên học hết thảy căn lành; học căn
lành rồi sẽ được trí Nhất thiết chủng, sẽ dứt hết
thảy phiền não và tập khí.
Bạch
đức Thế Tôn, tại sao Bồ Tát thành tựu pháp vô lậu trắng
sạch như vậy mà lại sinh trong các đường ác súc sinh?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ sao, Phật thành tựu
pháp vô lậu trắng sạch chăng?
Nếu
Phật tự biến làm thân súc sinh để làm Phật sự, độ chúng
sinh, thời đó thật là súc sinh chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Thưa không, bạch Thế Tôn.
Phật
dạy: Bồ Tát cũng như vậy, thành tựu pháp vô lậu trắng
sạch; vì độ chúng sinh nên thọ thân súc sinh, cũng dùng thân
ấy giáo hóa chúng sinh.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Như A la hán thân làm biến hóa
có thể khiến chúng sinh hoan hỷ chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Có thể.
Phật
dạy: Như vậy, như vậy. Bồ Tát dùng pháp vô lậu
trắng sạch ấy, tùy theo chúng sinh đáng được độ mà thọ
thân; dùng thân ấy làm lợi ích chúng sinh, cũng không chịu
sự thống khổ. Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao?
Vị thầy huyễn thuật huyễn làm các hình dạng: Hoặc
voi ngựa, trâu dê, nam nữ để chỉ cho mọi người thấy,
mà voi ngựa, trâu dê, nam nữ ấy có thật chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Không thật, bạch Thế Tôn.
Phật
dạy: Như vậy, Bồ Tát thành tựu pháp vô lậu trắng
sạch, hiện ra mỗi mỗi thân để chỉ bày cho chúng sinh; dùng
thân ấy làm lợi ích tất cả, cũng không chịu các thống
khổ.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, Bồ Tát có
sức phương tiện lớn, được trí tuệ vô lậu bậc thánh,
tùy theo thân chúng sinh đáng được độ mà hiện mỗi mỗi
thân hình để độ chúng sinh.
Luận.
Hỏi: Trong phẩm Tướng Thoái Chuyển ở trên nói:
Tướng như vậy là tướng mạo chẳng thoái chuyển, tướng
như vậy là tướng mạo chẳng phải chẳng thoái chuyển.
Chẳng thoái chuyển tức là chắc chắn, nay cớ sao Tu Bồ Đề
lại hỏi?
Đáp:
Bát nhã ba la mật có nhiều môn, có nhiều đạo.
Chẳng thoái chuyển là nói về môn một tướng, nay hỏi chắc
chắn là hỏi về môn hai tướng.
*Lại
nữa, ở trong tâm Phật, hết thảy chúng sinh và hết thảy
pháp đều chắc chắn, vì trí người không sánh kịp nên nói
là không chắc chắn. Phật tuy biết vô lượng vô số
kiếp chứa nhóm công đức lớn, chắc chắn thoái chuyển làm
hàng Tiểu thừa, cũng biết côn trùng vi tế, tuy chưa có tâm
từ nhưng trải qua bấy nhiêu kiếp phát tâm sau sẽ được
làm Phật. Chắc chắn biết hết thảy pháp đều như
vậy, từ nhân ấy được quả ấy. Thế nên nói Phật
đối với hết thảy pháp không còn chướng ngại, vì Phật
biết chắc chắn.
*Lại
nữa, vì Tu Bồ Đề nghe trong kinh Pháp Hoa nói ở chỗ Phật
làm chút ít công đức: Hoặc giỡn cười mà xưng một
tiếng Nam mô Phật, dần dần chắc chắn sẽ làm Phật.
Lại vì nghe trong phẩm Chẳng thoái chuyển nói, có thoái chuyển
và không thoát chuyển. Lại vì nghe nói hàng Thanh văn
đều sẽ làm Phật; nếu như vậy thời không nên có thoái
chuyển? Như trong kinh Pháp hoa nói chắc chắn, còn các
kinh khác nói không chắc chắn, hoặc có thoái chuyển, hoặc
không có thoái chuyển; thế nên nay hỏi là chắc chắn hay
không chắc chắn. Như vậy, do các nhân duyên ấy nên hỏi
chắc chắn hay không chắc chắn.
Phật
dạy: Bồ Tát là chắc chắn.
Tâm
Tu Bồ Đề vì cầu vào Niết bàn là chắc chắn, thế nên
hỏi: Ở trong đạo nào chắc chắn?
Phật
dạy: Chẳng phải chắc chắn trong Nhị thừa, chỉ chắc
chắn trong Đại thừa.
Vì
người cầu Phật đạo có cao, vừa, thấp, thế nên hỏi:
Hoặc Bồ Tát mới phát tâm chắc chắn hay Bồ Tát không thoái
chuyển chắc chắn, hay Bồ Tát thân sau cùng chắc chắn?
Ý của Tu Bồ Đề là từ địa vị chẳng thoái chuyển trở
lên chắc chắn an lập trong Phật đạo chăng?
Phật
đáp: Ba hạng Bồ Tát nói trên đều chắc chắn. chắc
chắn là chắc chắn sẽ làm Phật.
Hỏi:
Phật dùng mắt Phật thấy Bồ Tát trong mười phương, người
cầu Phật đạo nhiều như cát sông Hằng, người chằng thoái
chuyển hoặc một hoặc hai, nay cớ gì nói ba hạng Bồ Tát
trên đều chắc chắn thành Phật?
Đáp:
Trước tôi đã nói: Bát nhã sâu xa có vô lượng môn.
Có nơi nói Bồ Tát thoái chuyển mà không chắc chắn, có nơi
nói Bồ Tát chắc chắn không thoái chuyển. Như trong phẩm
Chẳng thoái chuyển, Tu Bồ Đề hỏi Phật: Bồ Tát thoái
chuyển là thoái chuyển ở trong pháp nào? Là từ sắc,
thọ, tưởng, hành, thức cho đến mười tám pháp không chung,
vì rốt ráo không, nên các pháp đều không thoái chuyển.
Trong đây Phật lại nói không thoái chuyển.
Hỏi:
Hai nghĩa ấy, nghĩa nào thật?
Đáp:
Hai việc đều thật, từ miệng Phật nói ra đều là thật.
Như Phật hoặc nói các pháp không, không có sở hữu:
Hoặc nói bố thí, trì giới ... là hữu vi. Đối người
mới phát tâm thời nói các pháp hữu vi, với người học
đạo lâu ưa đắm thiện pháp thời nói các pháp không, không
có sở hữu, còn người giải đãi đối với Vô thượng chánh
đẳng chánh giác tâm không bền chắc, những người như vậy
nên theo Thanh văn đạo được độ mà không cầu Thanh văn,
phải ở trong sinh tử lâu chịu khổ. Thế nên nói người
phát tâm nhiều như cát sông Hằng mà người được chẳng
thoái chuyển thời hoặc một hoặc hai. Chúng sinh nghe
việc ấy rồi có thể kham chịu mọi khổ, chắc chắn được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác; nếu không thể kham chịu
thời thủ chứng đạo Thanh Văn, Bích chi Phật. Có
người có thể được làm Phật mà vì tâm đại bi mỏng,
tự ưa thân mình nặng, người ấy nghe việc làm Phật khó
được thời phần nhiều thoái chuyển, nghĩ rằng: Ta
không thể được làm Phật, chẳng bằng sớm thủ chứng Niết
bàn, cần gì phải đời đời siêng khổ! Phật vì hạng
người ấy nên nói hết thảy Bồ Tát cho đến Bồ Tát mới
phát tâm, đều chắc chắn sẽ làm Phật, như trong kinh Pháp
Hoa nói.
Hỏi:
Nếu hết thảy Bồ Tát đều chắc chắn, cớ gì Phật mỗi
mỗi quở trách hàng nhị thừa mà không cho Bồ Tát thủ chứng
nhị thừa?
Đáp:
Người cầu Phật đạo nên biết khắp pháp tính, song người
ấy vì sợ già bệnh chết nên ở trong pháp tính thủ chứng
phần ít, bèn ngưng nghỉ, bỏ Phật đạo, không độ chúng
sinh, bị chư Phật, Bồ Tát quở trách rằng, ông muốn bỏ
đi, hội hợp không được xa lìa. Khi được chứng A
la hán thời không còn cầu tam muội sâu xa của Bồ Tát, lại
không rộng độ chúng sinh, thời bị quanh co, đối với Phật
đạo thời trở ngại.
Hỏi:
A la hán do nhân duyên đời trước được thọ thân, chắc
chắn phải diệt, vậy ở chỗ nào mà đầy đủ Phật đạo?
Dáp:
Khi được thành A la hán, nhân duyên các lậu hoặc ba cõi dứt
hết, không còn trở lại sinh trong ba cõi. Có cõi nước
thanh tịnh của Phật ra ngoài ba cõi, không có danh từ phiền
não, ở chỗ Phật nơi cõi nước ấy nghe kinh Pháp Hoa
thời đầy đủ Phật đạo. Như kinh Pháp Hoa nói:
Có A la hán hoặc không nghe kinh Pháp Hoa mà tự mình được
diệt độ; tôi ở nước khác vì họ nói việc ấy rằng:
Ông đều sẽ làm Phật.
Hỏi:
Nếu A la hán đi đến cõi nước thanh tịnh của Phật thọ
thân pháp tính, như vậy nên chóng được làm Phật, cớ sao
nói quanh co, trở ngại?
Đáp:
Người ấy vì nhân duyên tham đắm Tiểu thừa mà bỏ chúng
sinh, bỏ Phật đạo, lại dối nói được đạo. Vì nhân
duyên ấy nên tuy không thọ khổ não sinh tử, mà vẫn ở địa
vị Bồ Tát độn căn, không thể chóng thành Phật đạo, không
như vị Bồ Tát tu hành đi thẳng.
*Lại
nữa, Phật pháp là điều thứ nhất trong năm điều không
thể nghĩ bàn. Nay nói vị A la hán lậu hoặc sạch hết,
trở lại làm Phật, điều đó chỉ có Phật biết được.
Người luận nghị chính có thể luận việc ấy mà không thể
lường biết, thế nên không nên hí luận. Nếu khi cầu
được làm Phật thời mới có thể hiểu rõ, còn những người
khác có thể tin mà chưa thể biết.
Chắc
chắn Bồ Tát đọa trong ba đường ác chăng là Tu Bồ Đề
khi nghe Phật nói vô lượng nhân duyên đời trước: Hoặc
thọ thân voi, nai, rùa, bồ câu, công, oanh vũ chịu các khổ,
thế nên hỏi Phật: Nếu Bồ Tát chịu làm thân súc sinh
như vậy thời vì sao nói hết thảy Bồ Tát chắc chắn?
Chắc chắn túc là chẳng thoái chuyển, chẳng thoái chuyển
là không đọa trong ba đường ác.
Phật
hỏi ngược lại Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ sao, các bậc
thánh trong hàng Bát nhân... đọa vào ba đường ác chăng?
Tu
Bồ Đề suy nghĩ: Các thánh nhân ấy đã vào thánh
đạo nên không có nhân duyên đọa vào ba đường ác.
Suy nghĩ rồi đáp rằng: Thưa không.
Phật
dạy: Bồ Tát cũng như vậy, nhân duyên đọa vào ba đường
ác đã hết thời làm sao Bồ Tát đọa vào ba đường ác?
Nhân duyên đọa vào ba đường ác là các pháp bất thiện.
Bồ Tát từ khi mới phát tâm lại đây tu tập các pháp thiện
bố thí, trì giới... dứt mười pháp bất thiện là giết
hại, trộm cắp... thời nếu người ấy còn đọa vào ba đường
ác là không có lẽ ấy, vì sao? Vì đã dứt hết pháp
ác, tăng ích pháp lành. Pháp bất thiện có nặng, vừa
và nhẹ. Nặng thời đọa địa ngục, vừa thời đọa
súc sinh, nhẹ thời đọa ngạ quỷ. Ba độc bất thiện
ấy Bồ Tát đã dứt hết, tâm thương xót sâu xa nghĩ đến
chúng sinh, thế nên không đọa.
Hỏi:
Nếu như thế thời có thể không sinh trong ba đường ác.
Vậy là phước đức của Bồ Tát ấy nhiều, cớ sao không
sinh trong cõi trời sống lâu?
Đáp:
Bồ Tát vì thương xót chúng sinh mà hành sáu Ba la mật, tuy
có thể vào thiền định, hòa hợp với tâm từ bi tu hành,
song không đắm thiền vị, nên khi mạng sắp hết, nghĩ đến
cõi Dục nên thoái mất thiền đạo, vì trong cõi trời sống
lâu không có khồ não, đắm sâu thiền vị thời khó có thể
được độ, nên không sinh vào trong ấy.
Sinh
ở biên địa thời bị chướng ngại, không thể tu pháp thiện
nên không sinh đến đó, vì sao? Vì Bồ Tát đã nhổ sạch
cội gốc tâm lẩn tiếc giáo pháp; vì lẩn tiếc giáo pháp
nên mới sinh ở biên địa, là chỗ không biết pháp.
*Lại
nữa, Bồ Tát thường ưa trung đạo, lìa bỏ hai bên nên không
sinh chốn biên địa. Chốn biên địa không có danh
từ Tam bảo, không biết đến bảy chúng, chỉ quý việc hiện
tại, không quý phước đức đạo pháp, thế nên gọi là chốn
biên địa, chứ không riêng chỉ sinh chốn biên địa thời
gọi là chốn biên địa. Nếu biết Tam bảo, biết
nhân duyên tội phước tương tục, biết thật tướng các
pháp thời người ấy dù sinh bên ngoài cõi Diêm phù đề cũng
không gọi là chốn biên địa, huống gì sinh giữa cõi Diêm
phù đề.
Do
Bồ Tát thường ưa thích vì chúng sinh thuyết pháp, cũng rất
ưa thích thiện pháp, cho nên gạp được chúng sinh hiền lành,
vừa ý cùng sinh một nơi, gọi là trung tâm của cõi nước;
ở trung tâm cõi nước lại không sinh vào nhà tà kiến, vì
sao? Vì Bồ Tát ấy đời đời thường tự mình hành
chánh kiến, cũng dạy người hành chánh kiến, tán thán pháp
chánh kiến, hoan hỷ tán thán người hành chánh kiến; thế
nên không sinh vào nhà ác tà kiến.
Hỏi:
Bồ Tát ấy có sức phước đức và trí tuệ lớn thời nên
sinh vào chốn biên địa, nhà tà kiến để giáo người khác,
cớ sao lại sợ mà không sinh?
Đáp:
Bồ Tát có hai hạng: 1. Bồ Tát đã thành tựu đại
nguyện; 2. Bồ Tát mới có nhân duyên phát tâm. Bồ Tát
đã thành tựu đại nguyện có sức lớn nên tùy theo nơi chúng
sinh có thể độ mà thọ thân , không tránh chốn biên địa,
nhà tà kiến, còn Bồ Tát mới phát tâm nếu sinh vào các nơi
ấy thời đã không thể độ người lại còn tự hủy
hoại mình, thế nên không sinh. Thí như vàng thật ở
trong bùn trọn không bị hủy hoại, mà đồng thiết thời
bị hủy hoại.
Tà
kiến là tà kiến không làm. Tuy 62 thứ đều là tà kiến
nhưng tà kiến không làm là nặng nhất, vì sao? Vì không
làm là nói rằng, không nên làm công đức hay cầu Niết bàn.
Như nói trời làm hoặc nói thế giới có đầu, tuy là tà
kiến mà không chướng ngại làm việc phước đức, còn tà
kiến không làm rất ác, nên không sinh nơi đó.
*Lại
nữa, Bồ Tát mới phát tâm mà có tâm nhiễm ác hành đạo
bất thiện thời không có lẽ ấy, vì sao? Vì Bồ Tát
ấy nhất tâm hồi hướng, quý trọng Vô thượng chánh đẳng
chánh giác chứ không quý trọng pháp thế gian. Bồ Tát
ấy do chưa lìa dục nên tuy khởi lên các phiền não mà trọn
không có tâm ô nhiễm làm việc ác, tuy có dùng roi gậy gây
khổ mà trọn không cướp mạng sống, không lấy của người
khác làm họ mất mạng. Bồ Tát ấy dứt hết thảy pháp
bất thiện, tu tập hết thảy pháp thiện nên không sinh vào
chỗ có tám nạn, thường sinh vào chỗ có tám điều tốt.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu Bồ Tát thành tựu các căn lành
như vậy, cớ gì nhân duyên đời trước lại làm thân nai,
ngựa...?
Phật
đáp: Bồ Tát thật có thành tựu thiện căn phước đức,
song vì lợi lạc chúng sinh nên thọ thân súc sinh, cũng không
có tội súc sinh. Trong đây Phật tự nói nhân duyên:
Bồ Tát ở trong súc sinh mà biết thương xót giặc oán, là
điều mà A la hán, Bích chi Phật không có được. A la
hán, Bích chi Phật khi giặc oán đến hại, tuy không đáp trả
nhưng không thể thương xót, nhớ nghĩ, cúng dường, cung cấp.
Như tiền thân Bồ Tát làm voi trắng sáu ngà, có một người
thợ săn dùng tên độc bắn vào ngực. Bấy giờ voi trắng,
tiền thân Bồ Tát lấy vòi bao che cho thợ săn, không để
các voi khác làm hại, nói với voi cái rằng: Em là vợ
của Bồ Tát, cớ gì sinh ác tâm? Đó là tội phiền não
ấy. Thí như người bị quỷ ám, vị thầy chú thuật
đến chỉ trị quỷ mà không giận người; thế nên chớ tìm
tội người ấy. Rồi từ từ hỏi thợ săn: Vì
sao ông bắn ta? Thợ săn đáp: Ta cần cặp ngà của
ngươi. Voi liền đến hốc đá bẻ ngà trao cho, máu thịt tuôn
ra mà không cho là thống khổ; lại còn cung cấp lương thực,
chỉ đường cho đi. Những việc từ bi như vậy hàng
Thanh văn, Bích chi Phật không thể có được. Có
tâm tốt như vậy thời làm sao thọ thân súc sinh được?
Nên biết đây là biến hóa để độ chúng sinh.
Hỏi:
Vì cớ gì không làm thân người vì họ thuyết pháp mà lại
làm thân thú?
Đáp:
Có khi chúng sinh thấy thân người thuyết pháp thời không
tin chịu, thấy thân súc sinh thuyết pháp thời tin vui, nhận
lãnh lời giáo hóa. Lại, Bồ Tát muốn đầy đủ lòng
từ bi lớn nên muốn thi hành việc ấy. Chúng sinh trông
thấy vừa sợ vừa mừng mà đều được vào đạo.
(Hết
cuốn 93 theo bản Hán)